Tử Vi

Sao Địa Giải: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung

Tìm hiểu sao Địa Giải trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.

Đạo Quán39 phút đọc

Tổng quan về sao Địa Giải

Địa Giải là một giải tinh của lá số Tử Vi, ngũ hành Thổ, đi cùng Thiên Giải trong nhóm giải tinh. Tên Địa Giải nghĩa là sự hóa giải từ đất, bổ trợ cho Thiên Giải, cùng chủ việc tháo gỡ tai ách.

  • Ngũ hành: Thổ
  • Nhóm: Phụ Tinh Giải Cứu
  • Cách an: Địa giải an theo tháng sinh, thuộc nhóm giải tinh cùng thiên giải và giải thần
  • Cai quản: đức độ, khoan hòa, giải trừ tai ách
  • Tính chất: Giải cứu, hóa ách

Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.

Ý nghĩa tại cung Mệnh

  • Địa Giải đắc thế, chính tinh sáng hoặc có Hóa Khoa nâng: Tính điềm đạm, chín chắn hơn cái vẻ vội vàng của giải tinh nói chung; gặp chuyện tranh chấp thì thiên về đường thương lượng, ít khi để việc đưa ra tòa nếu còn cách khác. Đối diện là cung có Thiên Y và Thiên Riêu, nên người này thường có duyên hiểu chuyện sức khỏe hoặc chuyện tình cảm của người khác.
  • Địa Giải thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Chậm giải quyết, để việc kéo dài vì cứ chờ người khác nhường trước; dễ bị lôi vào vai trung gian bất đắc dĩ cho tranh chấp của người khác mà bản thân chẳng được gì.

Ý nghĩa ở các cung khác

Đối chiếu ý nghĩa của Địa Giải với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.

Cung Phụ Mẫu

  • Địa Giải đắc thế, chính tinh sáng hoặc có Hóa Khoa nâng: Cha mẹ có vướng mắc về đất đai, giấy tờ nhà thì thường lo được ổn thỏa. Việc thừa kế trong nhà ít khi phải nhờ tới tòa án.
  • Địa Giải thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Chuyện giấy tờ đất đai của cha mẹ hay bị để chậm, tới khi cần dùng mới cuống lên đi giải quyết.

Cung Phúc Đức

  • Địa Giải đắc thế, chính tinh sáng hoặc có Hóa Khoa nâng: Trong họ có nếp giải quyết việc nội bộ êm thấm, ít đưa chuyện gia tộc ra ngoài. Tinh thần dễ nguôi sau một vụ tranh chấp, không để bụng lâu.
  • Địa Giải thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Việc được giấu kín cho êm nên con cháu đời sau không biết gốc rễ mâu thuẫn, dễ lặp lại.

Cung Điền Trạch

  • Địa Giải đắc thế, chính tinh sáng hoặc có Hóa Khoa nâng: Đây là cung Địa Giải có ý nghĩa rõ nhất, vì ứng đúng chữ Địa. Tranh chấp đất đai, ranh giới, thừa kế nhà cửa trong họ thường giải quyết được, giấy tờ nhà rồi cũng xong dù có trục trặc ban đầu.
  • Địa Giải thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Ngược lại, nếu gặp sát tinh nặng thì chính cung này lại dễ vướng kiện tụng đất đai kéo dài, vì Địa Giải chỉ làm dịu chứ không xóa được tranh chấp đã có gốc rễ sâu.

Cung Quan Lộc

  • Địa Giải đắc thế, chính tinh sáng hoặc có Hóa Khoa nâng: Rất hợp nghề luật, hòa giải, môi giới bất động sản, thừa phát lại, công chứng, quản lý tài sản, những nghề chuyên gỡ rối chuyện người với người và đất với đất.
  • Địa Giải thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Nghề cứ trôi mà không lên, việc tranh chấp giải quyết xong thì lại nảy việc khác, khó tích được thành tựu rõ rệt.

Cung Nô Bộc

  • Địa Giải đắc thế, chính tinh sáng hoặc có Hóa Khoa nâng: Bạn bè, đối tác có tranh chấp làm ăn thì có người đứng ra hòa giải, ít khi tuyệt giao. Hay được nhờ đứng ra phân xử giữa hai bên quen biết.
  • Địa Giải thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Mọi mâu thuẫn được xoa cho qua nên không ai nói thật lòng, dễ bị lợi dụng vai trung gian.

Cung Thiên Di

  • Địa Giải đắc thế, chính tinh sáng hoặc có Hóa Khoa nâng: Ra ngoài, đi xa mà vướng vào chuyện giấy tờ đất đai, tranh chấp nơi xứ người thì thường gỡ được, có người địa phương giúp đỡ. Hợp việc môi giới bất động sản, đại diện pháp lý ở xa.
  • Địa Giải thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Việc gỡ được nên chủ quan, không rút kinh nghiệm, cứ lặp lại kiểu sơ suất về giấy tờ khi ra ngoài.

Cung Tật Ách

  • Địa Giải đắc thế, chính tinh sáng hoặc có Hóa Khoa nâng: Ít gặp chuyện dây dưa về pháp lý liên quan tới bệnh viện, bảo hiểm; hồ sơ bệnh án và các thủ tục khám chữa thường xuôi chèo mát mái. Đối diện là cung có Thiên Y, Thiên Riêu xung chiếu nên phần chữa trị thật sự được hỗ trợ.
  • Địa Giải thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Vẫn có nghĩa đỡ nhưng không đủ chống một cung Tật Ách nhiều sát tinh; nguy nhất là ỷ vào sao giải mà trì hoãn khám bệnh hay bỏ dở thủ tục bảo hiểm.

Cung Tài Bạch

  • Địa Giải đắc thế, chính tinh sáng hoặc có Hóa Khoa nâng: Nợ nần, hùn vốn, tranh chấp tiền bạc với người ngoài thường giải quyết được bằng thương lượng, ít phải ra tòa. Có khiếu làm trung gian trong các thương vụ.
  • Địa Giải thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Giống Thiên Giải, đây là cung phải dè: cái tính làm cho mọi thứ trôi đi khiến tiền khó giữ lại lâu, nhất là tiền dính tới người khác như hùn hạp, cho vay.

Cung Tử Tức

  • Địa Giải đắc thế, chính tinh sáng hoặc có Hóa Khoa nâng: Việc học hành, tài sản để lại cho con được thu xếp rõ ràng, ít tranh chấp giữa các con sau này. Con cái biết nhường nhịn nhau.
  • Địa Giải thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Chuyện phân chia cho con dễ thành mầm mống bất hòa về sau nếu không viết rõ di chúc từ sớm.

Cung Phu Thê

  • Địa Giải đắc thế, chính tinh sáng hoặc có Hóa Khoa nâng: Vợ chồng có bất đồng về chuyện họ hàng, đất đai, giấy tờ nhà thì tìm được tiếng nói chung, có người lớn hai bên đứng ra khuyên giải. Hôn nhân ít vướng kiện tụng.
  • Địa Giải thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Mâu thuẫn về tài sản chung trở thành điểm nóng dai dẳng; nếu ly hôn thì phần phân chia tài sản, đất đai dễ kéo dài, cần luật sư giỏi.

Cung Huynh Đệ

  • Địa Giải đắc thế, chính tinh sáng hoặc có Hóa Khoa nâng: Anh em có xích mích về đất đai, tài sản chung thì thường dàn xếp được, không để mất tình. Trong nhà hay có người đứng ra chia phần cho công bằng.
  • Địa Giải thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Chuyện chia chác kéo dài, mỗi lần nhắc lại mỗi lần khó chịu, dây dưa qua nhiều năm không dứt điểm.

Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc

Địa Giải an theo tháng sinh âm lịch, đếm thuận. Phép an chỉ một dòng: đặt ngón tay vào cung Mùi rồi đếm xuôi chiều kim đồng hồ đi số bước bằng tháng sinh trừ một. Người sinh tháng giêng thì Địa Giải đứng nguyên ở Mùi, tháng hai bước sang Thân, tháng ba sang Dậu, cứ thế cho tới tháng chạp thì về Ngọ. Tham số duy nhất là tháng sinh, nên vị trí Địa Giải cố định suốt đời: không đổi theo giới tính, không đổi theo Cục, không đổi theo giờ sinh, và hai người sinh cùng tháng âm lịch thì Địa Giải luôn đóng cùng cung dù cách nhau bao nhiêu tuổi.

Điều chi phối cả bài này: Thiên Giải dùng đúng phép đếm ấy nhưng khởi từ cung Thân, tức khởi sau Địa Giải đúng một cung. Hai sao chạy song song suốt mười hai tháng, Địa Giải luôn đi trước, Thiên Giải luôn theo sau đúng một bước. Đối chiếu hai cột của bảng dưới đây sẽ thấy cột Thiên Giải chỉ là cột Địa Giải trượt xuống một dòng.

Tháng 1

  • Địa Giải: Mùi
  • Thiên Giải: Thân

Tháng 2

  • Địa Giải: Thân
  • Thiên Giải: Dậu

Tháng 3

  • Địa Giải: Dậu
  • Thiên Giải: Tuất

Tháng 4

  • Địa Giải: Tuất
  • Thiên Giải: Hợi

Tháng 5

  • Địa Giải: Hợi
  • Thiên Giải: Tý

Tháng 6

  • Địa Giải: Tý
  • Thiên Giải: Sửu

Tháng 7

  • Địa Giải: Sửu
  • Thiên Giải: Dần

Tháng 8

  • Địa Giải: Dần
  • Thiên Giải: Mão

Tháng 9

  • Địa Giải: Mão
  • Thiên Giải: Thìn

Tháng 10

  • Địa Giải: Thìn
  • Thiên Giải: Tỵ

Tháng 11

  • Địa Giải: Tỵ
  • Thiên Giải: Ngọ

Tháng 12

  • Địa Giải: Ngọ
  • Thiên Giải: Mùi

Nếu trang Thiên Giải đã nói rằng nó bị Địa Giải và Thiên Hình giáp hai bên, thì nhìn từ phía Địa Giải câu chuyện lại khác hẳn. Địa Giải chỉ có Thiên Giải giáp một bên; bên còn lại của Địa Giải không có Thiên Hình, mà là một cung hoàn toàn không thuộc nhóm giải tinh hay hình thương nào cả. Đây là chỗ một cấu trúc nhìn từ hai đầu cho ra hai bức tranh khác nhau, và người luận phải quen với cả hai.

Bảy điều bất biến của Địa Giải, đã chạy đủ mười hai tháng bằng máy

  • Địa Giải đi được cả mười hai cung, không kiêng cung nào. Mười hai tháng cho mười hai cung khác nhau là Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ. Phủ kín địa bàn, nên mọi lá số đều có Địa Giải. Không ai sinh ra mà thiếu sao này, và cũng không ai chỉ cần có nó là thoát mọi việc trắc trở.
  • Địa Giải luôn đứng liền trước Thiên Giải, cách đúng một cung. Đây là hướng ngược với cách trang Thiên Giải đã trình bày: từ phía Địa Giải mà nhìn, chính nó mới là sao đi trước, Thiên Giải chỉ theo sau. Hai sao vĩnh viễn không hội chiếu được cho nhau, chúng chỉ giáp.
  • Địa Giải và Thiên Hình cách nhau đúng hai cung, hoàn toàn không có quan hệ cấu trúc. Hai cung không phải giáp cũng không phải hội chiếu. Nói cách khác, cái hình ảnh Thiên Giải bị Địa Giải một bên, Thiên Hình một bên, chỉ đúng khi đứng ở vị trí Thiên Giải để nhìn; đứng ở vị trí Địa Giải thì Thiên Hình đã lùi ra ngoài tầm với.
  • Địa Giải luôn xung chiếu cả Thiên Y lẫn Thiên Riêu, cách đúng sáu cung. Vì Thiên Y và Thiên Riêu dùng chung công thức, khởi từ Sửu là cung xung của Mùi ngay từ gốc, nên khoảng cách sáu cung này giữ nguyên suốt mười hai tháng, không một ngoại lệ. Đây là quan hệ hội chiếu chắc chắn nhất mà Địa Giải có được, và nó khác hẳn với Thiên Giải, vì Thiên Giải hoàn toàn không gặp được Thiên Y hay Thiên Riêu bằng bất cứ đường nào.
  • Địa Giải không hội chiếu được Tả Phụ. Tả Phụ khởi từ Thìn, cách Địa Giải đúng ba cung, một số lẻ, nên không đồng cung, không xung, không tam hợp. Đây cũng là điểm khác với Thiên Giải, vốn luôn tam hợp Tả Phụ. Nói gọn: cái người đỡ tay cố định của nhóm giải tinh thuộc về Thiên Giải, không thuộc về Địa Giải.
  • Với Hữu Bật thì tùy tháng, vì Hữu Bật an nghịch. Địa Giải giáp Hữu Bật ở các tháng hai, ba, tám, chín; các tháng còn lại hai sao nằm ngoài mọi quan hệ cố định, không đồng cung, không giáp, không hội chiếu.
  • Không một chính tinh nào bị cấm đứng cùng Địa Giải. Chạy đủ mười hai thế Tử Vi cho từng vị trí thì cả mười bốn chính tinh đều có thể đồng cung với Địa Giải, tại bất cứ cung nào, và cung ấy cũng có thể trống không. Sức của Địa Giải vì thế phụ thuộc hẳn vào chính tinh ngồi cùng.

Bảy ngôi sao cùng an theo tháng sinh, nhìn từ Địa Giải

Bảng dưới đây in đủ mười hai tháng, cùng bảy sao đã dùng ở trang Thiên Giải, nhưng cột đầu bây giờ neo vào Địa Giải để quý vị tự đối chiếu.

Tháng 1

  • Địa Giải: Mùi
  • Thiên Giải: Thân
  • Thiên Hình: Dậu
  • Thiên Riêu: Sửu
  • Thiên Y: Sửu
  • Tả Phụ: Thìn
  • Hữu Bật: Tuất

Tháng 2

  • Địa Giải: Thân
  • Thiên Giải: Dậu
  • Thiên Hình: Tuất
  • Thiên Riêu: Dần
  • Thiên Y: Dần
  • Tả Phụ: Tỵ
  • Hữu Bật: Dậu

Tháng 3

  • Địa Giải: Dậu
  • Thiên Giải: Tuất
  • Thiên Hình: Hợi
  • Thiên Riêu: Mão
  • Thiên Y: Mão
  • Tả Phụ: Ngọ
  • Hữu Bật: Thân

Tháng 4

  • Địa Giải: Tuất
  • Thiên Giải: Hợi
  • Thiên Hình: Tý
  • Thiên Riêu: Thìn
  • Thiên Y: Thìn
  • Tả Phụ: Mùi
  • Hữu Bật: Mùi

Tháng 5

  • Địa Giải: Hợi
  • Thiên Giải: Tý
  • Thiên Hình: Sửu
  • Thiên Riêu: Tỵ
  • Thiên Y: Tỵ
  • Tả Phụ: Thân
  • Hữu Bật: Ngọ

Tháng 6

  • Địa Giải: Tý
  • Thiên Giải: Sửu
  • Thiên Hình: Dần
  • Thiên Riêu: Ngọ
  • Thiên Y: Ngọ
  • Tả Phụ: Dậu
  • Hữu Bật: Tỵ

Tháng 7

  • Địa Giải: Sửu
  • Thiên Giải: Dần
  • Thiên Hình: Mão
  • Thiên Riêu: Mùi
  • Thiên Y: Mùi
  • Tả Phụ: Tuất
  • Hữu Bật: Thìn

Tháng 8

  • Địa Giải: Dần
  • Thiên Giải: Mão
  • Thiên Hình: Thìn
  • Thiên Riêu: Thân
  • Thiên Y: Thân
  • Tả Phụ: Hợi
  • Hữu Bật: Mão

Tháng 9

  • Địa Giải: Mão
  • Thiên Giải: Thìn
  • Thiên Hình: Tỵ
  • Thiên Riêu: Dậu
  • Thiên Y: Dậu
  • Tả Phụ: Tý
  • Hữu Bật: Dần

Tháng 10

  • Địa Giải: Thìn
  • Thiên Giải: Tỵ
  • Thiên Hình: Ngọ
  • Thiên Riêu: Tuất
  • Thiên Y: Tuất
  • Tả Phụ: Sửu
  • Hữu Bật: Sửu

Tháng 11

  • Địa Giải: Tỵ
  • Thiên Giải: Ngọ
  • Thiên Hình: Mùi
  • Thiên Riêu: Hợi
  • Thiên Y: Hợi
  • Tả Phụ: Dần
  • Hữu Bật: Tý

Tháng 12

  • Địa Giải: Ngọ
  • Thiên Giải: Mùi
  • Thiên Hình: Thân
  • Thiên Riêu: Tý
  • Thiên Y: Tý
  • Tả Phụ: Mão
  • Hữu Bật: Hợi

Đọc theo cột thì thấy cột Thiên Giải luôn tiến một dòng so với cột Địa Giải. Cột Thiên Riêu và cột Thiên Y trùng khít nhau, và trùng với quy luật xung chiếu sáu cung so với cột Địa Giải. Cột Tả Phụ luôn lùi ba dòng. Cột Thiên Hình thì lệch hẳn khỏi mọi trật tự đơn giản với Địa Giải, vì nó là sao duy nhất trong bảy sao này hoàn toàn đứng ngoài quan hệ cấu trúc của Địa Giải.

Thiên Giải

  • Sao ấy là gì: sao giải trừ từ trời, cùng nhóm giải tinh
  • Khoảng cách với Địa Giải: Luôn cách đúng một cung, Thiên Giải đứng liền sau Địa Giải theo chiều thuận
  • Kết quả hội chiếu: Chỉ giáp nhau, vĩnh viễn không đồng cung, không xung chiếu, không tam hợp

Thiên Hình

  • Sao ấy là gì: sao hình thương, kỷ luật, pháp luật, dao kéo
  • Khoảng cách với Địa Giải: Luôn cách đúng hai cung
  • Kết quả hội chiếu: Không giáp, không hội chiếu, hoàn toàn ngoài quan hệ cấu trúc

Thiên Y

  • Sao ấy là gì: sao thuốc thang, chữa trị
  • Khoảng cách với Địa Giải: Luôn cách đúng sáu cung
  • Kết quả hội chiếu: Xung chiếu, đủ mười hai trên mười hai tháng

Thiên Riêu

  • Sao ấy là gì: sao tư tình, mê đắm, ngầm ẩn
  • Khoảng cách với Địa Giải: Luôn cách đúng sáu cung, vì Thiên Riêu và Thiên Y trùng cung nhau
  • Kết quả hội chiếu: Xung chiếu, đủ mười hai trên mười hai tháng

Tả Phụ

  • Sao ấy là gì: sao phù tá, người đỡ tay bên tả
  • Khoảng cách với Địa Giải: Luôn cách đúng ba cung
  • Kết quả hội chiếu: Ba là số lẻ nên vĩnh viễn không hội chiếu được, không giáp

Hữu Bật

  • Sao ấy là gì: sao phù tá, người đỡ tay bên hữu, an nghịch
  • Khoảng cách với Địa Giải: Khoảng cách đổi theo tháng vì Hữu Bật đếm nghịch
  • Kết quả hội chiếu: Giáp ở tháng 2, 3, 8, 9; ngoài tầm quan hệ ở tháng 1, 4, 5, 6, 7, 10, 11, 12

Thầy dừng ở hai dòng làm đổi cách luận. Dòng Thiên Hình: nhiều người quen nghĩ Địa Giải và Thiên Hình luôn kề nhau vì cả hai hay được nhắc chung với Thiên Giải, nhưng máy nói rõ chúng cách nhau hai cung, không quan hệ gì. Đừng gán cho Địa Giải cái sắc thái pháp lý của Thiên Hình. Dòng Thiên Y và Thiên Riêu: đây là điểm mạnh thật sự của Địa Giải mà ít tài liệu nói rõ, vì nó xung chiếu được cả hai, đủ mười hai trên mười hai tháng, cho nên khi luận sức chữa trị hay sức tháo gỡ của một cung có Thiên Y, Địa Giải luôn có mặt ở cung đối diện, chiếu về được.

Một hệ quả nhỏ mà tiện dùng: vì Địa Giải khởi từ Mùi là cung âm và đếm thuận theo tháng, nên tháng lẻ cho cung âm, tháng chẵn cho cung dương. Người sinh tháng giêng, ba, năm, bảy, chín, một một thì Địa Giải nằm trong sáu cung âm Mùi, Dậu, Hợi, Sửu, Mão, Tỵ; người sinh tháng chẵn thì nằm trong sáu cung dương Thân, Tuất, Tý, Dần, Thìn, Ngọ. Thiên Giải thì ngược lại vì nó khởi từ Thân là cung dương.

Cách An Và Đặc Tính Cơ Bản

Địa Giải an theo tháng sinh, thuộc nhóm giải tinh cùng Thiên Giải và Giải Thần.

Vì là phụ tinh, Địa Giải làm rõ hoặc tô đậm tính chất của chính tinh đồng cung và của cung nó tọa thủ, chứ không tự quyết định cục diện một mình.

Đặc Tính Và Sức Giải Theo Thư Tịch

Theo Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, Địa Giải cùng Thiên Giải và Giải Thần chủ sự có đức độ, khoan hòa, nhân hậu, từ thiện, cứu khốn phò nguy, giải trừ bệnh tật tai họa, gia tăng phúc thọ. Đây là sao bổ trợ cho việc hóa giải hung họa.

Địa Giải đi cùng Thiên Giải tạo thế giải tinh kép, cùng Thiên Đức, Nguyệt Đức, Thiên Y thì sức giải ách càng mạnh. Là sao phụ, Địa Giải quý ở cung Tật Ách và khi lá số cần được hóa hung.

Quan Hệ Cố Định Của Địa Giải Với Các Sao Cùng An Theo Tháng Sinh

Địa Giải không thuộc vòng sao nào. Bốn vòng lớn của Tử Vi Đẩu Số, vòng Thái Tuế theo chi năm, vòng Bác Sĩ theo can năm qua Lộc Tồn, vòng Tràng Sinh theo Cục, vòng thần sát theo tam hợp chi năm, đều không có tên Địa Giải trong danh sách. Nó là một sao lẻ, an theo tháng sinh, và mục này đọc nhóm sao cùng tham số chứ không đọc vòng: sáu ngôi sao còn lại cũng lấy tháng sinh làm gốc, gồm Thiên Giải, Thiên Hình, Thiên Riêu, Thiên Y, Tả Phụ, Hữu Bật.

Vì sao đọc Địa Giải phải nhìn ngược lại trang Thiên Giải

Thầy đặt hai trang này cạnh nhau có chủ ý. Cùng một cấu trúc bảy sao theo tháng sinh, đứng ở vị trí Thiên Giải thì thấy mình bị giáp hai bên bởi Địa Giải và Thiên Hình, thấy mình tam hợp Tả Phụ, thấy mình không bao giờ gặp Thiên Y hay Thiên Riêu. Đứng ở vị trí Địa Giải thì bức tranh đổi hẳn: chỉ có một bên giáp là Thiên Giải, bên kia trống; không có Tả Phụ tam hợp; nhưng lại có Thiên Y và Thiên Riêu xung chiếu thẳng vào. Cùng một bộ bảy sao, hai điểm nhìn cho hai bài luận khác nhau. Đây chính là lý do khung luận này viết riêng từng trang cho từng sao thay vì gộp chung, dù chúng thân nhau tới đâu.

Địa Giải và Thiên Giải: một chuỗi hai cung chứ không phải một khối

Nếu trang Thiên Giải nói tới chuỗi ba cung Địa Giải, Thiên Giải, Thiên Hình, thì từ phía Địa Giải chỉ nên gọi đó là chuỗi hai cung, vì Thiên Hình đã ở ngoài tầm của Địa Giải. Cung có Địa Giải chỉ bị giáp một bên bởi Thiên Giải; bên còn lại là một cung bình thường, không mang sắc thái giải hay hình gì cả. Đây là điều cần nói thẳng để khỏi vay mượn nhầm sắc thái của Thiên Giải sang cho Địa Giải.

Đọc thành lời thường: cung có Địa Giải là cung mà quý vị được tháo gỡ theo lối chậm và chắc, đúng như hành Thổ của nó, và ngay bên cạnh luôn có một cung mang khí giải khác, nhẹ và nhanh hơn, đó là Thiên Giải. Thầy hay ví Địa Giải như người giải quyết việc bằng cách đứng ra làm trung gian, dàn xếp cho êm chuyện người với người, khác với Thiên Giải thiên về việc làm cho tai ương từ trời rơi xuống bớt nặng. Sự phân vai trời đất này không có câu nào trong Tân Biên nói thẳng ra, Thầy đúc kết từ việc quan sát ngũ hành của tên gọi và từ kinh nghiệm luận thực tế, nên xin gắn thẻ , quý vị dùng như một gợi ý chứ không phải một quy luật đã kiểm chứng bằng sách.

Thiên Y và Thiên Riêu: chỗ mạnh riêng của Địa Giải

Đây là điều khác biệt lớn nhất so với Thiên Giải, và cũng là điều đáng nhớ nhất của trang này. Thiên Giải, vì cách Thiên Y và Thiên Riêu đúng bảy cung là số lẻ, nên vĩnh viễn không gặp được hai sao ấy. Địa Giải thì ngược lại: nhờ khởi từ Mùi vốn là cung xung của Sửu, nó xung chiếu được cả Thiên Y lẫn Thiên Riêu, đủ mười hai trên mười hai tháng, không một ngoại lệ.

Cách dùng thực tế: khi luận một cung có Thiên Y mà muốn tìm thêm sức giải, Thầy khuyên nhìn sang cung đối diện trước tiên, vì đó chắc chắn là chỗ đóng của Địa Giải. Xung chiếu tuy không mạnh bằng đồng cung nhưng vẫn là một thế hội chiếu thật, có tác dụng thật, khác hẳn với việc đi tìm một sao không bao giờ tới được. Ngược lại, cung có Thiên Riêu mà xung chiếu có Địa Giải thì Thầy đọc là chuyện tình cảm ngầm của cung ấy có phần dễ được đưa ra ánh sáng hơn, vì có một sao chủ sự tháo gỡ nhìn thẳng sang.

Tả Phụ và Thiên Hình: hai sao ngoài tầm với

Khác với Thiên Giải luôn tam hợp Tả Phụ, Địa Giải cách Tả Phụ đúng ba cung, một số lẻ, nên không đồng cung, không xung, không tam hợp, ở mọi tháng. Địa Giải cũng cách Thiên Hình đúng hai cung, cũng ngoài mọi thế hội chiếu và cả thế giáp. Nói gọn lại: trong bảy sao theo tháng sinh, Địa Giải chỉ thật sự có quan hệ cấu trúc với ba sao là Thiên Giải, Thiên Y, Thiên Riêu; còn Thiên Hình, Tả Phụ thì đứng ngoài hoàn toàn, và Hữu Bật chỉ giáp được ở bốn trong mười hai tháng.

Đây là điều Thầy muốn nhấn mạnh vì nó hay bị nói sai: không ít tài liệu phổ thông liệt Tả Phụ hay Thiên Hình vào nhóm "phối hợp tốt với Địa Giải" một cách chung chung, không phân biệt Địa Giải với Thiên Giải. Chạy máy thì thấy rõ hai sao ấy chỉ gắn chặt với Thiên Giải, còn Địa Giải thì đơn độc hơn, chỉ có một người bạn giáp cận là Thiên Giải và hai sao chiếu xa là Thiên Y, Thiên Riêu.

Địa Giải và bảng Tứ Hóa

Địa Giải không nằm trong bảng Tứ Hóa ở cả Nam phái lẫn Bắc phái. Không tuổi can nào làm nó hóa Lộc, Quyền, Khoa hay Kỵ. Nhưng cách nó phản ứng với hóa của chính tinh đồng cung vẫn là phần đáng đọc, và ở đây Thầy nhấn mạnh khác một chút so với trang Thiên Giải, vì Địa Giải thiên về việc người hơn là việc trời.

  • Đồng cung với chính tinh hóa Kỵ: Hóa Kỵ chủ vướng mắc, dây dưa. Địa Giải làm cho cái vướng ấy có đường gỡ bằng người, tức thường có ai đó đứng ra dàn xếp, thương lượng, hòa giải, chứ không tự tan. Nút vẫn còn, nhưng có người giúp mở.
  • Đồng cung với chính tinh hóa Khoa: đây là thế mạnh nhất, vì Hóa Khoa vốn là sao cứu giải có lực thật. Hai lớp cùng chiều cộng lại: việc tranh chấp, kiện tụng, trắc trở giữa người với người có xu hướng được xử êm, có tiếng nói uy tín đứng ra làm chứng hoặc phân xử.
  • Đồng cung với chính tinh hóa Quyền: người cầm việc mà biết nhường, biết thương lượng thay vì ép tới cùng. Việc tranh chấp bớt căng nhưng có thể kéo dài vì hai bên đều giữ ý.
  • Đồng cung với chính tinh hóa Lộc: việc tiền bạc liên quan tới người khác, như hùn vốn, cho vay, chia lời, có xu hướng giải quyết được êm thấm. Nhưng cũng như bên Thiên Giải đã nói ở Tài Bạch, bản chất giải trừ dễ làm cho tiền trôi đi hơn là giữ lại, nên cung Tài Bạch và Điền Trạch vẫn là hai cung cần dè khi có Địa Giải.

Vì sao đọc Địa Giải phải đọc cả nhóm bảy sao theo tháng, dù nhóm ấy nhìn từ Địa Giải hẹp hơn nhìn từ Thiên Giải. Bản thân Địa Giải là một cát tinh nhỏ, cái nó cho là sự tháo gỡ ở phần việc người, phần đất đai, phần tranh chấp cụ thể, chứ không phải sức mạnh đổi cục diện. Đọc một mình Địa Giải thì chỉ được câu chung chung là đức độ, khoan hòa. Đọc cùng Thiên Giải liền kề và Thiên Y, Thiên Riêu xung chiếu thì mới ra được câu có ích: người này gặp việc trắc trở giữa người với người thì gỡ theo lối nào, và cái gỡ ấy có chạm được tới chuyện sức khỏe hay tình cảm ở cung đối diện hay không.

Hội Họp Các Sao Và Bộ Giải Tinh

Địa Giải phối với các sao giải cứu:

Thiên Giải, Giải Thần

  • Ý nghĩa kết hợp: Bộ giải tinh, hóa giải mạnh hơn.

Thiên Đức, Nguyệt Đức, Thiên Y

  • Ý nghĩa kết hợp: Bộ giải cứu, bệnh tật mau khỏi.

Thiên Lương, Hóa Khoa

  • Ý nghĩa kết hợp: Tăng khả năng giải ách.

Sát tinh, Hóa Kỵ

  • Ý nghĩa kết hợp: Làm dịu phần hung, đỡ tai họa.

Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế

Trước khi đọc hai cột dưới đây xin nhớ quy tắc về lực: đồng cung mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn, giáp là thế bao vây. Riêng với Địa Giải, cấu trúc đã khóa sẵn ba thế: Thiên Giải chỉ có thể giáp, Thiên Y và Thiên Riêu chỉ có thể xung chiếu, còn Thiên Hình và Tả Phụ thì không thể gặp bằng bất cứ đường nào. Đừng đi tìm những thế không tồn tại, nhất là đừng gán cho Địa Giải cái tam hợp Tả Phụ vốn chỉ thuộc về Thiên Giải.

Địa Giải phát huy được khi gặp

  • Hóa Khoa (đồng cung mạnh nhất): sao cứu giải mạnh nhất của khoa Tử Vi lại đi theo chính tinh nên có lực thật. Hai lớp cứu giải cộng vào nhau: Hóa Khoa đem tiếng nói uy tín, Địa Giải làm cho việc dàn xếp giữa người với người êm hơn.
  • Thiên Lương (đồng cung mạnh nhất): Tân Biên xếp Thiên Lương là sao ấm che, chủ cứu nạn và giải trừ. Là chính tinh nên có lực mà một phụ tinh không mang nổi.
  • Thiên Giải (luôn giáp một bên, cách đúng một cung): dù không cộng lực trực tiếp, hai cung liền kề đều mang khí tháo gỡ, cung nọ đỡ phần nào cho cung kia.
  • Thiên Y, Thiên Riêu (luôn xung chiếu, mười hai trên mười hai tháng): là thế hội chiếu duy nhất và chắc chắn nhất của Địa Giải; khi cần tìm thêm sức giải cho một cung có Thiên Y, nhìn sang cung đối diện là thấy Địa Giải.
  • Thiên Đức, Nguyệt Đức, Long Đức (an theo chi năm sinh nên không cố định, có tuổi gặp có tuổi không): cùng hướng khí đức, cộng vào thì cung ấy thật sự nhẹ đi.
  • Thiên Khôi, Thiên Việt (đồng cung hoặc chiếu, an theo can năm nên không cố định): quý nhân có thật, đứng ra dàn xếp chuyện người với người.
  • Thiên Phủ, Thiên Tướng, Thiên Đồng (đồng cung): các chính tinh mang khí phúc và khí che chở, hợp với hành Thổ ôn hòa của Địa Giải.
  • Chính tinh miếu vượng (đồng cung): điều kiện cần để Địa Giải nói được tiếng nói của nó.

Địa Giải e ngại khi gặp

  • Tuần, Triệt án ngữ (đóng ngay tại cung có Địa Giải là nặng nhất): che luôn phần cứu giải. Người có Địa Giải bị Tuần Triệt nên làm mọi việc theo lối chuẩn bị kỹ, giấy tờ rõ ràng ngay từ đầu, đừng trông vào việc rồi sẽ có cách.
  • Từ hai sát tinh trở lên trong cùng một cung (Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp): một sát tinh còn dịu được, hai sát tinh trở lên coi như không có sao giải.
  • Hóa Kỵ đồng cung: Địa Giải làm cho cái vướng bớt gắt và tới chậm hơn chứ không gỡ được nút. Đừng vì có sao giải mà hoãn việc phải làm ngay.
  • Ở cung Tài Bạch và cung Điền Trạch khi thiếu cát tinh nâng: chỗ mà bản thân vị trí, chứ không phải sao đi kèm, làm cho Địa Giải thành bất lợi, vì cái gì cũng trôi thì tiền và đất cũng trôi theo; riêng Điền Trạch còn có thể ứng thành tranh chấp đất đai nếu sát tinh quá nặng.
  • Chính tinh hãm địa (đồng cung): Địa Giải không nâng nổi một chính tinh hãm, chỉ làm cho cái hãm ấy diễn ra chậm hơn.
  • Thiên Giải ở cung liền sau khi cung ấy là Phu Thê hoặc Tật Ách (thế giáp cố định): nhắc rằng chuyện của cung Địa Giải dễ nối tiếp bằng chuyện phải giữ khuôn phép, giấy tờ ở cung kế bên.
  • Đại vận và lưu niên cùng xấu dồn vào một cung: Địa Giải là sao cố định của lá số gốc, sức của nó không tăng theo vận. Nhiều lớp xấu chồng lên nhau thì tỷ trọng của nó nhỏ đi rất nhanh.
  • Tâm lý ỷ vào sao giải: cái hại lớn nhất Thầy gặp. Biết mình có Địa Giải rồi sinh chủ quan trong chuyện giấy tờ, hùn vốn, ký kết, là lúc một sao nhỏ bị đặt lên vai một việc nó không gánh nổi.

Tóm lại, Địa Giải là phụ tinh: đi với chính tinh và cát tinh hợp cách thì phát huy mặt hay, gặp sát tinh và hung cách thì lộ mặt yếu. Luôn xét cả lá số.

Địa Giải Trong Đại Vận Và Lưu Niên

Mọi mục phía trên nói về Địa Giải tĩnh. Mục này nói về Địa Giải động, tức chuyện nó chạm vào đời quý vị lúc nào.

Đại vận đi vào cung có Địa Giải

Khi đại vận chuyển tới đúng cung có Địa Giải bản mệnh thì mười năm ấy mang sắc thái Thầy hay gọi là quãng thu xếp việc người. Không nhất thiết là quãng thịnh, nhưng là quãng mà những tranh chấp, những chuyện dây dưa về tài sản, đất đai, quan hệ có cơ hội được giải quyết dứt điểm. Ai biết mình đang ở đại vận này nên chủ động đưa việc treo lâu năm ra giải quyết, vì cái đỡ của quãng ấy có hạn về thời gian.

Bốn điều phải xét thêm. Thứ nhất, cung liền sau luôn có Thiên Giải, nên quãng thu xếp việc người này thường nối tiếp bằng một quãng mang khí giải nhẹ hơn từ trời. Thứ hai, cung xung chiếu luôn có Thiên Y và Thiên Riêu, nên đây cũng là mười năm mà chuyện sức khỏe và chuyện tình cảm ở phía đối diện được nhìn thấy rõ hơn, cần chủ động xem cùng. Thứ ba, phải xem đại vận đem Tứ Hóa gì vào cung: Hóa Khoa tới thì sức giải mạnh hẳn lên, Hóa Kỵ tới thì Địa Giải chỉ đủ giữ cho không vỡ. Thứ tư, đếm sát tinh của cung đại vận cộng sát tinh lưu; từ hai sao trở lên thì đừng trông vào Địa Giải nữa.

Mặt trái cũng phải nói rõ. Đại vận vào cung Địa Giải rất dễ thành mười năm mà mọi tranh chấp đều được cho qua, khiến người ta không đủ động lực để làm rõ ràng giấy tờ, ranh giới, hợp đồng ngay từ đầu, để rồi việc lại nổi lên ở đại vận sau. Cách xử là tận dụng đúng mười năm này để làm cho xong những việc giấy tờ còn dở, đừng chỉ dừng ở chỗ dàn xếp tạm.

Địa Giải có bản lưu niên không

Không, và không thể có, cùng lý do như Thiên Giải: nó an theo tháng sinh âm lịch, một con số cố định suốt đời, không đổi theo năm. Muốn có bản lưu thì tham số phải đổi mỗi năm, mà tháng sinh thì không đổi. Nhóm sao an theo tháng sinh, gồm Địa Giải, Thiên Giải, Thiên Hình, Thiên Riêu, Thiên Y, Tả Phụ, Hữu Bật, đều không có bản lưu niên; cùng với nhóm an theo giờ sinh như Văn Xương Văn Khúc, Địa Không Địa Kiếp, và vòng Tràng Sinh an theo Cục. Chỉ vòng Thái Tuế và vòng Bác Sĩ, vì an theo chi năm và can năm, mới có lưu Thái Tuế, lưu Tang Hổ, lưu Lộc Tồn, lưu Kình Đà mỗi năm một khác.

Hệ quả thực dụng: cung Địa Giải của quý vị đứng yên một chỗ suốt đời. Nếu năm nay có việc tranh chấp rơi vào một cung mà Địa Giải không đóng ở đó và cũng không xung chiếu tới đó, thì năm ấy Địa Giải hoàn toàn không có tiếng nói. Người luận phải nói thẳng điều này thay vì lấy một sao cố định ra trấn an cho mọi năm.

Các lưu sao chạm vào cung Địa Giải

Vì bản thân Địa Giải đứng yên, cái động là các lưu sao đi ngang qua nó. Bảng dưới đây in sẵn vị trí lưu Lộc Tồn, lưu Kình Dương, lưu Đà La, lưu Tang Môn và lưu Bạch Hổ của tám năm tới.

2026 Bính Ngọ

  • Lưu Lộc Tồn: Tỵ
  • Lưu Kình Dương: Ngọ
  • Lưu Đà La: Thìn
  • Lưu Tang Môn: Thân
  • Lưu Bạch Hổ: Dần

2027 Đinh Mùi

  • Lưu Lộc Tồn: Ngọ
  • Lưu Kình Dương: Mùi
  • Lưu Đà La: Tỵ
  • Lưu Tang Môn: Dậu
  • Lưu Bạch Hổ: Mão

2028 Mậu Thân

  • Lưu Lộc Tồn: Tỵ
  • Lưu Kình Dương: Ngọ
  • Lưu Đà La: Thìn
  • Lưu Tang Môn: Tuất
  • Lưu Bạch Hổ: Thìn

2029 Kỷ Dậu

  • Lưu Lộc Tồn: Ngọ
  • Lưu Kình Dương: Mùi
  • Lưu Đà La: Tỵ
  • Lưu Tang Môn: Hợi
  • Lưu Bạch Hổ: Tỵ

2030 Canh Tuất

  • Lưu Lộc Tồn: Thân
  • Lưu Kình Dương: Dậu
  • Lưu Đà La: Mùi
  • Lưu Tang Môn: Tý
  • Lưu Bạch Hổ: Ngọ

2031 Tân Hợi

  • Lưu Lộc Tồn: Dậu
  • Lưu Kình Dương: Tuất
  • Lưu Đà La: Thân
  • Lưu Tang Môn: Sửu
  • Lưu Bạch Hổ: Mùi

2032 Nhâm Tý

  • Lưu Lộc Tồn: Hợi
  • Lưu Kình Dương: Tý
  • Lưu Đà La: Tuất
  • Lưu Tang Môn: Dần
  • Lưu Bạch Hổ: Thân

2033 Quý Sửu

  • Lưu Lộc Tồn: Tý
  • Lưu Kình Dương: Sửu
  • Lưu Đà La: Hợi
  • Lưu Tang Môn: Mão
  • Lưu Bạch Hổ: Dậu
  • Lưu Kình Dương và lưu Đà La, an theo can của năm xem qua lưu Lộc Tồn. Cặp lưu sao đáng ngại nhất với Địa Giải: hai sát tinh cùng lúc thì sức giải gần như mất, tranh chấp năm ấy dễ căng thẳng thật sự. Nên chủ động thương lượng sớm chứ đừng để việc dây dưa tới lúc cả hai sao lưu này ập vào.
  • Lưu Tang Môn và lưu Bạch Hổ. Năm nào hai sao ấy rơi đúng cung Địa Giải bản mệnh thì cái cần giải và cái gây chuyện dồn vào một chỗ. Địa Giải làm nhẹ được phần gắt nhưng không xóa được sự việc; đặc biệt cần xem thêm cung Điền Trạch và cung Tài Bạch của năm ấy vì đây là hai cung Địa Giải nhạy cảm nhất.
  • Lưu Thái Tuế. Năm nào lưu Thái Tuế đóng vào cung Địa Giải thì thường là năm mà chuyện tranh chấp cũ được đưa ra chính danh để giải quyết dứt điểm, hợp với khí tháo gỡ của sao.
  • Lưu Khôi Việt và lưu Xương Khúc, an theo can năm xem. Nhóm lưu sao đáng mừng nhất với Địa Giải: Khôi Việt đem quý nhân đứng ra làm chứng hay phân xử, Xương Khúc đem giấy tờ hợp đồng rõ ràng, cả hai giúp biến cái đường gỡ trừu tượng thành việc cụ thể.
  • Lưu Thiên Mã. Khi lưu Mã chạm cung Địa Giải thì việc gỡ thường gắn với sự di chuyển: đổi nơi ở để dứt tranh chấp đất đai cũ, hoặc phải đi xa để giải quyết giấy tờ.

Một câu dặn cuối. Địa Giải là sao nhỏ. Khi luận hạn, thứ tự đúng là: xem cung đại vận và cung lưu niên trước, xem chính tinh và Tứ Hóa của hai cung ấy, đếm sát tinh và xem Tuần Triệt, rồi mới cộng Địa Giải vào để chỉnh sắc thái, nhất là với những việc liên quan tới người khác, đất đai, giấy tờ. Đừng lấy nó ra để trấn an người đang có tranh chấp lớn.

Ranh Giới: Sức Giải Của Địa Giải Tới Đâu Và Không Tới Đâu

Địa Giải mang cùng cái tên mạnh với Thiên Giải, sự hóa giải, nên cùng dễ bị nói quá. Bốn hiểu lầm dưới đây Thầy gặp thường xuyên, và cái đầu tiên nguy hiểm nhất.

Hiểu lầm một: có Địa Giải thì việc gì cũng qua, kiện tụng gì cũng thắng

Không. Địa Giải an theo tháng sinh nên mọi lá số đều có nó, mười hai tháng phủ kín mười hai cung. Nếu chỉ cần có Địa Giải là mọi tranh chấp đều thuận lợi thì không ai từng thua kiện hay mất đất. Điều Tân Biên nói là Địa Giải cùng Thiên Giải và Giải Thần chủ đức độ, khoan hòa, cứu khốn phò nguy, giải trừ bệnh tật tai họa, gia tăng phúc thọ. Chữ giải trừ nghĩa là làm nhẹ, không phải xóa bỏ, và sách cũng không nói riêng gì về phần thắng thua trong kiện tụng.

Cách kiểm giản dị: đếm sát tinh đóng trong cung có Địa Giải, cộng Hóa Kỵ nếu có. Một sao thì còn dịu được. Hai sao thì tác dụng đã rất mỏng. Từ ba sao trở lên, hoặc có Tuần Triệt án ngữ, thì coi như cung ấy không có sao giải, phải luận và phòng bị đúng như một cung không có gì đỡ, kể cả chuyện giấy tờ và tranh chấp.

Hiểu lầm hai: Địa Giải và Thiên Giải hợp thành một khối, muốn hiểu sao này chỉ cần đọc sao kia

Không đúng. Hai sao chỉ giáp nhau, cách đúng một cung, và như mục cấu trúc đã chứng, hai sao này thậm chí có quan hệ khác nhau hẳn với phần còn lại của bảy sao theo tháng: Thiên Giải tam hợp được Tả Phụ mà không hội chiếu được Thiên Y, Thiên Riêu; Địa Giải thì ngược hẳn, xung chiếu được Thiên Y, Thiên Riêu mà không hội chiếu được Tả Phụ, cũng không có quan hệ gì với Thiên Hình trong khi Thiên Giải lại bị Thiên Hình giáp sát một bên. Đọc Địa Giải bằng cách chép lại nguyên trang Thiên Giải là một cách đọc sai cấu trúc.

Hiểu lầm ba: Địa Giải chỉ liên quan tới đất đai theo nghĩa đen

Tên gọi Địa Giải, giải từ đất, dễ khiến người mới học nghĩ ngay tới nhà cửa, ruộng vườn. Điều này đúng một phần, vì Điền Trạch quả thật là cung mà Địa Giải hiện rõ nghĩa nhất, nhưng chữ đất trong tên sao, theo cách Thầy hiểu và đã dùng suốt bài, nên đọc rộng ra thành mọi việc thuộc về người với người, thuộc về những gì hữu hình cụ thể, khác với chữ trời của Thiên Giải vốn thiên về những việc bất ngờ từ trên trời rơi xuống như bệnh tật, tai nạn. Đây là một cách phân vai hợp lý theo ngũ hành và theo tên gọi, nhưng sách không viết thẳng ra câu này, nên xin đọc như một gợi ý luận giải chứ không phải một điều đã được kinh văn xác nhận.

Hiểu lầm bốn: Địa Giải là sao của người hiền nên cung nào cũng tốt

Sai ở hai chỗ, giống như bên Thiên Giải. Chỗ thứ nhất là chuyện cung: ở Tài Bạch và nhất là Điền Trạch khi thiếu cát tinh, cái tính làm cho mọi thứ trôi đi lại thành dấu trừ, tranh chấp đất đai có thể vẫn xảy ra dù có sao giải, chỉ là kéo dài hơn thay vì bùng nổ ngay. Chỗ thứ hai là chuyện tính người: quá khoan hòa trong việc thương lượng dễ thành nhân nhượng quá mức, chịu thiệt để giữ hòa khí. Thầy khuyên người có Địa Giải ở Mệnh hoặc Tài Bạch nên học cách nói rõ ràng ngay từ đầu một giao dịch, đừng để sự dễ chịu của mình trở thành cái giá phải trả.

Lời Khuyên Cho Người Có Địa Giải Đóng Ở Cung Trọng

Cũng như Thiên Giải, lời khuyên cho một sao giải phải đi ngược trực giác: cái hại không nằm ở chỗ nó yếu mà ở chỗ người ta tin nó mạnh. Bốn việc dưới đây dành cho người có Địa Giải ở Mệnh, ở Điền Trạch hoặc ở Tài Bạch.

Việc thứ nhất, làm rõ giấy tờ trước khi có chuyện, đừng đợi có chuyện mới lo. Địa Giải giỏi giúp gỡ tranh chấp sau khi đã xảy ra, nhưng chính vì giỏi gỡ nên người ta hay chủ quan không viết rõ ràng ngay từ đầu, nhất là chuyện đất đai, hùn vốn, thừa kế. Mỗi năm hãy rà lại một loại giấy tờ quan trọng nhất của mình.

Việc thứ hai, dùng đúng người khi cần trung gian. Cung xung chiếu của Địa Giải luôn có Thiên Y, Thiên Riêu, nên người có Địa Giải mạnh thường có duyên hiểu chuyện sức khỏe hoặc tình cảm người khác; hãy dùng cái duyên ấy để làm cầu nối thật sự chứ không chỉ để xoa dịu cho qua chuyện.

Việc thứ ba, tách bạch rõ chuyện tình và chuyện tiền khi đứng ra hòa giải cho người khác. Vì hay được nhờ làm trung gian, người có Địa Giải dễ bị kéo vào những vụ việc không phải của mình. Nên đặt giới hạn rõ ràng: giúp tới đâu, và không tự đứng ra chịu trách nhiệm thay.

Việc thứ tư, giữ riêng một khoản không đụng tới nếu Địa Giải ở Tài Bạch hoặc Điền Trạch. Giống hệt lời khuyên bên Thiên Giải: cái tính làm mọi thứ trôi đi rất dễ ứng vào tiền và vào đất, nên cần tách một khoản cố định, để ở nơi khó rút.

Những gợi ý dưới đây là gợi ý chung cho người muốn tạo nếp sống hợp với khí tháo gỡ từ đất, không phải phép trấn yểm, không thay được việc thật phải làm. UK MASTER ACADEMY không bán vật phẩm và không khuyên ai mua vật phẩm để đổi vận. Địa Giải thuộc hành Thổ nên hợp sắc vàng đất, nâu trầm, be sáng, và hợp không gian gọn gàng, có góc để giấy tờ ngăn nắp, vì Thổ chủ sự bền vững và ngăn nắp. Giữ nếp làm việc thiện nhỏ mà đều, nhất là những việc giúp người khác giải quyết giấy tờ, thủ tục. Học một chút kiến thức pháp lý cơ bản về hợp đồng, đất đai, thừa kế, vì đó là cách vững nhất để một sao giải trên lá số thành sức giải thật trong đời sống.

Câu cuối Thầy muốn nói. Địa Giải và Thiên Giải là một cặp sao được yêu mến vì cái tên của chúng cho người ta chỗ để bám, nhưng đúng vì thế mà chúng dễ bị dùng sai nhất, để hoãn việc, để trấn an, để tự cho phép mình không làm điều phải làm. Người hiểu đúng Địa Giải sẽ lấy nó làm lời nhắc rằng mình vốn có sẵn một chút phúc để tháo gỡ chuyện người với người, vậy thì nên dùng cái phúc ấy để làm cho mọi thứ rõ ràng hơn, chứ không phải để trì hoãn.

Câu hỏi thường gặp

Địa Giải là một giải tinh của Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Thổ, đi cùng Thiên Giải trong nhóm giải tinh. Sao chủ đức độ, khoan hòa, cứu khốn phò nguy, giải trừ bệnh tật tai họa và tăng phúc thọ.

Hai sao cùng là giải tinh, ý nghĩa gần như nhau là hóa giải tai ách, bệnh tật. Thiên Giải hành Hỏa, Địa Giải hành Thổ, đi cùng nhau thành thế giải tinh kép, hóa giải mạnh hơn.

Có, Địa Giải cùng Thiên Giải và Giải Thần chuyên hóa giải tai ách, bệnh tật, nhất là khi hội cùng Thiên Đức, Nguyệt Đức, Thiên Y, Thiên Lương.

Địa Giải an theo tháng sinh, thuộc nhóm giải tinh trong lá số.

Không, và đây là điều ít người để ý. Thiên Hình khởi từ cung Dậu, tức đứng sau Thiên Giải một cung, mà Thiên Giải lại đứng sau Địa Giải một cung, nên Thiên Hình luôn cách Địa Giải đúng hai cung ở cả mười hai tháng. Hai cung không phải giáp, cũng không phải đồng cung, xung chiếu hay tam hợp. Nói thẳng: giữa Địa Giải và Thiên Hình không tồn tại một quan hệ cấu trúc nào cả, chúng chỉ tình cờ cùng đứng gần Thiên Giải, mỗi sao một bên. Ai ghép Địa Giải với Thiên Hình thành một cặp áp lực pháp lý là đang nói điều cấu trúc không cho phép.

Đúng, và đây là quan hệ chắc chắn nhất của Địa Giải sau quan hệ với Thiên Giải. Thiên Y và Thiên Riêu dùng chung một công thức, khởi từ cung Sửu đếm thuận theo tháng, còn Địa Giải khởi từ cung Mùi. Sửu và Mùi vốn là hai cung xung chiếu nhau ngay từ gốc, nên dù cộng thêm bao nhiêu bước tháng sinh thì khoảng cách giữa Địa Giải với cặp Thiên Y, Thiên Riêu vẫn giữ nguyên đúng sáu cung, tức xung chiếu, ở cả mười hai tháng không sót tháng nào. Đây là quan hệ hội chiếu duy nhất mà Địa Giải có được trong nhóm bảy sao an theo tháng sinh.

Không hẳn, vì hai sao chỉ giáp nhau chứ không đồng cung nên chúng chịu ảnh hưởng của hai cung chức khác nhau, có thể một cung sáng một cung tối. Điều chắc chắn là chúng luôn đi thành cặp về mặt vị trí: nhìn thấy Địa Giải là biết ngay cung liền sau có Thiên Giải, và ngược lại. Còn sức mạnh của từng sao tại từng cung thì phải xét riêng chính tinh, Tứ Hóa và sát tinh của cung ấy, không thể suy bên này ra bên kia.