Tử Vi
Sao Địa Võng: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung
Tìm hiểu sao Địa Võng trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.
Tổng quan về sao Địa Võng
Địa Võng nghĩa là lưới đất, là dấu hiệu của cung Tuất trong lá số Tử Vi, đi cặp với Thiên La ở cung Thìn. Hai cung Thìn Tuất hợp thành Thiên La Địa Võng, mang ý nghĩa lưới giăng, kìm hãm khí của cung.
- Ngũ hành: Thổ
- Nhóm: Phụ Tinh Kìm Hãm
- Cách an: Địa võng chỉ cung tuất (lưới đất), đi cặp với thiên la ở cung thìn
- Cai quản: kìm hãm, ngăn trở, giam cầm
- Tính chất: Kìm hãm, lưới đất
Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.
Ý nghĩa tại cung Mệnh
- Khi cung ấy sáng, gặp cát tinh hoặc được Tuần án ngữ: Người bền, chịu nén, giữ được lời. Khởi động chậm mà không đổ. Hợp nghề cần tích lũy và cần chỗ đứng lâu năm: kỹ thuật, xây dựng, nông lâm, quản trị vận hành, nghề thủ công. Sức bật nằm ở tuổi trung niên trở đi.
- Khi cung ấy hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Bị bó trong một hoàn cảnh, biết là chật mà không ra được. Hay tự nhốt mình vì trách nhiệm, vì gia đình, vì một cam kết cũ. Dễ nản khi thấy người cùng lứa đi nhanh hơn.
Ý nghĩa ở các cung khác
Đối chiếu ý nghĩa của Địa Võng với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.
Cung Phụ Mẫu
- Khi cung ấy sáng, gặp cát tinh hoặc được Tuần án ngữ: Cha mẹ nghiêm, có nề nếp, dạy con bằng khuôn phép. Được thừa hưởng cái nền chứ không được chiều.
- Khi cung ấy hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Quan hệ nặng phần bổn phận, ít gần gũi. Hoặc sớm phải gánh việc nhà thay cha mẹ, gánh trong nhiều năm.
Cung Phúc Đức
- Khi cung ấy sáng, gặp cát tinh hoặc được Tuần án ngữ: Tâm vững, chịu được cảnh khó, không dễ dao động. Người sống có nền, có gốc, thường gắn với quê hương và với nếp nhà.
- Khi cung ấy hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Trong lòng có một chỗ nghẹn không nói ra được, thường liên quan tới bổn phận với gia đình. Nghĩ nhiều mà không chuyển thành lời.
Cung Điền Trạch
- Khi cung ấy sáng, gặp cát tinh hoặc được Tuần án ngữ: Đây là cung hợp Địa Võng nhất trong mười hai cung, vì lưới đất gặp chuyện đất. Giữ được nhà, giữ được đất, tài sản truyền lại được.
- Khi cung ấy hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Nhà đất vướng pháp lý, thừa kế tranh chấp, sổ sách không sạch, chuyện kéo nhiều năm. Mua bán phải kiểm kỹ hơn người khác.
Cung Quan Lộc
- Khi cung ấy sáng, gặp cát tinh hoặc được Tuần án ngữ: Công danh đi bằng con đường chính quy, thâm niên, bằng cấp, quy trình. Chậm mà không tụt. Hợp cơ quan lớn, nghề có ngạch bậc.
- Khi cung ấy hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Trần công danh thấp, có năng lực mà không lên được vì vướng cơ chế hoặc vì một hồ sơ cũ. Đổi việc thì thường đổi ngang chứ không đổi lên.
Cung Nô Bộc
- Khi cung ấy sáng, gặp cát tinh hoặc được Tuần án ngữ: Người dưới quyền và bạn bè ít mà ở lâu, gắn bằng nghĩa. Đội ngũ dựng chậm mà không tan.
- Khi cung ấy hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Bị người cũ níu, mang tiếng vì người mình bảo lãnh. Quý nhân khó tới vì Khôi Việt, Thiên Quan, Thiên Phúc đều không vào được cung này.
Cung Thiên Di
- Khi cung ấy sáng, gặp cát tinh hoặc được Tuần án ngữ: Ra ngoài được nể vì đáng tin cậy chứ không vì hoạt bát. Hợp gắn bó lâu với một nơi, một tổ chức, một vùng đất.
- Khi cung ấy hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Đi xa vướng thủ tục, giấy tờ, quy định. Thiên Mã không vào được Tuất nên cung Thiên Di ở đây vốn thiếu chân đi; xuất ngoại hay lỡ dở.
Cung Tật Ách
- Khi cung ấy sáng, gặp cát tinh hoặc được Tuần án ngữ: Thể trạng thuộc loại bền, ít bệnh cấp, chịu được lao lực. Bệnh có thì cũng là loại chữa lâu mà khỏi.
- Khi cung ấy hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Bệnh mạn tính, kéo dài, liên quan tiêu hóa, xương khớp, gan mật, tức những chỗ thuộc tượng thổ và tượng tích tụ. Chữa cần thời gian, không dứt bằng một liệu trình.
Cung Tài Bạch
- Khi cung ấy sáng, gặp cát tinh hoặc được Tuần án ngữ: Tiền vào chậm mà giữ được, hợp tích sản hơn là xoay vòng nhanh. Tài sản cố định, đất, nhà xưởng, là chỗ hợp nhất.
- Khi cung ấy hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Tiền bị chôn: cho vay không đòi được, vốn kẹt trong hàng tồn hay dự án dở dang. Lộc Tồn không bao giờ vào được Tuất nên cung Tài ở đây thiếu chân đỡ, phải nhận chiếu từ Dần hoặc Ngọ.
Cung Tử Tức
- Khi cung ấy sáng, gặp cát tinh hoặc được Tuần án ngữ: Con cái nề nếp, chịu khuôn phép, thành đạt muộn mà chắc. Dạy con bằng kỷ luật thì hợp.
- Khi cung ấy hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Con muộn hoặc khó, hoặc quan hệ cha con mẹ con nặng phần bổn phận nhẹ phần chuyện trò. Kỳ vọng đặt vào con dễ thành gánh cho cả hai.
Cung Phu Thê
- Khi cung ấy sáng, gặp cát tinh hoặc được Tuần án ngữ: Hôn nhân bền theo lối gắn bằng trách nhiệm và tài sản chung hơn là bằng lãng mạn. Ít sóng gió lớn, chịu được thử thách dài.
- Khi cung ấy hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Ràng buộc mà không thông, ở với nhau vì không dứt ra được. Cần nhớ Đào Hoa và Hồng Diễm không bao giờ vào được Tuất, nên cung Phu Thê ở đây vốn đã thiếu chất tươi.
Cung Huynh Đệ
- Khi cung ấy sáng, gặp cát tinh hoặc được Tuần án ngữ: Anh chị em hoặc cộng sự ít qua lại mà bền, gặp việc mới lộ tình. Quan hệ kiểu ràng buộc trách nhiệm hơn là thân mật.
- Khi cung ấy hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Vướng nhau chuyện chung không gỡ được, thường là đất đai, tiền góp, đứng tên hộ. Chuyện kéo nhiều năm.
Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Gần như mọi sao trong bộ một trăm hai mươi mốt sao đều phải hỏi một câu trước khi an: hỏi thiên can năm sinh, hỏi địa chi năm sinh, hỏi tháng sinh, hỏi giờ sinh, hỏi Cục, hoặc hỏi Tử Vi đang đóng ở đâu. Địa Võng không hỏi gì cả. Thuật toán an sao của trang chỉ ghi đúng một dòng: an Địa Võng tại cung thứ mười, tức cung Tuất. Không tham số, không điều kiện, không rẽ nhánh. Người sinh giờ Tý hay giờ Ngọ, tuổi Giáp hay tuổi Quý, tháng Giêng hay tháng Chạp, nam hay nữ, Thủy Nhị Cục hay Hỏa Lục Cục, Địa Võng vẫn nằm ở Tuất.
Vì vậy phải nói cho dứt khoát ngay từ đầu: Thiên La và Địa Võng không phải hai ngôi sao di động, mà là tên gọi tính chất của hai cung. Một sao bình thường mang thông tin, vì vị trí của nó đổi theo tham số sinh nên chỗ nó đứng nói lên một điều riêng về người ấy. Địa Võng không mang thông tin theo nghĩa đó, vì nó đứng yên trên mọi lá số. Cái nó mang là một nhãn dán vĩnh viễn lên cung Tuất. Cùng cơ chế ấy có Thiên La, dán vĩnh viễn lên cung Thìn. Hai cái này là cặp bất động duy nhất trong cả bộ sao.
Bảng dưới đây liệt kê đủ mười hai thế an Tử Vi, cho biết cung Tuất và cung Thìn khi ấy có chính tinh nào. Đặt hai cột cạnh nhau để thấy trục Địa Võng Thiên La bao giờ cũng là một cặp soi gương: khi Tuất có Thất Sát thì Thìn có Liêm Trinh Thiên Phủ, khi Tuất có Phá Quân thì Thìn có Tử Vi Thiên Tướng, khi Tuất trống thì Thìn có Thiên Cơ Thiên Lương. Không có thế nào mà cả hai cung cùng trống.
Tý
- Cung Tuất, tức cung Địa Võng: Thất Sát
- Cung Thìn, tức cung Thiên La: Liêm Trinh Thiên Phủ
Sửu
- Cung Tuất, tức cung Địa Võng: Thái Dương
- Cung Thìn, tức cung Thiên La: Thái Âm
Dần
- Cung Tuất, tức cung Địa Võng: Vũ Khúc
- Cung Thìn, tức cung Thiên La: Tham Lang
Mão
- Cung Tuất, tức cung Địa Võng: Thiên Đồng
- Cung Thìn, tức cung Thiên La: Cự Môn
Thìn
- Cung Tuất, tức cung Địa Võng: Phá Quân
- Cung Thìn, tức cung Thiên La: Tử Vi Thiên Tướng
Tỵ
- Cung Tuất, tức cung Địa Võng: cung trống
- Cung Thìn, tức cung Thiên La: Thiên Cơ Thiên Lương
Ngọ
- Cung Tuất, tức cung Địa Võng: Liêm Trinh Thiên Phủ
- Cung Thìn, tức cung Thiên La: Thất Sát
Mùi
- Cung Tuất, tức cung Địa Võng: Thái Âm
- Cung Thìn, tức cung Thiên La: Thái Dương
Thân
- Cung Tuất, tức cung Địa Võng: Tham Lang
- Cung Thìn, tức cung Thiên La: Vũ Khúc
Dậu
- Cung Tuất, tức cung Địa Võng: Cự Môn
- Cung Thìn, tức cung Thiên La: Thiên Đồng
Tuất
- Cung Tuất, tức cung Địa Võng: Tử Vi Thiên Tướng
- Cung Thìn, tức cung Thiên La: Phá Quân
Hợi
- Cung Tuất, tức cung Địa Võng: Thiên Cơ Thiên Lương
- Cung Thìn, tức cung Thiên La: cung trống
Sáu điều bất biến của Địa Võng, đã kiểm bằng thuật toán an sao
- Địa Võng vĩnh viễn tại Tuất, Thiên La vĩnh viễn tại Thìn, hai cung luôn xung chiếu nhau. Tuất và Thìn cách nhau đúng sáu cung. Vì cả hai đều bất động nên khoảng cách này là khoảng cách cố định tuyệt đối, không như các cặp sao khác vốn chỉ cố định khoảng cách theo một tham số. Nói tới Địa Võng là đã ngầm nói tới Thiên La đối diện.
- Tam phương tứ chính của Địa Võng là một tập bốn cung cứng: Tuất, Dần, Ngọ, Thìn. Tuất thuộc tam hợp Dần Ngọ Tuất nên hai cung hợp chiếu luôn là Dần và Ngọ, cung xung luôn là Thìn. Cùng với Thiên La, đây là hai chỗ duy nhất trong lá số mà tam phương tứ chính viết ra được trước khi biết bất cứ điều gì về người xem.
- Địa Võng luôn bị giáp bởi cung Dậu và cung Hợi. Hai cung kề của Tuất không bao giờ đổi.
- Tại cung Tuất chỉ có mười hai khả năng chính tinh, trong đó ba là cặp đôi. Ba cặp là Liêm Trinh Thiên Phủ, Tử Vi Thiên Tướng, Thiên Cơ Thiên Lương; tám sao độc tọa là Thất Sát, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Phá Quân, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn; khả năng thứ mười hai là cung trống.
- Sáu chính tinh vĩnh viễn không bao giờ độc tọa tại Tuất: Tử Vi, Thiên Phủ, Liêm Trinh, Thiên Tướng, Thiên Cơ, Thiên Lương. Sáu sao này muốn vào lưới đất thì bắt buộc phải đi có bạn. Ai nói lá số có Tử Vi độc thủ Tuất là đã an sai.
- Mười bảy sao vĩnh viễn không bao giờ đứng chung cung với Địa Võng. Danh sách này là chìa khóa của cả bài, mục sau mổ kỹ, và nó không trùng khít với danh sách của Thiên La.
Một câu để nhớ về cơ chế: Địa Võng không đi tìm người, Địa Võng đứng yên chờ cung chức đi tới. Mệnh an ở đâu là do tháng sinh và giờ sinh quyết định; khi Mệnh, Thân, hoặc một cung trọng yếu rơi trúng Tuất thì lưới đất mới thành chuyện của người ấy. Với người có Mệnh ở Sửu hay Mùi, Địa Võng chỉ dán lên một cung xa và ảnh hưởng nhẹ đi rất nhiều.
Cách An Và Đặc Tính Của Địa Võng
Địa Võng chỉ cung Tuất (lưới đất), đi cặp với Thiên La ở cung Thìn. Đây là dấu hiệu cung bị kìm hãm.
Vì là phụ tinh, Địa Võng làm rõ hoặc tô đậm tính chất của chính tinh đồng cung và của cung nó tọa thủ, chứ không tự quyết định cục diện một mình.
Mức độ đắc hãm và tính chất
Theo Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, Địa Võng cùng Thiên La có tính hiểm ác, kìm hãm, gây rắc rối, ngăn trở mọi công việc, chủ về sự bắt bớ, giam cầm. Cung Tuất (Địa Võng) và cung Thìn (Thiên La) là nơi nhiều sao bị giảm sức.
Như Thiên La, Địa Võng không hẳn luôn xấu: một số chính tinh đắc địa ở Thìn Tuất lại hóa dụng được. Vì vậy cần xem chính tinh nào đóng tại cung Tuất và mức đắc hãm của nó để luận đúng.
Hội họp các sao và bộ cách
Địa Võng tác động lên cung Tuất theo bộ cách:
Thiên La (cung Thìn)
- Ý nghĩa kết hợp: Bộ Thiên La Địa Võng, hai cung kìm hãm.
Chính tinh hợp Thìn Tuất
- Ý nghĩa kết hợp: Tham Lang, Vũ Khúc đắc địa, hóa dụng được.
Tuần, Triệt, Hóa Khoa
- Ý nghĩa kết hợp: Mở lưới, giải sự kìm hãm.
Sát tinh, Hóa Kỵ
- Ý nghĩa kết hợp: Kìm hãm rõ, bắt bớ, giam cầm.
Sao Hợp Và Sao Kỵ Tại Cung Địa Võng, Phân Theo Vị Thế
Trước khi đọc hai cột, cần nhớ quy tắc về lực, và với một cung bất động thì bốn vị thế viết ra được sẵn: đứng đồng cung tại Tuất là mạnh nhất vì ở ngay trong lưới; đứng ở Thìn xung chiếu là mạnh nhì, vì trục Địa Võng Thiên La vốn thông nhau; đứng ở Dần hoặc Ngọ tam hợp chiếu thì nhẹ hơn một bậc; đứng ở Dậu hoặc Hợi là thế giáp, thế bao vây, nặng với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Không cung nào khác trong lá số có được bốn vị thế cố định như vậy.
Cung Địa Võng rất mừng khi gặp
- Tuần Không (đồng cung tại Tuất, mạnh nhất, chỉ người sinh tuần Giáp Tý mới có): đây là cách duy nhất mở được lưới đất, vì Triệt vĩnh viễn không tới Tuất. Cửa hẹp nên càng quý.
- Hóa Khoa (đồng cung, hoặc xung chiếu từ Thìn): Khoa là danh chính ngôn thuận, hợp nhất với chỗ đòi thủ tục. Thường ứng là làm đúng quy trình thì gỡ được nút.
- Tham Lang hoặc Vũ Khúc đóng Tuất (đồng cung): hai sao này đắc địa tại tứ mộ, sách xếp là hóa dụng được cái lưới, biến sự kìm nén thành sức bật. Đây là hai chính tinh hợp cung Tuất nhất.
- Thiên Đức, Nguyệt Đức, Giải Thần (đồng cung hoặc tam hợp từ Dần, Ngọ): nhóm sao giải, làm sự trói buộc bớt gắt.
- Tả Phụ, Hữu Bật (đồng cung, hoặc giáp từ Dậu và Hợi): có người đứng cùng thì việc kẹt được gỡ hộ; thế giáp Tả Hữu đặc biệt hợp với một cung vốn đã bị vây.
- Lộc Tồn hoặc Thiên Mã chiếu tới từ Dần hoặc Ngọ (tam hợp, không bao giờ đồng cung được): đây là cách duy nhất để lộc gốc và chân ngựa chạm vào lưới đất. Yếu hơn đồng cung nhiều, nhưng nó cho một hướng gỡ rất cụ thể là mượn sức từ bên ngoài cung.
Cung Địa Võng e ngại khi gặp
- Hóa Kỵ (đồng cung nặng nhất, xung chiếu từ Thìn kế đó): lưới cộng vướng thành chuyện dây dưa nhiều năm, mà lại không có dao Triệt nào tới cắt được.
- Đà La (đồng cung, chỉ với tuổi Nhâm): Đà chủ trì kéo, dây dưa, đúng chất lưới. Đây là tổ hợp làm nét chậm trễ rõ nhất, và nhớ rằng ở Tuất thì Đà La không có Lộc Tồn kề để đỡ.
- Kình Dương (đồng cung, chỉ với tuổi Tân): lưới cộng dao, thành ra vùng vẫy mà càng siết. Người có thế này hay hỏng việc vì nóng ruột muốn thoát nhanh.
- Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung hoặc giáp từ Dậu và Hợi): công sức đổ vào rồi mất trắng ngay trong lưới; thế giáp Không Kiếp còn khó chịu hơn thế chiếu.
- Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung): thêm nóng vào chỗ bí, dễ sinh chuyện bột phát rồi hối.
- Chính tinh hãm đóng Tuất cộng thêm sát tinh và Hóa Kỵ: đây không phải một sao mà là một thế. Chỉ khi đủ ba tầng chồng lên nhau mới nói tới mắc kẹt thật sự, một mình cái nhãn Địa Võng không đủ.
Tóm lại, Địa Võng là phụ tinh: đi với chính tinh và cát tinh hợp cách thì phát huy mặt hay, gặp sát tinh và hung cách thì lộ mặt yếu. Luôn xét cả lá số.
Địa Võng Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Địa Võng không có bản lưu niên. Điều này phải nói dứt khoát vì rất hay bị nhầm. Sao có bản lưu là sao an theo can chi năm sinh, nên khi đổi sang can chi của năm xem thì an lại ở chỗ mới: lưu Thái Tuế, lưu Tang Hổ, lưu Kình Đà, lưu Lộc Tồn, lưu Khôi Việt, lưu Xương Khúc, lưu Mã, lưu Khốc Hư đều thuộc loại ấy. Địa Võng không an theo can chi năm sinh, cũng không theo tháng, giờ hay Cục; nó là hằng số. Không có lưu Địa Võng, không có Địa Võng của đại vận. Cung Tuất là cung Tuất, năm nào cũng vậy.
Đại vận đi vào cung Tuất
Vì Địa Võng bất động, cứ mỗi vòng một trăm hai mươi năm đại vận sẽ đi qua nó đúng một lần, và ai cũng có một đại vận rơi vào cung Tuất. Đó là đại vận mà Thầy quen gọi là vận giữ, để phân biệt với vận nén của cung Thìn. Đặc điểm chung trên lá số thật: mười năm ấy khó bung ra chỗ mới nhưng lại rất giữ được cái đang có. Người đổi việc trong vận này thường đổi ngang; người ở yên thì tích được. Cái gì đặt vào vận Địa Võng đều nặng và chậm, mà cũng bền.
Vì Thìn và Tuất xung chiếu nên vận Thiên La và vận Địa Võng bao giờ cũng cách nhau đúng sáu vận, tức sáu mươi năm. Với phần lớn lá số, điều đó nghĩa là trong một đời chỉ đi qua trọn vẹn một trong hai lưới, còn lưới kia rơi vào tuổi rất nhỏ hoặc rất già. Đây là điểm Thầy hay nhắc để quý vị khỏi lo cả hai cùng lúc.
Một điểm cấu trúc riêng cần nhớ cho vận Tuất: Triệt không bao giờ tới cắt cung này, nên nếu vận Tuất của quý vị chứa Hóa Kỵ hoặc sát tinh, thì không có cách nào cắt gọn, chỉ có cách gỡ dần. Ngược lại, nếu vận Tuất chứa cái tốt thì cũng yên tâm rằng nó không bị cắt đứt giữa chừng.
Lưu niên và các lưu sao chạm vào cung Địa Võng
Tiểu hạn hoặc lưu niên rơi vào cung Tuất thì đó là năm của thủ tục và của sự bền bỉ, không phải năm xấu mà là năm chậm. Việc nên làm trong năm ấy là những việc vốn dĩ cần thời gian: hoàn thiện hồ sơ, làm sổ sách nhà đất, học cho xong một chứng chỉ, chữa dứt một bệnh cũ, xử lý một khoản nợ tồn. Việc không nên làm là những việc đòi kết quả nhanh: mở cái mới, đánh nhanh thắng nhanh, đặt cọc gấp khi pháp lý chưa xong.
Các lưu sao chạm vào cung Tuất. Vì Tuất đứng yên nên tính được ngay lưu sao nào năm nào sẽ tới. Năm có địa chi Tuất thì lưu Thái Tuế đóng đúng cung Địa Võng, gần đây là năm 2030 Canh Tuất; đó là năm nét lưới nổi rõ nhất, vì Thái Tuế chủ chuyện chính thức, chuyện phải trình phải báo. Năm địa chi Thân thì lưu Tang Môn tới Tuất, năm địa chi Dần thì lưu Bạch Hổ tới Tuất, năm địa chi Thìn thì lưu Tuế Phá tới Tuất. Về lưu Kình lưu Đà thì chỉ có một số can năm đưa được chúng vào Tuất, phải tra theo lưu Lộc Tồn của năm ấy.
Ngược lại có hai lưu sao không bao giờ chạm được vào cung Tuất, dù năm nào đi nữa: lưu Lộc Tồn và lưu Thiên Mã, vì bản đồ an của chúng không có cung Tuất. Nghĩa là cung Địa Võng không có năm nào được lưu lộc hay lưu mã đóng ngay tại chỗ; muốn có lộc và mã thì phải nhận chiếu từ Dần hoặc Ngọ. Đây là một điểm rất riêng của trục Thìn Tuất mà các cung khác không gặp.
Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Địa Võng
Cái tên lưới đất nghe rất nặng, lại thêm chữ giam cầm trong sách, nên Địa Võng là một trong những chỗ bị gán oan nhiều nhất. Mục này nói rõ sách nói gì và không nói gì.
Thiên La Địa Võng không phải án tù tội
Tân Biên xếp Thiên La Địa Võng vào nhóm kìm hãm, ngăn trở, và có dùng chữ bắt bớ giam cầm khi mô tả tượng của sao. Nhưng phải đọc cho đúng cấp: đó là tượng, tức hình ảnh dùng để nhớ tính chất, không phải một dự báo về đời người. Trong hệ Tử Vi, chuyện pháp lý hình sự không bao giờ do một phụ tinh quyết định; muốn đặt vấn đề ấy phải có cả một chùm điều kiện cùng lúc trên cùng một cung: chính tinh hãm, Thiên Hình hoặc Quan Phù, sát tinh, Hóa Kỵ, và đại vận lưu niên cùng chạm tới. Thiếu một tầng là không kết luận được.
Cung Tuất không phải cung xấu, và không nặng hơn cung Thìn
Chính sách vẫn ghi rõ có những chính tinh đắc địa ở Thìn Tuất, đặc biệt là Tham Lang và Vũ Khúc, và khi ấy sự kìm nén trở thành sức bật chứ không thành bế tắc. Quét cấu trúc cũng cho thấy cung Tuất đón được Tử Vi Thiên Tướng, đón được Thái Dương, đón được Liêm Trinh Thiên Phủ, toàn những thế tốt; và tập chính tinh có thể đóng Tuất giống hệt tập có thể đóng Thìn. Gọi Tuất là cung xấu, hay nói lưới đất nặng hơn lưới trời, là gán một nhãn cố định cho chỗ vốn thay đổi theo từng lá số. Chỗ hai lưới thật sự lệch nhau chỉ nằm ở bốn phụ tinh đã nêu ở mục trên, và cái lệch ấy nhỏ, không đủ để xếp hạng nặng nhẹ.
Địa Võng không phải sao hạn, không phải sao cúng
Địa Võng trong Tử Vi Đẩu Số không liên quan gì tới hệ sao hạn Cửu Diệu mà người ta cúng đầu năm, cũng không có trong hệ thần sát của Bát Tự. Không có lễ cúng nào để giải Địa Võng, vì không có gì để giải: nó là tên một cung, không phải một tai họa được gửi tới. Ai bán dịch vụ giải hạn Thiên La Địa Võng là đang bán một thứ không tồn tại trong khoa này. Cách hóa giải thật sự, nếu gọi là hóa giải, chỉ có một: hiểu rằng phần đời rơi vào cung Tuất là phần đi chậm và giữ chắc, rồi bố trí việc cho đúng với nhịp ấy.
Lời Khuyên Khi Cung Trọng Yếu Rơi Vào Địa Võng
Lời khuyên cho Địa Võng khác hẳn lời khuyên cho sát tinh. Sát tinh gây tổn thất nên phải phòng; Địa Võng gây kìm giữ nên phải chọn đúng thứ đáng giữ và tính lại thời gian biểu. Đó là tinh thần của cả mục này.
Thứ nhất, cộng thêm thời gian vào mọi kế hoạch chạm vào cung Tuất. Điền Trạch ở Tuất thì khi mua nhà đất phải trừ sẵn thời gian cho giấy tờ và kiểm pháp lý kỹ hơn người khác. Quan Lộc ở Tuất thì đừng đặt mốc thăng tiến hai năm, hãy đặt bốn năm và đi bằng đường chính quy. Tài Bạch ở Tuất thì lập kế hoạch dòng tiền theo quý chứ đừng theo tháng, vì tiền ở đây vào chậm và hay bị chôn. Người có nét lưới mà lập kế hoạch theo nhịp của người không có lưới thì lúc nào cũng thấy mình chậm, và cái mệt ấy hại hơn chính cái lưới.
Thứ hai, chọn thứ càng để lâu càng có giá. Đã phải chậm thì hãy chậm với một nghề khó, một tấm bằng, một mảnh đất giữ được, một mối quan hệ thật. Đừng đổ mười năm vào những thứ mất giá theo thời gian. Đây là chỗ người có Địa Võng ở cung trọng yếu chuyển bại thành thắng, vì cùng một mười năm mà người khác dùng để chạy vòng quanh thì mình dùng để đào sâu và giữ lại.
Thứ ba, đừng phá lưới bằng sức. Cấu trúc đã cho thấy Kình Dương và Đà La vào được cung Tuất còn Lộc Tồn thì không, nghĩa là chỗ này vốn thiếu chân đỡ mà lại thừa sức va. Người vùng vẫy trong lưới chỉ càng rối. Việc nên làm là đi vòng: mượn quý nhân từ cung khác, làm đúng thủ tục, nhờ người có thẩm quyền, chờ đúng thời điểm. Lộc Tồn và Thiên Mã không vào được Tuất nhưng chiếu được từ Dần và Ngọ; hình ảnh ấy chính là lời khuyên, sức gỡ đến từ ngoài cung chứ không đến từ trong lưới.
Thứ tư, với người có Mệnh hoặc Thân đóng Tuất, xin nhớ một câu: đời quý vị thuộc loại giữ chắc chứ không thuộc loại đi nhanh, và cái giữ ấy có giá trị thật. Đừng lấy tuổi ba mươi của mình so với tuổi ba mươi của người khác. Hãy so tuổi năm mươi, khi cái người khác đã tiêu tán thì cái của quý vị vẫn còn nguyên trong tay.
Về phong thủy bổ trợ: những gợi ý thường nghe như bày vật khai thông ở hướng Tây Bắc hay Đông Nam, dùng màu vàng thổ hoặc trắng kim cho khu vực làm việc, giữ lối vào nhà và bàn làm việc thông thoáng không bị chắn, đều chỉ là gợi ý chung mang tính nhắc nhở tinh thần. Chúng không sửa được cấu trúc lá số và không có trong kinh văn Tử Vi. Thầy xếp chúng vào loại có thì hay hơn, không có cũng không sao. Thứ thật sự đổi được kết quả vẫn là chọn đúng thứ đáng giữ và chờ đúng nhịp.
Câu hỏi thường gặp
Địa Võng nghĩa là lưới đất, là dấu hiệu của cung Tuất trong Tử Vi Đẩu Số, đi cặp với Thiên La ở cung Thìn. Hai cung Thìn Tuất gọi là Thiên La Địa Võng, mang ý nghĩa kìm hãm, ngăn trở.
Hai dấu hiệu đi cặp: Thiên La ứng cung Thìn (lưới trời), Địa Võng ứng cung Tuất (lưới đất). Cùng chủ sự kìm hãm, nhưng phải xem chính tinh đóng tại từng cung mới biết tốt xấu.
Không hẳn. Dù chủ kìm hãm, một số chính tinh như Tham Lang, Vũ Khúc đắc địa ở Tuất lại hóa dụng được. Gặp Tuần Triệt, Hóa Khoa thì như mở lưới, giải sự kìm hãm.
Địa Võng gắn cố định với cung Tuất trong lá số, đi cặp với Thiên La ở cung Thìn.
Vì Địa Võng an cố định tại cung Tuất, không phụ thuộc bất cứ tham số sinh nào. Thuật toán an sao chỉ ghi một dòng: an Địa Võng tại cung thứ mười tức cung Tuất. Cùng với Thiên La ở cung Thìn, đây là cặp bất động duy nhất trong trọn bộ 121 sao, và đúng ra phải gọi là tên gọi tính chất của hai cung chứ không phải hai ngôi sao di động. Vì vậy Địa Võng chỉ có nghĩa khi Mệnh, Thân hoặc cung đang xét rơi đúng vào Tuất, và phải luận cùng chính tinh đóng tại đó.
Quét đủ mười hai thế an Tử Vi thì cung Tuất có mười hai khả năng: ba cặp là Liêm Trinh Thiên Phủ, Tử Vi Thiên Tướng, Thiên Cơ Thiên Lương; tám sao độc tọa là Thất Sát, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Phá Quân, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn; và một khả năng cung trống. Sáu chính tinh Tử Vi, Thiên Phủ, Liêm Trinh, Thiên Tướng, Thiên Cơ, Thiên Lương không bao giờ độc tọa tại Tuất. Trong số này Tham Lang và Vũ Khúc đắc địa tại tứ mộ, hóa dụng được cái lưới.
Kiểm bằng thuật toán an sao thì có mười bảy sao không có đường vào cung Tuất, gồm Lộc Tồn, Thiên Mã, Thiên Khôi, Thiên Việt, Thiên Quan, Thiên Phúc, Đào Hoa, Hồng Diễm, Lưu Niên Văn Tinh, Cô Thần, Phá Toái, Kiếp Sát, Tai Sát, Chỉ Bối, Tướng Tinh, Tức Thần và Vong Thần. Đáng chú ý nhất là Lộc Tồn, Thiên Mã và bốn quý nhân Khôi Việt Thiên Quan Thiên Phúc, vì đó chính là những sao giúp người ta bung ra khỏi chỗ đứng.
Vì Triệt an theo thiên can năm sinh và chỉ có năm cặp cung là Tý Sửu, Dần Mão, Thìn Tỵ, Ngọ Mùi, Thân Dậu; quét đủ mười can thì không can nào đưa Triệt vào Tuất hay Hợi. Trong khi đó Tuần có sáu cặp cung, trong đó cặp Tuất Hợi dành cho người sinh tuần Giáp Tý. Suy ra cung Thiên La ở Thìn có hai cửa mở là Triệt với tuổi Bính, tuổi Tân hoặc Tuần với tuần Giáp Ngọ, còn cung Địa Võng ở Tuất chỉ có một cửa duy nhất là Tuần của tuần Giáp Tý. Bù lại, cung Tuất cũng không bao giờ bị Triệt cắt đứt giữa chừng.