Tử Vi
Sao Đẩu Quân: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung
Tìm hiểu sao Đẩu Quân trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.
Tổng quan về sao Đẩu Quân
Đẩu Quân là một sao có vai trò đặc biệt trong Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Hỏa. Ngoài tính chất riêng, Đẩu Quân còn là mốc khởi điểm để tính các tháng trong năm hạn, nên rất quan trọng khi xem lưu niên, lưu nguyệt.
- Ngũ hành: Hỏa
- Nhóm: Phụ Tinh Lưu Niên
- Cách an: Đẩu quân an theo địa chi năm sinh, tháng sinh và thái tuế, là sao khởi điểm tính tháng trong năm hạn (tiểu hạn lưu nguyệt)
- Cai quản: nghiêm nghị, khắc nghiệt, khởi tính tháng hạn
- Tính chất: Lưu niên, khởi tháng
Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.
Ý nghĩa tại cung Mệnh
- Gặp cát, chính tinh sáng, sao sáng sủa: Người có phần nghiêm cẩn, giữ được uy tín, thích hợp vai trò khởi xướng, đứng đầu một nhóm nhỏ.
- Gặp hung, chính tinh hãm, gặp nhiều sát tinh: Dễ nóng vội trong quyết định đầu việc; nên bàn bạc kỹ trước khi khởi sự việc lớn.
Ý nghĩa ở các cung khác
Đối chiếu ý nghĩa của Đẩu Quân với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.
Cung Phụ Mẫu
- Gặp cát, chính tinh sáng, sao sáng sủa: Cha mẹ có vai trò dẫn dắt, quyết đoán trong gia đình.
- Gặp hung, chính tinh hãm, gặp nhiều sát tinh: Không có ảnh hưởng đáng kể riêng biệt.
Cung Phúc Đức
- Gặp cát, chính tinh sáng, sao sáng sủa: Tinh thần có chí hướng, thích khởi sự, không ngại bắt đầu lại.
- Gặp hung, chính tinh hãm, gặp nhiều sát tinh: Dễ nóng lòng, thiếu kiên nhẫn chờ đợi kết quả.
Cung Điền Trạch
- Gặp cát, chính tinh sáng, sao sáng sủa: Biết chọn đúng thời điểm khởi công, sửa sang nhà cửa.
- Gặp hung, chính tinh hãm, gặp nhiều sát tinh: Dễ khởi công vội vàng rồi phải sửa lại; nên tính toán kỹ thời điểm.
Cung Quan Lộc
- Gặp cát, chính tinh sáng, sao sáng sủa: Hợp vai trò khởi xướng dự án, mở đầu công việc mới, lãnh đạo nhóm nhỏ; có uy với cấp dưới.
- Gặp hung, chính tinh hãm, gặp nhiều sát tinh: Sách nhắc gặp nhiều sát tinh dễ thành gian giảo, quỷ quyệt trong cách làm việc; nên giữ minh bạch, tránh đường tắt.
Cung Nô Bộc
- Gặp cát, chính tinh sáng, sao sáng sủa: Bạn bè có người giữ vai trò đầu nhóm, dẫn dắt các hoạt động chung.
- Gặp hung, chính tinh hãm, gặp nhiều sát tinh: Không có ảnh hưởng đáng kể riêng biệt.
Cung Thiên Di
- Gặp cát, chính tinh sáng, sao sáng sủa: Ra ngoài có vai trò dẫn dắt, được tin cậy giao việc khởi đầu một dự án.
- Gặp hung, chính tinh hãm, gặp nhiều sát tinh: Ra ngoài dễ vội vàng, cần chuẩn bị kỹ trước khi khởi hành việc lớn.
Cung Tật Ách
- Gặp cát, chính tinh sáng, sao sáng sủa: Không có ảnh hưởng đáng kể riêng biệt.
- Gặp hung, chính tinh hãm, gặp nhiều sát tinh: Không có ảnh hưởng đáng kể riêng biệt; sức khỏe theo đúng chính tinh và các sao Tật Ách khác.
Cung Tài Bạch
- Gặp cát, chính tinh sáng, sao sáng sủa: Giữ của cải bền vững, biết cách khởi đầu một khoản đầu tư đúng lúc.
- Gặp hung, chính tinh hãm, gặp nhiều sát tinh: Dễ vội vàng trong quyết định tài chính đầu năm hoặc đầu vụ; nên cân nhắc kỹ.
Cung Tử Tức
- Gặp cát, chính tinh sáng, sao sáng sủa: Con cái có tố chất lãnh đạo, thích đứng đầu nhóm bạn.
- Gặp hung, chính tinh hãm, gặp nhiều sát tinh: Con cái dễ nôn nóng, thích làm trước nghĩ sau; nên hướng dẫn thêm về kiên nhẫn.
Cung Phu Thê
- Gặp cát, chính tinh sáng, sao sáng sủa: Bạn đời có vai trò dẫn dắt, quyết đoán trong việc chung.
- Gặp hung, chính tinh hãm, gặp nhiều sát tinh: Cả hai dễ tranh phần quyết định; nên phân vai rõ ràng trong việc nhà.
Cung Huynh Đệ
- Gặp cát, chính tinh sáng, sao sáng sủa: Có anh chị em giữ vai trò đầu tàu trong nhà.
- Gặp hung, chính tinh hãm, gặp nhiều sát tinh: Không có ảnh hưởng đáng kể riêng biệt.
Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Đẩu Quân là phụ tinh hiếm hoi an theo cả ba tham số cùng lúc: địa chi năm sinh, tháng sinh và giờ sinh. Vì phối tới ba tham số, sao này không thể trình bày bằng một bảng đơn giản như phần lớn phụ tinh khác trong bộ 121 sao; phải trình bày bằng công thức.
- Bước một, xác định cung Thái Tuế: tìm cung mang tên trùng địa chi năm sinh. Đây là điểm khởi đầu của phép tính.
- Bước hai, lùi theo tháng sinh: từ cung Thái Tuế, đếm lùi (nghịch chiều kim đồng hồ) theo số tháng sinh âm lịch, trong đó tháng Giêng không lùi bước nào (vẫn ở nguyên cung Thái Tuế), tháng hai lùi một cung, tháng ba lùi hai cung, cứ thế tới tháng mười hai lùi mười một cung.
- Bước ba, tiến theo giờ sinh: từ cung vừa có được sau bước hai, đếm tiến (thuận chiều kim đồng hồ) theo giờ sinh, trong đó giờ Tý không tiến bước nào, giờ Sửu tiến một cung, giờ Dần tiến hai cung, cứ thế tới giờ Hợi tiến mười một cung. Cung có được sau bước ba là vị trí an Đẩu Quân.
Hệ quả trực tiếp và dễ kiểm nhất của công thức: người sinh tháng Giêng, giờ Tý thì Đẩu Quân luôn đúng tại cung Thái Tuế, tức đồng cung với chi năm sinh, không phân biệt tuổi chi nào. Đây là điểm neo để tự kiểm công thức có tính đúng hay không: chạy công thức cho cả mười hai tuổi chi với tháng một, giờ Tý đều cho kết quả Đẩu Quân trùng khít Thái Tuế.
Ví dụ cụ thể: đổi tháng sinh, giữ nguyên tuổi và giờ
Với người tuổi Tý, giờ Tý, đổi lần lượt qua mười hai tháng sinh, Đẩu Quân đi lùi đúng một cung mỗi khi tháng tăng thêm một:
Tháng 1
- Đẩu Quân tại (tuổi Tý, giờ Tý): Tý
Tháng 2
- Đẩu Quân tại (tuổi Tý, giờ Tý): Hợi
Tháng 3
- Đẩu Quân tại (tuổi Tý, giờ Tý): Tuất
Tháng 4
- Đẩu Quân tại (tuổi Tý, giờ Tý): Dậu
Tháng 5
- Đẩu Quân tại (tuổi Tý, giờ Tý): Thân
Tháng 6
- Đẩu Quân tại (tuổi Tý, giờ Tý): Mùi
Tháng 7
- Đẩu Quân tại (tuổi Tý, giờ Tý): Ngọ
Tháng 8
- Đẩu Quân tại (tuổi Tý, giờ Tý): Tỵ
Tháng 9
- Đẩu Quân tại (tuổi Tý, giờ Tý): Thìn
Tháng 10
- Đẩu Quân tại (tuổi Tý, giờ Tý): Mão
Tháng 11
- Đẩu Quân tại (tuổi Tý, giờ Tý): Dần
Tháng 12
- Đẩu Quân tại (tuổi Tý, giờ Tý): Sửu
Ví dụ cụ thể: đổi giờ sinh, giữ nguyên tuổi và tháng
Với người tuổi Tý, tháng năm, đổi lần lượt qua mười hai giờ sinh, Đẩu Quân đi tiến đúng một cung mỗi khi giờ tăng thêm một bậc trong ngày:
Giờ Tý
- Đẩu Quân tại (tuổi Tý, tháng 5): Thân
Giờ Sửu
- Đẩu Quân tại (tuổi Tý, tháng 5): Dậu
Giờ Dần
- Đẩu Quân tại (tuổi Tý, tháng 5): Tuất
Giờ Mão
- Đẩu Quân tại (tuổi Tý, tháng 5): Hợi
Giờ Thìn
- Đẩu Quân tại (tuổi Tý, tháng 5): Tý
Giờ Tỵ
- Đẩu Quân tại (tuổi Tý, tháng 5): Sửu
Giờ Ngọ
- Đẩu Quân tại (tuổi Tý, tháng 5): Dần
Giờ Mùi
- Đẩu Quân tại (tuổi Tý, tháng 5): Mão
Giờ Thân
- Đẩu Quân tại (tuổi Tý, tháng 5): Thìn
Giờ Dậu
- Đẩu Quân tại (tuổi Tý, tháng 5): Tỵ
Giờ Tuất
- Đẩu Quân tại (tuổi Tý, tháng 5): Ngọ
Giờ Hợi
- Đẩu Quân tại (tuổi Tý, tháng 5): Mùi
Những điều bất biến của Đẩu Quân
- Vì giờ sinh có đủ mười hai giá trị và bước tiến theo giờ đi trọn một vòng, Đẩu Quân có thể rơi vào cả mười hai địa chi, không có cung nào bị loại trừ vĩnh viễn như một số phụ tinh chỉ an theo can hoặc chi đơn thuần.
- Người cùng tháng sinh và giờ sinh nhưng khác tuổi chi thì Đẩu Quân của họ luôn cách nhau đúng bằng khoảng cách giữa hai chi năm sinh ấy, vì bước lùi theo tháng và bước tiến theo giờ là hai độ dịch cố định cộng thêm vào cùng một gốc Thái Tuế; đổi gốc bao nhiêu thì Đẩu Quân dịch theo bấy nhiêu.
- Người cùng tuổi chi và cùng giờ sinh nhưng khác tháng sinh thì Đẩu Quân lệch nhau đúng bằng hiệu số tháng, theo chiều lùi.
- Người cùng tuổi chi và cùng tháng sinh nhưng khác giờ sinh thì Đẩu Quân lệch nhau đúng bằng hiệu số giờ, theo chiều tiến.
- Vì Đẩu Quân an theo cả chi, tháng, giờ độc lập với vị trí Tử Vi, nó có thể đồng cung với bất kỳ chính tinh nào tùy từng lá số cụ thể, không có chính tinh nào bị loại trừ.
Cách an và đặc tính
Đẩu Quân an theo địa chi năm sinh, tháng sinh và Thái Tuế, là sao khởi điểm tính tháng trong năm hạn (tiểu hạn lưu nguyệt).
Vì là phụ tinh, Đẩu Quân làm rõ hoặc tô đậm tính chất của chính tinh đồng cung và của cung nó tọa thủ, chứ không tự quyết định cục diện một mình.
Mức độ đắc hãm và tính chất
Theo Tân Biên, Đẩu Quân chủ sự nghiêm nghị, khắc nghiệt, giữ gìn của cải bền vững, nhưng không lợi ích cho sự sinh nở. Gặp nhiều Sát tinh hội hợp thì gian giả, quỷ quyệt. Cung Quan Lộc có Đẩu Quân tọa thủ, gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp, nhất là Tử, Phủ, thì được hưởng phú quý song toàn, lại có uy quyền hiển hách, danh tiếng lừng lẫy.
Vai trò quan trọng nhất của Đẩu Quân là làm mốc khởi tính tháng trong năm hạn: từ cung an Đẩu Quân, đếm các tháng để xác định cung lưu nguyệt, phục vụ luận đoán chi tiết theo từng tháng.
Hội họp các sao và bộ cách
Đẩu Quân phối với các sao cho kết quả khác nhau:
Tử Vi, Thiên Phủ (tại Quan)
- Ý nghĩa kết hợp: Phú quý song toàn, uy quyền hiển hách.
Sao sáng sủa tốt đẹp
- Ý nghĩa kết hợp: Tăng vẻ nghiêm cẩn, có uy.
Nhiều Sát tinh
- Ý nghĩa kết hợp: Gian giả, quỷ quyệt.
Vai trò lưu niên
- Ý nghĩa kết hợp: Mốc khởi tính tháng trong năm hạn.
Sao hợp và sao kỵ
Trước khi đọc hai cột dưới, xin nhớ quy tắc về lực: đồng cung mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn, giáp là thế bao vây. Với Đẩu Quân, đồng cung Tử Vi Thiên Phủ tại Quan Lộc là tổ hợp đẹp nhất theo sách, còn đồng cung nhiều sát tinh mới thật sự cần cẩn trọng về cách hành xử.
Đẩu Quân hợp khi gặp
- Tử Vi, Thiên Phủ đồng cung tại Quan Lộc: sách ghi tổ hợp này thành phú quý, uy quyền, rất thuận cho vai trò lãnh đạo, khởi xướng.
- Chính tinh sáng sủa đồng cung (mọi chính tinh miếu vượng): thêm nét nghiêm cẩn, có uy, giữ được lời nói có trọng lượng.
- Lộc Tồn, Hóa Lộc đồng cung: giữ của cải bền vững, biết khởi đầu đúng lúc mà không phung phí.
Đẩu Quân e ngại khi gặp
- Nhiều sát tinh đồng cung (Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp tụ về): sách ghi dễ thành gian giảo, quỷ quyệt trong cách hành xử, hay đi đường tắt.
- Không lợi cho việc sinh nở nếu Đẩu Quân đóng tại các cung liên quan chuyện con cái ở lá số nữ mệnh: đây là điều sách ghi riêng, cần đọc cùng cả tổ hợp cung Tử Tức chứ không kết luận riêng từ một mình sao này.
- Tuần, Triệt án ngữ (chặn cả cung): uy nghiêm giảm, vai trò khởi xướng của sao bị che mờ.
Tóm lại, Đẩu Quân là phụ tinh: đi với chính tinh và cát tinh hợp cách thì phát huy mặt hay, gặp sát tinh và hung cách thì lộ mặt yếu. Luôn xét cả lá số.
Đẩu Quân Trong Đại Vận Và Lưu Niên: Vai Trò Mốc Khởi Tiểu Hạn
Đây là mục quan trọng nhất của cả bài, vì giá trị thật của Đẩu Quân không nằm ở việc nó đóng cung chức nào trên bản mệnh, mà ở chỗ nó là mốc khởi đầu để an tiểu hạn từng tháng trong một năm xem. Tiểu hạn (hay lưu nguyệt) là lớp vận hạn nhỏ nhất trong Đẩu Số, chia mỗi năm thành mười hai tháng để xem xét diễn biến chi tiết hơn cả đại vận (mười năm) và lưu niên (một năm).
Cách dùng Đẩu Quân để khởi tháng Giêng của tiểu hạn
Với mỗi năm muốn xem tiểu hạn, người luận tính lại Đẩu Quân theo đúng công thức đã nêu ở mục cấu trúc, nhưng thay chi năm sinh bằng chi của năm đang xem, giữ nguyên tháng sinh và giờ sinh của bản mệnh. Cung tính ra được xem là nơi tháng Giêng của tiểu hạn năm ấy khởi đầu; từ đó an tiếp lần lượt tháng hai, tháng ba cho tới tháng mười hai vào các cung kế tiếp theo chiều thuận. Đây là lý do tên gọi "Đẩu Quân" gắn liền với ý niệm cầm chịch, dẫn đường: nó là ngôi sao chỉ đường cho toàn bộ mười hai tháng của một năm hạn.
Vì sao vai trò này khiến Đẩu Quân khác hẳn phần lớn phụ tinh khác
Phần lớn phụ tinh trong bộ 121 sao chỉ mang một tầng ý nghĩa: đóng ở cung nào thì cung ấy mang thêm sắc thái của sao. Đẩu Quân mang thêm một tầng công cụ hiếm có: nó không chỉ nói về cung nó đóng, mà còn tạo ra cả một bản đồ mười hai tháng cho năm đang xem. Vì vậy khi luận tiểu hạn, việc đầu tiên người luận phải làm không phải là tìm chính tinh đẹp nhất, mà là xác định đúng cung Đẩu Quân của năm ấy, vì sai một bước này thì toàn bộ thứ tự mười hai tháng sẽ lệch theo.
Đẩu Quân bản mệnh có bản lưu niên hay không
Sao có bản lưu theo đúng nghĩa "vị trí bản mệnh cố định, cộng thêm một lớp vị trí khác tính lại mỗi năm" là các sao thuộc vòng Thái Tuế và vòng Bác Sĩ. Đẩu Quân không thuộc hai vòng ấy, và bản thân vị trí trên bản mệnh của nó (tính theo chi, tháng, giờ sinh) cũng là một hằng số suốt đời như phần lớn phụ tinh khác an theo tham số sinh cố định.
Nhưng khác với những phụ tinh cố định thuần túy, Đẩu Quân có một phép tính lại mỗi năm dành riêng cho việc khởi tiểu hạn, như đã trình bày ở trên: mỗi năm xem, thay chi năm sinh bằng chi năm xem trong công thức, sẽ ra một cung Đẩu Quân của năm ấy, khác cung Đẩu Quân bản mệnh. Đây không hẳn là "lưu Đẩu Quân" theo nghĩa một sao phụ tự di chuyển như lưu Thái Tuế, mà là một phép tính riêng phục vụ đúng một mục đích: khởi đầu vòng mười hai tháng của tiểu hạn năm đó.
Ví dụ áp dụng
Với người tuổi Mậu Thìn, tháng năm, giờ Mão đã dùng làm ví dụ xuyên suốt bài này, Đẩu Quân bản mệnh tại Mão (tính chi tiết ở mục lá số minh họa). Muốn xem tiểu hạn của một năm bất kỳ, ví dụ năm có chi Ngọ, chỉ cần thay chi Thìn bằng chi Ngọ trong công thức, giữ nguyên tháng năm và giờ Mão: kết quả ra cung Tỵ, đó chính là nơi tháng Giêng âm lịch của năm Ngọ ấy khởi đầu khi luận tiểu hạn, khác hẳn cung Mão của Đẩu Quân bản mệnh.
Thầy hay nhắc học trò rằng phần lớn sai sót khi luận tiểu hạn không nằm ở việc đọc sai ý nghĩa sao, mà nằm ở việc tính sai cung khởi đầu. Nắm chắc công thức của Đẩu Quân, kiểm tra lại bằng điểm neo tháng Giêng giờ Tý luôn trùng Thái Tuế, là cách chắc chắn nhất để không lệch bước ngay từ đầu.
Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Đẩu Quân
Vì công thức của Đẩu Quân phức tạp hơn hẳn phần lớn phụ tinh khác, đây cũng là sao dễ bị an sai hoặc hiểu sai vai trò nhất trong bộ 121 sao. Mục này nói rõ những chỗ hay lẫn.
Một: Đẩu Quân không phải một phụ tinh chỉ mang ý nghĩa đóng cung như các sao khác
Rất nhiều bảng tra cứu chỉ liệt kê Đẩu Quân như một phụ tinh bình thường với vài dòng đặc tính, mà bỏ qua hẳn vai trò làm mốc khởi tiểu hạn. Đọc như vậy là bỏ mất phần giá trị lớn nhất của sao này. Như đã trình bày ở mục vận hạn, ý nghĩa quan trọng nhất của Đẩu Quân nằm ở việc nó xác định cung khởi đầu của cả một năm hạn tính theo tháng, không chỉ dừng ở việc đóng một cung chức và mang vài đặc tính tính cách.
Hai: không nên nhầm công thức của Đẩu Quân với công thức của các sao đơn tham số
Vì phần lớn phụ tinh khác chỉ an theo một tham số (can, hoặc chi, hoặc tháng, hoặc giờ), người mới học dễ áp nhầm công thức đơn giản ấy cho Đẩu Quân. Phải nhớ rõ ba bước: xác định Thái Tuế theo chi, lùi theo tháng, tiến theo giờ. Bỏ sót bất kỳ bước nào trong ba bước ấy đều cho ra kết quả sai.
Ba: đóng ở Quan Lộc gặp sát tinh không có nghĩa chắc chắn là người gian dối
Sách ghi Đẩu Quân gặp nhiều sát tinh dễ thành gian giảo, quỷ quyệt, nhưng đây là mô tả khuynh hướng khi tổ hợp xấu hội đủ, không phải một lời khẳng định về đạo đức của riêng người mang sao. Phải xét cùng chính tinh chủ đạo, mức độ sát tinh hội tụ, và cả các sao giải; một mình Đẩu Quân không đủ để kết luận về nhân cách một người.
Bốn: không được lấy Đẩu Quân bản mệnh để đọc trực tiếp thay cho Đẩu Quân của năm xem
Đây là lỗi thực hành phổ biến nhất: nhiều người luận tiểu hạn nhưng lại dùng nguyên vị trí Đẩu Quân bản mệnh (tính theo chi năm sinh) để khởi tháng Giêng cho mọi năm, trong khi đúng ra phải tính lại theo chi của từng năm xem như đã nêu ở mục vận hạn. Hai cung này chỉ trùng nhau đúng vào năm có chi trùng chi năm sinh, còn lại đều lệch.
Lời Khuyên Và Cách Sống Cùng Đẩu Quân
Đẩu Quân là sao của sự khởi đầu, nên lời khuyên tự nhiên nhất gắn với việc chọn đúng thời điểm bắt đầu, không phải trấn yểm hay lo sợ.
Nếu Đẩu Quân đóng ở Mệnh, Quan Lộc: tận dụng năng lực khởi xướng
Người có tổ hợp này, nhất là khi có chính tinh sáng đi cùng, thường có năng lực đứng ra khởi xướng, mở đầu công việc mới, dẫn dắt nhóm nhỏ. Nên rèn thêm khả năng lắng nghe và kiên nhẫn theo đuổi tới cùng, để không chỉ giỏi mở đầu mà còn giỏi hoàn thành.
Nếu Đẩu Quân gặp nhiều sát tinh: giữ sự minh bạch trong cách làm việc
Theo lời sách đã dẫn ở mục hợp kỵ, tổ hợp này dễ thiên về đường tắt, thiếu minh bạch. Lời khuyên cụ thể là luôn chọn cách làm rõ ràng, tránh những quyết định vội vàng thiếu cân nhắc, đặc biệt trong công việc và các cam kết quan trọng.
Dùng Đẩu Quân đúng việc nhất: xem tiểu hạn từng tháng
Lời khuyên thiết thực nhất với Đẩu Quân, đúng như trọng tâm của cả bài, là dùng nó đúng chức năng: mỗi khi muốn biết tháng nào trong năm thuận, tháng nào cần cẩn trọng hơn, hãy tính lại Đẩu Quân theo chi của năm ấy để xác định đúng cung khởi tháng Giêng, rồi an tiếp mười một tháng còn lại theo chiều thuận, thay vì chỉ nhìn vào lưu niên chung chung của cả năm.
Phong thủy bổ trợ, ghi rõ là gợi ý chung: việc dưới đây thuộc điều chỉnh nếp sống, không phải trấn yểm, không sửa được lá số. Với người muốn tận dụng năng lượng khởi đầu tốt, có thể chọn khởi công những việc quan trọng vào đầu tháng âm lịch, giữ không gian làm việc gọn gàng để dễ bắt đầu việc mới. Đây là gợi ý chung cho bất kỳ ai, không riêng người có Đẩu Quân nổi bật, và không thay thế việc tính đúng tiểu hạn theo công thức đã nêu.
Câu hỏi thường gặp
Đẩu Quân là một sao đặc biệt của Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Hỏa, vừa có tính chất riêng (nghiêm nghị, khắc nghiệt, giữ của) vừa là mốc khởi điểm để tính các tháng trong năm hạn khi xem lưu niên, lưu nguyệt.
Đẩu Quân là mốc khởi tính tháng trong năm hạn: từ cung an Đẩu Quân, người ta đếm các tháng để xác định cung lưu nguyệt, phục vụ việc luận đoán chi tiết theo từng tháng trong năm.
Đẩu Quân ở Quan Lộc gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp, nhất là Tử Vi, Thiên Phủ, thì được hưởng phú quý song toàn, có uy quyền hiển hách và danh tiếng lừng lẫy.
Đẩu Quân an theo địa chi năm sinh, tháng sinh và Thái Tuế, là sao khởi điểm tính tháng trong năm hạn.
Không. Đẩu Quân an theo cả ba tham số cùng lúc: địa chi năm sinh, tháng sinh và giờ sinh, nên không thể trình bày bằng một bảng đơn giản. Công thức gồm ba bước: xác định cung Thái Tuế theo chi năm sinh, lùi theo tháng sinh (tháng Giêng không lùi), rồi tiến theo giờ sinh (giờ Tý không tiến). Điểm neo để tự kiểm là người sinh tháng Giêng giờ Tý luôn có Đẩu Quân trùng đúng cung Thái Tuế.
Giá trị lớn nhất của Đẩu Quân là làm mốc khởi đầu để an tiểu hạn (lưu nguyệt) từng tháng trong một năm xem. Với mỗi năm muốn luận theo tháng, người luận tính lại Đẩu Quân bằng cách thay chi năm sinh bằng chi của năm đang xem, giữ nguyên tháng và giờ sinh; cung tính ra được xem là nơi tháng Giêng của tiểu hạn năm ấy khởi đầu, rồi an tiếp các tháng còn lại theo chiều thuận.
Không hoàn toàn giống. Vị trí Đẩu Quân trên bản mệnh (tính theo chi, tháng, giờ sinh) là một hằng số suốt đời như phần lớn phụ tinh khác. Nhưng Đẩu Quân có thêm một phép tính lại riêng dành cho việc khởi tiểu hạn mỗi năm, khác cách một sao thuộc vòng Thái Tuế hay vòng Bác Sĩ tự động đổi vị trí theo can chi năm xem. Đây là một phép tính phục vụ đúng một mục đích, không phải một sao lưu niên theo nghĩa thông thường.
Vì bước cuối cùng của công thức là tiến theo giờ sinh, và giờ sinh có tới mười hai giá trị khả dĩ, mỗi giờ tăng thêm một bậc thì Đẩu Quân tiến thêm đúng một cung. Vì vậy hai người cùng tuổi, cùng tháng sinh nhưng khác giờ sinh có thể có Đẩu Quân ở hai cung rất khác nhau, cần khai đúng giờ sinh mới an chính xác được sao này.