Tử Vi
Sao Bác Sĩ: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung
Tìm hiểu sao Bác Sĩ trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.
Tổng quan về sao Bác Sĩ
Bác Sĩ là sao đứng đầu vòng Bác Sĩ, ngũ hành Thủy, luôn đi cùng cung với Lộc Tồn. Đây là một cát tinh nhỏ, chủ sự thông minh, hiếu học, lợi cho việc học hành thi cử, lại có khả năng giải trừ bệnh tật.
- Ngũ hành: Thủy
- Nhóm: Vòng Bác Sĩ
- Cách an: Theo sao Lộc Tồn
- Cai quản: thông minh, học hành thi cử, giải bệnh
- Tính chất: Học hành, giải bệnh
Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.
Ý nghĩa tại cung Mệnh
- Bác Sĩ gặp cát, chính tinh sáng: Hiếu học, khoan hòa, thích hiểu ngọn ngành trước khi làm; có nghề nuôi thân bằng chuyên môn, tự lo được. Là chân dung Lộc Tồn thủ Mệnh nhưng nghiêng hẳn về tri thức.
- Bác Sĩ gặp hung, chính tinh hãm: Học nhiều mà khó ra kết quả, biết rộng mà không sâu, hay bàn hơn hay làm; cẩn thận thành câu nệ. Thế giáp Kình Đà hiện thành cô độc và hay lo xa.
Ý nghĩa ở các cung khác
Đối chiếu ý nghĩa của Bác Sĩ với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.
Cung Phụ Mẫu
- Bác Sĩ gặp cát, chính tinh sáng: Cha mẹ có học hoặc trọng việc học, dạy con nghiêm mà có lý; được lo cho đường học tử tế.
- Bác Sĩ gặp hung, chính tinh hãm: Kỳ vọng học hành nặng, quan hệ đúng mực mà thiếu gần gũi; sức khỏe cha mẹ phải theo dõi dài.
Cung Phúc Đức
- Bác Sĩ gặp cát, chính tinh sáng: Đời sống tinh thần đầy đặn, thích đọc, thích học tới già; tâm an vì hiểu ra lẽ. Có phúc ấm từ dòng họ trọng chữ.
- Bác Sĩ gặp hung, chính tinh hãm: Nghĩ nhiều, phân tích cả việc đáng để yên; hưởng thụ ít. Đây là mặt mỏi của một cái đầu không chịu nghỉ.
Cung Điền Trạch
- Bác Sĩ gặp cát, chính tinh sáng: Nhà có chỗ để sách, để làm việc; mua nhà bằng tiền tích cóp từ nghề. Nhà gần trường học, gần bệnh viện cũng ứng.
- Bác Sĩ gặp hung, chính tinh hãm: Giấy tờ nhà đất rắc rối, phải qua nhiều thủ tục; nhà chật mà sách vở nhiều. Không chủ mất nhà.
Cung Quan Lộc
- Bác Sĩ gặp cát, chính tinh sáng: Công danh đi bằng học vấn: thi cử, bằng cấp, nghiên cứu, giảng dạy, y dược, luật, kế toán, kiểm định. Chỗ đứng vững nhờ chuyên môn chứ không nhờ quan hệ.
- Bác Sĩ gặp hung, chính tinh hãm: Nhiều giấy tờ thủ tục, tiến chậm; giỏi mà không được cất nhắc vì thiếu vế quan hệ.
Cung Nô Bộc
- Bác Sĩ gặp cát, chính tinh sáng: Bạn bè đồng nghiệp có nghề, có chữ; giúp nhau bằng thông tin đúng. Hợp sinh hoạt trong hội nhóm chuyên môn.
- Bác Sĩ gặp hung, chính tinh hãm: Bạn nhiều mà sâu ít, gặp nhau chỉ để bàn; cấp dưới giỏi lý thuyết, yếu tay nghề.
Cung Thiên Di
- Bác Sĩ gặp cát, chính tinh sáng: Ra ngoài gặp người có học, được người trên chỉ bảo; đi xa để học, để thi, để chữa bệnh đều thuận.
- Bác Sĩ gặp hung, chính tinh hãm: Hay bị nhờ vả chuyện giấy tờ và chuyên môn mà không được đền đáp; đi nhiều mà việc chính không tiến.
Cung Tật Ách
- Bác Sĩ gặp cát, chính tinh sáng: Sách ghi Bác Sĩ có khả năng giải trừ bệnh tật, nên cung này chủ gặp thầy gặp thuốc, chữa đúng bệnh, khám ra sớm; người có ý thức giữ gìn, chịu đi khám định kỳ.
- Bác Sĩ gặp hung, chính tinh hãm: Bệnh thuộc loại phải theo dõi dài, chữa lâu mới dứt; hay lo về sức khỏe tới mức thành bệnh tưởng. Có Hóa Kỵ đồng cung thì hồ sơ bệnh án dày, không phải bệnh nặng.
Cung Tài Bạch
- Bác Sĩ gặp cát, chính tinh sáng: Tiền vào đều đặn từ lương, dạy học, tư vấn, chữa trị; biết tính toán, không tiêu bừa. Lộc Tồn chủ nguồn nuôi ổn định, Bác Sĩ chỉ rõ nguồn ấy đến từ cái đầu.
- Bác Sĩ gặp hung, chính tinh hãm: Kiếm được mà giữ chật vật vì Kình Đà giáp; tiền hay đi vào việc học, chữa bệnh, giấy tờ. Tính quá kỹ tới mức mất cơ hội.
Cung Tử Tức
- Bác Sĩ gặp cát, chính tinh sáng: Con sáng dạ, có đứa theo đường khoa cử hoặc y dược; cha mẹ dạy con bằng lý lẽ và con nghe ra.
- Bác Sĩ gặp hung, chính tinh hãm: Con học chậm hoặc học lệch, cha mẹ kỳ vọng nặng thành áp lực. Đường con muộn hơn người, không phải hiếm muộn.
Cung Phu Thê
- Bác Sĩ gặp cát, chính tinh sáng: Bạn đời có học, có nghề, hai người nói chuyện được với nhau; hôn nhân bền theo kiểu tôn trọng nhau chứ không nồng nhiệt ồn ào.
- Bác Sĩ gặp hung, chính tinh hãm: Hay tranh luận đúng sai, ai cũng có lý; tình cảm nguội dần vì thiếu vế mềm. Bác Sĩ ở đây không chủ chia lìa, chỉ chủ khô.
Cung Huynh Đệ
- Bác Sĩ gặp cát, chính tinh sáng: Anh chị em có người ăn học, làm nghề chữ nghĩa hoặc nghề thuốc; giúp nhau bằng hiểu biết và lời khuyên đúng lúc.
- Bác Sĩ gặp hung, chính tinh hãm: Mỗi người một hướng, nói không cùng ngôn ngữ; giúp nhau bằng lý lẽ hơn bằng việc thật, dễ dây dưa chuyện tiền nong.
Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Bác Sĩ không có công thức an riêng. Sách chỉ ghi một câu ngắn: Bác Sĩ an cùng cung với Lộc Tồn, rồi từ đó đếm ra mười một sao còn lại của vòng. Mà Lộc Tồn thì an theo thiên can năm sinh, mỗi can một cung cố định, không dính gì tới tháng sinh, giờ sinh, ngày sinh hay cục. Vậy nên câu đúng nhất về cơ chế của sao này là: Bác Sĩ chính là cái bóng của Lộc Tồn. Lộc Tồn đi đâu, Bác Sĩ theo tới đó, không sai một cung nào trong cả mười can.
Từ một câu ngắn ấy suy ra được rất nhiều điều cứng. Lộc Tồn tuổi Giáp tại Dần, tuổi Ất tại Mão, tuổi Bính và Mậu cùng tại Tỵ, tuổi Đinh và Kỷ cùng tại Ngọ, tuổi Canh tại Thân, tuổi Tân tại Dậu, tuổi Nhâm tại Hợi, tuổi Quý tại Tý. Đếm lại tập hợp ấy chỉ được tám địa chi: Tý, Dần, Mão, Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi. Bốn cung Sửu, Thìn, Mùi, Tuất, tức tứ mộ, hoàn toàn vắng mặt. Cho nên Bác Sĩ cũng vậy: Bác Sĩ không bao giờ đóng ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Ai đọc thấy dòng "Bác Sĩ tại Thìn" hay "Bác Sĩ tại Mùi" là lá số ấy an sai, không phải dị bản của phái khác.
Hệ quả thứ hai còn quan trọng hơn. Kình Dương an tại cung liền sau Lộc Tồn, Đà La an tại cung liền trước Lộc Tồn, đây là quy tắc bất di bất dịch của bộ ba Lộc Kình Đà. Bác Sĩ đứng ngay ô Lộc Tồn, tức đứng ngay giữa hai sao ấy. Kết luận rút ra bằng máy, chạy đủ mười can, không sót trường hợp nào: Bác Sĩ vĩnh viễn không thể đồng cung với Kình Dương hay Đà La, nhưng vĩnh viễn bị Kình Dương và Đà La giáp hai bên. Không có lá số nào trên đời mà Bác Sĩ thoát khỏi thế giáp này. Đây là điều Thầy muốn quý vị nhớ trước tiên khi đọc một cung có Bác Sĩ.
Bảng dưới đây đặt ba sao cùng an theo can năm cạnh nhau. Cột Lộc Tồn cũng chính là cột Bác Sĩ, cột Kình Dương và cột Đà La chính là hai cung giáp.
Giáp
- Lộc Tồn: Dần
- Kình Dương: Mão
- Đà La: Sửu
Ất
- Lộc Tồn: Mão
- Kình Dương: Thìn
- Đà La: Dần
Bính
- Lộc Tồn: Tỵ
- Kình Dương: Ngọ
- Đà La: Thìn
Đinh
- Lộc Tồn: Ngọ
- Kình Dương: Mùi
- Đà La: Tỵ
Mậu
- Lộc Tồn: Tỵ
- Kình Dương: Ngọ
- Đà La: Thìn
Kỷ
- Lộc Tồn: Ngọ
- Kình Dương: Mùi
- Đà La: Tỵ
Canh
- Lộc Tồn: Thân
- Kình Dương: Dậu
- Đà La: Mùi
Tân
- Lộc Tồn: Dậu
- Kình Dương: Tuất
- Đà La: Thân
Nhâm
- Lộc Tồn: Hợi
- Kình Dương: Tý
- Đà La: Tuất
Quý
- Lộc Tồn: Tý
- Kình Dương: Sửu
- Đà La: Hợi
Sáu điều bất biến của Bác Sĩ
- Luôn đồng cung Lộc Tồn, không có ngoại lệ. Đây là điểm cấu trúc quan trọng nhất của sao này và là lý do mọi lời luận về Bác Sĩ phải bắt đầu từ Lộc Tồn. Máy chạy đủ mười can, mười lần trùng khớp, không lần nào lệch.
- Chỉ đóng tám cung. Tý, Dần, Mão, Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi. Bốn cung tứ mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì cả đời không tới. Nói cách khác, Bác Sĩ không bao giờ rơi vào Thiên La Địa Võng.
- Không bao giờ đồng cung Kình Dương hay Đà La, nhưng luôn bị hai sao ấy giáp. Thế bao vây này là bẩm sinh, không phải điều xảy đến. Cái hay của Lộc Tồn và cái phiền của Kình Đà là một gói, không tách rời được.
- Chiều đếm thuận hay nghịch không làm Bác Sĩ dịch chuyển. Nó ở vị trí số không của vòng, tức ngay tại điểm khởi. Mười một sao sau nó thì đổi chỗ theo chiều, riêng nó thì không.
- Không liên quan gì tới vòng Tử Vi. Vị trí Tử Vi tính từ cục và ngày sinh, vị trí Bác Sĩ tính từ can năm. Chạy đủ mười hai thế Tử Vi cho từng cung, kết quả đều ra đủ mười bốn chính tinh, nghĩa là bất kỳ chính tinh nào cũng có thể đứng chung cung với Bác Sĩ, và cũng có thể là cung trống.
- Hai tuổi dùng chung một cung. Tuổi Bính và tuổi Mậu cùng có Bác Sĩ tại Tỵ, tuổi Đinh và tuổi Kỷ cùng có Bác Sĩ tại Ngọ. Đây là chỗ nhiều người tra bảng hay nhầm, vì bốn can khác nhau mà chỉ ra hai địa chỉ.
Thầy nói thêm một điều bảng không nói ra được. Vì Bác Sĩ dính chặt Lộc Tồn, nên khi luận thực tế, Bác Sĩ gần như không bao giờ là chủ ngữ của câu luận. Không ai nói cung này có Bác Sĩ nên thông minh, mà nói cung này có Lộc Tồn lại thêm Bác Sĩ, nên cái lộc ấy nghiêng về đường chữ nghĩa hơn là đường buôn bán. Ai luận Bác Sĩ mà quên Lộc Tồn thì đã bỏ mất chín phần mười sức nặng của cung ấy.
Nhắc Lại Gọn Cách An Cho Người Mới
Vòng Bác Sĩ gồm mười hai sao an theo sao Lộc Tồn. Bác Sĩ luôn đứng cùng cung với Lộc Tồn, rồi lần lượt Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ được an theo chiều thuận với người dương nam âm nữ và nghịch với người âm nam dương nữ.
Riêng Bác Sĩ có một đặc quyền mà mười một sao còn lại trong vòng không có: nó đứng ở vị trí số không, tức ngay tại điểm khởi, nên chiều đếm thuận hay nghịch không làm nó xê dịch một cung nào. Người dương nam âm nữ hay người âm nam dương nữ, Bác Sĩ vẫn nằm đúng cung Lộc Tồn. Muốn biết Bác Sĩ ở đâu, chỉ cần biết thiên can năm sinh, không cần hỏi giới tính, không cần hỏi tháng, không cần hỏi giờ. Mọi chi tiết còn lại của cơ chế an sao đã trình bày ở mục hai và mục năm.
Đặc Tính Của Bác Sĩ Theo Tân Biên
Theo Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, Bác Sĩ chủ sự thông minh, khoan hòa, nhân hậu, lợi ích cho việc học hành thi cử và có khả năng giải trừ bệnh tật. Vì luôn đi cùng Lộc Tồn, Bác Sĩ thường góp phần làm cung an Lộc Tồn thêm phần tốt đẹp về tri thức.
Là cát tinh nhỏ, Bác Sĩ phát huy rõ khi đi cùng văn tinh và chính tinh sáng, hợp người theo nghiệp chữ nghĩa, học thuật, y dược.
Vị Trí Của Bác Sĩ Trong Vòng Mười Hai Sao
Tử Vi Đẩu Số có bốn vòng phụ tinh, mỗi vòng đúng mười hai sao chạy liền nhau theo thứ tự cố định: vòng Thái Tuế khởi từ cung có chi năm sinh, vòng Tràng Sinh khởi theo cục, vòng Thần Sát khởi từ Kiếp Sát theo tam hợp chi năm, và vòng Bác Sĩ khởi từ cung có Lộc Tồn, tức khởi theo thiên can năm sinh. Bác Sĩ chính là sao mở đầu, sao mà cả vòng mang tên.
Thứ tự mười hai sao trong vòng, đếm từ Bác Sĩ đi: Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ. Chiều đếm không cố định mà theo âm dương của can năm và giới tính: dương nam và âm nữ đếm thuận, tức Lực Sĩ ở cung liền sau Bác Sĩ; âm nam và dương nữ đếm nghịch, tức Lực Sĩ ở cung liền trước. Can dương là Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm; can âm là Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý. Đây cũng chính là quy tắc quyết định chiều đi của đại vận, nên người nào đại vận đi thuận thì vòng Bác Sĩ của người ấy cũng đi thuận.
Bác Sĩ giữ vị trí số không trong vòng, tức vị trí khởi. Đây là chỗ đặc biệt: mười một sao còn lại đều phải hỏi chiều rồi mới biết đóng ở đâu, riêng Bác Sĩ thì không. Thuận hay nghịch, nó vẫn nằm đúng ô Lộc Tồn. Sao đứng liền sau nó theo thứ tự vòng là Lực Sĩ, sao đứng liền trước nó, tức sao cuối vòng, là Quan Phủ. Hai sao ấy đổi chỗ cho nhau khi đổi chiều đếm, và vì hai cung kề Lộc Tồn chính là Kình Dương và Đà La, nên rút ra được kết luận sau đây, đã chạy máy kiểm đủ mười can cả hai chiều:
Bốn quan hệ cứng giữa Bác Sĩ và bộ Lộc Kình Đà
- Bác Sĩ luôn đồng cung Lộc Tồn ở cả mười can, cả hai chiều đếm. Mười trên mười.
- Khi đếm thuận: Lực Sĩ rơi đúng cung Kình Dương, Quan Phủ rơi đúng cung Đà La. Mười trên mười.
- Khi đếm nghịch: hai sao ấy đổi vai, Lực Sĩ rơi đúng cung Đà La, Quan Phủ rơi đúng cung Kình Dương. Mười trên mười.
- Bác Sĩ không bao giờ đồng cung, không bao giờ xung chiếu và cũng không bao giờ tam hợp với Kình Dương hay Đà La. Khoảng cách giữa chúng luôn là một cung, mà một cung thì không nằm trong tam phương tứ chính. Chúng chỉ có thể giáp nhau, và luôn giáp nhau.
Giáp
- Bác Sĩ và Lộc Tồn: Dần
- Lực Sĩ khi thuận: Mão
- Quan Phủ khi thuận: Sửu
- Lực Sĩ khi nghịch: Sửu
- Quan Phủ khi nghịch: Mão
Ất
- Bác Sĩ và Lộc Tồn: Mão
- Lực Sĩ khi thuận: Thìn
- Quan Phủ khi thuận: Dần
- Lực Sĩ khi nghịch: Dần
- Quan Phủ khi nghịch: Thìn
Bính
- Bác Sĩ và Lộc Tồn: Tỵ
- Lực Sĩ khi thuận: Ngọ
- Quan Phủ khi thuận: Thìn
- Lực Sĩ khi nghịch: Thìn
- Quan Phủ khi nghịch: Ngọ
Đinh
- Bác Sĩ và Lộc Tồn: Ngọ
- Lực Sĩ khi thuận: Mùi
- Quan Phủ khi thuận: Tỵ
- Lực Sĩ khi nghịch: Tỵ
- Quan Phủ khi nghịch: Mùi
Mậu
- Bác Sĩ và Lộc Tồn: Tỵ
- Lực Sĩ khi thuận: Ngọ
- Quan Phủ khi thuận: Thìn
- Lực Sĩ khi nghịch: Thìn
- Quan Phủ khi nghịch: Ngọ
Kỷ
- Bác Sĩ và Lộc Tồn: Ngọ
- Lực Sĩ khi thuận: Mùi
- Quan Phủ khi thuận: Tỵ
- Lực Sĩ khi nghịch: Tỵ
- Quan Phủ khi nghịch: Mùi
Canh
- Bác Sĩ và Lộc Tồn: Thân
- Lực Sĩ khi thuận: Dậu
- Quan Phủ khi thuận: Mùi
- Lực Sĩ khi nghịch: Mùi
- Quan Phủ khi nghịch: Dậu
Tân
- Bác Sĩ và Lộc Tồn: Dậu
- Lực Sĩ khi thuận: Tuất
- Quan Phủ khi thuận: Thân
- Lực Sĩ khi nghịch: Thân
- Quan Phủ khi nghịch: Tuất
Nhâm
- Bác Sĩ và Lộc Tồn: Hợi
- Lực Sĩ khi thuận: Tý
- Quan Phủ khi thuận: Tuất
- Lực Sĩ khi nghịch: Tuất
- Quan Phủ khi nghịch: Tý
Quý
- Bác Sĩ và Lộc Tồn: Tý
- Lực Sĩ khi thuận: Sửu
- Quan Phủ khi thuận: Hợi
- Lực Sĩ khi nghịch: Hợi
- Quan Phủ khi nghịch: Sửu
Khoảng cách trong vòng là cố định, nên quan hệ tam hợp và xung chiếu giữa các sao cùng vòng cũng cố định, không đổi theo can và không đổi theo chiều. Với Bác Sĩ ở vị trí số không: sao xung chiếu luôn là Phi Liêm, hai chân tam hợp luôn là Tướng Quân và Bệnh Phù, có mặt trong mọi lá số không trừ lá nào. Ngược lại Tiểu Hao cách ba cung và Đại Hao cách chín cung, nên hai sao hao vĩnh viễn không vào tam phương tứ chính của Bác Sĩ. Đó là tin lành có tính cấu trúc, không phải may rủi.
Bảng dưới đây in đủ mười hai sao của vòng theo cả mười can, trường hợp đếm thuận. Người đếm nghịch chỉ cần lấy Bác Sĩ làm gốc rồi soi gương lại thứ tự, vị trí Bác Sĩ vẫn giữ nguyên.
Giáp
- Bác Sĩ: Dần
- Lực Sĩ: Mão
- Thanh Long: Thìn
- Tiểu Hao: Tỵ
- Tướng Quân: Ngọ
- Tấu Thư: Mùi
- Phi Liêm: Thân
- Hỷ Thần: Dậu
- Bệnh Phù: Tuất
- Đại Hao: Hợi
- Phục Binh: Tý
- Quan Phủ: Sửu
Ất
- Bác Sĩ: Mão
- Lực Sĩ: Thìn
- Thanh Long: Tỵ
- Tiểu Hao: Ngọ
- Tướng Quân: Mùi
- Tấu Thư: Thân
- Phi Liêm: Dậu
- Hỷ Thần: Tuất
- Bệnh Phù: Hợi
- Đại Hao: Tý
- Phục Binh: Sửu
- Quan Phủ: Dần
Bính
- Bác Sĩ: Tỵ
- Lực Sĩ: Ngọ
- Thanh Long: Mùi
- Tiểu Hao: Thân
- Tướng Quân: Dậu
- Tấu Thư: Tuất
- Phi Liêm: Hợi
- Hỷ Thần: Tý
- Bệnh Phù: Sửu
- Đại Hao: Dần
- Phục Binh: Mão
- Quan Phủ: Thìn
Đinh
- Bác Sĩ: Ngọ
- Lực Sĩ: Mùi
- Thanh Long: Thân
- Tiểu Hao: Dậu
- Tướng Quân: Tuất
- Tấu Thư: Hợi
- Phi Liêm: Tý
- Hỷ Thần: Sửu
- Bệnh Phù: Dần
- Đại Hao: Mão
- Phục Binh: Thìn
- Quan Phủ: Tỵ
Mậu
- Bác Sĩ: Tỵ
- Lực Sĩ: Ngọ
- Thanh Long: Mùi
- Tiểu Hao: Thân
- Tướng Quân: Dậu
- Tấu Thư: Tuất
- Phi Liêm: Hợi
- Hỷ Thần: Tý
- Bệnh Phù: Sửu
- Đại Hao: Dần
- Phục Binh: Mão
- Quan Phủ: Thìn
Kỷ
- Bác Sĩ: Ngọ
- Lực Sĩ: Mùi
- Thanh Long: Thân
- Tiểu Hao: Dậu
- Tướng Quân: Tuất
- Tấu Thư: Hợi
- Phi Liêm: Tý
- Hỷ Thần: Sửu
- Bệnh Phù: Dần
- Đại Hao: Mão
- Phục Binh: Thìn
- Quan Phủ: Tỵ
Canh
- Bác Sĩ: Thân
- Lực Sĩ: Dậu
- Thanh Long: Tuất
- Tiểu Hao: Hợi
- Tướng Quân: Tý
- Tấu Thư: Sửu
- Phi Liêm: Dần
- Hỷ Thần: Mão
- Bệnh Phù: Thìn
- Đại Hao: Tỵ
- Phục Binh: Ngọ
- Quan Phủ: Mùi
Tân
- Bác Sĩ: Dậu
- Lực Sĩ: Tuất
- Thanh Long: Hợi
- Tiểu Hao: Tý
- Tướng Quân: Sửu
- Tấu Thư: Dần
- Phi Liêm: Mão
- Hỷ Thần: Thìn
- Bệnh Phù: Tỵ
- Đại Hao: Ngọ
- Phục Binh: Mùi
- Quan Phủ: Thân
Nhâm
- Bác Sĩ: Hợi
- Lực Sĩ: Tý
- Thanh Long: Sửu
- Tiểu Hao: Dần
- Tướng Quân: Mão
- Tấu Thư: Thìn
- Phi Liêm: Tỵ
- Hỷ Thần: Ngọ
- Bệnh Phù: Mùi
- Đại Hao: Thân
- Phục Binh: Dậu
- Quan Phủ: Tuất
Quý
- Bác Sĩ: Tý
- Lực Sĩ: Sửu
- Thanh Long: Dần
- Tiểu Hao: Mão
- Tướng Quân: Thìn
- Tấu Thư: Tỵ
- Phi Liêm: Ngọ
- Hỷ Thần: Mùi
- Bệnh Phù: Thân
- Đại Hao: Dậu
- Phục Binh: Tuất
- Quan Phủ: Hợi
Bác Sĩ không có Tứ Hóa, nhưng ở chung cung với chính tinh đang hóa
Bảng Tứ Hóa theo can năm chỉ gọi tên mười bốn chính tinh cùng bốn phụ tinh là Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, và tùy phái mà thêm Thiên Phủ hoặc Thái Âm. Bác Sĩ không nằm trong bảng ấy, không tuổi nào làm nó hóa Lộc, hóa Quyền, hóa Khoa hay hóa Kỵ. Sách không lập mục Tứ Hóa cho sao này, và Thầy cũng không bịa thêm.
Nhưng chính tinh đứng chung cung với Bác Sĩ vẫn hóa như thường, và cái hóa ấy đổi hẳn giọng của cung. Hóa Lộc: cung ấy có Lộc Tồn sẵn, nay thêm Hóa Lộc thành thế Song Lộc, có Bác Sĩ thì phần lộc nghiêng về bằng cấp và nghề chữ nghĩa chứ không thuần là tiền tươi. Hóa Quyền: người ấy nắm việc bằng chuyên môn chứ không bằng thế lực. Hóa Khoa: đây là chỗ Bác Sĩ hợp nhất, vì Khoa chủ danh và chủ chữ, đúng đường của nó. Hóa Kỵ: cái vướng thường hiện ra dưới dạng học mãi chưa xong, hồ sơ phải làm lại, chữa mãi chưa dứt, chứ không phải mất trắng, vì Lộc Tồn cùng cung vẫn giữ được phần nền.
Vì sao đọc Bác Sĩ phải đọc cả vòng. Bởi mười hai sao ấy không phải mười hai mảnh rời mà là một guồng quay có thứ tự, giống mười hai chặng của một đời làm việc: khởi bằng Bác Sĩ là học và biết, sang Lực Sĩ là ra sức, sang Thanh Long là gặp vận vui, rồi hao, rồi cầm quân, rồi trình bày, rồi tiếng dữ, tin mừng, mỏi mệt, hao lớn, ẩn phục, và khép lại ở Quan Phủ là kiện tụng. Biết một sao là biết một chặng; biết cả vòng mới thấy chặng ấy nằm trong nhịp nào. Thực dụng hơn: đã xác định được cung Lộc Tồn tức cung Bác Sĩ, chỉ cần hỏi thêm chiều thuận hay nghịch là toàn bộ mười hai sao hiện ra tức khắc, không phải tra bảng lần nào nữa.
Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
Trước khi đọc hai cột dưới đây, xin nhớ quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Bác Sĩ là mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn, còn giáp hai bên là thế bao vây, nặng với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Riêng với Bác Sĩ thì hai vị thế đã bị khóa cứng: Lộc Tồn vĩnh viễn ở thế đồng cung, còn Kình Dương và Đà La vĩnh viễn ở thế giáp. Đó là lý do Thầy nói cái hay của Bác Sĩ là cái hay có rào, không phải cái hay trống trải.
Bác Sĩ rất thích gặp
- Lộc Tồn (vĩnh viễn đồng cung, không cần tra): đây không phải điều may mà là điều mặc định. Nhớ rằng mọi cái hay của Bác Sĩ đều mượn lực từ Lộc Tồn, nên cứ hỏi Lộc Tồn ở cung ấy có được dùng đúng chỗ không.
- Văn Xương, Văn Khúc (đồng cung mạnh nhất, tam hợp cũng tốt): bộ văn tinh gặp sao hiếu học, thành đường khoa cử rõ ràng. Xương Khúc chiếu về thì cho tài hoa, đồng cung thì cho bằng cấp.
- Hóa Khoa của chính tinh đồng cung (đồng cung là đắc nhất): Khoa chủ danh và chủ chữ, hợp đúng tượng Bác Sĩ. Bộ Lộc Tồn thêm Hóa Khoa thêm Bác Sĩ là nền tốt nhất cho người theo nghiệp học thuật.
- Thiên Y, Thiên Giải, Giải Thần (đồng cung hoặc tam hợp): cùng hướng cởi gỡ với vế giải bệnh Tân Biên ghi.
Bác Sĩ e ngại khi gặp
- Kình Dương và Đà La (vĩnh viễn ở thế giáp, không bao giờ đồng cung): thế bao vây bẩm sinh. Biểu hiện thường gặp là làm gì cũng có vướng ở hai đầu, được việc nhưng phải trả giá bằng công sức và bằng sự cô đơn. Không hóa giải được bằng cách tránh, chỉ quản được bằng cách biết trước.
- Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung nặng nhất, xung chiếu kế): học được mà giữ thành quả khó, hay bỏ dở giữa chừng. Nên chọn ngành có chứng chỉ rõ ràng để cái đã học không bay mất.
- Tuần và Triệt án ngữ (án ngay cung có Bác Sĩ là nặng nhất): việc học và việc thi bị chậm, bị hoãn, phải làm lại lần hai. Tuần Triệt không xóa cái hay, chỉ dời nó ra sau.
- Hóa Kỵ của chính tinh đồng cung (đồng cung): cái vướng bám đúng lĩnh vực của chính tinh ấy. Với Bác Sĩ thường hiện thành học mãi chưa xong, hồ sơ giấy tờ đi lại nhiều lần, chữa mãi chưa dứt.
- Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung mạnh nhất): tính nóng phá mất vế khoan hòa mà sách khen ở Bác Sĩ; làm việc chuyên môn mà nóng thì hay sai ở khâu cuối.
- Chính tinh hãm địa đồng cung (đồng cung): Bác Sĩ không đủ sức nâng một chính tinh đã hãm. Lúc ấy nó chỉ còn giữ được vế cẩn thận và ham hiểu biết, còn vế thành đạt thì phải trông vào tam phương.
Tóm lại một câu cho dễ nhớ: với Bác Sĩ, vị thế quan trọng hơn danh sách. Cùng là Văn Xương, đứng chung cung với Bác Sĩ thì bộ văn tinh có chỗ tựa vào Lộc Tồn, còn chiếu về từ tam hợp thì chỉ thêm phần chữ nghĩa. Cùng là Kình Dương, đồng cung là điều vĩnh viễn không xảy ra, mà giáp một bên thì lại là chuyện luôn luôn xảy ra. Cho nên khi tra hai cột trên, quý vị đừng chỉ hỏi có sao ấy hay không, mà hãy hỏi sao ấy đứng ở đâu so với Bác Sĩ, rồi mới định nặng nhẹ.
Bác Sĩ Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Đại vận đi vào cung có Bác Sĩ nghĩa là đi vào cung có Lộc Tồn của lá số gốc, vì hai sao không rời nhau. Đây thường là một trong những đại vận dễ chịu nhất về nguồn nuôi: có việc để làm, có nghề để sống. Thêm Bác Sĩ thì mười năm ấy nghiêng về tích lũy chuyên môn: đi học lại, lấy bằng, đổi sang nghề cần chứng chỉ. Thầy hay nói đây là đại vận nên đầu tư vào cái đầu, vì tiền lúc ấy có sẵn ở mức đủ, mà thời gian thì không quay lại.
Mặt trái của đại vận ấy nằm ở hai cung kề. Đại vận đi vào cung Lộc Tồn thì hai đại vận liền trước và liền sau chính là cung Đà La và cung Kình Dương, không thể khác, vì đại vận đi tuần tự theo cung. Nghĩa là mười năm êm ấy được kẹp giữa hai mười năm có sát tinh án ngữ. Người biết trước điều này thì dùng mười năm giữa để dựng nền: học nghề, trả nợ, mua chỗ ở, giữ sức khỏe. Người không biết thì tiêu hết phần dư của nó rồi ngạc nhiên khi bước sang chặng sau.
Bác Sĩ có bản lưu niên, và bản lưu ấy đổi chỗ mỗi năm
Đây là điểm phân biệt quan trọng giữa bốn vòng phụ tinh. Vòng Tràng Sinh an theo cục của lá số, mà cục thì cả đời không đổi, nên vòng Tràng Sinh không có bản lưu niên. Các sao an theo tháng sinh như Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Hình, Thiên Riêu, hay an theo giờ sinh như Xương Khúc, Không Kiếp, cũng vậy: tháng sinh và giờ sinh không đổi theo năm xem nên chúng không có bản lưu. Ngược lại, vòng Thái Tuế có bản lưu vì nó khởi từ chi năm, và vòng Bác Sĩ có bản lưu vì nó khởi từ Lộc Tồn mà Lộc Tồn thì tính theo thiên can. Mỗi năm can đổi một lần, nên mỗi năm lưu Lộc Tồn dời sang cung khác, và lưu Bác Sĩ dời theo, vì bản lưu cũng giữ đúng luật đồng cung.
Bảng dưới đây tính sẵn vị trí lưu Lộc Tồn, tức cũng là lưu Bác Sĩ, cùng lưu Kình Dương và lưu Đà La cho mười ba năm tới. Xin đọc bảng theo địa chi của cung trên lá số của quý vị, không đọc theo cung chức.
2026 Bính Ngọ
- Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ tại: Tỵ
- Lưu Kình Dương tại: Ngọ
- Lưu Đà La tại: Thìn
2027 Đinh Mùi
- Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ tại: Ngọ
- Lưu Kình Dương tại: Mùi
- Lưu Đà La tại: Tỵ
2028 Mậu Thân
- Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ tại: Tỵ
- Lưu Kình Dương tại: Ngọ
- Lưu Đà La tại: Thìn
2029 Kỷ Dậu
- Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ tại: Ngọ
- Lưu Kình Dương tại: Mùi
- Lưu Đà La tại: Tỵ
2030 Canh Tuất
- Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ tại: Thân
- Lưu Kình Dương tại: Dậu
- Lưu Đà La tại: Mùi
2031 Tân Hợi
- Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ tại: Dậu
- Lưu Kình Dương tại: Tuất
- Lưu Đà La tại: Thân
2032 Nhâm Tý
- Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ tại: Hợi
- Lưu Kình Dương tại: Tý
- Lưu Đà La tại: Tuất
2033 Quý Sửu
- Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ tại: Tý
- Lưu Kình Dương tại: Sửu
- Lưu Đà La tại: Hợi
2034 Giáp Dần
- Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ tại: Dần
- Lưu Kình Dương tại: Mão
- Lưu Đà La tại: Sửu
2035 Ất Mão
- Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ tại: Mão
- Lưu Kình Dương tại: Thìn
- Lưu Đà La tại: Dần
2036 Bính Thìn
- Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ tại: Tỵ
- Lưu Kình Dương tại: Ngọ
- Lưu Đà La tại: Thìn
2037 Đinh Tỵ
- Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ tại: Ngọ
- Lưu Kình Dương tại: Mùi
- Lưu Đà La tại: Tỵ
2038 Mậu Ngọ
- Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ tại: Tỵ
- Lưu Kình Dương tại: Ngọ
- Lưu Đà La tại: Thìn
Cách dùng bảng rất gọn. Lưu Bác Sĩ rơi vào cung Mệnh hoặc Quan Lộc thì năm ấy thuận cho thi cử, học thêm, nộp hồ sơ chuyên môn, xin cấp phép. Rơi vào Tật Ách thì hợp khám tổng quát và chữa dứt một chứng cũ, đúng vế giải bệnh Tân Biên ghi. Rơi vào Tài Bạch thì nguồn thu nghiêng về chất xám hơn là buôn bán. Nhưng nhớ kèm một câu: lưu Bác Sĩ đi tới đâu thì lưu Kình Dương và lưu Đà La cũng kẹp hai bên tới đó, y như bản mệnh.
Về chiều đếm của vòng lưu, sách không nói rõ và các phái không thống nhất: phần lớn thầy Việt giữ nguyên chiều của bản mệnh, một số phái đếm thuận cho mọi trường hợp. Điều đáng mừng là tranh cãi ấy không chạm tới Bác Sĩ, vì nó ở vị trí số không nên thuận hay nghịch vẫn nằm đúng ô lưu Lộc Tồn.
Những lưu sao khác chạm vào cung có Bác Sĩ
Ngoài bản lưu của chính nó, cung có Bác Sĩ còn bị các lưu sao khác đi qua. Lưu Thái Tuế tới thì năm ấy có việc phải trình bày, phải ra mặt, và với Bác Sĩ thường là việc chuyên môn hoặc thi cử. Lưu Kình Dương hoặc lưu Đà La tới đúng ô Bác Sĩ, chứ không phải hai ô kề, là năm đáng lưu ý nhất, vì thế giáp bẩm sinh biến thành thế đè trực tiếp. Lưu Xương Khúc hợp cho thi viết và công bố; lưu Khôi Việt cho người đỡ đầu; lưu Tang Môn Bạch Hổ thì nên đi khám sớm thay vì chờ. Cách xem chung là đặt lá số gốc xuống, chỉ ra ô có Bác Sĩ, rồi xem năm nay lưu sao nào rơi đúng ô ấy, chứ đừng luận từng lưu sao rời rạc.
Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Bác Sĩ
Bác Sĩ không phải sao của nghề bác sĩ
Đây là hiểu lầm phổ biến nhất, và nó sinh ra từ tiếng Việt hiện đại chứ không từ sách. Chữ Bác Sĩ trong Tử Vi viết là 博士, nghĩa gốc là người học rộng, một chức quan coi việc học trong triều đình xưa, tương đương học vị tiến sĩ ngày nay, không có nghĩa thầy thuốc. Tân Biên mô tả sao này thông minh, khoan hòa, nhân hậu, lợi việc học hành thi cử, có khả năng giải trừ bệnh tật. Vế cuối khiến người đọc hiện đại nối ngay sang nghề y, nhưng trong sách nó là giải bệnh theo nghĩa hóa giải tai ách, cùng họ với Giải Thần và Thiên Giải. Muốn xét nghề y phải nhìn cả bộ Thiên Lương, Thiên Y, Thiên Hình, Thái Âm, Cự Môn và cung Quan Lộc.
Bác Sĩ không tự nó cho thông minh, và cũng không hứa đỗ đạt
Bác Sĩ là phụ tinh nhỏ, loại sao gieo sắc thái chứ không quyết định. Thầy đã xem nhiều lá số có Bác Sĩ thủ Mệnh mà đường học rất chật, vì cung ấy còn bị Tuần Triệt án ngữ và Không Kiếp chiếu về; ngược lại cũng nhiều lá số Bác Sĩ nằm ở Nô Bộc mà người ấy học hành rực rỡ vì Mệnh có Xương Khúc Khôi Việt đủ bộ. Nói cách khác, Bác Sĩ trả lời câu hỏi cái lộc này chảy theo ngả nào, không trả lời câu hỏi người này có giỏi không.
Bác Sĩ trong vòng Bác Sĩ khác Bác Sĩ trong các bảng sao khác
Trong bộ 121 sao có nhiều tên gọi gần nhau, và vòng Bác Sĩ là nơi lắm nhầm lẫn nhất. Quan Phủ của vòng Bác Sĩ không phải Quan Phù của vòng Thái Tuế; Bệnh Phù của vòng Bác Sĩ không phải Trực Phù của vòng Thái Tuế, cũng không phải sao Bệnh của vòng Tràng Sinh; Thanh Long của vòng Bác Sĩ không phải Thanh Long trong Phong Thủy tứ tượng. Riêng với Bác Sĩ, xin nhớ nó chỉ có một chỗ đứng duy nhất là vị trí khởi của vòng này, và cách nhận ra nó chắc chắn nhất là hỏi Lộc Tồn ở đâu. Nếu một bảng an sao nào đó đặt Bác Sĩ lệch khỏi Lộc Tồn thì bảng ấy sai, không phải phái khác.
Có Bác Sĩ không có nghĩa là miễn nhiễm bệnh tật
Vế giải bệnh làm nhiều người yên tâm quá mức, nhất là khi Bác Sĩ đóng ngay cung Tật Ách. Cách hiểu đúng theo Thầy là: Bác Sĩ tại Tật Ách chủ gặp thầy gặp thuốc, chữa đúng chỗ, phát hiện sớm, chứ không chủ không mắc bệnh. Người có sao này thường có duyên với việc chữa trị theo nghĩa tìm ra được nguyên nhân và theo được phác đồ, đó đã là điều quý. Nhưng nó không xóa được Kình Đà giáp hai bên, không xóa được Hóa Kỵ đồng cung, và tuyệt đối không thay được việc đi khám. Một phụ tinh nhỏ không bao giờ là lời hứa về sức khỏe, và cũng không ai nên hoãn một cuộc khám vì trên lá số có sao lành.
Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải
Bác Sĩ là cát tinh nhỏ, không phải sao cần trấn, cần yểm, cần cúng. Việc của quý vị với sao này không phải là hóa giải nó, mà là dùng nó cho hết, đồng thời quản cái thế giáp Kình Đà đi kèm nó. Dưới đây là những điều Thầy vẫn dặn khách có Bác Sĩ nổi bật trong lá số.
Học một thứ tới nơi, đừng học nhiều thứ tới lưng chừng
Người có Bác Sĩ hay ham hiểu biết, mà ham quá thì thành rải mỏng. Cái hay của Lộc Tồn là bền và đều, hợp việc theo đuổi một môn đủ lâu để thành nghề. Thầy vẫn khuyên chọn một chuyên môn có bằng cấp rõ ràng rồi đi cho hết. Học rộng vẫn tốt, nhưng phải có một cái sâu làm trụ.
Nhận trước rằng cái hay của mình luôn có rào hai bên
Đã có Bác Sĩ thì vĩnh viễn có Kình Dương và Đà La giáp, không lá số nào thoát. Cho nên đừng đợi tới lúc gặp trở ngại mới ngạc nhiên. Cách quản thiết thực nhất là nhìn xem hai cung kề ấy là cung chức gì rồi phòng đúng chỗ: kề Tài Bạch thì giữ sổ sách rõ ràng và không đứng tên vay hộ; kề Tật Ách thì khám định kỳ; kề Phu Thê thì đừng để việc chuyên môn nuốt hết thời gian dành cho gia đình. Phòng đúng chỗ tốn ít công hơn chống đỡ khắp nơi rất nhiều.
Cho cái biết của mình một chỗ để trả lại
Sách gọi Bác Sĩ là thông minh, khoan hòa, nhân hậu. Ba chữ ấy đi liền nhau có ý: cái biết mà không có lòng thì thành cái sắc. Thầy để ý những khách có Bác Sĩ mà làm nghề truyền lại, dù là dạy học, hướng dẫn nghề, hay chỉ viết lại kinh nghiệm cho người sau, thường sống nhẹ hơn hẳn người giữ cái biết cho riêng mình.
Việc giấy tờ thì làm sớm, đừng dồn tới hạn
Đây là lời khuyên thực dụng nhất và cũng hay đúng nhất. Cung có Bác Sĩ là cung của hồ sơ, bằng cấp, chứng chỉ, đơn từ. Bị Kình Đà giáp nên loại việc ấy hay phải đi lại lần hai. Nộp sớm hơn hạn một tuần, giữ bản sao, ghi lại ngày tháng, đó là ba việc nhỏ mà tiết kiệm được rất nhiều bực dọc, nhất là trong những năm lưu Kình hoặc lưu Đà rơi đúng ô có Bác Sĩ.
Phong thủy bổ trợ, chỉ là gợi ý chung
Thầy gợi ý những việc rất đời thường: dành một góc cố định trong nhà để đọc và làm việc, đủ sáng và đủ yên; giữ giấy tờ quan trọng trong một hộp duy nhất có ghi nhãn; mỗi năm dọn sách một lần. Đây là gợi ý chung cho người làm việc bằng đầu óc, không phải phép thuật gắn với sao Bác Sĩ, và không thay được việc học thật, làm thật, khám sức khỏe thật.
Câu hỏi thường gặp
Bác Sĩ là sao đứng đầu vòng Bác Sĩ trong Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Thủy, luôn đi cùng Lộc Tồn. Đây là cát tinh nhỏ chủ sự thông minh, hiếu học, lợi học hành thi cử và có khả năng giải trừ bệnh tật.
Bác Sĩ luôn đứng cùng cung với Lộc Tồn, là khởi điểm của vòng Bác Sĩ. Từ đó cả vòng mười hai sao an theo chiều thuận hoặc nghịch tùy âm dương nam nữ.
Bác Sĩ chủ thông minh và khả năng giải bệnh, nên ở cung Tật Ách hay đi cùng sao y dược thì lợi cho sức khỏe và nghề liên quan chữa trị. Nhưng cốt lõi là sao học hành, tri thức, không chỉ riêng nghề y.
Trong lưu niên, cung gặp Bác Sĩ thường lợi cho học hành, thi cử, nghiên cứu và chữa bệnh, là dấu hiệu lành cho việc trau dồi tri thức và sức khỏe.
Không bao giờ, và điều này đã kiểm bằng máy đủ mười can. Kình Dương luôn an ở cung liền sau Lộc Tồn, Đà La luôn an ở cung liền trước, mà Bác Sĩ thì đứng đúng ô Lộc Tồn ở giữa. Khoảng cách một cung không nằm trong tam phương tứ chính, nên Bác Sĩ cũng không xung chiếu và không tam hợp với hai sao ấy. Đổi lại, Bác Sĩ vĩnh viễn bị Kình Dương và Đà La giáp hai bên, không lá số nào thoát khỏi thế bao vây này. Sao đồng cung Kình Dương là Lực Sĩ khi đếm thuận, hoặc Quan Phủ khi đếm nghịch.
Có. Vòng Bác Sĩ khởi từ Lộc Tồn, mà Lộc Tồn an theo thiên can, nên mỗi năm can đổi thì lưu Lộc Tồn dời cung và lưu Bác Sĩ dời theo, vẫn giữ đúng luật đồng cung. Đây là điểm khác với vòng Tràng Sinh vốn an theo cục nên cả đời không đổi, và khác với các sao an theo tháng sinh hay giờ sinh vốn cũng không có bản lưu. Ví dụ năm 2026 Bính Ngọ thì lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ tại Tỵ, năm 2027 Đinh Mùi thì tại Ngọ, năm 2028 Mậu Thân thì lại về Tỵ.
Không suy ra được từ một sao. Chữ Bác Sĩ trong Tử Vi viết là 博士, nghĩa gốc là người học rộng, là chức quan coi việc học thời xưa, không phải thầy thuốc. Vế giải trừ bệnh tật mà Tân Biên ghi cho sao này thuộc nghĩa hóa giải tai ách, cùng họ với Giải Thần và Thiên Giải, chứ không phải mô tả nghề nghiệp. Muốn xét duyên với nghề y phải nhìn cả bộ Thiên Lương, Thiên Y, Thiên Hình, Thái Âm, Cự Môn cùng cung Quan Lộc và cung Tật Ách, chứ không dựa vào một phụ tinh nhỏ.