Tử Vi

Sao Bệnh Phù: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung

Tìm hiểu sao Bệnh Phù trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.

Đạo Quán25 phút đọc

Tổng quan về sao Bệnh Phù

Bệnh Phù là sao thứ chín của vòng Bác Sĩ. Đây là một sao nhỏ mang khí bệnh tật, chủ sự ốm đau, mệt mỏi, sức khỏe không thật tốt. Lưu ý đây là Bệnh Phù của vòng Bác Sĩ, khác với sao Bệnh trong vòng Trường Sinh.

  • Ngũ hành: Thủy
  • Nhóm: Vòng Bác Sĩ
  • Cách an: Theo sao Lộc Tồn
  • Cai quản: bệnh tật, ốm đau, mệt mỏi
  • Tính chất: Bệnh tật, mệt mỏi

Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.

Ý nghĩa tại cung Mệnh

  • Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Người biết giữ sức, sống chừng mực, không ưa gắng quá. Sức bền không nổi trội nhưng biết liệu sức mà làm nên ít khi gãy giữa chừng.
  • Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Dễ uể oải, làm việc theo đợt, hay bỏ dở khi mệt. Nên xây thói quen ngủ và vận động đều thay vì trông vào ý chí từng lúc.

Ý nghĩa ở các cung khác

Đối chiếu ý nghĩa của Bệnh Phù với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.

Cung Phụ Mẫu

  • Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Cha mẹ được chăm sóc chu đáo, nhà có nếp đưa người lớn đi khám định kỳ.
  • Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Bậc trên hay đau yếu, mình phải lo. Đây là dấu để sắp xếp trước cho chủ động, không phải dấu để đoán việc.

Cung Phúc Đức

  • Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Biết nghỉ, biết buông, không ôm việc vào lòng. Tinh thần là chỗ mạnh chứ không phải chỗ yếu.
  • Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Hay lo nghĩ, mệt trong lòng trước khi mệt trong thân, khó ngủ vì nghĩ ngợi. Đây là cung nên chỉnh trước nếu muốn đỡ mệt.

Cung Điền Trạch

  • Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Nhà ở thoáng, sạch, có chỗ nghỉ tử tế; nếp nhà chú ý tới ăn ngủ.
  • Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Chỗ ở ẩm thấp, thiếu sáng hoặc thiếu thoáng, nhà cửa hay phải sửa. Đây là cung nên xem lại nơi ngủ trước tiên.

Cung Quan Lộc

  • Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Công việc có nhịp, biết dừng đúng lúc, không đốt sức. Hợp nghề chăm sóc sức khỏe, điều dưỡng, dược, dinh dưỡng.
  • Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Việc tiến chậm, hay bị gián đoạn, sức không theo kịp đầu việc. Nên cắt bớt đầu việc thay vì cố kéo dài giờ làm.

Cung Nô Bộc

  • Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Bạn bè cấp dưới quan tâm nhau, nhóm có văn hóa nghỉ ngơi lành mạnh.
  • Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Người quanh mình hay có chuyện sức khỏe, mình thành chỗ nhờ vả. Việc chung dễ chậm vì nhân sự đứt quãng.

Cung Thiên Di

  • Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Đi xa biết giữ sức, chuẩn bị chu đáo, ít khi ốm dọc đường.
  • Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Ra ngoài dễ mệt, đi nhiều thì đuối, nên tránh lịch trình dày và nên mang sẵn thuốc quen dùng.

Cung Tật Ách

  • Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Sức bền vừa phải nhưng biết giữ, ốm thì chóng lại vì chịu đi khám và chịu nghỉ. Sao này ở đây là lời nhắc kiểm tra định kỳ, không phải bản án.
  • Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Nếp sinh hoạt dễ sinh mệt kéo dài, việc nhỏ để lâu thành việc lớn. Muốn biết bệnh gì thì phải đọc chính tinh của cung, Tứ Hóa rơi vào cung, sát tinh trong cung và đại vận lưu niên đang chạm tới; Bệnh Phù chỉ là một dấu nhỏ cộng thêm.

Cung Tài Bạch

  • Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Biết dành một phần cho việc phòng thân, có bảo hiểm hoặc khoản để dành cho lúc yếu.
  • Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Tiền hao vào việc thuốc men chăm sóc, hoặc thu nhập chững lại trong những quãng sức khỏe không tốt.

Cung Tử Tức

  • Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Con cái được chăm kỹ, nhà chú ý tới ăn ngủ của trẻ, việc nuôi con có nề nếp.
  • Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Con hay ốm vặt quãng nhỏ, cha mẹ tốn công thức đêm. Đây là dấu để chuẩn bị chứ không phải dấu để lo.

Cung Phu Thê

  • Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Hai người chăm nhau chu đáo, quan tâm tới nếp sống và bữa ăn của nhau.
  • Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Một bên hay mệt, sinh hoạt lệch nhịp, chuyện chăm sóc trở thành gánh nếu không chia đều. Nên nói rõ và chia việc.

Cung Huynh Đệ

  • Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Anh chị em biết chăm nhau lúc yếu, trong nhà có người thạo việc thuốc thang chăm sóc.
  • Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Có người trong nhóm thân hay đau yếu và mình là chỗ dựa, việc chung dễ đứt đoạn vì lý do sức khỏe của ai đó.

Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc

Bệnh Phù an theo sao Lộc Tồn, mà Lộc Tồn thì an theo thiên can năm sinh. Đặt Bác Sĩ vào đúng cung Lộc Tồn rồi đếm tiếp mười một sao của vòng, thuận với người dương nam âm nữ, nghịch với người âm nam dương nữ. Bệnh Phù là sao thứ chín trong thứ tự ấy, tức cách Bác Sĩ tám bước. Nói ngay từ đầu điều quan trọng nhất về sao này: nó không an theo cục, nên nó không phải sao Bệnh của vòng Tràng Sinh, dù hai cái tên chỉ khác nhau một chữ.

Tám bước đếm thuận và tám bước đếm nghịch cho hai cung khác nhau, nhưng cả hai đều rơi vào vị trí tam hợp của Lộc Tồn: đếm thuận thì Bệnh Phù cách Lộc Tồn tám cung, đếm nghịch thì cách bốn cung, mà bốn và tám chính là hai khoảng cách tạo tam hợp trong Đẩu Số. Vậy điều bất biến đầu tiên rất gọn: Bệnh Phù luôn tam hợp chiếu với Lộc Tồn và với Bác Sĩ, ở mọi tuổi và cả hai chiều an. Cổ nhân đặt sao mang tiếng ốm đau vào đúng tam hợp của sao tài lộc và sao học vấn, và điều đó nói lên cách người xưa nhìn bệnh: bệnh nằm trong tầm tay của cái mình dành dụm được và cái mình hiểu biết được.

Giáp

  • Lộc Tồn tại: Dần
  • Bệnh Phù khi an thuận: Tuất
  • Bệnh Phù khi an nghịch: Ngọ
  • Kình Dương · Đà La: Mão · Sửu

Ất

  • Lộc Tồn tại: Mão
  • Bệnh Phù khi an thuận: Hợi
  • Bệnh Phù khi an nghịch: Mùi
  • Kình Dương · Đà La: Thìn · Dần

Bính

  • Lộc Tồn tại: Tỵ
  • Bệnh Phù khi an thuận: Sửu
  • Bệnh Phù khi an nghịch: Dậu
  • Kình Dương · Đà La: Ngọ · Thìn

Đinh

  • Lộc Tồn tại: Ngọ
  • Bệnh Phù khi an thuận: Dần
  • Bệnh Phù khi an nghịch: Tuất
  • Kình Dương · Đà La: Mùi · Tỵ

Mậu

  • Lộc Tồn tại: Tỵ
  • Bệnh Phù khi an thuận: Sửu
  • Bệnh Phù khi an nghịch: Dậu
  • Kình Dương · Đà La: Ngọ · Thìn

Kỷ

  • Lộc Tồn tại: Ngọ
  • Bệnh Phù khi an thuận: Dần
  • Bệnh Phù khi an nghịch: Tuất
  • Kình Dương · Đà La: Mùi · Tỵ

Canh

  • Lộc Tồn tại: Thân
  • Bệnh Phù khi an thuận: Thìn
  • Bệnh Phù khi an nghịch: Tý
  • Kình Dương · Đà La: Dậu · Mùi

Tân

  • Lộc Tồn tại: Dậu
  • Bệnh Phù khi an thuận: Tỵ
  • Bệnh Phù khi an nghịch: Sửu
  • Kình Dương · Đà La: Tuất · Thân

Nhâm

  • Lộc Tồn tại: Hợi
  • Bệnh Phù khi an thuận: Mùi
  • Bệnh Phù khi an nghịch: Mão
  • Kình Dương · Đà La: Tý · Tuất

Quý

  • Lộc Tồn tại: Tý
  • Bệnh Phù khi an thuận: Thân
  • Bệnh Phù khi an nghịch: Thìn
  • Kình Dương · Đà La: Sửu · Hợi

Đọc tiếp hai cột giữa của bảng thì thấy điều bất biến thứ hai. Từ Bệnh Phù tới Kình Dương là năm hoặc chín cung, tới Đà La là ba hoặc bảy cung, tùy chiều an. Ba, năm, bảy, chín đều không phải khoảng cách tạo quan hệ, vì quan hệ chỉ sinh ra ở khoảng cách không cung là đồng cung, bốn và tám cung là tam hợp, sáu cung là xung chiếu. Nghĩa là Bệnh Phù không bao giờ gặp Kình Dương, cũng không bao giờ gặp Đà La trên bản mệnh. Câu quen miệng "Bệnh Phù gặp Kình Đà thì bệnh nặng" vì thế phải sửa lại: hai sát tinh ấy chỉ chạm được vào cung Bệnh Phù qua bản lưu của năm xem, hoặc khi xét cung đại vận.

Sáu điều bất biến của Bệnh Phù

  • Phải biết chiều an mới an được. Đếm thuận và đếm nghịch cho hai cung khác nhau, nên hỏi thiên can năm sinh thôi chưa đủ.
  • Luôn tam hợp Lộc Tồn và Bác Sĩ. Cố định tuyệt đối ở mọi tuổi và cả hai chiều an.
  • Không bao giờ gặp Kình Dương và Đà La. Luôn cách ba, năm, bảy hoặc chín cung, đều là những khoảng cách không tạo quan hệ.
  • Luôn bị Hỷ Thần và Đại Hao giáp hai bên. Cố định ở mọi tuổi và cả hai chiều, chỉ đổi bên trái phải. Một bên là sao niềm vui, một bên là sao hao lớn.
  • Trong vòng, luôn xung chiếu Thanh Long và luôn tam hợp Tướng Quân. Cùng với Bác Sĩ ở tam hợp kia, đây là bốn quan hệ cố định của Bệnh Phù trong vòng.
  • Đủ mười hai cung, không kén chính tinh. Gộp cả hai chiều thì Bệnh Phù có thể đóng bất kỳ cung nào, và vì mọi chính tinh đều có thể rơi vào bất cứ cung nào qua mười hai thế của Tử Vi, nó có thể đứng cùng bất cứ chính tinh nào hoặc đứng một mình trong cung vô chính diệu.

Cách An Rút Gọn Và Vị Trí Trong Lá Số

Vòng Bác Sĩ gồm mười hai sao an theo sao Lộc Tồn. Bác Sĩ luôn đứng cùng cung với Lộc Tồn, rồi lần lượt Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ được an theo chiều thuận với người dương nam âm nữ và nghịch với người âm nam dương nữ.

Trong vòng mười hai sao, Bệnh Phù giữ vị trí cố định theo thứ tự. Biết Bác Sĩ (cùng cung Lộc Tồn) ở đâu và chiều an thuận hay nghịch là suy ra được vị trí Bệnh Phù.

Đặc Tính Và Tượng Của Bệnh Phù

Bệnh Phù mang khí của ốm đau và mệt mỏi. Ở cung Tật Ách, nó nhắc đề phòng bệnh; ở cung khác, nó báo sự uể oải, thiếu sức, việc dễ chậm. Người có Bệnh Phù đôi khi sức khỏe không dồi dào hoặc hay vướng bệnh vặt.

Là sao nhỏ, Bệnh Phù không gây đại họa; có phúc tinh, sao giải và chính tinh sáng thì bệnh nhẹ, gặp Hóa Kỵ và sát tinh thì cần giữ gìn hơn.

Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế

Trước khi đọc hai cột dưới, cần nhớ quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Bệnh Phù là mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn, còn giáp hai bên là thế bao vây, mạnh với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Với Bệnh Phù còn thêm một tầng: cấu trúc an sao đã khóa sẵn một số quan hệ, có sao chắc chắn phải gặp và có sao không bao giờ gặp được trên bản mệnh. Danh sách dưới ghi rõ vị thế khả dĩ của từng sao.

Bệnh Phù nhẹ đi khi gặp

  • Bác Sĩ và Lộc Tồn (luôn tam hợp chiếu, cố định mọi tuổi): hiểu biết và tài lực chiếu tới, đây là cái đối trị mà cấu trúc cấp sẵn cho mọi lá số.
  • Thiên Lương (đồng cung khả dĩ ở mọi tuổi, hoặc chiếu): sao chủ giải ách và che chở, được sách xếp vào hàng đối trị bệnh tật rõ nhất trong bộ chính tinh.
  • Hóa Khoa (đồng cung qua chính tinh cùng cung, hoặc chiếu): gặp đúng thầy đúng thuốc, chẩn đoán sớm, việc rắc rối được làm sáng.
  • Chính tinh sáng đắc địa (đồng cung, cả mười bốn chính tinh đều khả dĩ): nền vững thì cái nhãn bệnh không thành chuyện.

Bệnh Phù nặng thêm khi gặp

  • Hóa Kỵ (đồng cung qua chính tinh cùng cung là nặng nhất, chiếu nhẹ hơn): chuyện mệt mỏi kéo dài, không dứt điểm. Ở cung Tật Ách thì đây là dấu để đi khám định kỳ.
  • Sao Bệnh của vòng Tràng Sinh (đồng cung chỉ có ở người an thuận và đúng nhóm can cùng cục đã nêu ở mục vòng): hai lớp cùng nói một chuyện thì đáng chú ý hơn một lớp, nhưng vẫn chưa đủ để phán bệnh.
  • Kình Dương và Đà La (trên bản mệnh không bao giờ đồng cung, không xung chiếu, cũng không tam hợp): chỉ chạm được qua lưu Kình lưu Đà của năm xem hoặc qua cung đại vận. Câu chép trong sách phải hiểu theo nghĩa lưu.

Tóm lại, cùng một sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho kết quả khác nhau, và với Bệnh Phù thì cấu trúc an sao đã khóa sẵn hai điều: nó luôn được Lộc Tồn và Bác Sĩ tam hợp chiếu tới, và nó không bao giờ gặp Kình Dương hay Đà La trên bản mệnh. Đọc hai cột trên phải đọc kèm vị thế ghi trong ngoặc, và đừng bao giờ kết luận về sức khỏe chỉ từ một sao.

Bệnh Phù Trong Đại Vận Và Lưu Niên

Mọi mục trên nói về Bệnh Phù đứng yên, còn câu khách hỏi nhiều nhất lại là chuyện động: quãng này sức khỏe thế nào, năm nay có phải giữ gìn không. Muốn trả lời phải xét ba tầng chồng lên nhau: đại vận mười năm, lưu niên một năm, và bản lưu của chính vòng Bác Sĩ.

Đại vận đi vào cung có Bệnh Phù

Khi đại vận mười năm bước vào cung có Bệnh Phù bản mệnh, sắc thái chung của quãng ấy là nhịp chậm lại: việc tiến từ tốn hơn, sức bền không như quãng trước, cơ thể đòi được nghỉ nhiều hơn. Nếu cung ấy có chính tinh sáng và có bộ Bác Sĩ Lộc Tồn tam hợp sạch thì đây thường là quãng tốt để chỉnh lại nếp sống: tập đều, ăn đúng giờ, khám định kỳ, và những việc ấy cho kết quả rõ hơn so với làm ở quãng khác. Nếu cung ấy có Hóa Kỵ và sát tinh thì đây là quãng nên chủ động đi kiểm tra thay vì chờ triệu chứng. Thầy nhấn một điều: đại vận có Bệnh Phù không phải đại vận xấu, nhiều người có quãng này lại là quãng họ bắt đầu sống điều độ.

Bệnh Phù có bản lưu niên

Bốn vòng phụ tinh không giống nhau ở chỗ này. Vòng Thái Tuế và vòng Bác Sĩ đều có bản lưu niên: vòng Thái Tuế lưu theo địa chi năm xem, vòng Bác Sĩ lưu theo thiên can năm xem. Ngược lại, vòng Tràng Sinh không có bản lưu vì nó an theo cục của lá số chứ không theo can chi năm, nên sao Bệnh của vòng ấy đứng yên suốt đời; các sao an theo tháng sinh hay giờ sinh cũng không có bản lưu vì tháng sinh và giờ sinh không đổi theo năm. Đây là một khác biệt nữa giữa Bệnh Phù và sao Bệnh: một bên chạy theo năm, một bên đứng yên.

Cách tính lưu Bệnh Phù: lấy thiên can năm đang xem, tìm lưu Lộc Tồn của can ấy, rồi đếm tám bước theo đúng chiều an của người xem. Chiều an vẫn là chiều của bản mệnh, không đổi theo năm. Bảng dưới tính sẵn cả hai chiều cho các năm lưu niên gần, kèm lưu Kình lưu Đà để tiện đối chiếu.

2026 Bính Ngọ

  • Lưu Lộc Tồn: Tỵ
  • Lưu Bệnh Phù nếu an thuận: Sửu
  • Lưu Bệnh Phù nếu an nghịch: Dậu
  • Lưu Kình · lưu Đà: Ngọ · Thìn

2027 Đinh Mùi

  • Lưu Lộc Tồn: Ngọ
  • Lưu Bệnh Phù nếu an thuận: Dần
  • Lưu Bệnh Phù nếu an nghịch: Tuất
  • Lưu Kình · lưu Đà: Mùi · Tỵ

2028 Mậu Thân

  • Lưu Lộc Tồn: Tỵ
  • Lưu Bệnh Phù nếu an thuận: Sửu
  • Lưu Bệnh Phù nếu an nghịch: Dậu
  • Lưu Kình · lưu Đà: Ngọ · Thìn

2029 Kỷ Dậu

  • Lưu Lộc Tồn: Ngọ
  • Lưu Bệnh Phù nếu an thuận: Dần
  • Lưu Bệnh Phù nếu an nghịch: Tuất
  • Lưu Kình · lưu Đà: Mùi · Tỵ

2030 Canh Tuất

  • Lưu Lộc Tồn: Thân
  • Lưu Bệnh Phù nếu an thuận: Thìn
  • Lưu Bệnh Phù nếu an nghịch: Tý
  • Lưu Kình · lưu Đà: Dậu · Mùi

2031 Tân Hợi

  • Lưu Lộc Tồn: Dậu
  • Lưu Bệnh Phù nếu an thuận: Tỵ
  • Lưu Bệnh Phù nếu an nghịch: Sửu
  • Lưu Kình · lưu Đà: Tuất · Thân

2032 Nhâm Tý

  • Lưu Lộc Tồn: Hợi
  • Lưu Bệnh Phù nếu an thuận: Mùi
  • Lưu Bệnh Phù nếu an nghịch: Mão
  • Lưu Kình · lưu Đà: Tý · Tuất

2033 Quý Sửu

  • Lưu Lộc Tồn: Tý
  • Lưu Bệnh Phù nếu an thuận: Thân
  • Lưu Bệnh Phù nếu an nghịch: Thìn
  • Lưu Kình · lưu Đà: Sửu · Hợi

2034 Giáp Dần

  • Lưu Lộc Tồn: Dần
  • Lưu Bệnh Phù nếu an thuận: Tuất
  • Lưu Bệnh Phù nếu an nghịch: Ngọ
  • Lưu Kình · lưu Đà: Mão · Sửu

2035 Ất Mão

  • Lưu Lộc Tồn: Mão
  • Lưu Bệnh Phù nếu an thuận: Hợi
  • Lưu Bệnh Phù nếu an nghịch: Mùi
  • Lưu Kình · lưu Đà: Thìn · Dần

2036 Bính Thìn

  • Lưu Lộc Tồn: Tỵ
  • Lưu Bệnh Phù nếu an thuận: Sửu
  • Lưu Bệnh Phù nếu an nghịch: Dậu
  • Lưu Kình · lưu Đà: Ngọ · Thìn

2037 Đinh Tỵ

  • Lưu Lộc Tồn: Ngọ
  • Lưu Bệnh Phù nếu an thuận: Dần
  • Lưu Bệnh Phù nếu an nghịch: Tuất
  • Lưu Kình · lưu Đà: Mùi · Tỵ

2038 Mậu Ngọ

  • Lưu Lộc Tồn: Tỵ
  • Lưu Bệnh Phù nếu an thuận: Sửu
  • Lưu Bệnh Phù nếu an nghịch: Dậu
  • Lưu Kình · lưu Đà: Ngọ · Thìn

Hai cách dùng bảng. Cách thứ nhất là tìm năm trùng phùng: năm nào lưu Bệnh Phù rơi đúng cung có Bệnh Phù bản mệnh thì sắc thái của sao đậm gấp đôi trong năm ấy. Vì can năm quay một vòng mười năm nên năm trùng phùng trở lại đều đặn mười năm một lần, là những năm có thiên can trùng với thiên can năm sinh. Cách thứ hai là xem lưu Bệnh Phù rơi vào cung chức nào trong năm ấy: rơi vào Tật Ách thì năm nên khám định kỳ, rơi vào Phụ Mẫu thì năm nên để ý sức khỏe bậc trên, rơi vào Quan Lộc thì năm nên giảm cường độ làm việc.

Các lưu sao khác chạm vào cung Bệnh Phù cũng nên xem cùng lúc. Lưu Kình Dương và lưu Đà La đáng chú ý nhất, đúng vì lý do cấu trúc đã nêu: trên bản mệnh Bệnh Phù không bao giờ gặp hai sao ấy, nên khi lưu Kình hay lưu Đà đóng đúng cung Bệnh Phù thì đó là một tổ hợp chỉ có trong năm lưu, và vì hiếm nên đáng để ý. Lưu Tang Môn và lưu Bạch Hổ vào cung Bệnh Phù thì năm ấy dễ có việc thăm nom lo lắng cho người thân. Lưu Thiên Lương và lưu Hóa Khoa vào cung Bệnh Phù thì đó là dấu lành, thường ứng vào việc gặp được đúng người giúp. Thầy vẫn dặn một câu gọn: một lớp chạm chỉ là dấu nhỏ, ba lớp cùng chạm vào một cung thì năm ấy mới đáng nói, và ngay cả khi ba lớp cùng chạm thì việc phải làm cũng chỉ là đi khám sớm, không phải ngồi lo.

Ranh Giới: Bệnh Phù Không Phải Sao Quyết Định Sức Khỏe

Đây là mục quan trọng nhất của bài. Bệnh Phù mang cái tên khiến người ta sợ, và nỗi sợ ấy làm hỏng rất nhiều buổi luận. Bốn mục dưới đây nói rõ sách nói gì và không nói gì.

Một: đây là phụ tinh nhỏ, không phán được bệnh

Tân Biên xếp Bệnh Phù vào nhóm phụ tinh của vòng Bác Sĩ, chép về nó vài dòng, không lập cách cục riêng và không lập câu phú riêng. Một sao được sách chép trong vài dòng thì trọng lượng luận cũng chỉ nên bằng vài dòng. Thêm nữa, vòng Bác Sĩ trải kín mười hai cung nên lá số nào cũng có Bệnh Phù; nếu sao này phán được bệnh thì cả thiên hạ đều có bệnh, điều đó tự nó cho thấy cách đọc ấy sai ở đâu. Bệnh Phù cho biết sắc thái của một cung, không cho biết sự việc, và tuyệt đối không cho biết bộ phận cơ thể nào.

Hai: đọc bệnh phải đọc cung Tật Ách với chính tinh và Tứ Hóa

Muốn nói về sức khỏe trên lá số thì trình tự đúng là như sau, và Bệnh Phù chỉ xuất hiện ở bước cuối. Bước một, xem chính tinh của cung Tật Ách: mỗi chính tinh có ngũ hành và có nhóm tạng phủ mà sách gắn cho, đây mới là thứ chỉ ra bộ phận. Bước hai, xem Tứ Hóa rơi vào cung ấy, đặc biệt là Hóa Kỵ, vì Kỵ ở Tật Ách là dấu mạnh nhất về chỗ vướng kéo dài. Bước ba, xem sát tinh trong cung và trong tam phương tứ chính: Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, cùng với Tuần Triệt án ngữ. Bước bốn, xem đại vận và lưu niên có đang chạm vào cung ấy không. Bước năm mới tới các dấu nhỏ: Bệnh Phù, sao Bệnh của vòng Tràng Sinh, Thiên Y, Bệnh Phù lưu niên. Ai đảo ngược trình tự này, tức nhìn thấy Bệnh Phù rồi kết luận, là đang lấy cái nhãn thay cho cái nội dung. Thầy nói thẳng với học trò: Bệnh Phù là một dấu nhỏ, không phải một chẩn đoán. Và dù đọc đủ năm bước thì lá số cũng không thay được việc đi khám; mệnh lý nói khuynh hướng, y học nói bệnh.

Ba: Bệnh Phù khác sao Bệnh của vòng Tràng Sinh

Mục vòng đã nói kỹ, ở đây nhắc lại cho gọn vì đây là chỗ nhầm hay gặp nhất. Sao Bệnh thuộc vòng Tràng Sinh, an theo cục, đứng ở chặng thứ bảy của mười hai chặng sinh vượng mộ tuyệt, và chỉ có thể đóng bốn cung tứ sinh là Dần, Tỵ, Thân, Hợi. Nó mô tả chặng suy của một chu kỳ, không riêng gì thân thể; cùng một sao ấy đặt ở cung Tài Bạch thì nói về chặng đi xuống của dòng tiền chứ không nói về ốm đau. Bệnh Phù thuộc vòng Bác Sĩ, an theo Lộc Tồn và chiều thuận nghịch, đi đủ mười hai cung, có bản lưu niên trong khi sao Bệnh thì không. Hai sao trùng cung chỉ ở một số trường hợp đếm được, và người an nghịch thì không bao giờ có trường hợp ấy.

Bốn: tên sao không phải là điều sẽ xảy ra

Điều này đúng cho cả nhóm sao mang tên đáng sợ trong Đẩu Số, và Bệnh Phù là một ví dụ điển hình. Chữ phù trong tên sao mang nghĩa cái dấu, cái phù hiệu, cái điềm báo, không mang nghĩa sự việc đã thành. Bệnh Phù là cái dấu về bệnh, không phải bệnh. Cũng như Tang Môn không có nghĩa là sẽ có tang, Bạch Hổ không có nghĩa là gặp nạn, Đại Hao không có nghĩa là sẽ mất của. Tên sao là tượng, tức hình ảnh gợi ý một loại khí, còn sự việc thì phải có đủ chính tinh, đủ hóa, đủ vận mới nói được. Thầy vẫn dặn học trò một câu, và đây là câu đáng nhớ nhất của bài này: người luận mà làm khách sợ thì đã hỏng nửa buổi luận. Với những sao mang tên nặng, việc đầu tiên phải làm là nói cho khách biết sao ấy nhỏ tới mức nào, rồi mới nói tới nội dung. Cũng nên phân biệt chữ phù trong Bệnh Phù với Quan Phù của vòng Thái Tuế và Trực Phù cùng vòng ấy: cùng một chữ nhưng ba sao khác nhau.

Lời Khuyên Khi Bệnh Phù Nổi Bật

Bệnh Phù không phải sao cần trấn yểm, và cũng không có bùa chú nào trong khoa Tử Vi dành cho nó. Lời khuyên ở đây đều là việc đời thường, và tất cả đều xoay quanh một chữ: đều. Cái mà sao này mô tả không phải một cơn bệnh, mà là sự thiếu đều đặn trong nếp sống, và cái thiếu đều đặn thì sửa được bằng thói quen.

Ba việc làm được ngay

Một, giữ giờ ngủ cố định. Trong tất cả các lời khuyên Thầy đưa cho khách có Bệnh Phù ở Mệnh, Tật Ách hoặc Phúc Đức, đây là lời khuyên cho kết quả nhanh nhất. Ngủ đúng giờ quan trọng hơn ngủ nhiều. Hai, khám định kỳ theo lịch, không chờ triệu chứng. Cấu trúc của sao này đã nói sẵn điều ấy: Bác Sĩ chiếu tới từ tam hợp, tức cái đối trị là sự hiểu biết và việc chịu đi kiểm tra. Ba, vận động vừa sức mà đều, vì mặt yếu của sao là sức bền chứ không phải sức mạnh.

Với người có Bệnh Phù ở cung Tật Ách

Nếu quý vị vừa đọc thấy Bệnh Phù đóng cung Tật Ách của mình thì việc cần làm không phải là lo, mà là đọc tiếp cho hết cung ấy: chính tinh là sao gì, có Hóa Kỵ không, có sát tinh không, tam hợp có Lộc Tồn và Bác Sĩ sạch không. Rất nhiều lá số cho ra kết quả giống ví dụ trong mục lá số minh họa, tức cái nhãn nặng mà hàng xóm toàn sao lành. Và dù cung ấy có xấu thật thì kết luận cũng chỉ dừng ở một câu: nên đi khám sớm hơn và sống điều độ hơn người bình thường một chút. Mệnh lý nói khuynh hướng, còn chẩn đoán và điều trị là việc của thầy thuốc; không có bản luận nào thay được một lần xét nghiệm.

Phong thủy bổ trợ, ghi rõ là gợi ý chung: những việc dưới đây thuộc loại điều chỉnh nếp sống và bài trí, không phải trấn yểm, không thay thế được việc khám chữa bệnh và cũng không sửa được lá số. Phòng ngủ nên thoáng khí và tối khi ngủ, tránh kê giường sát tường ẩm, tránh để thiết bị phát sáng trong tầm mắt lúc nằm. Bếp và chỗ ăn nên sạch và đủ sáng, vì nếp ăn là chỗ nhiều người có Bệnh Phù đậm hay bỏ bê nhất. Trong nhà nên có một chỗ để vận động dù nhỏ, để việc tập không phụ thuộc thời tiết hay quãng đường. Về màu sắc và cây cỏ, người có Bệnh Phù đậm thường thấy dễ chịu với sắc nhạt, ánh sáng ấm và cây lá xanh thường, hơn là không gian tối màu và bí. Đây là gợi ý chung cho mọi người; ai muốn chỉnh theo đúng lá số của mình thì nên xem cung Điền Trạch và cung Tật Ách rồi hãy quyết.

Câu hỏi thường gặp

Bệnh Phù là sao thứ chín của vòng Bác Sĩ trong Tử Vi Đẩu Số, mang khí bệnh tật, chủ sự ốm đau, mệt mỏi và sức khỏe không thật tốt. Đây là sao nhỏ nhắc người ta chăm sóc sức khỏe.

Bệnh Phù thuộc vòng Bác Sĩ (an theo Lộc Tồn), còn sao Bệnh thuộc vòng Trường Sinh (an theo Cục). Hai sao tên gần giống, đều liên quan ốm đau, nhưng khác vòng và cách an, cần phân biệt khi luận.

Bệnh Phù đứng thứ chín trong vòng Bác Sĩ, an theo Lộc Tồn và đi theo chiều thuận hoặc nghịch tùy âm dương nam nữ.

Năm gặp Bệnh Phù ở cung quan trọng nên chú ý sức khỏe, dưỡng sức, tránh làm quá sức. Có phúc tinh và sao giải như Thiên Lương, Hóa Khoa thì cái yếu nhẹ đi.

Không suy ra được như vậy. Vòng Bác Sĩ gồm mười hai sao trải kín mười hai cung nên lá số nào cũng có Bệnh Phù ở một cung nào đó; nếu sao này quyết định sức khỏe thì cả thiên hạ đều có bệnh. Bệnh Phù là phụ tinh nhỏ, chỉ cho biết sắc thái của cung chứ không chỉ ra bộ phận cơ thể và không phán được sự việc. Muốn đọc sức khỏe phải xem cung Tật Ách với chính tinh, với Tứ Hóa nhất là Hóa Kỵ, với sát tinh trong cung và tam phương, rồi mới tới các dấu nhỏ như Bệnh Phù.

Khác cả cách an lẫn phạm vi. Sao Bệnh thuộc vòng Tràng Sinh, an theo cục của lá số, là chặng thứ bảy trong mười hai chặng sinh vượng mộ tuyệt, và chỉ đóng được bốn cung tứ sinh là Dần, Tỵ, Thân, Hợi; nó mô tả chặng suy của một chu kỳ chứ không riêng thân thể. Bệnh Phù thuộc vòng Bác Sĩ, an theo Lộc Tồn và chiều thuận nghịch, đi đủ mười hai cung, lại có bản lưu niên trong khi sao Bệnh thì không. Người an nghịch, tức âm nam dương nữ, thì hai sao không bao giờ trùng cung.

Trên bản mệnh thì chuyện ấy không xảy ra được. Chạy đủ mười thiên can và cả hai chiều an thì Bệnh Phù luôn cách Kình Dương năm hoặc chín cung và cách Đà La ba hoặc bảy cung, đều là những khoảng cách không tạo quan hệ trong Đẩu Số. Hai sát tinh ấy chỉ chạm được vào cung Bệnh Phù qua lưu Kình lưu Đà của năm đang xem hoặc khi xét cung đại vận. Ngược lại, Bệnh Phù luôn tam hợp với Lộc Tồn và Bác Sĩ ở mọi lá số, đó là cái đối trị mà cấu trúc cấp sẵn.

Có. Vòng Bác Sĩ lưu theo thiên can của năm đang xem, giống như vòng Thái Tuế lưu theo địa chi năm xem; còn vòng Tràng Sinh thì không có bản lưu vì nó an theo cục, và các sao an theo tháng sinh hay giờ sinh cũng không có. Tìm lưu Lộc Tồn theo can năm rồi đếm tám bước theo đúng chiều an của người xem là ra lưu Bệnh Phù. Vì can năm quay một vòng mười năm nên lưu Bệnh Phù trở về đúng cung Bệnh Phù bản mệnh đều đặn mười năm một lần.