Giáo pháp quay trở về
Đến thời đại này, nếu tư tưởng Tịnh độ thuần chánh của Đại sư Thiện Đạo không xuất hiện trở lại thì chúng ta chỉ biết khóc mà không còn nước mắt.
Phật, Bồ-tát muốn cứu độ chúng sanh, có vô lượng trí huệ phương tiện, có vô lượng từ bi thiện xảo, thấy chúng ta có căn cơ như thế, nhân duyên đã thành thục, giáo pháp của
Đại sư Thiện Đạo quay trở lại Trung Quốc, nhờ đó chúng ta mới được tiếp xúc.
Nếu mọi người xem một loạt tùng thư do chùa Hoằng Nguyện xuất bản, nghe một loạt đĩa CD do chùa Hoằng Nguyện xuất bản, mọi người được tiếp xúc như thế, chính là tiếp xúc tư tưởng tông Tịnh Độ thuần chánh, chính là pháp mạch Tịnh Độ thuần chánh, cũng tức là tư tưởng Tịnh độ của Đại sư Thiện Đạo.
Chúng ta chuyên y cứ vào Đại sư Thiện Đạo, chỉ cần pháp nghĩa nào phù hợp với tư tưởng của Đại sư Thiện Đạo thì chúng ta tiếp nhận hết, tuyên dương hết. Nếu pháp nghĩa nào không nhất trí với tư tưởng của Đại sư Thiện Đạo thì chúng ta chẳng tiếp nhận, đây là tiêu chuẩn.
Chỉ cần căn cứ vào tiêu chuẩn này thì vãng sanh không cần phải lo, chúng ta rất an tâm, rất sung sướng, tràn trề pháp hỷ. Nếu chẳng như thế thì pháp nghĩa chẳng thuần chánh, người tu trì sẽ phát khởi lo âu vì không chắc được vãng sanh.
Chỉ đề cập đến tư tưởng Tịnh độ của Đại sư Thiện Đạo
Ba chữ ‘tông Tịnh Độ’ này hàm nghĩa rất sâu sắc. Tông Tịnh Độ, chẳng phải nói chung về tư tưởng của mười ba vị Tổ sư Tịnh Độ. Tư tưởng của mỗi vị Tổ trong mười ba vịTổ chẳng giống nhau. Di-đà sớ sao của Đại sư Liên Trì, Di-đà yếu giải của Đại sư Ngẫu Ích, các ngài giải thích kinh A-di-đà không giống nhau. Nếu như nhau thì Đại sư Ngẫu Ích không cần phải viết Di-đà yếu giải. Đại sư Ngẫu Ích dùng giáo lý tông Thiên Thai giải thích kinh A-di-đà,
Đại sư Liên Trì căn cứ vào lý luận của tông Hoa Nghiêm giải thích kinh A-di-đà. Trong cách giải thích của các ngài có rất nhiều điểm đặc sắc, như có rất nhiều điều trong Di-đà yếu giải đánh động lòng người, khải phát cho chúng ta, nhưng Đại sư Ngẫu Ích chẳng y cứ vào giáo lý tông Tịnh Độ của Đại sư Thiện Đạo
. Vì sao? Vì Ngài chưa từng thấy qua, không có cơ hội tham khảo. Vì thế từ đời Tống đến đời Thanh, hơn một nghìn năm, các sách của các vị Tổ hoằng dương Tịnh Độ đều không có dẫn dụng các trứ tác của Đại sư Thiện Đạo và Vãng sanh luận chú của Đại sư Đàm Loan, An lạc tập của Đại sư Đạo Xước. Như thế thì đâu có thể gọi là tông Tịnh Độ thuần chánh được.
Huống chi, trong mười ba vị Tổ ấy, có vị xuất thân từ tông Thiên Thai, có vị xuất thân từ tông Hoa Nghiêm, có vị xuất thân từ Thiền tông như Đại sư Vĩnh Minh Diên Thọ là Tổ sư Thiền tông, ngài lại hoằng dương Tịnh Độ. Các vị Tổ ấy cũng không có tư tưởng phán giáo mang tính hệ thống của tông Tịnh Độ.
Vì thế, tông Tịnh Độ được nói đến ở đây, chẳng phải nói chung đến mười ba vị Tổ, vì giữa các ngài, pháp mạch truyền thừa không rõ ràng, đều là dùng tư tưởng của các tông, các phái để giải thích Tịnh Độ.
Tông Tịnh Độ được nói ở đây, chỉ đề cập tư tưởng Tịnh độ của Đại sư Thiện Đạo. Đây là hệ thống pháp mạch truyền thừa rõ ràng từ Đức Phật Thích-ca xuống Bồ-tát Long Thọ, Bồ-tát Thiên Thân, qua Bồ-đề Lưu-chi, Lưu-chi từ Ấn Độ sang Trung Quốc truyền cho Đàm Loan, Đàm Loan truyền cho Đạo Xước, Đạo Xước truyền cho Đại sư Thiện Đạo.
Trên mặt tư tưởng, một mạch truyền thừa, không có sai lệch, đều là nhất trí, một mạch quán thông, đều đứng trên lập trường bản nguyện của Phật A-di-đà để giải thích, đây đều là nhất thể, đây chính là pháp môn Tịnh Độ thuần chánh.
Tông Tịnh Độ lấy tư tưởng Tịnh độ của Đại sư Thiện Đạo làm tiêu chuẩn, ‘khải định cổ kim’ tức là tiêu chuẩn. Hễ giáo nghĩa nào phù hợp với tư tưởng của Đại sư Thiện Đạo thì tiếp nhận, nếu không phù hợp thì gác qua một bên. Chúng ta chuyên tu Tịnh Độ thì chúng ta phải chuyên y cứ vào tư tưởng Tịnh độ của Đại sư Thiện Đạo.
Tông chỉ tông Tịnh Độ
Giáo lý của tông Tịnh Độ rất rộng, kinh điển có ba bộ, trứ tác của các Tổ sư Ấn Độ, Trung Hoa giải thích ba bộ kinh này rất nhiều, như trên đã nói, có bao nhiêu Tổ sư giải thích thì có bấy nhiêu pháp nghĩa, vậy rốt cuộc cốt lõi của tông Tịnh Độ ở đâu? Vì thế cần phải nêu ra tông chỉ của tông Tịnh Độ.
Tông chỉ tức là cốt lõi, là nòng cốt mang tính cương lĩnh, không thể cải biến, không thể thêm bớt, không thể thương lượng. Tông chỉ này mang tính căn bản, tính nguyên tắc, không thể cải biến, vì thế gọi là tông chỉ.
Giáo nghĩa của tông Tịnh Độ nhiều như thế, vậy rốt cuộc cốt lõi ở đâu? Tông chỉ tông Tịnh Độ, được pháp sư Huệ Tịnh tóm tắt thành bốn câu:
Tin nhận Di-đà cứu độ,
Chuyên xưng Di-đà Phật danh,
Nguyện sanh Di-đà Tịnh độ,
Độ khắp mười phương chúng sanh.
Tông chỉ thứ nhất Tin nhận Di-đà cứu độ là nói pháp môn Tịnh Độ là pháp môn cứu độ của Đức Phật A-di-đà.
Phật giáo lấy từ bi làm đặc điểm, đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn. Vì thế, nói chung, Đức Phật Thích-ca-mâu-ni xuất hiện ở thế gian là vì muốn cứu độ chúng sanh. Như trong kinh Pháp hoa nói ‘ba cõi không yên, giống như ngôi nhà đang bị cháy’, nếu không có Phật Thích-ca-mâu-ni xuất hiện ở thế gian thì chúng ta không có biện pháp ra khỏi nhà lửa lục đạo.
Đức Phật Thích-ca-mâu-ni đến thế gian này chính là muốn cứu chúng sanh đang bị luân hồi trong lục đạo.
Nhưng tám vạn bốn nghìn pháp môn do Đức Phật nói ra, đặc điểm đều riêng khác nhau, giống như chúng ta bị kẻ địch bao vây, vô cùng nguy cấp, bàng hoàng không nhúc nhích, mà có người đến cứu, cho chúng ta một phương pháp giống như cho chúng ta một thứ vũ khí.
Nếu kẻ thân thể cường tráng, kẻ ấy đang lúc tay không, nay lại cầm vũ khí, lại có sức mạnh thì có thể đột phá vòng vây, tự mình có thể thoát khỏi hoàn cảnh nguy hiểm.
Đây là dù cho có người đến cứu kẻ ấy, nhưng kẻ ấy cũng tự có thể cứu mình, vì kẻ ấy cầm vũ khí, tự mình có thể đột phá vòng vây.
Ngoài ra còn có một hạng người, thân thể rất yếu, không có sức mạnh, dù đưa cho vũ khí, kẻ ấy cũng không thể sử dụng, vì cầm không nổi. Người đến cứu chỉ cần nói:
“Anh hãy đi theo tôi, tôi sẽ dẫn anh, thậm chí vác anh lên vai”, như thế thì mới vượt qua được vòng vây, thoát cảnh nguy hiểm.
Người thứ hai này, có thể nói là hoàn hoàn thuần túy, triệt để được cứu độ.
Đức Phật Thích-ca-mâu-ni đến thế gian này giảng nói tám vạn bốn nghìn pháp môn, trừ pháp môn Tịnh Độ này ra, các pháp môn khác đều là tự cứu, đều là Phật Thích-ca-mâu-ni cấp cho chúng ta vũ khí giới định huệ. Vũ khí giới định huệ này chúng ta có cầm nổi hay không?
Giống như thanh đao Thanh long yển nguyệt nặng hơn tám mươi cân của Quan Công, tuy sắc bén, nhưng chúng ta cầm không nổi, chúng ta không sử dụng được mà có cố cầm thì chỉ thêm phiền phức. Nếu thân thể chúng ta cường tráng, lại có thể sử dụng tự tại thì mới có thể đột phá vòng vây.
Vòng vây đại biểu cho cái gì? Chúng ta bị các thứ nghiệp chướng do chúng ta gây tạo từ đời quá khứ và hiện tại bao vây, Đức Phật Thích-ca-mâu-ni cấp phát cho chúng ta tám vạn bốn nghìn vũ khí giới định huệ, mỗi người một món. Chúng ta được cấp phát ngũ giới, thập giới, Bồ-tát giới, các môn thiền định, các pháp khai ngộ, giới định huệ đều có, nhưng chúng ta có cầm nổi hay không?
Có người nói, tôi trì ngũ giới không nổi, ăn chay không nổi. Đa số người đời không có sức tu trì ngũ giới, ăn chay. Đồng thời, mục đích tu trì giới định huệ là đạt đến diệt trừ tham sân si, điều này lại càng khó, khó chồng thêm khó.
Nếu như người có sức mạnh giống như các vị Đại đức Tổ sư thì có thể dùng vũ khí giới định huệ chặt đứt phiền não tham sân si, đánh bại nghiệp tập phiền não tham sân si, thì có thể dựa vào tự lực, tự mình cứu mình, lúc đó Đức Phật để cho người ấy tự cứu bản thân ra khỏi luân hồi. Nhưng nói một cách nghiêm túc, ngũ giới chúng ta còn trì không nổi thì nói chi đến Bồ-tát giới, nói đến Bồ-tát giới thì càng thẹn thùng, Bồ-tát giới cần phải phát bồ-đề tâm, mới thành Bồ-tát.
Bồ-đề tâm của chúng ta so ra giá trị không bằng năm hào. Vì sao nói giá trị không bằng năm hào? Vì chúng ta vốn không có bồ-đề tâm. Ở trong Phật đường phát tâm, đọc theo thời khóa ‘chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành’, tốt, đọc xong rồi xếp bản kinh lại, ra cửa xách giỏ đi mua rau.
Tỷ như nói một cân rau này giá hai đồng rưỡi, bạn trả hai đồng, bớt đi năm hào của người bán. Như thế, bồ-đề tâm giá trị chẳng bằng năm hào, nhân vì bạn là người phát bồ-đề tâm, bạn bớt đi năm hào thì hai đồng rưỡi chỉ còn thành hai đồng.
Vì thế, chúng ta muốn nương tựa vào bồ-đề tâm của chúng ta, thì chúng ta không đủ sức.
Muốn dựa vào trì giới, thì chúng ta cũng không có giới luật thanh tịnh; muốn dựa vào thiền định thì chúng ta đều tán loạn.
Chúng sanh như thế, cho nên pháp môn này của Đức Phật A-di-đà mới thể hiện một cách triệt để nét đặc sắc cứu độ, đại từ đại bi thể hiện ra tại pháp môn này. Người phát không nổi bồ-đề tâm, không thể trì giới thanh tịnh, không thể có công phu thiền định, không thể khai trí huệ, tức là chúng ta, không cầm nổi tám vạn bốn nghìn vũ khí giới định huệ; lúc ấy cần phải có người vác chúng ta lên vai xông ra khỏi vòng vây.
Chúng ta niệm Nam-mô A-di-đà Phật, Phật A-di-đà vác chúng ta lên vai, dùng thanh kiếm bén sáu chữ danh hiệu của Ngài, nghĩa là chúng ta chỉ cần xưng danh hiệu Ngài,
Đại sư Thiện Đạo nói:
“Kiếm bén tức là danh hiệu Phật A-di-đà, một tiếng xưng niệm, tội đều tiêu trừ”. Chỉ cần chúng ta niệm Nam-mô A-di-đà Phật, chẳng cần chúng ta tự đoạn phiền não, Đức Phật A-di-đà lập tức dùng kiếm báu dẹp sạch, dùng vô lượng ánh sáng chiếu tan nghiệp chướng quá khứ hiện tại của chúng ta, chặt đứt sanh tử trói buộc, trực tiếp cứu chúng ta ra khỏi sự bao vây của ba cõi.
Chỉ có sự cứu độ của bản nguyện Di-đà, sự cứu độ hoàn toàn tha lực mới có thể biểu hiện cái ý cứu độ một cách hoàn chỉnh.
Chúng ta không thể dựa vào sức của chính mình để tự cứu. Trong tám vạn bốn nghìn pháp môn, các pháp môn khác đều là tự lực (tự mình cứu mình). Pháp môn Tịnh Độ này là Phật Di-đà cứu chúng ta, vì thế gọi là ‘tin nhận Di-đà cứu độ’.
Chủ động, bình đẳng, vô điều kiện
Trừ Phật A-di-đà phát bốn mươi tám đại nguyện cứu độ chúng ta, các pháp môn khác đòi hỏi chúng ta phải đạt đến một điều kiện nào đó, một tiêu chuẩn nào đó, nhưng sự cứu độ của Phật A-di-đà có thể dùng ba từ để hình dung: Chủ động, bình đẳng, vô điều kiện.
Thế nào là chủ động? Chúng ta không thỉnh cầu, không nhờ vả, Đức Phật A-di-đà chủ động đến cứu chúng ta, đây gọi là chủ động. Đức Phật A-di-đà lúc còn ở nhân địa đã phát bốn mươi tám nguyện cứu chúng ta. Bốn mươi tám nguyện này là do chúng ta thỉnh Ngài phát ư? Chúng ta có thỉnh Ngài phát hay không? Chúng ta không có thỉnh. Ngài chủ động nói: “Nếu Tôi thành Phật (Tôi muốn thành Phật), mười phương chúng sanh, Tôi muốn cứu các ngươi!”. Đây là chủ động.
Chủ động cứu chúng ta, có ý nghĩa gì? Nói đến hai chữ ‘chủ động’ là nói Đức Phật A-di-đà vốn có ý nguyện muốn cứu chúng ta. Nhân vì chỗ chúng ta quan tâm là ‘Tôi muốn đến thế giới Cực Lạc ở phương tây, tôi muốn được Phật A-di-đà đến cứu, không biết Phật A-di-đà có đến cứu tôi không? Không biết tôi có đạt đến tiêu chuẩn hay không?’. Nếu có những ý nghĩ như thế, chính ta tự chủ động cầu Đức Phật này, thì Phật A-di-đà dường như là người bị động.
Nếu ta hiểu Đức Phật này chủ động muốn cứu chúng ta, chỉ cần chúng ta đáp ứng, cứ để Ngài cứu thì Ngài sẽ hoan hỷ. Chúng ta ra ngoài làm việc, lúc chúng ta chủ động cầu người khác, người khác đáp ứng thì chúng ta hoan hỷ, ‘Chỉ cần bạn đáp ứng là tốt rồi, cái gì Ta cũng đầy đủ, cái gì Ta cũng đáp ứng bạn’. Phật A-di-đà cũng như thế, Ngài muốn cứu chúng ta, Ngài chủ động phát nguyện cứu chúng ta, Ngài chỉ muốn chúng ta đáp ứng, cứ để cho Ngài cứu, Ngài rất hoan hỷ,
Ngài nói:
“Tốt lắm! Ta cứu bạn”. Đến nơi đâu? “Đến Tịnh độ của Ta”. Làm sao đến? “Ta cho bạn danh hiệu”. Bạn nói: Tôi có phiền não. “Ta sẽ giải quyết cho”. Bạn nói: Tôi có nghiệp chướng. “Ta sẽ giải quyết cho”. Bạn nói: Tôi còn chẳng thanh tịnh v.v. Phật A-di-đà nói: “Tất cả đều không thành vấn đề, tất cả Ta đều giải quyết! Chỉ cần bạn để cho Ta cứu, chỉ cần bạn xưng niệm danh hiệu của Ta là được rồi”.
Vì thế, ‘chủ động’ là phản ánh tâm từ bi của Đức Phật A-di-đà, cũng phản ánh tâm cứu độ bình đẳng của Ngài, cũng phản ánh tâm cứu độ vô điều kiện của Ngài. Chủ động chính là vô điều kiện, hễ còn cần điều kiện thì chẳng phải chủ động.
Thế nào là bình đẳng? Tức là cứu độ chúng ta một cách không phân biệt, bình đẳng cũng là không có điều kiện. Phật A-di-đà đến cứu chúng ta, chẳng thấy chúng ta là nam là nữ, cũng chẳng thấy chúng ta là phàm phu hay là thánh nhân, cũng chẳng thấy chúng ta là người xuất gia hay là kẻ tại gia, cũng chẳng thấy chúng ta có đọc kinh điển hay không, những điều này không luận đến,
Ngài cứu độ chúng ta một cách không có phân biệt, đây gọi là bình đẳng. Vì thế, trong bốn mươi tám nguyện đều nói “thập phương chúng sanh”. Bốn chữ ‘thập phương chúng sanh’ rất ngắn, nhưng bao hàm được rộng lớn, trong đó gồm cả thánh nhân, phàm phu.
Trong phàm phu có người thiện, kẻ ác. Trong nhóm người thiện có Đại thừa thiện, Tiểu thừa thiện, thế gian thiện; trong nhóm người ác có ngũ nghịch ác, phá giới ác, thập ác, khinh ác, trọng ác; nhưng họ đều có sống có chết, cũng có người có trí huệ, người không trí huệ, người có trì giới, người không trì giới đều bao hàm trong đó; đây gọi là cứu độ bình đẳng.
Vì thế, nguyện thứ mười tám nói: “Thập phương chúng sanh” với nghĩa thập phương chúng sanh là đối tượng được Phật A-di-đà cứu độ bình đẳng, không phân biệt.
Thế nào là vô điều kiện? Cứu độ chúng ta không có điều kiện. Đòi hỏi điều kiện thì chẳng phải là muốn cứu độ chúng ta.
Ví như một vị lương y giỏi, có người mắc bệnh nan y, chẳng phải ông thì không ai có thể chữa trị. Nếu vị thầy thuốc này có y đức, biết được tình huống này thì nửa đêm ông cũng dãi gió dầm sương, băng rừng lội suối đến cứu.
Nếu người bệnh này là chúng ta, có người thầy thuốc có
khả năng cứu chúng ta nửa đêm bất kể hiểm nguy đến cứu chúng ta, thử hỏi chúng ta có cảm kích hay không? “Ngài thật là ân nhân cứu mạng!”. Nếu ông thầy thuốc không có y đức, nhưng chỉ có ông ta mới cứu được chúng ta, ông ta nói giá cao thì trong lòng chúng ta có cảm giác như thế nào?
Chúng ta có xem ông ta là ân nhân cứu mạng chăng? Ông ta là người thầy thuốc hắc ám, thiếu lương tâm. Ngay lúc chúng ta bệnh khổ đang cần đến ông ta, ông ta lại ra giá cao ‘anh không có đủ tiền thì tôi không cứu anh’.
Như thế thì chẳng gọi là cứu độ, mà gọi là tâm hắc ám kiếm tiền. Chúng ta cũng không nhận ông ta là ân nhân cứu mạng chúng ta. Vì vậy, cứu độ thì không có điều kiện.
Nhưng cứu độ thì cần phải xét đến đối tượng. Đức Phật A-di-đà cứu độ chúng ta là căn cứ vào tình huống của chúng ta. Ví như có một người đang đói sắp chết, cái bánh bao có thể cứu đói người ấy. Cái bánh bao này giá chỉ hai đồng rưỡi. Hiện tại người kia đang đói, đang cần cái bánh bao, chúng ta bán một lô bánh bao rồi đưa cho người kia hai vạn đồng, đây có thể gọi là cứu độ chăng?
Đây chẳng phải là cứu độ, mà chỉ là nghĩ vì chúng ta, cứu độ là nghĩ vì người kia, làm cho người kia no đủ. Người kia đã đói đến sắp chết, không còn khí lực, lúc ấy chúng ta phải làm gì? Chúng ta rót một tách nước, đem đến đổ vào miệng để người kia uống, đó là căn cứ vào tình huống của người kia.
Chúng ta là phàm phu có tham sân si mãnh liệt, nếu chúng ta tu trì các pháp môn khác thì thật sự đối với chúng ta quá khó khăn. Vì thế, Đức Phật A-di-đà lấy điểm đặc sắc ‘chủ động, bình đẳng, vô điều kiện’ để cứu độ chúng ta.
(Còn tiếp)
Trích Bản Nguyện Niệm Phật
Thích Minh Tuệ