Tử Vi
Sao Đào Hoa: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung
Tìm hiểu sao Đào Hoa trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.
Tổng quan về sao Đào Hoa
Đào Hoa là sao đào hoa tiêu biểu của lá số Tử Vi, chủ sắc đẹp, duyên dáng và sức hút khác phái. Cùng với Hồng Loan, đây là tinh diệu hàng đầu khi luận về tình duyên, hôn nhân và đường tình cảm.
- Ngũ hành: Mộc
- Nhóm: Phụ Tinh Đào Hoa
- Cách an: Đào hoa an theo tam hợp địa chi năm sinh: tuổi dần ngọ tuất tại mão, thân tý thìn tại dậu, tỵ dậu sửu tại ngọ, hợi mão mùi tại tý
- Cai quản: sắc đẹp, sức hút, đa tình, hoa nguyệt
- Tính chất: Đào hoa, đa tình
Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.
Ý nghĩa tại cung Mệnh
- Khi gặp cát tinh, chính tinh sáng: Người có sức hút tự nhiên, nét mặt tươi, ăn nói dễ nghe, vào đám đông là được chú ý, hợp mọi nghề cần đứng trước người.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Sức hút vẫn còn nhưng bị tiêu vào chuyện tình cảm, dễ nể mặt mà nhận việc không đáng, tai tiếng đến trước thành quả.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Đào Hồng đồng cung tại Mệnh là nét duyên nổi bật nhất trong bộ 121 sao. Đào Hoa gặp Thiên Hình tại Mệnh thì tướng đẹp mà nghiêm, người ta quý mà không dám suồng sã.
Ý nghĩa ở các cung khác
Đối chiếu ý nghĩa của Đào Hoa với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.
Cung Phụ Mẫu
- Khi gặp cát tinh, chính tinh sáng: Cha mẹ có nhan sắc hoặc có duyên với người, quan hệ xã hội rộng, con cái được hưởng cái nết dễ mến ấy.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Chuyện tình cảm của bậc trên là điều khó nói trong nhà, hoặc cha mẹ bận việc giao tế mà ít thời gian cho con.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Đào Hoa cùng Thiên Riêu tại Phụ Mẫu là chỗ nhiều gia đình có câu chuyện cũ không muốn nhắc. Người luận nên dừng ở mức nói khuynh hướng, không phán việc.
Cung Phúc Đức
- Khi gặp cát tinh, chính tinh sáng: Tâm tính vui, biết hưởng cái đẹp, có gu thẩm mỹ, phúc phần đến từ chỗ được người quý mến.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Lòng hay xao động, khó ngồi yên một mình, vui buồn theo lời khen chê của người ngoài.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Đào Hoa gặp Không Kiếp tại Phúc Đức thường là người mê cái đẹp mà không giữ được của, thích rồi bỏ, mua rồi chán.
Cung Điền Trạch
- Khi gặp cát tinh, chính tinh sáng: Nhà cửa đẹp, chú trọng trang trí, nơi ở thường gần chỗ đông vui, có khách khứa ra vào.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Nhà thành chỗ tụ tập ồn, khó yên tĩnh; hoặc tiền của đổ vào việc làm đẹp chỗ ở nhiều hơn mức cần.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Đào Hoa tại Điền Trạch cùng chính tinh sáng là cách của người làm nghề không gian: kiến trúc, nội thất, quán xá, lưu trú.
Cung Quan Lộc
- Khi gặp cát tinh, chính tinh sáng: Nghề nghiệp gắn với công chúng và hình ảnh, được lòng đồng nghiệp, thăng tiến nhờ quan hệ tốt chứ không chỉ nhờ chuyên môn.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Công việc dính chuyện riêng tư, dễ có lời ra tiếng vào nơi làm, tiếng tăm đi trước năng lực rồi khó giữ.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Đào Hoa cùng Xương Khúc tại Quan Lộc là nghề chữ nghĩa có mặt trước người: dẫn chương trình, giảng dạy, viết lách xuất hiện công khai.
Cung Nô Bộc
- Khi gặp cát tinh, chính tinh sáng: Bạn bè đông, quen biết rộng, được cấp dưới quý, dễ nhờ vả và cũng dễ được nhờ.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Quan hệ tràn lan mà không sâu, dễ bị lợi dụng cảm tình, chuyện riêng bị bàn tán trong nhóm.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Đào Hoa tại Nô Bộc gặp Hóa Kỵ là chỗ hay sinh chuyện vay mượn, đứng tên hộ, bảo lãnh vì cả nể.
Cung Thiên Di
- Khi gặp cát tinh, chính tinh sáng: Ra ngoài được đón tiếp, đi xa gặp quý nhân, đối tác thiện cảm ngay từ lần gặp đầu.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Ra ngoài nhiều chuyện phân tâm, dễ có quan hệ ngoài dự tính khi đi xa hoặc đi công tác dài.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Đào Hoa tại Thiên Di mà cung Mệnh có chính tinh trầm là mẫu người "ở nhà thì lặng, ra ngoài thì sáng". Rất hay gặp ở người làm nghề phải di chuyển.
Cung Tật Ách
- Khi gặp cát tinh, chính tinh sáng: Sắc mặt tươi, da dẻ dễ nhìn, phục hồi nhanh, thần khí tốt.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Cần lưu ý nội tiết, đường sinh dục tiết niệu, và những rối loạn liên quan tới giấc ngủ do tâm trí không yên.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Đào Hoa cùng Thiên Riêu và Hóa Kỵ tại Tật Ách là tổ hợp nên đi khám định kỳ chứ không phải tổ hợp để phán bệnh. Đọc bệnh phải đọc cả cung, không đọc một sao.
Cung Tài Bạch
- Khi gặp cát tinh, chính tinh sáng: Tiền vào qua đường quan hệ và hình ảnh: hoa hồng, môi giới, dịch vụ, nghề làm đẹp, nghề giải trí.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Tiền đến dễ đi cũng dễ, chi nhiều cho việc giao tế và hình thức, hay chi vì nể.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Đào Hoa đồng cung Lộc Tồn tại Tài Bạch là thế đẹp hiếm, chỉ có ở chín hoa giáp đã nêu ở mục cơ chế an sao: có duyên mà lại biết giữ.
Cung Tử Tức
- Khi gặp cát tinh, chính tinh sáng: Con cái xinh xắn, dễ thương, có năng khiếu nghệ thuật, cha mẹ con cái thân thiết.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Con cái sớm để tâm chuyện tình cảm, hoặc cha mẹ khó nắm được đời sống riêng của con.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Đào Hoa tại Tử Tức gặp cát tinh cũng chủ về sức sáng tạo và sản phẩm mình tạo ra, không riêng con cái.
Cung Phu Thê
- Khi gặp cát tinh, chính tinh sáng: Bạn đời có nhan sắc hoặc có duyên, hôn nhân nhiều tình ý, gặp nhau sớm và nhớ nhau lâu.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Đường tình cảm nhiều khúc, dễ có người thứ ba trong câu chuyện của một trong hai bên, cần nói rõ ràng thay vì đoán.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Đào Hồng tại Phu Thê là cách hôn nhân có tình; nhưng thêm Riêu, Kỵ hoặc Không Kiếp thì tình nhiều mà bền ít. Đây là cung phải xét đủ tam phương, không xét một mình.
Cung Huynh Đệ
- Khi gặp cát tinh, chính tinh sáng: Anh chị em hòa thuận, có người trong nhà làm nghề giao tiếp hoặc nghệ thuật, giúp nhau bằng quan hệ.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Anh em bạn bè thân sơ lẫn lộn, dễ vì chuyện tình cảm của một người mà cả nhà phiền lòng.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Đào Hoa tại Huynh Đệ ít khi là điểm quyết định của lá số. Chỉ đáng nói khi cung này đồng thời là cung nhị hợp hay là cung của đại vận đang xét.
Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Đào Hoa an theo tam hợp địa chi năm sinh, không liên quan tới tháng sinh, giờ sinh hay thiên can. Quy tắc gốc rất gọn: lấy tam hợp của chi năm rồi đặt Đào Hoa vào cung vượng của tam hợp ấy. Tuổi Dần, Ngọ, Tuất thì Đào Hoa tại Mão; tuổi Thân, Tý, Thìn thì tại Dậu; tuổi Tỵ, Dậu, Sửu thì tại Ngọ; tuổi Hợi, Mão, Mùi thì tại Tý. Mười hai tuổi chi gom lại chỉ còn bốn địa chỉ.
Đây chính là điểm khiến Đào Hoa khác hẳn phần lớn phụ tinh khác trong bộ 121 sao. Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Hình, Thiên Riêu, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, Hồng Loan, Thiên Hỷ đều rải đủ mười hai cung. Riêng Đào Hoa chỉ có thể đóng bốn cung tứ chính là Tý, Ngọ, Mão, Dậu, và tám cung còn lại là Sửu, Dần, Thìn, Tỵ, Mùi, Thân, Tuất, Hợi thì Đào Hoa không bao giờ đặt chân tới. Ai đọc thấy dòng "Đào Hoa tại Hợi", "Đào Hoa tại Thìn" hay "Đào Hoa đồng cung Thiên Mã" là đã an sai lá số, không phải dị bản.
Bảng dưới đây liệt kê đủ mười hai tuổi chi cho bốn sao cùng an theo chi năm sinh. Đặt cạnh nhau mới thấy chúng ràng buộc nhau chặt tới mức nào.
Tý
- Đào Hoa: Dậu
- Hồng Loan: Mão
- Thiên Hỷ: Dậu
- Thiên Mã: Dần
Sửu
- Đào Hoa: Ngọ
- Hồng Loan: Dần
- Thiên Hỷ: Thân
- Thiên Mã: Hợi
Dần
- Đào Hoa: Mão
- Hồng Loan: Sửu
- Thiên Hỷ: Mùi
- Thiên Mã: Thân
Mão
- Đào Hoa: Tý
- Hồng Loan: Tý
- Thiên Hỷ: Ngọ
- Thiên Mã: Tỵ
Thìn
- Đào Hoa: Dậu
- Hồng Loan: Hợi
- Thiên Hỷ: Tỵ
- Thiên Mã: Dần
Tỵ
- Đào Hoa: Ngọ
- Hồng Loan: Tuất
- Thiên Hỷ: Thìn
- Thiên Mã: Hợi
Ngọ
- Đào Hoa: Mão
- Hồng Loan: Dậu
- Thiên Hỷ: Mão
- Thiên Mã: Thân
Mùi
- Đào Hoa: Tý
- Hồng Loan: Thân
- Thiên Hỷ: Dần
- Thiên Mã: Tỵ
Thân
- Đào Hoa: Dậu
- Hồng Loan: Mùi
- Thiên Hỷ: Sửu
- Thiên Mã: Dần
Dậu
- Đào Hoa: Ngọ
- Hồng Loan: Ngọ
- Thiên Hỷ: Tý
- Thiên Mã: Hợi
Tuất
- Đào Hoa: Mão
- Hồng Loan: Tỵ
- Thiên Hỷ: Hợi
- Thiên Mã: Thân
Hợi
- Đào Hoa: Tý
- Hồng Loan: Thìn
- Thiên Hỷ: Tuất
- Thiên Mã: Tỵ
Nhìn cột Đào Hoa và cột Thiên Mã sẽ thấy ngay một điều lạ: hai sao ấy luôn cách nhau đúng năm cung, không sai một tuổi nào. Năm cung không phải là đồng cung (không cung), không phải xung chiếu (sáu cung), cũng không phải tam hợp (bốn hoặc tám cung). Nghĩa là Đào Hoa và Thiên Mã vĩnh viễn không gặp nhau trong tam phương tứ chính, dù người ấy tuổi gì. Lý do nằm ở nguyên lý sinh vượng mộ của tam hợp: Đào Hoa đóng cung vượng, Thiên Mã đóng cung sinh, Hoa Cái đóng cung mộ. Ba cung ấy trong mỗi tam hợp thuộc ba nhóm khác nhau của mười hai chi.
Dần, Ngọ, Tuất
- Đào Hoa (tứ chính): Mão
- Thiên Mã (tứ sinh): Thân
- Hoa Cái (tứ mộ): Tuất
Thân, Tý, Thìn
- Đào Hoa (tứ chính): Dậu
- Thiên Mã (tứ sinh): Dần
- Hoa Cái (tứ mộ): Thìn
Tỵ, Dậu, Sửu
- Đào Hoa (tứ chính): Ngọ
- Thiên Mã (tứ sinh): Hợi
- Hoa Cái (tứ mộ): Sửu
Hợi, Mão, Mùi
- Đào Hoa (tứ chính): Tý
- Thiên Mã (tứ sinh): Tỵ
- Hoa Cái (tứ mộ): Mùi
Bảng ba cột trên là chìa khóa để nhớ Đào Hoa suốt đời: Đào Hoa luôn ở tứ chính (Tý Ngọ Mão Dậu), Thiên Mã luôn ở tứ sinh (Dần Thân Tỵ Hợi), Hoa Cái luôn ở tứ mộ (Thìn Tuất Sửu Mùi). Ba sao sinh ra từ cùng một tam hợp mà chia nhau ba tầng của địa bàn: một sao chủ sức hút và sự phô bày, một sao chủ dịch chuyển, một sao chủ che đậy và cô cao. Cũng vì vậy Đào Hoa và Hoa Cái luôn cách nhau đúng bảy cung, cũng không bao giờ hội chiếu nhau.
Bảy điều bất biến của Đào Hoa
- Chỉ bốn cung, không hơn. Đào Hoa chỉ có thể an tại Tý, Ngọ, Mão hoặc Dậu. Tám cung Sửu, Dần, Thìn, Tỵ, Mùi, Thân, Tuất, Hợi không bao giờ có Đào Hoa. Vì cung đối của một cung tứ chính cũng là cung tứ chính, nên mọi thứ Đào Hoa nhìn thấy qua thế xung chiếu đều nằm trong bốn cung ấy.
- Vị trí Đào Hoa để lộ tuổi can. Bốn tuổi chi cho Đào Hoa về Mão và Dậu là Dần, Ngọ, Tuất, Thân, Tý, Thìn, toàn chi dương; bốn tuổi chi cho Đào Hoa về Tý và Ngọ là Hợi, Mão, Mùi, Tỵ, Dậu, Sửu, toàn chi âm. Mà trong lục thập hoa giáp, chi dương chỉ ghép với can dương và chi âm chỉ ghép với can âm. Vậy nên: thấy Đào Hoa ở Mão hoặc Dậu thì chắc chắn người ấy tuổi Giáp, Bính, Mậu, Canh hoặc Nhâm; thấy Đào Hoa ở Tý hoặc Ngọ thì chắc chắn tuổi Ất, Đinh, Kỷ, Tân hoặc Quý. Đây là ràng buộc rất ít sách nói tới, nhưng nó quyết định luôn cả bộ Tứ Hóa mà Đào Hoa có thể gặp, sẽ luận kỹ ở mục Tứ Hóa.
- Không bao giờ gặp Thiên Mã. Luôn cách năm cung. Không đồng cung, không xung chiếu, không tam hợp. Cách cục nào ghép Đào Hoa với Thiên Mã đều là ghép nhầm, thường là nhầm với Tham Lang, sao cũng mang tiếng đào hoa mà lại đi đủ mười hai cung.
- Không bao giờ gặp Hoa Cái. Luôn cách bảy cung. Hai sao cùng một tam hợp mà cả đời đứng chéo nhau, giống như mặt phô ra và mặt giấu đi của cùng một người.
- Không bao giờ đồng cung, cũng không bao giờ xung chiếu Đà La. Đà La an ở cung liền trước Lộc Tồn, chạy qua tám cung Sửu, Dần, Thìn, Tỵ, Mùi, Thân, Tuất, Hợi, tức đúng tám cung mà Đào Hoa không tới. Hai sao chia nhau hai nửa địa bàn không giao nhau. Câu quen thuộc "Đào Hoa gặp Riêu Đà Kỵ thì bất chính" vì thế phải đọc lại cho đúng: Đà La chỉ có thể chiếu Đào Hoa qua tam hợp, hoặc đứng kề một bên trong thế giáp, chứ tuyệt đối không ngồi chung một cung.
- Đồng cung với Lộc Tồn và Kình Dương chỉ xảy ra ở một số hoa giáp đếm được. Đào Hoa đồng cung Lộc Tồn chỉ có ở chín hoa giáp: Đinh Sửu, Đinh Tỵ, Đinh Dậu, Kỷ Sửu, Kỷ Tỵ, Kỷ Dậu cùng gặp nhau tại Ngọ; Quý Mão, Quý Mùi, Quý Hợi cùng gặp nhau tại Tý. Đào Hoa đồng cung Kình Dương chỉ có ở sáu hoa giáp: Giáp Dần, Giáp Ngọ, Giáp Tuất tại Mão; Canh Tý, Canh Thìn, Canh Thân tại Dậu. Ngoài mười lăm hoa giáp ấy, Đào Hoa không thể ngồi chung cung với bất kỳ sao nào trong bộ Lộc Tồn Kình Đà.
- Mọi chính tinh đều có thể đồng cung, nhưng chỉ trong bốn cung ấy. Chạy đủ mười hai thế của Tử Vi thì cả mười bốn chính tinh đều có lúc rơi vào Tý, Mão, Ngọ hoặc Dậu. Nghĩa là Đào Hoa không kén chính tinh, nhưng nó chỉ gặp chính tinh ở đúng tư thế mà chính tinh ấy đang đứng tại tứ chính, và tư thế ấy quyết định rất nhiều.
Bảng dưới liệt kê đủ mười hai thế Tử Vi để thấy trong mỗi thế, bốn cung tứ chính chứa những chính tinh nào. Đây là toàn bộ danh sách hàng xóm mà Đào Hoa có thể có.
Tý
- Cung Tý: Tử Vi
- Cung Mão: trống
- Cung Ngọ: Tham Lang
- Cung Dậu: Thái Dương, Thiên Lương
Sửu
- Cung Tý: Thiên Cơ
- Cung Mão: Thiên Phủ
- Cung Ngọ: Cự Môn
- Cung Dậu: Vũ Khúc, Thất Sát
Dần
- Cung Tý: Phá Quân
- Cung Mão: Thái Âm
- Cung Ngọ: Liêm Trinh, Thiên Tướng
- Cung Dậu: Thiên Đồng
Mão
- Cung Tý: Thái Dương
- Cung Mão: Tử Vi, Tham Lang
- Cung Ngọ: Thiên Lương
- Cung Dậu: trống
Thìn
- Cung Tý: Vũ Khúc, Thiên Phủ
- Cung Mão: Thiên Cơ, Cự Môn
- Cung Ngọ: Thất Sát
- Cung Dậu: trống
Tỵ
- Cung Tý: Thiên Đồng, Thái Âm
- Cung Mão: Thiên Tướng
- Cung Ngọ: trống
- Cung Dậu: Liêm Trinh, Phá Quân
Ngọ
- Cung Tý: Tham Lang
- Cung Mão: Thái Dương, Thiên Lương
- Cung Ngọ: Tử Vi
- Cung Dậu: trống
Mùi
- Cung Tý: Cự Môn
- Cung Mão: Vũ Khúc, Thất Sát
- Cung Ngọ: Thiên Cơ
- Cung Dậu: Thiên Phủ
Thân
- Cung Tý: Liêm Trinh, Thiên Tướng
- Cung Mão: Thiên Đồng
- Cung Ngọ: Phá Quân
- Cung Dậu: Thái Âm
Dậu
- Cung Tý: Thiên Lương
- Cung Mão: trống
- Cung Ngọ: Thái Dương
- Cung Dậu: Tử Vi, Tham Lang
Tuất
- Cung Tý: Thất Sát
- Cung Mão: trống
- Cung Ngọ: Vũ Khúc, Thiên Phủ
- Cung Dậu: Thiên Cơ, Cự Môn
Hợi
- Cung Tý: trống
- Cung Mão: Liêm Trinh, Phá Quân
- Cung Ngọ: Thiên Đồng, Thái Âm
- Cung Dậu: Thiên Tướng
Đọc bảng này rút ra vài điều rất tiện khi luận. Thứ nhất, Tử Vi Tham Lang chỉ đồng cung tại Mão và Dậu, mà Mão Dậu lại là hai trong bốn nhà của Đào Hoa, nên cách Đào hoa phạm chủ mới thành lập được. Thứ hai, Tham Lang độc tọa tại Tý và Ngọ, đó là gốc của tên gọi Phiếm Thủy Đào Hoa khi Tham Lang rơi xuống cung nước. Thứ ba, ba cặp Nhật Nguyệt, Cơ Cự, Liêm Phá cũng có thể đứng ở tứ chính, nên Đào Hoa hoàn toàn có thể đi cùng bộ Cơ Cự hay Liêm Phá, hai bộ vốn nhiều sóng gió tình cảm. Thứ tư, có những thế Tử Vi để lại cung tứ chính trống trơn, khi ấy Đào Hoa đứng một mình trong cung không chính tinh và phải mượn sao cung đối diện, sức của nó khi ấy mượn hết vào cái mượn.
Thầy hay nói với học trò một câu cho dễ nhớ: Đào Hoa là sao của bốn góc sáng. Tý, Ngọ, Mão, Dậu là bốn phương chính, bốn cung mà cổ nhân xếp vào hàng vượng khí, cũng là bốn cung mà Kình Dương khi rơi vào thì bị coi là hãm. Đào Hoa với Kình Dương chia nhau một phần địa bàn giống nhau: cùng là sao chỉ có mặt ở một số cung nhất định. Nhưng Kình Dương còn tới được tứ mộ, còn Đào Hoa thì tuyệt đối không. Vì thế Đào Hoa mang tính phô bày rất thuần: nó không biết giấu mình, đứng ở đâu cũng ở giữa ánh sáng.
Đào Hoa Và Tứ Hóa: Sao Không Hóa Nhưng Đổi Nghĩa Theo Hóa
Nhưng "không hóa" không có nghĩa là "không liên quan tới Tứ Hóa". Đào Hoa là sao mượn nghĩa: nó khuếch đại tính chất của cung nó đóng và của chính tinh đứng cùng. Mà chính tinh ấy thì hóa. Cho nên trong thực tế luận, câu hỏi đúng không phải "Đào Hoa hóa gì" mà là "chính tinh đứng cùng Đào Hoa đang hóa gì", và câu hỏi tiếp theo là "hóa ấy có tới được cung Đào Hoa không, bằng đường đồng cung, xung chiếu hay tam hợp".
Ràng buộc lớn nhất: vị trí Đào Hoa khóa luôn nửa bảng Tứ Hóa
Ở mục cơ chế an sao đã nêu điều bất biến thứ hai: Đào Hoa tại Mão hoặc Dậu thì tuổi can chỉ có thể là Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm; Đào Hoa tại Tý hoặc Ngọ thì tuổi can chỉ có thể là Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý. Hệ quả rất mạnh: một người có Đào Hoa ở Mão hay Dậu thì cả đời không bao giờ mang bộ Tứ Hóa của năm can âm, và ngược lại. Bảng dưới ghép hai điều ấy lại.
Giáp
- Đào Hoa chỉ có thể ở: Mão hoặc Dậu
- Bộ Tứ Hóa của tuổi ấy (Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ): Liêm Trinh, Phá Quân, Vũ Khúc, Thái Dương Kỵ
Bính
- Đào Hoa chỉ có thể ở: Mão hoặc Dậu
- Bộ Tứ Hóa của tuổi ấy (Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ): Thiên Đồng, Thiên Cơ, Văn Xương, Liêm Trinh Kỵ
Mậu
- Đào Hoa chỉ có thể ở: Mão hoặc Dậu
- Bộ Tứ Hóa của tuổi ấy (Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ): Tham Lang, Thái Âm, Hữu Bật, Thiên Cơ Kỵ
Canh
- Đào Hoa chỉ có thể ở: Mão hoặc Dậu
- Bộ Tứ Hóa của tuổi ấy (Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ): Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng (Nam phái) hoặc Thái Âm (Bắc phái), Thiên Tướng Kỵ (Nam phái) hoặc Thiên Đồng Kỵ (Bắc phái)
Nhâm
- Đào Hoa chỉ có thể ở: Mão hoặc Dậu
- Bộ Tứ Hóa của tuổi ấy (Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ): Thiên Lương, Tử Vi, Tả Phụ (Nam phái) hoặc Thiên Phủ (Bắc phái), Vũ Khúc Kỵ
Ất
- Đào Hoa chỉ có thể ở: Tý hoặc Ngọ
- Bộ Tứ Hóa của tuổi ấy (Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ): Thiên Cơ, Thiên Lương, Tử Vi, Thái Âm Kỵ
Đinh
- Đào Hoa chỉ có thể ở: Tý hoặc Ngọ
- Bộ Tứ Hóa của tuổi ấy (Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ): Thái Âm, Thiên Đồng, Thiên Cơ, Cự Môn Kỵ
Kỷ
- Đào Hoa chỉ có thể ở: Tý hoặc Ngọ
- Bộ Tứ Hóa của tuổi ấy (Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ): Vũ Khúc, Tham Lang, Thiên Lương, Văn Khúc Kỵ
Tân
- Đào Hoa chỉ có thể ở: Tý hoặc Ngọ
- Bộ Tứ Hóa của tuổi ấy (Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ): Cự Môn, Thái Dương, Văn Khúc, Văn Xương Kỵ
Quý
- Đào Hoa chỉ có thể ở: Tý hoặc Ngọ
- Bộ Tứ Hóa của tuổi ấy (Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ): Phá Quân, Cự Môn, Thái Âm, Tham Lang Kỵ
Đọc bảng này ra được những kết luận mà chỉ tính bằng thuật toán mới dám nói chắc. Thí dụ: Tham Lang hóa Lộc chỉ thuộc tuổi Mậu, mà tuổi Mậu thì Đào Hoa nằm ở Mão hoặc Dậu, cho nên cảnh Tham Lang hóa Lộc ngồi chung cung với Đào Hoa chỉ có thể xảy ra tại Mão hoặc Dậu, tức đúng hai cung mà Tử Vi Tham Lang đồng cung. Ngược lại, Tham Lang hóa Quyền thuộc tuổi Kỷ và Tham Lang hóa Kỵ thuộc tuổi Quý, cả hai đều là can âm, nên nếu muốn thấy Tham Lang hóa Quyền hay hóa Kỵ ngồi cùng Đào Hoa thì chỉ có thể tìm ở Tý và Ngọ, nơi Tham Lang độc tọa. Hai bức tranh hoàn toàn khác nhau: một bên là Tử Tham đôi sao rực rỡ, một bên là Tham Lang lẻ bóng trong cung nước hoặc cung lửa.
Đào Hoa gặp chính tinh hóa Quyền
Hóa Quyền là nắm, là ép, là đặt luật. Đào Hoa gặp Quyền thì duyên chuyển thành sức chi phối: người này không chỉ được ưa thích mà còn khiến người khác nghe theo. Đây là tổ hợp của người dẫn dắt đám đông, đứng lớp, chỉ huy đội nhóm, làm nghề hình ảnh mà có thực quyền phía sau. Mặt cần giữ là dễ dùng cảm tình thay cho quy tắc, và khi bị từ chối thì phản ứng mạnh hơn người thường, vì Quyền không quen bị chối.
Đào Hoa gặp chính tinh hóa Khoa
Hóa Khoa là danh, là tiếng thơm, là chỗ đứng được thừa nhận. Đây là hóa hợp với Đào Hoa nhất trong bốn hóa, vì Khoa biến cái duyên thành cái nhã: từ dễ mến thành có phong thái, từ được chú ý thành được kính trọng. Đào Hoa gặp Khoa hợp nghề chữ nghĩa, giảng dạy, nghiên cứu có mặt trước công chúng, nghệ thuật đòi kỹ thuật. Thầy quan sát thấy nhóm này ít vướng thị phi tình cảm hơn hẳn ba nhóm kia, vì Khoa đặt cho họ một cái danh phải giữ.
Đào Hoa gặp chính tinh hóa Kỵ
Hóa Kỵ là vướng, là dính, là không dứt ra được. Đào Hoa gặp Kỵ thì sức hút quay ngược lại thành sợi dây trói: quan hệ đến thì khó chấm dứt, tình cảm đã nguội vẫn còn ràng buộc, hoặc chính cái được người ta để ý lại là chỗ sinh điều tiếng. Nặng nhất là hai trường hợp có thật trong cấu trúc: tuổi Quý có Tham Lang hóa Kỵ, nếu Tham Lang đóng Tý hoặc Ngọ thì đó đúng là cung Đào Hoa; tuổi Bính có Liêm Trinh hóa Kỵ, mà Liêm Trinh đóng Mão hoặc Dậu là đi cùng Phá Quân, thành thế Liêm Phá Kỵ có Đào Hoa, tình duyên vừa nồng vừa dễ đổ vỡ. Hai trường hợp này không phải suy đoán, chúng bật ra từ chính bảng ràng buộc can chi ở trên.
Có một nhóm nữa đáng lưu ý là Văn Xương hóa Kỵ tuổi Tân và Văn Khúc hóa Kỵ tuổi Kỷ. Cả Tân lẫn Kỷ đều là can âm nên Đào Hoa của họ ở Tý hoặc Ngọ; mà Văn Xương chỉ ghé tứ chính khi sinh giờ Sửu, Thìn, Mùi hoặc Tuất, Văn Khúc chỉ ghé tứ chính khi sinh giờ Dần, Tỵ, Thân hoặc Hợi. Khi Xương Kỵ hoặc Khúc Kỵ rơi đúng vào cung Đào Hoa thì chuyện dễ gặp là văn tự, thư từ, tin nhắn, giấy tờ trở thành nguồn phiền phức tình cảm. Đây là chỗ Thầy hay nhắc khách nhất trong thời đại mọi lời nói đều để lại dấu vết.
Hóa bay tới từ cung khác: Đào Hoa và phép phi hóa
Ngoài Tứ Hóa theo can năm sinh, nhà Tứ Hóa còn dùng phép phi hóa: lấy can của một cung bất kỳ trong lá số rồi cho cung ấy phóng bốn hóa đi khắp mười hai cung. Với Đào Hoa, ba đường phi hóa đáng để ý nhất là:
- Cung Phu Thê phi Lộc tới cung có Đào Hoa: người bạn đời hoặc chuyện hôn nhân là nguồn mang cái duyên ấy tới. Nếu Đào Hoa đang ở Quan Lộc thì tình duyên và công việc dính nhau, quen nhau qua việc là chuyện thường.
- Cung Phu Thê phi Kỵ tới cung có Đào Hoa: chỗ mình được người ưa thích cũng là chỗ người bạn đời để tâm và không yên lòng. Đây là thế cần nói chuyện thẳng chứ không phải thế cần giấu.
- Cung Mệnh phi Kỵ tới cung có Đào Hoa: tự mình dính vào, tự mình không dứt được. Khác hẳn trường hợp Kỵ từ cung khác bay tới, vốn là chuyện người khác mang lại.
Phi hóa là kỹ thuật của Bắc phái Tứ Hóa, dùng để trả lời câu hỏi "chuyện này từ đâu tới", trong khi Tứ Hóa theo can năm trả lời câu hỏi "đời này mang sẵn gì". Với một sao chỉ đóng bốn cung như Đào Hoa, phi hóa đặc biệt hữu dụng, vì nó cho biết cái duyên ấy được kích hoạt bởi cung nào chứ không chỉ nằm yên một chỗ.
Một mẹo tổng kết mục này: khi mở lá số ra, hãy tìm Đào Hoa trước, xem nó ở cung nào, rồi hỏi ba câu theo thứ tự. Một, chính tinh cùng cung đang hóa gì. Hai, cung đối diện có hóa gì bắn sang không. Ba, hai cung tam hợp có hóa gì chiếu về không. Trả lời xong ba câu ấy là đã đọc được chín phần mười ý nghĩa của Đào Hoa trên lá số ấy, phần còn lại mới là các phụ tinh như Riêu, Hình, Không Kiếp.
Hội Họp Các Sao Và Bộ Cách
Đào Hoa rất nhạy với các sao đi cùng, làm thay đổi hẳn sắc thái tình duyên:
Hồng Loan, Thiên Hỷ
- Ý nghĩa kết hợp: Bộ Tam Minh, tăng sức sáng cho Nhật Nguyệt, duyên tình rực rỡ.
Tử, Phủ, Nhật, Nguyệt
- Ý nghĩa kết hợp: Thêm rực rỡ tốt đẹp, duyên dáng có quý khí.
Thiên Riêu, Đà La, Hóa Kỵ
- Ý nghĩa kết hợp: Lẳng lơ, bất chính, dễ lụy vì tình.
Thiên Hình, Thiên Đức
- Ý nghĩa kết hợp: Chế bớt tính hoa nguyệt, giữ được nề nếp.
Các Cách Cục Của Đào Hoa Và Điều Kiện Thành Cách
Nêu tên cách mà không nêu điều kiện thì người đọc chỉ nhớ được cái tên. Dưới đây mỗi cách ghi rõ thành cách bằng gì, đủ đẹp khi nào, đáng ngại khi nào, và phá cách hoặc giải cách ra sao. Mọi điều kiện về vị trí đều đã đối chiếu với thuật toán an sao, nên nếu một cách chỉ tồn tại ở vài tuổi nhất định thì bài ghi thẳng những tuổi ấy.
Đào Hồng (Đào Hoa gặp Hồng Loan)
Thành cách: Đào Hoa và Hồng Loan gặp nhau trong tam phương tứ chính của cùng một cung. Chạy đủ mười hai tuổi chi thì thấy ba mức rõ rệt. Đồng cung chỉ có ở hai tuổi: tuổi Mão thì cả Đào Hoa lẫn Hồng Loan cùng đóng Tý, tuổi Dậu thì cả hai cùng đóng Ngọ. Xung chiếu có ở tuổi Tý (Đào Hoa Dậu, Hồng Loan Mão) và tuổi Ngọ (Đào Hoa Mão, Hồng Loan Dậu). Tam hợp chiếu có ở bốn tuổi Sửu, Tỵ, Mùi, Hợi. Bốn tuổi còn lại là Dần, Thìn, Thân, Tuất thì hai sao cách nhau hai cung, không thành cách, chỉ là hai sao ở gần nhau trên địa bàn.
Đủ đẹp: chính tinh đồng cung thuộc loại sáng, thêm Xương Khúc hoặc Khôi Việt hoặc Tả Hữu, và cung Phúc Đức không bị Không Kiếp. Khi ấy Đào Hồng cho người có nhan sắc lẫn phong thái, đường tình duyên thuận, thường lập gia đình đúng lúc chứ không muộn màng. Phá cách: có Thiên Riêu đồng cung, hoặc chính tinh cùng cung hóa Kỵ, hoặc Không Kiếp án ngữ. Khi ấy Đào Hồng chuyển sang mặt khác: tình đến sớm mà không giữ được, hoặc nặng lòng với người không nên nặng lòng.
Tam Minh (Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỷ)
Sách gọi bộ ba Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỷ là Tam Minh, chủ sự sáng sủa, vui vẻ, làm cho Nhật Nguyệt thêm rực rỡ và báo hỷ sự. Thành cách: cả ba sao cùng chầu về một cung trong tam phương tứ chính. Vì Thiên Hỷ luôn đứng đối diện Hồng Loan, và cả ba đều an theo chi năm, nên tính ra kết quả rất gọn: bộ Tam Minh chỉ hội đủ về cung Đào Hoa cho người sinh năm Tý, Ngọ, Mão hoặc Dậu. Tuổi Mão có Đào Hoa và Hồng Loan cùng tại Tý, Thiên Hỷ tại Ngọ xung chiếu. Tuổi Tý có Đào Hoa và Thiên Hỷ cùng tại Dậu, Hồng Loan tại Mão xung chiếu. Tám tuổi chi còn lại không bao giờ có đủ Tam Minh về một cung, dù có thể có hai trong ba sao.
Đủ đẹp: thêm chính tinh sáng, nhất là Thái Dương hoặc Thái Âm đắc địa, đúng như sách nói Tam Minh làm Nhật Nguyệt thêm rực rỡ. Phá cách: Không Kiếp hoặc Tuần Triệt đóng ngay cung tụ hội, khi ấy cái vui vẫn có nhưng đến rồi tan, hỷ sự vui trong ngày mà không thành nền.
Đào hoa phạm chủ (Tử Vi Tham Lang tại Mão hoặc Dậu)
Toàn Thư có câu "đào hoa phạm chủ vi chí dâm", nói về thế Tử Vi đồng cung Tham Lang. Chữ "chủ" là Tử Vi, đế tinh; chữ "đào hoa" ở đây trước hết chỉ Tham Lang, sao vốn được xếp vào hàng đào hoa tinh, chứ không đích danh sao Đào Hoa. Thành cách: Tử Vi và Tham Lang đồng cung, mà theo cấu trúc an sao thì hai sao này chỉ đồng cung tại đúng hai chỗ là Mão và Dậu. Mão và Dậu lại nằm trong bốn nhà của Đào Hoa, nên khi người ấy tuổi Dần, Ngọ hoặc Tuất thì Đào Hoa về Mão, và khi tuổi Thân, Tý hoặc Thìn thì Đào Hoa về Dậu, sao Đào Hoa thật sự nhập cuộc, tượng đào hoa được nhân đôi.
Đáng ngại: thêm Thiên Riêu, Mộc Dục, hoặc chính tinh hóa Kỵ; khi ấy sức hút mạnh mà thiếu phanh, dễ để tình cảm lấn lên trên việc lớn. Giải cách: sách cũ ghi Tử Tham gặp Không Kiếp thì bớt tính phóng túng, gặp Thiên Hình thì giữ được nề nếp; thêm nữa, Tử Vi có Tả Hữu Khôi Việt chầu thì đế tinh có người phò, cái uy đủ để đè cái dục, cách chuyển từ chí dâm sang có sức thu phục. Đây là chỗ Thầy muốn nói rõ: cách này mô tả cường độ của sức hút, không phải bản án đạo đức, và người đọc lá số không có quyền dùng nó để kết luận về nhân cách một người.
Phiếm Thủy Đào Hoa (Tham Lang tại Hợi hoặc Tý gặp Kình Đà)
Đây là cách được nhắc nhiều mà cũng bị hiểu sai nhiều nhất. Sách nói Tham Lang rơi vào cung nước là Hợi hoặc Tý, lại gặp Kình Dương Đà La, thì gọi là Phiếm Thủy Đào Hoa, ý là hoa trôi trên mặt nước, tình cảm nổi trôi không bến. Phải nói cho đúng ngay: chữ "đào hoa" trong tên cách này chỉ Tham Lang, không chỉ sao Đào Hoa, và về mặt cấu trúc thì sao Đào Hoa không bao giờ tới cung Hợi. Vậy nên nửa số trường hợp của cách này, tức khi Tham Lang ở Hợi, chắc chắn không có mặt sao Đào Hoa.
Nửa còn lại, khi Tham Lang ở Tý, thì sao Đào Hoa có thể có mặt, với người tuổi Hợi, Mão hoặc Mùi. Nhưng chạy đủ sáu mươi hoa giáp lại ra một kết quả bất ngờ: tại cung Tý, Đào Hoa không bao giờ đồng cung được với Kình Dương hay Đà La. Kình Dương chỉ đóng Tý ở tuổi Nhâm, mà Nhâm là can dương nên chỉ ghép với chi dương, trong khi Đào Hoa về Tý đòi chi âm; Đà La thì không bao giờ tới bất kỳ cung tứ chính nào. Cho nên tổ hợp trọn vẹn duy nhất mà cấu trúc cho phép là thế giáp: người tuổi Quý có Lộc Tồn tại Tý, Kình Dương tại Sửu, Đà La tại Hợi, tức Kình Đà kẹp hai bên cung Tý; nếu người ấy là Quý Mão, Quý Mùi hay Quý Hợi thì Đào Hoa cũng về Tý, và tuổi Quý lại là tuổi Tham Lang hóa Kỵ.
Thành cách (đây là cách đáng ngại): Tham Lang hóa Kỵ đóng Tý, có Lộc Tồn và Đào Hoa cùng cung, bị Kình Dương Đà La giáp hai bên. Giải cách: Lộc Tồn đồng cung là cái phanh quý nhất, vì Lộc Tồn chủ giữ và chủ chừng mực; thêm Thiên Hình hoặc Thiên Đức thì cách nhẹ đi rõ. Trên lá số thật, Thầy thấy nhóm này không phải nhóm phóng túng nhất, mà là nhóm nặng tình nhất: họ khó dứt hơn là dễ sa. Đó là hai chuyện rất khác nhau mà sách cũ gộp làm một.
Đào Hoa gặp Thiên Hình (được chế)
Thiên Hình chủ hình pháp, kỷ luật, sự nghiêm. Sách xếp Thiên Hình vào nhóm sao chế được tính hoa nguyệt của Đào Hoa. Thiên Hình an theo tháng sinh và đi đủ mười hai cung, nên nó chỉ ghé tứ chính ở bốn tháng: tháng giêng Thiên Hình tại Dậu, tháng tư tại Tý, tháng bảy tại Mão, tháng mười tại Ngọ. Ghép với vị trí Đào Hoa thì ra điều kiện đồng cung rất cụ thể: tuổi Thân Tý Thìn sinh tháng giêng thì Đào Hoa và Thiên Hình cùng tại Dậu; tuổi Hợi Mão Mùi sinh tháng tư thì cùng tại Tý; tuổi Dần Ngọ Tuất sinh tháng bảy thì cùng tại Mão; tuổi Tỵ Dậu Sửu sinh tháng mười thì cùng tại Ngọ.
Đủ đẹp: chính tinh đồng cung có khí chất đứng đắn, thêm Khôi Việt hoặc Thiên Đức Nguyệt Đức. Người hợp cách này có sức hút mà giữ được khoảng cách, rất hợp nghề vừa cần xuất hiện vừa cần uy tín: pháp lý, y khoa, giáo dục, quản trị nhân sự, an ninh. Thầy gọi vui đây là duyên có hàng rào: người ta quý mà không dám suồng sã. Đáng ngại: nếu Thiên Hình đi cùng Kình Dương và Hóa Kỵ thì cái nghiêm chuyển thành cái khắc, duyên bị chặn quá tay, đường tình cảm lạnh và muộn.
Đào Hoa gặp Thiên Riêu (bại cách)
Tân Biên chép Đào Hoa gặp Riêu, Đà, Kỵ thì dễ bất chính. Thiên Riêu cũng an theo tháng sinh, chỉ ghé tứ chính ở bốn tháng: tháng ba tại Mão, tháng sáu tại Ngọ, tháng chín tại Dậu, tháng chạp tại Tý. Vậy điều kiện đồng cung là: tuổi Dần Ngọ Tuất sinh tháng ba, tuổi Tỵ Dậu Sửu sinh tháng sáu, tuổi Thân Tý Thìn sinh tháng chín, tuổi Hợi Mão Mùi sinh tháng chạp. Ngoài bốn trường hợp ấy, Riêu chỉ có thể chiếu chứ không ngồi cùng.
Đáng ngại: Đào Hoa chủ được chú ý, Thiên Riêu chủ mê đắm và chuyện thầm kín; hai sao cộng lại thì cái duyên chuyển sang chiều riêng tư, dễ có quan hệ không công khai được. Thêm Hóa Kỵ hoặc Đà La chiếu thì nặng thêm. Giải cách: Thiên Hình hoặc Thiên Đức đồng cung, chính tinh thuộc loại đoan chính như Thiên Phủ, Thiên Tướng, Thiên Lương, hoặc Hóa Khoa tới cung. Cần nói cho công bằng: Riêu Đào cũng là tổ hợp của người rất nhạy cảm về thẩm mỹ, nhiều nghệ sĩ có bộ này. Vấn đề không nằm ở sao mà ở chỗ người ấy dùng độ nhạy ấy vào việc gì.
Đào Hoa gặp Không Kiếp, Tuần Triệt
Địa Không và Địa Kiếp an theo giờ sinh và đi đủ mười hai cung, nên chúng chỉ ghé tứ chính ở bốn giờ mỗi sao: Địa Kiếp tại Tý khi sinh giờ Sửu, tại Mão giờ Thìn, tại Ngọ giờ Mùi, tại Dậu giờ Tuất; Địa Không tại Tý khi sinh giờ Hợi, tại Mão giờ Thân, tại Ngọ giờ Tỵ, tại Dậu giờ Dần. Khi một trong hai sao ấy trùng cung với Đào Hoa thì sức hút vẫn còn nhưng không giữ lại được gì: quen nhiều mà không đọng, tình đến rồi bay, tiếng tăm có mà không thành vốn.
Tuần và Triệt là hai vệt án ngữ, chặn cả cung chứ không riêng một sao. Với Đào Hoa, quy tắc chung của nhà là: án ngữ vào cung Đào Hoa đang được cát tinh nâng thì đáng tiếc, án ngữ vào cung Đào Hoa đang bị Riêu Kỵ kéo thì lại là điều hay. Cái tốt bị chặn thì phát muộn và phát không trọn; cái xấu bị chặn thì bớt xảy ra. Đây cũng là lý do không thể phán Tuần Triệt là tốt hay xấu nếu chưa biết cung ấy đang mang gì. Giải cách: Đào Hoa bị Tuần Triệt mà tam phương có Hóa Khoa hoặc Xương Khúc thì cái duyên chuyển hướng, từ duyên với người thành duyên với nghề và với chữ.
Đào Hoa đồng cung Lộc Tồn hoặc Kình Dương
Đây là hai tổ hợp hiếm, chỉ có ở mười lăm hoa giáp trong sáu mươi, nên đáng tách riêng. Đào Hoa đồng cung Lộc Tồn có ở Đinh Sửu, Đinh Tỵ, Đinh Dậu, Kỷ Sửu, Kỷ Tỵ, Kỷ Dậu, cả sáu cùng gặp tại Ngọ; và ở Quý Mão, Quý Mùi, Quý Hợi, cả ba cùng gặp tại Tý. Lộc Tồn chủ giữ, chủ chừng mực, chủ tài lộc bền; Đào Hoa chủ hút. Hai sao chung cung là thế có duyên mà biết dùng duyên vào việc sinh lợi, thường thấy ở người làm nghề dịch vụ có nghề, buôn bán mặt hàng đẹp, môi giới có uy tín lâu năm. Điểm phải nhớ: Lộc Tồn luôn bị Kình Dương và Đà La kẹp hai bên, nên cung Đào Hoa ấy cũng luôn ở trong thế giáp Kình Đà, có phần được che mà cũng có phần bị vây.
Đào Hoa đồng cung Kình Dương có ở Giáp Dần, Giáp Ngọ, Giáp Tuất tại Mão; Canh Tý, Canh Thìn, Canh Thân tại Dậu. Kình Dương ở tứ chính vốn được sách xếp vào thế không đắc, nên đây là sức hút có gai: người này gây ấn tượng mạnh, được nhớ lâu, nhưng quan hệ hay có va chạm, lời qua tiếng lại, hoặc yêu ghét rõ rệt không nửa vời. Giải cách: có Hóa Khoa, Thiên Đức hoặc Xương Khúc cùng cung thì cái gai chuyển thành cá tính; đáng ngại khi thêm Hỏa Linh, khi ấy nóng chồng nóng, dễ có chuyện tình cảm bùng lên rồi đứt gãy.
Một lời về chữ dùng trong các cách cục cổ
Nhiều cách của Đào Hoa mang chữ rất nặng, như "chí dâm", "bất chính", "lẳng lơ". Đó là chữ của thời sách được viết, khi đời sống tình cảm bị đo bằng thước rất khác hôm nay. Khung luận của UK MASTER ACADEMY giữ nguyên câu chữ khi trích dẫn, để người đọc biết sách nói gì, nhưng luận thì luận theo tượng: Đào Hoa chủ sức hút, sự được chú ý và độ nhạy với con người. Cường độ cao thì cần cách dùng, chứ không cần bản án. Người luận lá số cho người khác càng phải giữ điều này, vì một câu phán sai về đạo đức làm tổn thương lâu hơn nhiều so với một câu đoán sai về công việc.
Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
Trước khi đọc hai cột dưới, cần nhớ quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Đào Hoa là mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn, còn giáp hai bên là thế bao vây, mạnh với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Với Đào Hoa còn phải nhớ thêm một tầng nữa: vì nó chỉ đóng bốn cung tứ chính, có những sao về mặt cấu trúc không thể đồng cung với nó, nên dù sách chép thế nào thì trên lá số thật chúng chỉ tới được bằng đường chiếu hoặc đường giáp. Danh sách dưới đây ghi rõ vị thế khả dĩ của từng sao.
Đào Hoa hợp khi gặp
- Hồng Loan (đồng cung chỉ ở tuổi Mão và tuổi Dậu, xung chiếu ở tuổi Tý và tuổi Ngọ, tam hợp ở tuổi Sửu Tỵ Mùi Hợi): thành cách Đào Hồng, duyên lành, hỷ sự cưới hỏi.
- Thiên Hỷ (đồng cung ở tuổi Tý và tuổi Ngọ, xung chiếu ở tuổi Mão và tuổi Dậu): đủ bộ Tam Minh khi có cả Hồng Loan, làm Nhật Nguyệt thêm rực rỡ.
- Tử Vi, Thiên Phủ, Thái Dương, Thái Âm sáng (đồng cung, đều có thể đóng tứ chính): duyên có quý khí, được người trên quý, sức hút đi kèm chỗ đứng.
- Thiên Hình (đồng cung, chỉ ở bốn tháng sinh đã nêu; chiếu cũng có tác dụng): chế bớt tính phóng túng, giữ nề nếp, duyên có hàng rào.
- Thiên Đức, Nguyệt Đức (đồng cung hoặc chiếu): làm nhẹ mọi mặt xấu của Đào Hoa, hợp nhất khi cung ấy đã có Riêu hoặc Kỵ.
- Văn Xương, Văn Khúc (đồng cung khi sinh đúng bốn giờ mỗi sao): duyên chuyển thành phong thái và chữ nghĩa, hợp nghề nói và viết trước công chúng.
- Hóa Khoa (đồng cung hoặc chiếu, tới qua chính tinh cùng cung): hóa hợp nhất với Đào Hoa, biến cái duyên thành cái danh.
- Lộc Tồn (đồng cung, chỉ ở chín hoa giáp Đinh và Kỷ tại Ngọ, Quý tại Tý): biết giữ, biết chừng, duyên sinh lợi bền.
- Thiên Khôi, Thiên Việt (đồng cung được ở một số tuổi can, chiếu là chính): quý nhân đưa đường, sức hút gặp đúng người.
Đào Hoa e ngại khi gặp
- Thiên Riêu (đồng cung chỉ ở bốn tháng sinh đã nêu, ngoài ra là chiếu): tăng phần mê đắm và chuyện thầm kín, đây là sao đáng ngại nhất của Đào Hoa.
- Hóa Kỵ (đồng cung nặng nhất, tới qua chính tinh cùng cung): duyên thành dây trói, quan hệ khó dứt, dễ sinh điều tiếng.
- Đà La (không bao giờ đồng cung, cũng không bao giờ xung chiếu; chỉ có thể tam hợp hoặc giáp): kéo dài sự dây dưa, làm chuyện cũ không xong. Sách chép Đào gặp Đà thì bất chính, nhưng phải hiểu là gặp qua đường chiếu hoặc đường giáp.
- Kình Dương (đồng cung chỉ ở sáu hoa giáp Giáp tại Mão và Canh tại Dậu, ngoài ra chiếu hoặc giáp): sức hút có gai, quan hệ dễ va chạm.
- Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung khi sinh đúng bốn giờ mỗi sao, giáp là thế xấu hơn chiếu): quen nhiều mà không đọng, tình đến rồi bay.
- Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung, đi đủ mười hai cung nên khả dĩ ở mọi tuổi): tình cảm bùng nhanh tắt nhanh, nói lời nóng rồi tiếc.
- Mộc Dục (đồng cung hoặc chiếu, thuộc vòng Trường Sinh): cộng hưởng tính phô bày, thêm phần bồng bột.
- Tuần, Triệt án ngữ (chặn cả cung): chặn cái tốt thì tiếc, chặn cái xấu thì mừng; phải xem cung ấy đang mang gì rồi mới kết luận.
- Thiên Mã (về mặt cấu trúc không bao giờ gặp): ghi vào đây để người đọc khỏi đi tìm; mọi cách cục ghép Đào Hoa với Thiên Mã đều là ghép nhầm.
Tóm lại, cùng một sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho kết quả khác nhau, và với Đào Hoa còn thêm một tầng nữa: có những sao mà cấu trúc an sao không cho phép đồng cung, nên dù sách chép thế nào thì trên lá số thật chúng chỉ tới được bằng đường chiếu hoặc đường giáp. Đọc hai cột trên phải đọc kèm vị thế ghi trong ngoặc, và luôn xét cả lá số.
Đào Hoa Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Đại vận đi vào cung có Đào Hoa
Mười năm đại vận đóng vào cung có Đào Hoa bản mệnh là mười năm người ta nhìn thấy mình. Không nhất thiết là mười năm tình duyên, mà là mười năm mà sức hút và độ hiện diện của mình tăng lên rõ: được mời, được chọn, được nhắc tên, ăn ảnh hơn, ăn nói trơn hơn, quan hệ mở rộng nhanh. Nếu cung ấy có chính tinh sáng và cát tinh đỡ thì đây thường là đại vận lập danh và lập nghiệp bằng quan hệ: mở cửa hàng, làm nghề tự do, chuyển sang nghề tiếp xúc công chúng, hoặc được cất nhắc vào vị trí phải đại diện cho tổ chức.
Nếu cung ấy có Riêu, Kỵ, Không Kiếp thì mười năm ấy vẫn nhiều người tới, nhưng cái tới không đọng lại. Thầy hay dặn khách đang ở đại vận này ba việc rất đời thường: một là ghi chép việc bằng giấy trắng mực đen thay vì tin vào lời hứa miệng của người mới quen; hai là tách bạch tài khoản chung riêng; ba là đừng quyết định hôn nhân trong năm đầu và năm cuối của đại vận, vì hai năm ấy là hai chỗ giao thoa, tâm trí thường xáo hơn bình thường.
Còn khi đại vận đi vào một cung không có Đào Hoa, cũng đừng vội kết luận là mười năm nhạt. Cần xem cung đại vận ấy có nhìn thấy cung Đào Hoa không: xung chiếu thì thấy rất rõ, tam hợp thì thấy vừa, còn nếu cung Đào Hoa nằm ngoài tam phương tứ chính của đại vận thì mười năm ấy đúng là mười năm Đào Hoa nằm ngủ, và người ta thường sống thiên về việc hơn về người.
Bản lưu niên của chính sao Đào Hoa
Đào Hoa là một trong những sao có bản lưu, vì nó an theo chi năm sinh thì cũng an được theo chi của năm đang xem. Cách tính giống hệt: lấy chi của năm lưu, xét tam hợp của chi ấy, rồi đặt lưu Đào Hoa vào cung vượng. Vì mười hai chi chỉ cho bốn kết quả, nên lưu Đào Hoa quay đúng một vòng bốn năm rồi lặp lại, chạy theo thứ tự Mão, Tý, Dậu, Ngọ. Đây là điểm khác hẳn lưu Lộc Tồn hay lưu Kình Đà, vốn quay theo can nên mười năm mới lặp.
2026 Bính Ngọ
- Lưu Đào Hoa tại: Mão
- Lưu Hồng Loan tại: Dậu
- Lưu Thiên Hỷ tại: Mão
2027 Đinh Mùi
- Lưu Đào Hoa tại: Tý
- Lưu Hồng Loan tại: Thân
- Lưu Thiên Hỷ tại: Dần
2028 Mậu Thân
- Lưu Đào Hoa tại: Dậu
- Lưu Hồng Loan tại: Mùi
- Lưu Thiên Hỷ tại: Sửu
2029 Kỷ Dậu
- Lưu Đào Hoa tại: Ngọ
- Lưu Hồng Loan tại: Ngọ
- Lưu Thiên Hỷ tại: Tý
2030 Canh Tuất
- Lưu Đào Hoa tại: Mão
- Lưu Hồng Loan tại: Tỵ
- Lưu Thiên Hỷ tại: Hợi
2031 Tân Hợi
- Lưu Đào Hoa tại: Tý
- Lưu Hồng Loan tại: Thìn
- Lưu Thiên Hỷ tại: Tuất
2032 Nhâm Tý
- Lưu Đào Hoa tại: Dậu
- Lưu Hồng Loan tại: Mão
- Lưu Thiên Hỷ tại: Dậu
2033 Quý Sửu
- Lưu Đào Hoa tại: Ngọ
- Lưu Hồng Loan tại: Dần
- Lưu Thiên Hỷ tại: Thân
2034 Giáp Dần
- Lưu Đào Hoa tại: Mão
- Lưu Hồng Loan tại: Sửu
- Lưu Thiên Hỷ tại: Mùi
2035 Ất Mão
- Lưu Đào Hoa tại: Tý
- Lưu Hồng Loan tại: Tý
- Lưu Thiên Hỷ tại: Ngọ
2036 Bính Thìn
- Lưu Đào Hoa tại: Dậu
- Lưu Hồng Loan tại: Hợi
- Lưu Thiên Hỷ tại: Tỵ
2037 Đinh Tỵ
- Lưu Đào Hoa tại: Ngọ
- Lưu Hồng Loan tại: Tuất
- Lưu Thiên Hỷ tại: Thìn
Hệ quả thực tế rất dễ dùng: cứ bốn năm một lần, lưu Đào Hoa lại về đúng cung có Đào Hoa bản mệnh. Năm ấy gọi là năm Đào Hoa trùng phùng, thường là năm nổi bật nhất về quan hệ và hình ảnh trong mỗi chu kỳ bốn năm. Người tuổi Dần, Ngọ, Tuất có Đào Hoa bản mệnh tại Mão thì gặp năm trùng phùng vào các năm chi Dần, Ngọ, Tuất; người tuổi Thân, Tý, Thìn có Đào Hoa tại Dậu thì gặp vào các năm chi Thân, Tý, Thìn; và cứ thế. Nói cách khác, năm trùng phùng của một người chính là những năm cùng tam hợp với tuổi người ấy, một quy luật gọn tới mức không cần tra bảng.
Năm trùng phùng nên đọc thế nào cho đúng? Thầy vẫn nói với học trò: đó là năm tăng âm lượng, không phải năm định nội dung. Nếu cung ấy vốn lành thì âm lượng tăng thành cơ hội: được giới thiệu, được mời hợp tác, gặp người hợp ý, nghề dịch vụ đông khách hẳn lên. Nếu cung ấy vốn có Riêu Kỵ Không Kiếp thì âm lượng tăng thành phiền: chuyện cũ bị khơi lại, lời đồn lan nhanh, quan hệ chưa dứt lại nối. Cùng một năm, cùng một sao lưu, hai người đọc ra hai chuyện khác nhau, vì nền của họ khác nhau.
Lưu Hồng Loan và lưu Thiên Hỷ chạm vào
Hồng Loan và Thiên Hỷ cũng an theo chi năm nên cũng có bản lưu, và bảng trên đã ghi luôn ba cột để tiện đối chiếu. Điều đáng chú ý là quan hệ cố định giữa chúng vẫn giữ nguyên khi lưu: vào những năm có chi là Tý, Ngọ, Mão, Dậu thì lưu Đào Hoa và lưu Hồng Loan hoặc lưu Thiên Hỷ sẽ trùng cung, đúng như quy luật đã nêu ở mục cách cục. Năm chi Ngọ thì lưu Đào Hoa và lưu Thiên Hỷ cùng về Mão; năm chi Dậu thì lưu Đào Hoa và lưu Hồng Loan cùng về Ngọ. Những năm ấy là những năm bộ Tam Minh lưu tụ mạnh nhất, dân gian gọi là năm nhiều hỷ sự, cưới hỏi và tin vui.
Nhưng phải nói rõ để tránh trông chờ hão: lưu Tam Minh tụ về một cung của địa bàn, còn cung ấy là cung chức nào thì tùy lá số từng người. Với người có Mệnh an tại tứ sinh, cung ấy có thể rơi vào Tật Ách chứ không rơi vào Phu Thê, và khi ấy năm hỷ sự của thiên hạ chưa chắc là năm hỷ sự của mình. Đây chính là chỗ tách người xem lá số cẩn thận với người đọc lịch chung.
Các lưu sao khác chạm vào cung Đào Hoa
Thứ tự đọc mà Thầy vẫn dùng khi xem một năm cho khách có Đào Hoa nổi bật: trước hết xem lưu Đào Hoa năm ấy về cung nào và cung ấy là cung chức gì trong lá số; kế đó xem cung ấy có nhận lưu Hóa Lộc hay lưu Hóa Kỵ không; sau cùng mới xem lưu Kình Đà, lưu Tang Hổ. Ba bước, không đảo thứ tự. Đảo thứ tự thì hay bị một sao lẻ dẫn đi lạc, kết luận nghe thì kêu mà không đúng với đời sống của người ngồi trước mặt.
Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Đào Hoa
Không sao nào trong bộ 121 sao bị gán nhầm nhiều như Đào Hoa. Cái tên quá dễ hiểu khiến người ta bỏ qua bước tra sách, và một chữ đoán bừa về đường tình cảm có thể làm hỏng cả một cuộc hôn nhân đang lành. Mục này nói rõ sách nói gì và không nói gì.
Đào Hoa không đồng nghĩa với lăng nhăng
Tân Biên chép Đào Hoa chủ sự vui vẻ, mau mắn, đa tình, hoa nguyệt, lại lợi cho thi cử cầu công danh và đem nhiều sự vui mừng. Xin để ý vế sau: một sao chỉ chủ lăng nhăng thì không có lý gì lợi cho thi cử và công danh. Cái lõi của Đào Hoa không phải là dục, mà là sức hút và duyên với người: khả năng khiến người khác chú ý tới mình, thiện cảm với mình, muốn ở gần mình. Đó là một loại tài nguyên, giống như trí nhớ tốt hay giọng nói hay.
Tài nguyên ấy dùng vào việc gì là do cả lá số và do chính người ấy. Thầy đã xem rất nhiều lá có Đào Hoa thủ Mệnh mà đời sống riêng ngăn nắp bậc nhất: họ là giáo viên được học trò quý, bác sĩ được bệnh nhân tin, người bán hàng có khách quay lại mười năm, người dẫn chương trình sống rất kín. Ngược lại cũng có lá không có Đào Hoa mà đường tình cảm rối. Đào Hoa nói về độ hiện diện, không nói về đạo đức. Đây là ranh giới quan trọng nhất của cả bài, và cũng là chỗ Thầy yêu cầu học trò tuyệt đối không được vượt qua khi luận cho khách.
Nói theo hướng dùng được: Đào Hoa là sao hợp với mọi nghề cần công chúng. Nghề dạy học, nghề bán hàng, nghề tư vấn, nghề chăm sóc, nghề biểu diễn, nghề truyền thông, nghề ngoại giao, nghề làm đẹp, nghề dịch vụ ăn uống lưu trú, nghề tổ chức. Ở những nghề ấy, người không có duyên với người phải học rất lâu mới có được thứ mà người có Đào Hoa sẵn có. Bỏ qua chiều này để chỉ chăm chăm hỏi chuyện tình cảm là bỏ phí phần hữu ích nhất của sao.
Chữ "đào hoa" trong tên các cách cục không phải lúc nào cũng là sao Đào Hoa
Hai cách nổi tiếng nhất mang chữ đào hoa là "đào hoa phạm chủ" và "phiếm thủy đào hoa". Trong cả hai, chữ đào hoa trước hết chỉ Tham Lang, sao được xếp vào hàng đào hoa tinh của Đẩu Số, chứ không đích danh sao Đào Hoa an theo chi năm. Bằng chứng cấu trúc rất rõ: phiếm thủy đào hoa gồm cả trường hợp Tham Lang tại Hợi, mà sao Đào Hoa không bao giờ tới cung Hợi. Nếu chữ đào hoa trong tên cách chỉ sao Đào Hoa thì một nửa cách ấy không tồn tại. Hiểu đúng chỗ này thì khi thấy Tử Tham tại Mão Dậu, người luận sẽ biết phải hỏi thêm một câu: người này tuổi chi gì, sao Đào Hoa có thật sự nhập cuộc không, thay vì kết luận ngay.
Đào Hoa không có bảng miếu vượng đắc hãm mười hai cung như chính tinh
Chính tinh đi khắp mười hai cung nên mới có bảng miếu vượng đắc hãm đủ mười hai chi. Đào Hoa chỉ đóng bốn cung, nên một bảng miếu hãm mười hai dòng cho Đào Hoa là bảng không có thật: tám dòng trong đó mô tả những vị trí không bao giờ xảy ra. Sách gốc cũng không dựng bảng ấy cho Đào Hoa; Tân Biên luận Đào Hoa theo tính chất và theo sao hội hợp, không theo mức sáng tối. Vậy khi đọc ở đâu đó một bảng "Đào Hoa miếu tại Dần Thân Tỵ Hợi", quý vị có thể yên tâm bỏ qua: đó là bảng chép nhầm từ sao khác. Cái quyết định mạnh yếu của Đào Hoa là chính tinh cùng cung, hóa của chính tinh ấy, và các phụ tinh đi kèm, không phải mức miếu hãm của bản thân nó.
Đào Hoa trong Tử Vi và Đào Hoa trong Bát Tự là hai chuyện
Bát Tự Tử Bình cũng có thần sát tên Đào Hoa, còn gọi là Hàm Trì, và điều thú vị là phép an của nó gần như trùng với phép an trong Tử Vi: cũng lấy tam hợp của chi rồi đặt vào cung vượng. Nhưng hai hệ dùng nó theo hai cách khác hẳn. Bên Bát Tự, Đào Hoa được xét trên quan hệ với nhật chủ, với dụng thần và với các trụ khác, và có thể xuất hiện ở trụ năm, trụ tháng, trụ ngày hay trụ giờ, mỗi trụ một nghĩa. Bên Tử Vi, Đào Hoa được xét theo cung chức và theo tam phương tứ chính. Không được lấy kết luận của hệ này áp thẳng sang hệ kia. Ai muốn đối chiếu cả hai thì nên xem song song trên hai lá số riêng, đó cũng là cách UK MASTER ACADEMY vẫn làm trong các bản luận hội tụ.
Đào Hoa ở cung Phu Thê không phải là án ngoại tình
Sách nói Đào Hoa ảnh hưởng tới vợ hoặc chồng và liên quan việc cưới hỏi. Nghĩa gần nhất của Đào Hoa tại Phu Thê là người bạn đời có duyên, có nhan sắc, hoặc đường hôn nhân nhiều tình ý. Muốn nói tới chuyện người thứ ba thì phải hội đủ nhiều thứ khác: Riêu, Kỵ, Không Kiếp, chính tinh thuộc loại đa đoan, và cung Phúc Đức cũng phải có vấn đề. Thầy đã gặp không ít trường hợp một câu phán vội về Đào Hoa ở Phu Thê làm người vợ hoặc người chồng sinh nghi suốt nhiều năm, trong khi lá số chỉ nói rằng người bạn đời của họ dễ mến. Luận lá số là để người ta sống dễ hơn, không phải để gieo mối ngờ.
Đào Hoa gặp Đà La: sách nói có, cấu trúc nói phải hiểu lại
Câu quen thuộc là Đào Hoa gặp Riêu, Đà, Kỵ thì dễ bất chính. Nhưng chạy thuật toán an sao đủ sáu mươi hoa giáp cho thấy Đào Hoa và Đà La không bao giờ đồng cung, cũng không bao giờ xung chiếu nhau, vì Đà La chỉ đi qua tám cung tứ sinh và tứ mộ, đúng tám cung Đào Hoa không tới. Vậy câu sách trên chỉ có thể hiểu là gặp qua tam hợp chiếu hoặc qua thế giáp, tức là gặp ở mức nhẹ hơn hẳn so với đồng cung. Đây là ví dụ điển hình cho nguyên tắc của khung luận này: câu chữ của sách được giữ nguyên, nhưng phải soi lại bằng cấu trúc an sao để biết nó xảy ra được ở mức nào. Giữ sách mà không kiểm cấu trúc thì thành chép; kiểm cấu trúc mà bỏ sách thì thành đoán.
Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải
Đào Hoa không phải sao cần hóa giải theo nghĩa trừ khử. Nó là một khả năng có sẵn, và mọi lời khuyên dưới đây đều xoay quanh một chữ: dùng. Sao này chỉ trở thành phiền khi người ta để nó tự chạy mà không đặt cho nó một việc để làm.
Ba thói quen giữ mình rất đời thường
Thầy vẫn dặn khách có Đào Hoa đậm ba việc, đều là việc làm được ngay. Một, viết ra thay vì hứa miệng. Người có duyên hay được tin và hay tin người, nên hợp đồng, vay mượn, hợp tác đều nên có giấy tờ, kể cả với người thân. Hai, giữ ranh giới trong quan hệ công việc. Ăn cơm cùng thì được, nhưng chuyện tiền bạc và chuyện riêng tư nên tách. Ba, có một việc để dồn tâm ngoài giờ làm. Học một môn, chơi một nhạc cụ, luyện một môn thể thao, chăm một khu vườn. Đào Hoa là năng lượng hướng ra ngoài; nếu không có chỗ chảy lành thì nó tự tìm chỗ chảy.
Khi Đào Hoa gặp Riêu, Kỵ, Không Kiếp
Với các tổ hợp nặng, cách xử lý không phải là né mà là chậm lại và nói rõ. Chậm lại nghĩa là những quyết định lớn về quan hệ, hôn nhân, hợp tác nên để qua ít nhất một mùa mới quyết, đừng quyết trong lúc cảm xúc đang cao. Nói rõ nghĩa là đưa mọi thứ ra ánh sáng trước khi nó thành chuyện phải giấu: một lời nói thẳng lúc đầu tiết kiệm rất nhiều năm về sau. Trên lá số thật, phần lớn rắc rối của nhóm Đào Riêu Kỵ không sinh ra từ một quyết định lớn, mà từ chuỗi những lần ngại nói.
Với năm lưu Đào Hoa về cung mình
Phong thủy bổ trợ, ghi rõ là gợi ý chung: những việc dưới đây thuộc loại điều chỉnh nếp sống và bài trí, không phải trấn yểm, không thay thế được nỗ lực của bản thân và cũng không sửa được lá số. Giữ chỗ ngủ yên tĩnh và tối, hạn chế gương lớn đối diện giường vì gương làm tâm trí khó lắng. Bàn làm việc nên có một khoảng trống thật sự, để chỗ cho việc thay vì để đầy vật trang trí. Trong nhà nên có một góc riêng chỉ dành cho mình, dù chỉ là một chiếc ghế. Về màu sắc và cây cỏ, người có Đào Hoa đậm thường hợp với sắc trầm và cây lá dày hơn là sắc rực và hoa nhiều, vì nếp sống cần thêm phần lắng chứ không cần thêm phần rộn. Đây là gợi ý chung cho mọi người, ai muốn chỉnh theo đúng lá số của mình thì nên xem cung Điền Trạch và cung Phúc Đức rồi hãy quyết.
Lời cuối của mục này, cũng là lời Thầy hay nói khi tiễn khách có Đào Hoa thủ Mệnh: được người ta quý là một cái phúc, giữ được sự quý ấy lâu mới là cái tài. Sao chỉ cho biết mình có gì trong tay; dùng nó thế nào thì vẫn là chuyện của người cầm.
Câu hỏi thường gặp
Đào Hoa là sao đào hoa tiêu biểu của Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Mộc, chủ sắc đẹp, sức hút khác phái, đa tình và hoa nguyệt. Cùng Hồng Loan, đây là tinh diệu hàng đầu khi luận tình duyên.
Đào Hoa ở Mệnh cho người duyên dáng, có sức hút, nhưng cũng dễ đa tình. Gặp cát tinh và chính tinh sáng thì là duyên lành; gặp Thiên Riêu, Đà La, Hóa Kỵ thì dễ lụy tình, cần giữ mình.
Đào Hoa an theo tam hợp địa chi năm sinh: tuổi Dần Ngọ Tuất tại Mão, Thân Tý Thìn tại Dậu, Tỵ Dậu Sửu tại Ngọ, Hợi Mão Mùi tại Tý.
Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỷ hội thành bộ Tam Minh, làm tăng sức sáng cho Nhật Nguyệt và báo duyên tình rực rỡ, hỷ sự cưới hỏi.
Đào Hoa an theo tam hợp địa chi năm sinh nên chỉ có thể đóng bốn cung tứ chính là Tý, Ngọ, Mão và Dậu. Tám cung Sửu, Dần, Thìn, Tỵ, Mùi, Thân, Tuất, Hợi thì Đào Hoa không bao giờ tới. Cụ thể: tuổi Dần Ngọ Tuất tại Mão, tuổi Thân Tý Thìn tại Dậu, tuổi Tỵ Dậu Sửu tại Ngọ, tuổi Hợi Mão Mùi tại Tý.
Chạy đủ mười hai tuổi chi thì Đào Hoa và Hồng Loan chỉ đồng cung ở hai tuổi: tuổi Mão thì cả hai cùng đóng Tý, tuổi Dậu thì cả hai cùng đóng Ngọ. Tuổi Tý và tuổi Ngọ thì hai sao xung chiếu nhau; tuổi Sửu, Tỵ, Mùi, Hợi thì tam hợp chiếu; bốn tuổi Dần, Thìn, Thân, Tuất thì hai sao cách nhau hai cung, không thành cách Đào Hồng.
Không. Đào Hoa và Thiên Mã luôn cách nhau đúng năm cung ở mọi tuổi, nên không bao giờ đồng cung, xung chiếu hay tam hợp; lý do là Đào Hoa luôn ở tứ chính còn Thiên Mã luôn ở tứ sinh. Đà La cũng không bao giờ đồng cung và không bao giờ xung chiếu Đào Hoa, vì Đà La chỉ đi qua tám cung tứ sinh và tứ mộ; Đà La chỉ có thể chiếu Đào Hoa qua tam hợp hoặc đứng kề trong thế giáp.
Không. Sách chép Đào Hoa chủ sự vui vẻ, mau mắn, đa tình, đồng thời lợi cho thi cử cầu công danh và đem nhiều sự vui mừng, nên cái lõi của sao là sức hút và duyên với người chứ không phải đạo đức. Người có Đào Hoa nổi bật rất hợp những nghề cần công chúng như dạy học, tư vấn, bán hàng, y tế, truyền thông, làm đẹp, dịch vụ. Chỉ khi có thêm Thiên Riêu, Hóa Kỵ, Không Kiếp và cung Phúc Đức cũng có vấn đề thì mới xét tới chiều tiêu cực, và cũng chỉ nói khuynh hướng chứ không phán việc.
Lưu Đào Hoa an theo chi của năm đang xem, mà mười hai chi chỉ cho bốn kết quả nên lưu Đào Hoa quay đúng một vòng bốn năm theo thứ tự Mão, Tý, Dậu, Ngọ. Cứ bốn năm một lần lưu Đào Hoa lại về đúng cung có Đào Hoa bản mệnh, đó là năm trùng phùng. Quy luật gọn để nhớ: năm trùng phùng của một người chính là những năm có chi cùng tam hợp với tuổi người ấy.