Tử Vi
Sao Đại Hao: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung
Tìm hiểu sao Đại Hao trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.
Tổng quan về sao Đại Hao
Đại Hao là sao thứ mười của vòng Bác Sĩ, đi cặp với Tiểu Hao nhưng ở mức nặng hơn. Đây là một bại tinh, chủ sự hao tổn lớn, phá tán, mất mát đáng kể về tài lộc và sự ly tán, xa cách.
- Ngũ hành: Hỏa
- Nhóm: Vòng Bác Sĩ
- Cách an: Theo sao Lộc Tồn
- Cai quản: hao tổn lớn, phá tán, ly tán
- Tính chất: Hao tổn lớn, phá tán
Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.
Ý nghĩa tại cung Mệnh
- Đại Hao đắc địa hoặc gặp cát: Tính rộng rãi, tiêu pha có gan, dám bỏ cái nhỏ để lấy cái lớn. Người sống thoáng, không bủn xỉn, được lòng người vì không tính toán vặt. Hợp nghề phải chi trước thu sau.
- Đại Hao hãm địa hoặc gặp hung: Tiêu trước nghĩ sau, tiền vừa vào tay đã có chỗ đi, khó giữ của riêng. Hay xót của khi nhìn lại nhưng lần sau vẫn vậy. Cần một cuốn sổ chi tiêu hơn cần một câu bùa.
Ý nghĩa ở các cung khác
Đối chiếu ý nghĩa của Đại Hao với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.
Cung Phụ Mẫu
- Đại Hao đắc địa hoặc gặp cát: Sẵn lòng chi cho cha mẹ, phụng dưỡng chu đáo, coi đó là việc phải làm chứ không tính.
- Đại Hao hãm địa hoặc gặp hung: Tốn kém vì cha mẹ, nhất là thuốc men tuổi già; hoặc gia sản bề trên hao đi trước khi tới tay. Cũng là cung của giấy tờ hay thất lạc, hồ sơ làm đi làm lại.
Cung Phúc Đức
- Đại Hao đắc địa hoặc gặp cát: Sống thoáng, không chấp, biết cho đi. Người có phúc phần ở chỗ không tiếc, và thường được hưởng lại từ chỗ khác.
- Đại Hao hãm địa hoặc gặp hung: Trong lòng hay bất an về chuyện được mất, tiếc của, nghĩ nhiều về những gì đã mất. Đây là cái hao của tâm chứ không phải của cải. Nếu Tiểu Hao xung về từ Tài Bạch thì cái lo tiền bạc đeo bám dai.
Cung Điền Trạch
- Đại Hao đắc địa hoặc gặp cát: Nhà cửa có ra có vào, mua bán bất động sản là nghề, đổi nhà là để lên đời chứ không phải vì túng.
- Đại Hao hãm địa hoặc gặp hung: Nhà đất khó giữ, dễ phải bán đi, hoặc nhà hay phải sửa chữa tốn kém. Tài sản cố định là chỗ dễ hụt nhất. Nên cẩn thận giấy tờ đất và tránh mua chung.
Cung Quan Lộc
- Đại Hao đắc địa hoặc gặp cát: Làm việc lớn, dám chi để mở rộng, hợp vị trí quản trị ngân sách lớn, làm dự án, làm nghề tiêu tiền để ra kết quả như tiếp thị, sản xuất, xây dựng.
- Đại Hao hãm địa hoặc gặp hung: Nghề hay hao tổn: chi phí đội lên, dự án dở dang, hay phải bỏ dở rồi làm lại. Cũng hay gặp ở người đổi việc nhiều, mỗi lần đổi là một lần mất công tích lũy.
Cung Nô Bộc
- Đại Hao đắc địa hoặc gặp cát: Rộng rãi với bạn bè và cấp dưới nên được người theo, đãi người có chừng mực mà vẫn giữ lòng.
- Đại Hao hãm địa hoặc gặp hung: Tốn kém vì bạn, bao đồng, hay đứng ra lo việc chung rồi tự bù. Có Phục Binh ở cung kề nên còn phải xem thất thoát do người trong nhóm.
Cung Thiên Di
- Đại Hao đắc địa hoặc gặp cát: Ra ngoài tiêu rộng mà được việc, chi cho quan hệ và đi lại thì thu về cơ hội.
- Đại Hao hãm địa hoặc gặp hung: Ra ngoài hay tốn kém oan, dễ mất đồ, mất giấy tờ khi đi xa, đi nhiều mà không dồn được kết quả.
Cung Tật Ách
- Đại Hao đắc địa hoặc gặp cát: Hao thể lực do làm nhiều, nghỉ là hồi; chi cho việc chăm sóc sức khỏe thì thấy hiệu quả rõ.
- Đại Hao hãm địa hoặc gặp hung: Hao khí lực, dễ suy nhược, gầy sút, mất ngủ. Có Bệnh Phù ở cung kề nên đây là sức khỏe hao mòn từ từ hơn là bệnh cấp, kèm khoản chi lớn cho bệnh viện.
Cung Tài Bạch
- Đại Hao đắc địa hoặc gặp cát: Tiền vào lớn ra cũng lớn, hợp với nghề vòng quay nhanh: buôn bán, phân phối, thầu khoán, nghề mùa vụ. Biết dùng đồng tiền để đẻ ra đồng tiền, không sợ bỏ vốn.
- Đại Hao hãm địa hoặc gặp hung: Đây là cung nặng nhất của Đại Hao. Hay có khoản thất thoát ngoài dự tính, đầu tư hụt, hàng tồn, nợ khó đòi. Kỵ nhất là vay để đánh một ván lớn. Nên tách bạch tiền kinh doanh với tiền nhà, và giữ một quỹ dự phòng cố định.
Cung Tử Tức
- Đại Hao đắc địa hoặc gặp cát: Chịu đầu tư cho con, chi cho học hành và sức khỏe của con không tiếc, đồng tiền ấy có chỗ dùng.
- Đại Hao hãm địa hoặc gặp hung: Nuôi con tốn hơn dự tính nhiều, hoặc phải chu cấp dài. Cũng là cung của dự án bỏ dở, đầu tư vào ý tưởng mà không thu lại.
Cung Phu Thê
- Đại Hao đắc địa hoặc gặp cát: Hai vợ chồng đều là người tiêu rộng, hợp nhau ở chỗ không so đo. Chi tiêu cho gia đình lớn nhưng cùng đồng thuận nên không sinh chuyện.
- Đại Hao hãm địa hoặc gặp hung: Tiền bạc là đề tài hay cãi nhau nhất trong nhà. Ngoài ra Tân Biên còn ghi Đại Hao chủ ly tán xa cách, ở cung này nên hiểu là xa nhau về mặt gần gũi: mỗi người một việc, một nơi, ít có thời gian chung, chứ không phải bản án chia ly.
Cung Huynh Đệ
- Đại Hao đắc địa hoặc gặp cát: Anh em giúp nhau bằng tiền một cách sòng phẳng, cho vay có trả, tốn kém cho nhau mà tình vẫn còn.
- Đại Hao hãm địa hoặc gặp hung: Dễ mất tiền vì anh em, vì đứng tên hoặc bảo lãnh. Chung vốn với người nhà là chỗ cần cẩn thận nhất.
Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Đại Hao không an theo chi năm, không theo tháng, không theo giờ, cũng không theo vòng Tử Vi. Nó an theo Lộc Tồn, mà Lộc Tồn an theo thiên can năm sinh. Muốn biết Đại Hao của mình ở đâu, quý vị chỉ cần hai dữ kiện: can năm sinh và chiều đếm. Chiều đếm lấy theo âm dương của can năm cùng với giới tính: dương nam và âm nữ thì đếm thuận, âm nam và dương nữ thì đếm nghịch. Bác Sĩ luôn ngồi đúng cung Lộc Tồn, rồi từ đó đếm tiếp Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, rồi mới tới Đại Hao ở bước thứ mười.
Vì bước thứ mười tính từ Lộc Tồn nên khoảng cách giữa Đại Hao và Lộc Tồn là một hằng số. Đếm thuận thì Đại Hao đứng sau Lộc Tồn chín cung, tức là lùi lại ba cung; đếm nghịch thì Đại Hao tiến lên ba cung. Cả hai chiều đều cho cùng một con số ba. Ba cung là một khoảng cách lẻ, mà mọi thế chiếu trong Tử Vi đều là số chẵn: đồng cung là không, tam hợp là bốn hoặc tám, xung chiếu là sáu. Số lẻ không bao giờ trùng số chẵn. Từ đó rút ra một điều mà nhiều người luận sai suốt: Đại Hao vĩnh viễn không đồng cung, không tam hợp và không xung chiếu với Lộc Tồn. Hai sao ấy sinh ra từ cùng một gốc mà cả đời không nhìn mặt nhau trong bộ khung tam phương tứ chính.
Bảng dưới đây in đủ mười can, cả hai chiều, kèm cột đắc hãm theo Tân Biên để quý vị tự tra.
Giáp
- Lộc Tồn tại: Dần
- Đại Hao khi đếm thuận: Hợi
- Tiểu Hao khi đếm thuận: Tỵ
- Đại Hao khi đếm nghịch: Tỵ
- Đại Hao đắc hay hãm: Hãm địa
Ất
- Lộc Tồn tại: Mão
- Đại Hao khi đếm thuận: Tý
- Tiểu Hao khi đếm thuận: Ngọ
- Đại Hao khi đếm nghịch: Ngọ
- Đại Hao đắc hay hãm: Hãm địa
Bính
- Lộc Tồn tại: Tỵ
- Đại Hao khi đếm thuận: Dần
- Tiểu Hao khi đếm thuận: Thân
- Đại Hao khi đếm nghịch: Thân
- Đại Hao đắc hay hãm: Đắc địa
Đinh
- Lộc Tồn tại: Ngọ
- Đại Hao khi đếm thuận: Mão
- Tiểu Hao khi đếm thuận: Dậu
- Đại Hao khi đếm nghịch: Dậu
- Đại Hao đắc hay hãm: Đắc địa
Mậu
- Lộc Tồn tại: Tỵ
- Đại Hao khi đếm thuận: Dần
- Tiểu Hao khi đếm thuận: Thân
- Đại Hao khi đếm nghịch: Thân
- Đại Hao đắc hay hãm: Đắc địa
Kỷ
- Lộc Tồn tại: Ngọ
- Đại Hao khi đếm thuận: Mão
- Tiểu Hao khi đếm thuận: Dậu
- Đại Hao khi đếm nghịch: Dậu
- Đại Hao đắc hay hãm: Đắc địa
Canh
- Lộc Tồn tại: Thân
- Đại Hao khi đếm thuận: Tỵ
- Tiểu Hao khi đếm thuận: Hợi
- Đại Hao khi đếm nghịch: Hợi
- Đại Hao đắc hay hãm: Hãm địa
Tân
- Lộc Tồn tại: Dậu
- Đại Hao khi đếm thuận: Ngọ
- Tiểu Hao khi đếm thuận: Tý
- Đại Hao khi đếm nghịch: Tý
- Đại Hao đắc hay hãm: Hãm địa
Nhâm
- Lộc Tồn tại: Hợi
- Đại Hao khi đếm thuận: Thân
- Tiểu Hao khi đếm thuận: Dần
- Đại Hao khi đếm nghịch: Dần
- Đại Hao đắc hay hãm: Đắc địa
Quý
- Lộc Tồn tại: Tý
- Đại Hao khi đếm thuận: Dậu
- Tiểu Hao khi đếm thuận: Mão
- Đại Hao khi đếm nghịch: Mão
- Đại Hao đắc hay hãm: Đắc địa
Sáu điều bất biến của Đại Hao
- Đại Hao và Tiểu Hao luôn xung chiếu nhau, không bao giờ đồng cung. Tiểu Hao ở bước thứ tư, Đại Hao ở bước thứ mười, cách nhau đúng sáu cung, mà sáu cung là thế xung chiếu; con số ấy giữ nguyên ở cả mười can và cả hai chiều đếm. Cho nên câu "Song Hao đồng cung" là câu an sai lá số. Song Hao chỉ có một thế duy nhất, là đứng hai đầu một trục.
- Đại Hao không bao giờ đóng bốn cung tứ mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Lộc Tồn vốn tránh tứ mộ, Đại Hao cách Lộc Tồn ba cung nên tránh theo, chỉ rơi vào tám cung Tý, Dần, Mão, Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi. Ai luận Đại Hao tại Thìn hay tại Mùi là đã an nhầm sao.
- Đại Hao không bao giờ ngồi chung cung với Lộc Tồn, Kình Dương hay Đà La. Ba sao ấy chiếm ba cung liền nhau quanh Lộc Tồn, còn Đại Hao đứng cách ra ba cung. Cho nên trên bất kỳ lá số nào, cụm Lộc Kình Đà và Đại Hao là hai điểm rời.
- Nhưng Đại Hao luôn tam hợp với một trong hai sát tinh ấy. Đếm thuận thì Đại Hao cách Kình Dương tám cung, tức tam hợp Kình Dương. Đếm nghịch thì Đại Hao cách Đà La bốn cung, tức tam hợp Đà La. Không có ngoại lệ nào trong mười can. Nghĩa là trong tam phương của Đại Hao luôn có sẵn một sát tinh của bộ Lộc Tồn, dương nam âm nữ thì gặp Kình, âm nam dương nữ thì gặp Đà.
- Đại Hao luôn bị Bệnh Phù và Phục Binh giáp hai bên. Bệnh Phù ở bước trước, Phục Binh ở bước sau, đổi chiều đếm chỉ đổi bên trái phải. Một thế giáp cố định mà không sách nào nêu rõ: một bên hao thân, một bên kẻ giấu mặt, ở giữa hao của.
- Không có chính tinh nào kiêng Đại Hao theo nghĩa cấu trúc. Chạy đủ mười hai thế Tử Vi cho từng cung trong tám cung nói trên đều ra đủ mười bốn chính tinh, kể cả Tử Vi và Thiên Phủ.
Một phát hiện nhỏ về đắc hãm mà bảng an sao chỉ ra
Tân Biên chép Đại Hao và Tiểu Hao đắc địa tại Dần, Thân, Mão, Dậu. Đem điều kiện ấy đối chiếu với bảng vị trí thì ra một kết quả gọn tới mức bất ngờ. Đại Hao đắc địa với sáu tuổi can là Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Nhâm, Quý, và hãm địa với bốn tuổi can là Giáp, Ất, Canh, Tân. Đáng nói là kết quả ấy không đổi khi đổi chiều đếm. Người tuổi Bính dù là dương nam đếm thuận hay dương nữ đếm nghịch thì Đại Hao vẫn rơi vào cung đắc, chỉ khác là rơi vào Dần hay rơi vào Thân. Nói cách khác, độ đắc hãm của Đại Hao do can năm sinh quyết định trọn vẹn, không dính gì tới giới tính.
Hệ quả thứ hai còn gọn hơn: Tiểu Hao luôn ở cung xung chiếu, mà Dần xung Thân, Mão xung Dậu, nên Song Hao cùng đắc hoặc cùng hãm, không bao giờ một sao đắc một sao hãm. Điều này Thầy không tìm thấy trong sách nào, chỉ rút ra khi cho máy chạy đủ mười can hai chiều, nên xin để nguyên thẻ .
Cách An Theo Lộc Tồn, Nói Gọn Trước Khi Đi Sâu
Vòng Bác Sĩ gồm mười hai sao an theo sao Lộc Tồn. Bác Sĩ luôn đứng cùng cung với Lộc Tồn, rồi lần lượt Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ được an theo chiều thuận với người dương nam âm nữ và nghịch với người âm nam dương nữ.
Trong vòng mười hai sao, Đại Hao giữ vị trí cố định theo thứ tự. Biết Bác Sĩ (cùng cung Lộc Tồn) ở đâu và chiều an thuận hay nghịch là suy ra được vị trí Đại Hao.
Đặc Tính Và Mức Đắc Hãm Của Đại Hao
Theo Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, Đại Hao và Tiểu Hao là bại tinh, đắc địa ở Dần, Thân, Mão, Dậu, chủ sự hoang hủy, làm hao hụt tài lộc, gây ly tán xa cách. Đại Hao là mức nặng: phá tán lớn, mất mát đáng kể, hơn là hao vặt như Tiểu Hao.
Ở cung Tài, Điền, Đại Hao nhắc đề phòng phá tài, thất thoát lớn. Là bại tinh, nó cần chính tinh sáng và Lộc để bù; gặp Không Kiếp, Hóa Kỵ thì phá tán rõ.
Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
Trước khi đọc hai cột dưới, xin nhớ quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Đại Hao là mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn một bậc, còn giáp hai bên là thế bao vây. Riêng với Đại Hao nhớ thêm ba hằng số đã chứng ở trên: Tiểu Hao vĩnh viễn xung chiếu nên lực của nó không bao giờ lên tới mức đồng cung; Lộc Tồn vĩnh viễn không vào tam phương tứ chính nên đừng chờ nó tới cứu; Bệnh Phù và Phục Binh vĩnh viễn giáp hai bên nên thế bao vây ấy là mặc định.
Đại Hao đỡ được khi gặp
- Chính tinh hóa Lộc (đồng cung là tốt nhất, tam hợp chiếu thì đỡ một phần): có nguồn chảy vào bù cho chỗ chảy ra. Đây là cách bù duy nhất đặt được đúng vào cung Đại Hao, vì Lộc Tồn thì không thể.
- Cung đắc địa Dần, Thân, Mão, Dậu (chính vị thế của sao): Tân Biên cho đây là chỗ Song Hao đắc, cái hoang hủy được tiết chế. Ứng với sáu tuổi can Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Nhâm, Quý.
- Chính tinh miếu vượng đồng cung, nhất là Thiên Phủ, Thiên Tướng, Thái Dương sáng: có nền vững thì hao mà không sụp, tiêu mà vẫn còn gốc.
- Chính tinh hóa Khoa (đồng cung hoặc tam hợp): biến cái hao thành khoản chi có sổ sách, chi cho học hành và danh tiếng.
- Thiên Đức, Nguyệt Đức, Giải Thần (đồng cung hoặc tam hợp): giảm phần hoang hủy, cho người ta biết dừng lại đúng lúc.
- Thiên Phủ hoặc Lộc Tồn ở cung Điền Trạch (đứng cung khác, không cùng cung Đại Hao): cách giữ của đúng cấu trúc, vì Điền Trạch là kho của lá số.
Đại Hao nặng thêm khi gặp
- Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung nặng nhất, xung chiếu kế đó): Không Kiếp là mất trắng, Đại Hao là hao dần. Hai thứ cùng cung thì tiền không những ra mà còn ra không dấu vết. Đây là tổ hợp đáng ngại nhất ở cung Tài Bạch.
- Hóa Kỵ của chính tinh đồng cung: hao mà còn vướng, mất mà còn dây dưa. Nếu Kỵ chỉ tam hợp chiếu tới thì nhẹ hơn hẳn một bậc.
- Kình Dương khi đếm thuận, Đà La khi đếm nghịch (luôn ở thế tam hợp, không bao giờ đồng cung): sát tinh mặc định trong tam phương của Đại Hao. Lực vừa phải nhưng không bao giờ mất, nên phải tính vào ngay từ đầu.
- Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung mạnh nhất): hao gấp, hao đột ngột, kiểu tai nạn hoặc hỏng hóc bất ngờ chứ không phải hao dần.
- Tuần, Triệt đóng ngay cung Đại Hao: sách không nói rõ; Thầy quan sát thấy thường làm cái hao chậm lại và tản ra chứ không xóa, nên để thẻ .
- Bệnh Phù và Phục Binh giáp hai bên (mặc định trên mọi lá số): tự nó không đáng ngại, nhưng hai cung kề mà có thêm sát tinh thì cụm ba cung thành một vùng trũng cần xem kỹ.
Một câu để nhớ khi tra hai cột trên: với Đại Hao, hỏi sao ấy đứng ở đâu quan trọng hơn hỏi sao ấy là ai. Cùng là Lộc Tồn, nó không bao giờ có thể ngồi chung cung với Đại Hao, nên câu "Đại Hao gặp Lộc Tồn thì bù được" chỉ đúng theo nghĩa Lộc Tồn đứng ở một cung khác trong lá số, chứ không phải một thế sao. Cùng là Hóa Lộc, đồng cung thì thật sự đỡ, tam hợp chiếu thì chỉ đỡ một phần. Nặng nhẹ nằm ở vị thế, không nằm ở danh sách.
Đại Hao Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Đại Hao có bản lưu niên, và đây là điểm phải nói rõ
Vòng Bác Sĩ an theo Lộc Tồn, mà Lộc Tồn thì an theo can. Cho nên khi xem một năm, người ta lấy can của năm ấy mà an lại một bộ vòng Bác Sĩ mới, gọi là lưu Bác Sĩ, trong đó có lưu Đại Hao. Đây là điểm khác hẳn các sao an theo tháng sinh hay giờ sinh như Thiên Hình, Thiên Riêu, Văn Xương, Văn Khúc: những sao ấy không có bản lưu vì tháng và giờ sinh của một người không đổi. Vòng Tràng Sinh an theo cục cũng không có bản lưu niên theo nghĩa này. Vòng Thái Tuế và vòng Bác Sĩ thì có, vì chi năm và can năm của năm đang xem thì mỗi năm một khác.
Cách tính lưu Đại Hao rất gọn: lấy can của năm xem, tra ra lưu Lộc Tồn, rồi đếm đúng mười bước như trên. Ví dụ năm 2026 là năm Bính Ngọ, can Bính, lưu Lộc Tồn tại Tỵ, nên lưu Đại Hao tại Dần nếu đếm thuận và tại Thân nếu đếm nghịch, kèm theo lưu Tiểu Hao ở cung đối diện. Năm 2027 Đinh Mùi, can Đinh, lưu Lộc Tồn tại Ngọ, lưu Đại Hao tại Mão hoặc tại Dậu. Năm 2028 Mậu Thân thì lưu Lộc Tồn lại về Tỵ như năm Bính. Trên trang an lá số, chọn năm xem là bảng lưu tự hiện ra, không phải tính tay.
Điều đáng lưu ý nhất về bản lưu: năm nặng không phải năm lưu Đại Hao đi qua bất kỳ cung nào, mà là năm lưu Đại Hao chồng đúng lên Đại Hao gốc, hoặc chồng lên cung Tài Bạch, cung Điền Trạch của lá số. Hai lớp Đại Hao chồng nhau ở một cung là dấu hiệu rõ nhất mà Thầy dùng để nhắc khách giữ tiền trong năm ấy. Còn lưu Đại Hao rơi vào một cung bình thường thì chỉ là một nét nhỏ, không đáng để mất ngủ.
Đại vận đi vào cung có Đại Hao
Mười năm đại vận rơi đúng cung có Đại Hao gốc là mười năm dòng tiền chảy mạnh cả hai chiều. Biểu hiện hay gặp, xếp theo thứ tự thường thấy: thu nhập tăng nhưng chi phí tăng nhanh hơn; có một hai khoản chi lớn ngoài kế hoạch, thường là nhà cửa, chữa bệnh, hoặc một quyết định đầu tư; và một cảm giác chung là làm nhiều mà cuối vận nhìn lại không dồn được bao nhiêu.
Nhưng phải phân hai hướng. Đại vận Đại Hao đắc địa tại Dần, Thân, Mão, Dậu, lại có chính tinh miếu vượng hoặc Hóa Lộc đồng cung thường là mười năm mở rộng: dám bỏ vốn, dám thuê người, cái hao ấy là hao đầu tư, nhiều người khởi nghiệp thành công đúng trong loại vận này. Ngược lại, đại vận Đại Hao hãm địa tại Tý, Ngọ, Tỵ, Hợi, thêm Không Kiếp hoặc Hóa Kỵ là mười năm phải giữ: không vay để đánh lớn, không đứng tên cho ai. Thầy dặn một câu cho loại vận này: cái quan trọng không phải kiếm thêm mà là giữ lại.
Một điểm cấu trúc dùng được ngay: vì Tiểu Hao luôn ở cung xung chiếu, đại vận đi vào cung Tiểu Hao cũng là đại vận bị Đại Hao chiếu về và ngược lại. Trong sáu đại vận liền có ít nhất hai vận nằm trên trục Song Hao, biết trước hai vận ấy là biết trước hai quãng đời cần chặt tay hơn.
Các lưu sao chạm vào cung Đại Hao
Ngoài lưu Đại Hao của chính nó, cung có Đại Hao gốc còn bị các bộ lưu khác quét qua từng năm. Ba trường hợp đáng ghi:
- Lưu Kình Dương hoặc lưu Đà La rơi vào cung Đại Hao. Vì hai sao ấy cũng an theo can năm xem, năm nào chúng rơi đúng cung Đại Hao gốc là năm cái hao có thêm phần sắc bén: hao vì tranh chấp, vì hỏng hóc, vì phải cắt bỏ một thứ gì đó.
- Lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ của vòng Thái Tuế rơi vào cung Đại Hao. Năm hay có việc hiếu hỉ, việc gia đình, phải chi cho người khác; cái hao mang màu bổn phận chứ không phải màu mất mát.
Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Đại Hao
Đại Hao là một cái tên đáng sợ. Hai chữ ấy đọc lên đã thấy mất mát, nên nó bị gán cho đủ thứ tai họa mà sách chưa từng nói. Mục này Thầy viết kỹ hơn các mục khác, vì với những sao mang tên nặng, việc gỡ hiểu lầm còn quan trọng hơn việc luận thêm.
Hiểu lầm một: Đại Hao là sao báo phá sản
Sách nói gì: Tân Biên xếp Đại Hao và Tiểu Hao vào loại bại tinh, chủ sự hoang hủy, làm hao hụt tài lộc, gây ly tán xa cách, đắc địa tại Dần, Thân, Mão, Dậu. Hết. Sách không nói gì: không có câu nào nói Đại Hao chủ phá sản, chủ vỡ nợ. Hoang hủy là bỏ hoang, là để cho hao đi, khác hẳn mất sạch. Thêm điều nữa mà cấu trúc chỉ ra: Đại Hao là một trong mười hai sao của một vòng phụ tinh, lá số nào cũng có đúng một cung mang nó, không ai không có. Một thứ mà ai cũng có thì không thể là dấu hiệu của một tai họa hiếm.
Hiểu lầm hai: Đại Hao ở Phu Thê là số ly hôn
Chữ "ly tán, xa cách" trong Tân Biên là nguyên nhân của hiểu lầm này. Nhưng ly tán trong văn cổ nghĩa rộng: xa nhau về không gian, thưa nhau về thời gian, rời rạc trong sinh hoạt. Trên lá số thật, Đại Hao tại Phu Thê hay ứng nhất vào ba việc rất đời thường: hai vợ chồng làm hai ca khác nhau, một người đi làm xa, hoặc chuyện tiền nong trong nhà không rõ ràng nên hay va chạm. Đó là những việc sửa được bằng thói quen chứ không phải bằng chia tay. Muốn nói tới chuyện hôn nhân đứt gãy thì phải hội đủ nhiều tầng: chính tinh ở Phu Thê thế nào, có Không Kiếp hay Hóa Kỵ không, cung Phúc Đức ra sao, đại vận nào chạm tới. Một phụ tinh không phán được chuyện lớn như vậy, và Thầy không cho phép mình phán như vậy.
Hiểu lầm ba: cứ Song Hao là xấu, gặp nhau là hao gấp đôi
Đây là chỗ cấu trúc nói rõ nhất. Nhiều lời luận trên mạng viết "Song Hao đồng cung thì hao tổn nhân đôi". Câu ấy về mặt an sao là không thể xảy ra: Đại Hao ở bước thứ mười, Tiểu Hao ở bước thứ tư, hai bước cách nhau đúng sáu cung nên hai sao vĩnh viễn ở hai đầu một trục, không đời nào chung một cung. Đã kiểm đủ mười can và cả hai chiều đếm. Nghĩa là quý vị có thể yên tâm gạch bỏ mọi lời luận nào nói tới Song Hao đồng cung, đó là dấu hiệu người viết chưa từng an lá số.
Ngược lại, có một lối luận cổ ít người biết mà Thầy cho là đáng nhắc: sách xưa nói Song Hao đóng ở Mão, Dậu thì không những không hại mà còn có lợi cho người làm ăn buôn bán, vì đó là thế "chúng thủy triều đông", nước chảy về một chỗ. Hai cung Mão Dậu lại đúng là hai trong bốn cung đắc địa của Song Hao. Đối chiếu bảng an sao thì thế này ứng với ba tuổi can Đinh, Kỷ, Quý, ở cả hai chiều đếm. Đây là dị bản trong lối luận dân gian; Tân Biên không lập thành mục riêng, nên Thầy ghi lại kèm ghi chú, không lấy làm chuẩn.
Hiểu lầm bốn: Đại Hao trong Tử Vi cũng là Đại Hao trong lịch và trong cúng sao
Trong lịch cổ và trong một số phép chọn ngày có thần sát tên Đại Hao dùng để kiêng ngày kiêng hướng. Đó là hệ thống khác hẳn, đếm cách khác, dùng vào việc khác. Đại Hao trong Tử Vi Đẩu Số chỉ là bước thứ mười của vòng Bác Sĩ, an theo Lộc Tồn, chỉ có nghĩa trong khung mười hai cung. Cũng đừng nhầm với phép cúng sao giải hạn theo Cửu Diệu: Tử Vi Đẩu Số không có phép cúng sao.
Nói cho tận cùng: tên sao không phải là điều sẽ xảy ra. Tên sao là cái tượng, là một hướng gió. Người có Đại Hao đắc địa ở Tài Bạch mà biết đặt kỷ luật thì cả đời làm ăn lớn; người có Đại Hao hãm mà cứ vay để đánh ván lớn thì mới ra chuyện. Thầy chưa từng, và sẽ không bao giờ, phán một tai họa từ một phụ tinh.
Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải
Đại Hao không phải sao cần trấn, cần yểm, cần cúng. Nó là một nét trong dòng tiền và trong tính cách, và cách hóa giải đúng đắn nhất là đặt cho dòng chảy ấy một cái bờ. Dưới đây là những điều Thầy vẫn dặn khách có Đại Hao nổi bật, xếp theo thứ tự quan trọng.
Chia ví trước khi cần tới ý chí
Cái hại của Đại Hao không nằm ở chỗ tiêu nhiều, mà ở chỗ tiêu và giữ chung một chỗ. Việc thiết thực nhất là tách hẳn: một tài khoản chi tiêu, một tài khoản vốn làm ăn, một khoản dài hạn khó rút, chuyển tự động ngay khi tiền vào. Làm được đúng việc này thì phần lớn cái gọi là hạn hao tự nó hết.
Ghi lại, vì cái không thấy thì không giữ được
Đại Hao hao theo kiểu rỉ rả hơn kiểu sập một lần, mà rỉ rả thì chỉ sổ sách mới thấy. Một cuốn sổ chi tiêu đơn giản thường có tác dụng lớn hơn mọi vật phẩm phong thủy. Người làm ăn thì chốt sổ theo tháng, đừng theo năm.
Đừng vay để đánh một ván lớn
Đây là lời dặn nặng nhất, dành riêng cho người có Đại Hao hãm địa ở Tài Bạch hoặc Điền Trạch, nhất là khi có thêm Không Kiếp hay Hóa Kỵ. Cấu trúc ấy không cấm làm ăn lớn, nhưng nó rất kỵ đòn bẩy. Làm lớn bằng vốn của mình thì hao rồi gây lại được; làm lớn bằng vốn vay thì một lần hụt là kéo theo nhiều năm.
Cho cái hao một chỗ đáng hao
Dòng chảy ra thì không chặn được, chỉ dẫn được. Người có Đại Hao mạnh nếu chủ động dành một phần cố định cho việc học, cho sức khỏe, cho việc giúp người, thì phần hao ngoài ý muốn giảm hẳn: đã có chỗ ra thì nước không tự phá bờ.
Ghi chú về phong thủy bổ trợ: nhiều người hỏi Thầy nên bày gì, đeo gì để chặn Đại Hao. Xin nói thẳng: những gợi ý như giữ nhà cửa gọn gàng, không để chỗ chứa tiền bừa bộn, sửa ngay đồ hỏng và vòi nước rò rỉ, tránh mua sắm lúc mệt hoặc lúc buồn, đều là gợi ý chung có ích cho mọi người, không phải phép trấn riêng cho sao này. Chúng có tác dụng vì chúng tạo thói quen, không phải vì chúng đổi được lá số. Thầy không bán vật phẩm, không nhận cúng giải hạn, và không khuyên ai tiêu tiền để chặn một sao chủ hao tiền.
Câu hỏi thường gặp
Đại Hao là sao thứ mười của vòng Bác Sĩ trong Tử Vi Đẩu Số, đi cặp với Tiểu Hao nhưng nặng hơn. Đây là bại tinh, chủ sự hao tổn lớn, phá tán, mất mát đáng kể về tài lộc và sự ly tán xa cách.
Theo Tân Biên, Đại Hao và Tiểu Hao đắc địa ở Dần, Thân, Mão, Dậu, khi đó cái hung được giảm bớt. Các cung khác thì tính hao tổn rõ hơn.
Đại Hao ở Tài Bạch nhắc đề phòng phá tài, thất thoát lớn, đầu tư hụt. Có Lộc Tồn, Hóa Lộc và chính tinh miếu vượng thì bù lại phần hao; gặp Không Kiếp, Hóa Kỵ thì phá tán nặng.
Năm gặp Đại Hao ở cung quan trọng nên thận trọng tài chính, tránh đầu tư mạo hiểm, giữ quỹ dự phòng và vun đắp quan hệ, nhất là ở cung Tài và Điền.
Không. Đại Hao luôn cách Lộc Tồn đúng ba cung, đếm thuận thì lùi ba, đếm nghịch thì tiến ba. Ba là số lẻ, trong khi mọi thế chiếu đều là số chẵn: đồng cung là không cung, tam hợp là bốn hoặc tám, xung chiếu là sáu. Vì vậy Đại Hao vĩnh viễn không đồng cung, không tam hợp và cũng không xung chiếu với Lộc Tồn, và cũng không bao giờ ngồi cùng cung Kình Dương hay Đà La. Cách bù duy nhất đặt được đúng vào cung Đại Hao là Hóa Lộc của chính tinh, vì Hóa Lộc đi theo chính tinh chứ không đi theo Lộc Tồn.
Tân Biên chép Song Hao đắc địa tại Dần, Thân, Mão, Dậu. Đối chiếu với bảng an sao thì Đại Hao đắc địa với sáu tuổi can Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Nhâm, Quý, và hãm địa với bốn tuổi can Giáp, Ất, Canh, Tân. Điều đáng chú ý là kết quả này không đổi khi đổi chiều đếm, nghĩa là không phụ thuộc giới tính; đổi chiều chỉ làm Đại Hao chuyển sang cung đối diện, mà hai cung đối diện trong bộ Dần Thân Mão Dậu thì cùng đắc. Hệ quả kèm theo: Đại Hao và Tiểu Hao luôn cùng đắc hoặc cùng hãm.
Có. Vòng Bác Sĩ an theo Lộc Tồn mà Lộc Tồn an theo thiên can, nên mỗi năm lấy can của năm ấy an lại một bộ vòng Bác Sĩ lưu, trong đó có lưu Đại Hao và lưu Tiểu Hao. Các sao an theo tháng sinh hoặc giờ sinh thì không có bản lưu. Năm đáng lưu ý không phải năm lưu Đại Hao đi qua một cung bất kỳ, mà là năm lưu Đại Hao chồng đúng lên Đại Hao gốc, hoặc lên cung Tài Bạch và Điền Trạch của lá số.