Tử Vi
Sao Hóa Kỵ: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung
Tìm hiểu sao Hóa Kỵ trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.
Tổng quan về sao Hóa Kỵ
Hóa Kỵ là chân thứ tư của bộ Tứ Hóa và là hóa khí duy nhất mang tính hung, hành Thủy, sinh theo can năm sinh. Nếu Lộc Quyền Khoa rót thêm điều tốt thì Hóa Kỵ phủ lên một chính tinh một tầng ám trệ: vướng mắc, trở ngại, ganh ghét, thị phi và hao tổn.
Tuy vậy, Hóa Kỵ không hoàn toàn xấu. Đặt đúng chỗ, chính cái khí giữ chặt của nó lại giúp giữ của bền vững, và ở vài thế đặc biệt còn hóa thành cái lành.
- Ngũ hành: Thủy
- Nhóm: Tứ Hóa (Lộc Quyền Khoa Kỵ)
- Tính chất: Hung tinh, ám trệ
- Cách phát sinh: Theo can năm sinh
- Cai quản: Trở ngại, ám hại, thị phi, giữ của
- Hợp gặp: Hóa Khoa giải, Nhật Nguyệt sáng, Liêm Tham
- Kỵ: Cự Môn, Đà La, Thiên Riêu, sát tinh
Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.
Ý nghĩa tại cung Mệnh
- Khi Kỵ được giải hoặc bám sao đắc: Người sâu sắc, kỹ lưỡng, biết giữ, có một mối bận tâm lớn làm động lực cả đời; hợp nghề đòi hỏi tỉ mỉ và bền bỉ.
- Khi Kỵ bám sao hãm hoặc gặp hung tinh: Hay nghĩ ngợi, khó buông, tự làm khó mình; làm gì cũng thấy vướng, dễ mang tiếng khó tính.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Kỵ tại Mệnh mà Khoa từ đại vận hoặc lưu niên chiếu tới là thế được gỡ. Kỵ tại Mệnh cộng Đà La đồng cung là người ôm việc trong lòng rất lâu.
Ý nghĩa ở các cung khác
Đối chiếu ý nghĩa của Hóa Kỵ với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.
Cung Phụ Mẫu
- Khi Kỵ được giải hoặc bám sao đắc: Hiếu thảo theo lối lo toan cụ thể; là người trong nhà đứng ra gánh việc cha mẹ.
- Khi Kỵ bám sao hãm hoặc gặp hung tinh: Duyên với cha mẹ mỏng, xa cách, hoặc phải lo cho cha mẹ sớm và lâu.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Cung này cũng chủ cấp trên và giấy tờ chính thức. Kỵ tại Phụ Mẫu nhiều khi không phải chuyện cha mẹ mà là chuyện với sếp hoặc với cơ quan công quyền, phải hỏi rõ mới kết luận.
Cung Phúc Đức
- Khi Kỵ được giải hoặc bám sao đắc: Người có chiều sâu nội tâm, hợp việc tu dưỡng, thiền, nghiên cứu; suy nghĩ kỹ nên ít sai lầm lớn.
- Khi Kỵ bám sao hãm hoặc gặp hung tinh: Tâm hay bất an, nghĩ ngợi về đêm, khó thấy đủ dù bên ngoài đủ; hay tự trách mình.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Đây là cung Thầy coi trọng nhất khi thấy Kỵ, vì cung này quyết định người ấy chịu đựng cái Kỵ thế nào. Cùng một Kỵ ở Tài Bạch, người Phúc Đức tốt thì coi là bài học, người Phúc Đức có Kỵ nữa thì thành ám ảnh.
Cung Điền Trạch
- Khi Kỵ được giải hoặc bám sao đắc: Giữ được nhà đất, không bán đi bán lại; của cải neo vào bất động sản nên khó tiêu tán.
- Khi Kỵ bám sao hãm hoặc gặp hung tinh: Nhà cửa vướng giấy tờ, tranh chấp, sửa mãi không xong, hoặc ở nơi không ưng mà chưa dời được.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Điền Trạch trong Đẩu Số cũng là cái kho của cả lá số, nên Kỵ ở đây là của cải bị neo lại: nhìn thì có mà dùng thì khó. Kỵ tại Điền cộng Vũ Khúc Kỵ tuổi Nhâm là thế chôn vốn điển hình.
Cung Quan Lộc
- Khi Kỵ được giải hoặc bám sao đắc: Nghề đòi hỏi chuyên sâu, càng khó càng hợp; đi một nghề tới cùng và thành người giỏi nghề.
- Khi Kỵ bám sao hãm hoặc gặp hung tinh: Công việc nhiều cản trở, hay bị soi, giấy tờ trục trặc, đổi việc nhiều mà chưa yên.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Kỵ tại Quan Lộc xung Phu Thê: áp lực nghề nghiệp dội về đời sống vợ chồng. Kỵ tại Quan cộng Văn Xương hoặc Văn Khúc là chuyện hồ sơ, bằng cấp, hợp đồng.
Cung Nô Bộc
- Khi Kỵ được giải hoặc bám sao đắc: Bạn ít mà thật, giữ được người lâu năm; cấp dưới trung thành dù không đông.
- Khi Kỵ bám sao hãm hoặc gặp hung tinh: Bị bạn hoặc cấp dưới làm phiền, giúp người mà mang tiếng, dễ bị lợi dụng lòng tốt.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Kỵ tại Nô Bộc là chỗ Thầy dặn kỹ nhất về việc đứng tên hộ và bảo lãnh, nhất là khi Kỵ bám Thiên Tướng theo Nam phái tuổi Canh.
Cung Thiên Di
- Khi Kỵ được giải hoặc bám sao đắc: Ra ngoài thận trọng nên ít hớ; hợp làm việc ở môi trường quen, nơi mình đã có chỗ đứng.
- Khi Kỵ bám sao hãm hoặc gặp hung tinh: Ra ngoài hay va chạm, đi xa lận đận, dễ mất lòng người lạ mà không hiểu vì sao.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Cung này đối diện Mệnh, nên Kỵ ở đây xung thẳng vào Mệnh: người ngoài nhìn vào thấy mình vướng trước cả khi mình thấy. Kỵ tại Thiên Di cộng Thiên Mã là đi xa mà mệt.
Cung Tật Ách
- Khi Kỵ được giải hoặc bám sao đắc: Biết bệnh sớm nên giữ gìn sớm; sức khỏe không rực rỡ nhưng bền vì cẩn thận.
- Khi Kỵ bám sao hãm hoặc gặp hung tinh: Một chứng dai dẳng đúng theo tạng của sao bị Kỵ, hay tái đi tái lại hơn là bùng phát dữ dội.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Đọc bệnh phải đọc ở đây, không đọc từ Mệnh. Thái Dương Kỵ tại Tật là mắt, Vũ Khúc Kỵ là phổi và hô hấp, Liêm Trinh Kỵ là máu huyết, Thiên Cơ Kỵ là thần kinh gân cốt, Cự Môn Kỵ là tiêu hóa và họng.
Cung Tài Bạch
- Khi Kỵ được giải hoặc bám sao đắc: Giữ tiền rất chặt, tiết kiệm có kỷ luật, hợp tích lũy dài hạn và quản quỹ.
- Khi Kỵ bám sao hãm hoặc gặp hung tinh: Tiền vào rồi kẹt, cho vay khó đòi, hay vướng nợ và giấy tờ tiền bạc.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Kỵ tại Tài Bạch mà cùng cung có Hóa Lộc là thế Lộc Kỵ đồng cung: tiền vào nhiều mà ra cũng nhiều. Kỵ tại Tài cộng Không Kiếp thì phải rất kỹ với đầu tư theo phong trào.
Cung Tử Tức
- Khi Kỵ được giải hoặc bám sao đắc: Con ít mà quý, hoặc mình dốc lòng cho con và con nên người.
- Khi Kỵ bám sao hãm hoặc gặp hung tinh: Muộn con, lo cho con nhiều, hoặc con cái là mối bận tâm dai dẳng nhất đời.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Kỵ tại Tử Tức cần xem thêm Tật Ách trước khi nói bất kỳ điều gì về đường con cái. Cung này cũng chủ cấp dưới và học trò, nên Kỵ ở đây có thể là chuyện người mình dạy chứ không phải con mình đẻ.
Cung Phu Thê
- Khi Kỵ được giải hoặc bám sao đắc: Duyên bền theo lối gắn chặt, hai người dính nhau qua cả lúc khó; hợp kết hôn muộn và chắc.
- Khi Kỵ bám sao hãm hoặc gặp hung tinh: Hôn nhân nhiều vướng mắc, hiểu lầm kéo dài, một bên ôm uất không nói.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Kỵ tại Phu Thê thì cung Quan Lộc đối diện bị xung: chuyện nhà ảnh hưởng chuyện làm. Kỵ tại Phu Thê cộng Thiên Riêu là thế phải luận rất thận trọng, không kết luận vội.
Cung Huynh Đệ
- Khi Kỵ được giải hoặc bám sao đắc: Anh em ít mà gắn bó, hoặc mình là người lo cho anh em và được nhìn nhận.
- Khi Kỵ bám sao hãm hoặc gặp hung tinh: Anh em, cộng sự bất hòa vì tiền hoặc vì hiểu lầm; hùn hạp dễ tan.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Kỵ tại Huynh Đệ mà cung này cũng là cung hợp tác làm ăn: đây là chỗ Thầy luôn dặn không hùn vốn bằng lời nói suông, phải có giấy trắng mực đen.
Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Hóa Kỵ khác mọi sao khác trong lá số ở một điểm gốc: nó không có cung riêng. Tử Vi an theo cục và ngày sinh, Lộc Tồn an theo can năm, Văn Xương an theo giờ, Thiên Hình an theo tháng, sao nào cũng có một chỗ đứng của mình. Hóa Kỵ thì không. Nó là một hóa khí, sinh ra từ thiên can, rồi bám vào một ngôi sao đã có sẵn trên lá số và ngồi nhờ ở cung của ngôi sao ấy. Cho nên câu hỏi đúng không phải là "Hóa Kỵ đóng ở cung nào" mà là "can nào sinh Kỵ, Kỵ bám vào sao nào, và sao ấy đang ở cung nào". Ba câu hỏi ấy là toàn bộ cơ chế của sao này.
Bảng dưới đây liệt kê đủ mười can. Cột thứ ba cho biết sao bị Kỵ thuộc nhóm an sao nào, vì điều đó quyết định Kỵ có thể rơi vào những cung nào: sao thuộc chuỗi Tử Vi hay chuỗi Thiên Phủ thì đi theo thế Tử Vi, mỗi thế một vị trí, đủ mười hai khả năng; còn Văn Xương và Văn Khúc an theo giờ sinh nên Kỵ của tuổi Tân và tuổi Kỷ đổi chỗ theo giờ chứ không theo thế Tử Vi. Cột thứ tư là một kết quả tính bằng thuật toán, ít sách nào ghi: thế Kình Đà giáp Kỵ chỉ thành khi sao hóa Kỵ rơi đúng vào cung có Lộc Tồn, vì Kình Dương luôn ở cung liền sau Lộc Tồn và Đà La luôn ở cung liền trước. Với mỗi tuổi can, điều đó chỉ xảy ra ở đúng một thế Tử Vi trong mười hai thế, hoặc đúng một giờ sinh trong mười hai giờ.
Giáp
- Sao hóa Kỵ: Thái Dương
- Sao ấy an theo: chuỗi Tử Vi
- Khi nào thành thế Kình Đà giáp Kỵ: Lộc Tồn tại Dần, thành thế khi Tử Vi an tại Tỵ
Ất
- Sao hóa Kỵ: Thái Âm
- Sao ấy an theo: chuỗi Thiên Phủ
- Khi nào thành thế Kình Đà giáp Kỵ: Lộc Tồn tại Mão, thành thế khi Tử Vi an tại Dần
Bính
- Sao hóa Kỵ: Liêm Trinh
- Sao ấy an theo: chuỗi Tử Vi
- Khi nào thành thế Kình Đà giáp Kỵ: Lộc Tồn tại Tỵ, thành thế khi Tử Vi an tại Sửu
Đinh
- Sao hóa Kỵ: Cự Môn
- Sao ấy an theo: chuỗi Thiên Phủ
- Khi nào thành thế Kình Đà giáp Kỵ: Lộc Tồn tại Ngọ, thành thế khi Tử Vi an tại Sửu
Mậu
- Sao hóa Kỵ: Thiên Cơ
- Sao ấy an theo: chuỗi Tử Vi
- Khi nào thành thế Kình Đà giáp Kỵ: Lộc Tồn tại Tỵ, thành thế khi Tử Vi an tại Ngọ
Kỷ
- Sao hóa Kỵ: Văn Khúc
- Sao ấy an theo: phụ tinh an theo giờ sinh
- Khi nào thành thế Kình Đà giáp Kỵ: Lộc Tồn tại Ngọ, thành thế khi sinh giờ Dần
Canh
- Sao hóa Kỵ: Thiên Tướng (Nam phái) · Thiên Đồng (Bắc phái)
- Sao ấy an theo: chuỗi Thiên Phủ · chuỗi Tử Vi
- Khi nào thành thế Kình Đà giáp Kỵ: Lộc Tồn tại Thân, thành thế khi Tử Vi an tại Tý (Nam phái); Tử Vi an tại Sửu (Bắc phái)
Tân
- Sao hóa Kỵ: Văn Xương
- Sao ấy an theo: phụ tinh an theo giờ sinh
- Khi nào thành thế Kình Đà giáp Kỵ: Lộc Tồn tại Dậu, thành thế khi sinh giờ Sửu
Nhâm
- Sao hóa Kỵ: Vũ Khúc
- Sao ấy an theo: chuỗi Tử Vi
- Khi nào thành thế Kình Đà giáp Kỵ: Lộc Tồn tại Hợi, thành thế khi Tử Vi an tại Mão
Quý
- Sao hóa Kỵ: Tham Lang
- Sao ấy an theo: chuỗi Thiên Phủ
- Khi nào thành thế Kình Đà giáp Kỵ: Lộc Tồn tại Tý, thành thế khi Tử Vi an tại Ngọ
Năm điều bất biến của Hóa Kỵ
- Kỵ luôn đi kèm ba anh em của nó. Một thiên can sinh ra đủ bốn hóa cùng lúc: một Lộc, một Quyền, một Khoa, một Kỵ. Không có lá số nào chỉ có Kỵ mà không có Lộc. Vì thế khi thấy Kỵ, việc đầu tiên là tìm ba hóa còn lại đang nằm ở cung nào, chứ không phải vội lo cho cái Kỵ.
- Thiên Tướng là chính tinh duy nhất chỉ nhận đúng một hóa, và hóa ấy là Kỵ. Theo Nam phái, Thiên Tướng hóa Kỵ với tuổi Canh và không hóa Lộc, Quyền hay Khoa với bất kỳ tuổi nào. Đây là điểm bất đối xứng đáng chú ý nhất của bảng, và cũng là chỗ Bắc phái không đồng ý: Bắc phái cho tuổi Canh là Thiên Đồng hóa Kỵ, còn Thiên Tướng không nhận hóa nào.
- Hai phụ tinh hóa Kỵ đều an theo giờ, nên Kỵ của tuổi Kỷ và tuổi Tân đi khắp mười hai cung. Văn Khúc và Văn Xương an theo giờ sinh, chạy đủ mười hai cung, không cung nào là không tới được. Chúng chỉ đồng cung với nhau tại Sửu khi sinh giờ Dậu và tại Mùi khi sinh giờ Mão, và xung chiếu nhau khi sinh giờ Tý hoặc giờ Ngọ. Con số này quan trọng cho tuổi Tân, sẽ nói ở mục Tứ Hóa.
- Cung có Kỵ và cung đối diện nó là một cặp, không tách được. Trong Đẩu Số, hai cung xung chiếu nhau chung một trục. Kỵ đóng ở Mệnh thì Thiên Di cũng bị kéo theo; Kỵ đóng ở Tài Bạch thì Phúc Đức đối diện cũng chịu; Kỵ đóng ở Phu Thê thì Quan Lộc đối diện chịu lây. Người xưa gọi là "Kỵ xung", và trên lá số thật cái xung nhiều khi lộ rõ hơn cả cung có Kỵ, vì cung có Kỵ là chỗ mình biết mình vướng, còn cung bị xung là chỗ mình không ngờ tới.
Bốn tầng can, bốn lớp Hóa Kỵ chồng lên nhau
Đây là phần mà hầu hết các trang chép sách bỏ qua, và cũng là phần làm nên chiều sâu thật của Tứ Hóa. Một lá số không chỉ có một bộ Tứ Hóa. Nó có bốn tầng, mỗi tầng lấy theo một thiên can khác nhau:
- Tầng một, can năm sinh (Kỵ bản mệnh). Đây là cái Kỵ theo người suốt đời, không đổi. Nó chỉ ra lĩnh vực mà đời này người ấy phải bận tâm nhiều nhất, phải học nhiều nhất, và cũng là chỗ dễ hoài công nhất nếu không biết cách.
- Tầng hai, can của đại vận (Kỵ đại vận). Mỗi đại vận mười năm mang can riêng của cung đại vận ấy, và can ấy lại sinh ra một bộ Tứ Hóa mới. Cùng một lá số, đại vận này Kỵ rơi vào Tài Bạch, đại vận sau Kỵ rơi vào Phu Thê, nên mười năm này lo tiền, mười năm sau lo tình.
- Tầng bốn, can của từng cung (phi hóa). Mười hai cung trên lá số, mỗi cung có một thiên can riêng. Lấy can của cung Phu Thê mà bấm ra Tứ Hóa, rồi xem cái Kỵ ấy bay vào cung nào, thì biết chuyện hôn nhân sẽ va vào lĩnh vực nào. Đây là phi hóa, sở trường của Bắc phái Trung Châu và là tầng sâu nhất của Tứ Hóa.
Bốn tầng ấy chồng lên nhau như bốn tờ giấy can. Chỗ nào hai ba tầng cùng đánh dấu vào một cung thì chỗ ấy là điểm nóng thật sự của đời người. Thầy gọi hiện tượng này là Kỵ chồng Kỵ. Một tầng Kỵ chỉ là một cái vướng bình thường, ai cũng có, mười người thì mười người đều có ít nhất một cung mang Kỵ bản mệnh. Nhưng khi Kỵ bản mệnh đóng ở Tài Bạch, rồi đại vận đi tới cũng làm Kỵ rơi vào Tài Bạch, rồi năm ấy lưu Kỵ cũng vào Tài Bạch nữa, thì đó mới là năm mà tiền bạc thật sự phải cẩn thận. Ngược lại, chỉ một mình lưu Kỵ chạm vào một cung mà bản mệnh không có gì thì đó là cơn mưa rào, không phải mùa lụt.
Từ cấu trúc trên rút ra một quy tắc đọc rất tiện, Thầy vẫn dặn học trò: đếm số tầng trước, rồi mới luận nặng nhẹ. Một tầng là nhắc nhở. Hai tầng là phải để ý. Ba tầng trở lên mới là chuyện đáng ngồi xuống bàn kỹ. Cách đếm này giúp người luận không bị cuốn theo cảm giác, vì hễ thấy chữ Kỵ là dễ nói nặng, mà nói nặng thì khách sợ, khách sợ thì không còn nghe được lời khuyên nào nữa.
Kỵ bám sao nào thì mượn tính của sao ấy
Vì Hóa Kỵ không có thân, nó phải mượn thân của sao chủ. Cho nên nghĩa của Kỵ luôn là tính của sao chủ bị vướng lại, chứ không phải một nghĩa cố định. Thái Dương chủ danh và chủ người cha, nên Thái Dương hóa Kỵ là danh bị che và lo cho cha. Vũ Khúc chủ tiền và chủ quyết đoán, nên Vũ Khúc hóa Kỵ là tiền bị kẹt và quyết đoán thành cố chấp. Cự Môn chủ miệng lưỡi, nên Cự Môn hóa Kỵ là lời nói sinh chuyện. Người mới học hay cố nhớ một bảng nghĩa của Hóa Kỵ; người luận lâu thì không cần bảng ấy, chỉ cần nhớ tính của mười ngôi sao nhận Kỵ rồi thêm vào một chữ "vướng" là ra.
Ý nghĩa và đặc tính của Hóa Kỵ
Theo Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, Hóa Kỵ chủ sự độc hiểm, ích kỷ, hay ghen ghét, hay nhầm lẫn, gây bệnh tật, tai họa, thị phi, kiện cáo. Người bị Hóa Kỵ ám ở cung nào thì lĩnh vực ấy lận đận, vướng víu, hay gặp trục trặc.
Nhưng cũng chính Tân Biên ghi một mặt khác: Hóa Kỵ giữ của cải bền vững, vì cái khí của nó là giữ chặt, không cho thoát ra. Đặc biệt, Hóa Kỵ đắc địa ở bốn cung Tứ Mộ thì đỡ lo bệnh tật tai họa, cái hung được giảm nhẹ.
Bảy Cách Cục Của Hóa Kỵ Và Điều Kiện Thành Thế
Thế hung tiêu biểu: Cự Cơ Hóa Kỵ, tức Cự Môn hoặc Thiên Cơ gặp Hóa Kỵ, chủ thị phi kiện cáo nặng. Kình Đà giáp Kỵ, tức Hóa Kỵ bị Kình Dương và Đà La kẹp hai bên, là thế đại hung. Bộ Tam ám (Hóa Kỵ, Đà La, Thiên Riêu) che lấp Nhật Nguyệt cũng rất kỵ.
Thế hóa lành: Hóa Kỵ ở Sửu Mùi cùng Nhật Nguyệt làm sáng thêm; ở Tỵ Hợi cùng Liêm Tham chế hung; Hóa Kỵ gặp Hóa Khoa thì cái ám được hóa giải nhẹ. Vì vậy luận Hóa Kỵ phải rất thận trọng, không thấy Kỵ là vội cho là xấu.
Một thế chỉ đáng gọi là cách cục khi nêu được điều kiện đủ và điều kiện phá. Dưới đây bảy thế thường gặp nhất của Hóa Kỵ, mỗi thế ghi rõ khi nào thành, khi nào đủ đẹp hoặc đáng ngại, khi nào phá hoặc được giải. Xin lưu ý trước: trong bảy thế này chỉ có hai thế thật sự đáng ngại, còn lại đều có đường ra.
Song Kỵ, tức Kỵ chồng Kỵ
Thành thế: hai tầng Hóa Kỵ trở lên cùng đậu vào một cung. Thường gặp nhất là Kỵ bản mệnh (can năm sinh) trùng với Kỵ lưu niên (can năm xem), hoặc Kỵ bản mệnh trùng Kỵ đại vận. Trường hợp gọn nhất để hình dung: người tuổi Giáp có Thái Dương hóa Kỵ ở Quan Lộc, tới năm can Giáp thì Thái Dương lại lưu hóa Kỵ ngay tại cung ấy, thành hai lớp Kỵ chồng lên nhau trong một năm. Đáng ngại: khi cả ba tầng bản mệnh, đại vận và lưu niên cùng dồn vào một cung, lại thêm sát tinh đồng cung. Khi ấy lĩnh vực của cung đó gần như chắc chắn có chuyện phải giải quyết trong năm, và nên chủ động đi trước thay vì đợi. Giải thế: có Hóa Khoa của một trong ba tầng chiếu tới cùng cung, hoặc có Tuần Triệt án ngay cung ấy, hoặc cung Phúc Đức vững. Thầy vẫn nhắc: Song Kỵ là chuyện của một cung và của một quãng thời gian có hạn, không phải bản án cho cả đời người.
Lộc Kỵ đồng cung, tiền vào tiền ra
Thành thế: Hóa Lộc và Hóa Kỵ cùng đậu một cung. Điều kiện đủ, kiểm bằng thuật toán: nếu chỉ xét Tứ Hóa bản mệnh thì trong mười can chỉ có tuổi Ất làm được thế này một cách trọn vẹn, khi Tử Vi an tại Mão hoặc Dậu, lúc ấy Thiên Cơ hóa Lộc và Thái Âm hóa Kỵ cùng đứng trong bộ Cơ Âm. Chín can còn lại, Lộc và Kỵ bản mệnh không bao giờ đồng cung, trừ hai tuổi Kỷ và Tân còn phụ thuộc giờ sinh vì có phụ tinh tham gia. Ngoài ra thế này rất hay xuất hiện khi ghép tầng: Lộc bản mệnh gặp Kỵ lưu niên tại cùng một cung, hoặc Lộc lưu niên rơi vào cung có Kỵ bản mệnh. Đọc thế nào: tiền vào rồi tiền ra, được rồi lại phải chi, làm ra tiền mà không giữ được bao nhiêu; ở cung tình cảm thì là yêu sâu mà hao tâm. Đây không phải thế xấu, mà là thế dòng chảy: người có Lộc Kỵ đồng cung ở Tài Bạch thường là người kiếm được, tiêu cũng mạnh, và hợp với nghề có dòng tiền lớn chạy qua tay hơn là nghề ăn lương cố định. Phá thế: thêm Không Kiếp thì thành ra vào mà không đọng lại gì; thêm Lộc Tồn thì lại giữ được một phần.
Khoa giải Kỵ
Thành thế: Hóa Khoa đồng cung hoặc chiếu về cung có Hóa Kỵ. Sách nói Khoa là sao của danh dự, của sự sáng tỏ và của quý nhân trong lúc khó, nên Khoa gặp Kỵ thì cái ám được soi cho rõ, chuyện rối được người gỡ hộ. Đủ đẹp: Khoa đồng cung với Kỵ là mạnh nhất, Khoa xung chiếu là kế, Khoa tam hợp là nhẹ hơn. Kiểm bằng thuật toán thì thấy một điều đáng chú ý: Khoa và Kỵ của cùng một tuổi can hầu như không gặp nhau. Chỉ tuổi Đinh có Thiên Cơ hóa Khoa đồng cung được với Cự Môn hóa Kỵ, khi Tử Vi tại Thìn hoặc Tuất. Tuổi Tân có Văn Khúc hóa Khoa gặp Văn Xương hóa Kỵ nếu sinh giờ Mão hoặc giờ Dậu. Còn lại, cái Khoa cứu Kỵ thường phải đến từ đại vận, từ lưu niên hoặc từ phi hóa cung khác. Giới hạn của thế này: Khoa giải Kỵ là giảm nhẹ, không phải xóa. Sách chưa bao giờ nói Khoa làm mất Kỵ. Người có Khoa giải Kỵ vẫn phải đi qua cái vướng ấy, chỉ là đi qua có người đỡ và ít tổn thất hơn.
Kình Đà giáp Kỵ
Thành thế: cung có Hóa Kỵ bị Kình Dương và Đà La kẹp hai bên. Điều kiện đủ, kiểm bằng thuật toán: vì Kình Dương luôn ở cung liền sau Lộc Tồn và Đà La luôn ở cung liền trước, thế này chỉ thành khi sao hóa Kỵ rơi đúng vào cung có Lộc Tồn. Với mỗi tuổi can, điều đó chỉ xảy ra ở đúng một thế Tử Vi trong mười hai thế, hoặc đúng một giờ sinh trong mười hai giờ. Bảng ở mục hai liệt kê đủ mười trường hợp ấy. Đáng ngại: đây là một trong hai thế nặng thật của Hóa Kỵ, vì trước sau đều bị chặn, muốn tiến không được muốn lui cũng không xong; lĩnh vực của cung ấy tiến triển rất chậm và hay bị cản từ hai phía. Giải thế: chính Lộc Tồn nằm trong cung ấy là một cứu cánh đáng kể, vì Lộc Tồn là sao giữ của và có tính hòa hoãn; thêm Hóa Khoa hoặc Thiên Giải, Giải Thần thì đỡ hơn nữa. Thầy để ý thấy người có thế này thường thành công muộn nhưng thành công chắc, vì bị chặn nhiều nên buộc phải làm kỹ.
Kỵ gặp Không Kiếp
Thành thế: Hóa Kỵ đồng cung hoặc bị giáp bởi Địa Không và Địa Kiếp. Đáng ngại: đây là thế nặng thứ hai. Kỵ là giữ chặt, Không Kiếp là làm tiêu tán, hai khí trái nhau dồn vào một cung nên lĩnh vực ấy vừa vướng vừa hao: giữ thì giữ không nổi mà buông cũng không buông được. Ở Tài Bạch là tiền vào rồi mất theo lối bất ngờ; ở Quan Lộc là công việc dựng lên rồi đổ; ở Điền Trạch là tài sản hao. Giải thế: sách nói Không Kiếp gặp người có tư tưởng khác thường lại thành hay, hợp nghề sáng tạo, nghiên cứu, tôn giáo, những nghề mà "mất" không phải là mất. Vì thế thế này không nên đọc là tán gia bại sản, mà nên đọc là không hợp giữ của theo lối thường, và người ấy nên chọn con đường mà giá trị nằm ở cái vô hình.
Kỵ nhập Mệnh và Kỵ nhập Tật Ách, hai cách đọc khác nhau
Kỵ nhập Mệnh, thành thế: Hóa Kỵ đóng ngay cung Mệnh. Đây là cách bị hiểu sai nhiều nhất. Nó không nói người ấy khổ, mà nói người ấy có một mối bận tâm lớn theo suốt đời, đúng theo tính của sao bị Kỵ. Trên lá số thật, Kỵ nhập Mệnh cho ra kiểu người sâu, kỹ, nghĩ nhiều, khó buông, và rất hay là người giỏi nghề, vì cái không buông được ấy chính là cái làm nên tay nghề. Điều cần giữ là đừng để cái nghĩ nhiều thành cái tự trách. Đủ đẹp: Kỵ nhập Mệnh mà cung Phúc Đức sáng, hoặc có Khoa chiếu, thì thành người điềm đạm mà thâm hậu. Đáng ngại: Kỵ nhập Mệnh cộng thêm Kỵ ở Phúc Đức thì mới thật sự nặng về tinh thần.
Kỵ nhập Tật Ách, thành thế: Hóa Kỵ đóng cung Tật Ách. Đây mới là chỗ được phép nói tới bệnh, và bệnh ấy đọc theo tạng của sao bị Kỵ chứ không theo chữ Kỵ: Thái Dương Kỵ là mắt, Vũ Khúc Kỵ là phổi và hô hấp, Liêm Trinh Kỵ là máu huyết, Thiên Cơ Kỵ là thần kinh và gân cốt, Cự Môn Kỵ là tiêu hóa và họng, Thái Âm Kỵ là giấc ngủ và nội tiết. Đặc điểm chung của bệnh do Kỵ là dai chứ không dữ: hay tái đi tái lại, khó dứt hẳn, hơn là bùng phát dữ dội. Vì thế lời khuyên đúng cho Kỵ ở Tật Ách là khám định kỳ và giữ nếp sinh hoạt, chứ không phải lo sợ. Đáng ngại: Kỵ ở Tật Ách cộng Kình Dương hoặc Đà La đồng cung là thế cần đi khám sớm và đều, nhất là khi lưu niên chạm tới.
Tuần Triệt án Kỵ
Thành thế: Tuần Không hoặc Triệt Lộ án ngữ ngay cung có Hóa Kỵ. Giải cách: đây là một trong ít thế mà hai sao vốn bị coi là bất lợi lại làm việc tốt. Tuần Triệt có tính chặn, chặn cái tốt thì tiếc, mà chặn cái xấu thì mừng. Kỵ bị Tuần Triệt án thì cái ám bị cắt bớt, lĩnh vực của cung ấy đỡ nặng đi thấy rõ, tuy đổi lại là mọi việc trong cung ấy đều đến muộn. Thầy thường ví: Kỵ bị Triệt như cái ung nhọt bị chặn đường lan, nó vẫn còn đó nhưng không lan nữa. Giới hạn: Tuần Triệt chặn cả hai chiều, nên nếu cung ấy đồng thời có Hóa Lộc hay Hóa Khoa thì cái tốt cũng bị chặn theo. Vì thế không nên mong có Triệt để giải Kỵ, chỉ nên mừng khi có sẵn. Ngoài ra sách còn ghi Hóa Kỵ đắc địa tại bốn cung Tứ Mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì cái hung được giảm nhẹ, và Kỵ tọa Sửu Mùi gặp Nhật Nguyệt thì như mây năm sắc chầu, làm Nhật Nguyệt thêm rực rỡ; Kỵ tọa Tỵ Hợi gặp Liêm Trinh Tham Lang thì chế được tính hung của Liêm Tham. Đó là ba thế hóa lành đã có sẵn trong Tân Biên.
Cách đọc bảy thế trên cho đúng liều
Trong bảy thế vừa nêu, chỉ hai thế đáng gọi là nặng: Kình Đà giáp Kỵ và Kỵ gặp Không Kiếp. Song Kỵ nặng hay nhẹ tùy số tầng chồng lên nhau và tùy có được giải hay không. Lộc Kỵ đồng cung là thế dòng chảy, không phải thế hung. Khoa giải Kỵ và Tuần Triệt án Kỵ là hai thế được đỡ. Kỵ nhập Mệnh phần lớn là chuyện tính cách chứ không phải chuyện họa phúc. Người luận có nghề phân biệt được bảy mức ấy; người mới học thì thấy chữ Kỵ nào cũng như chữ Kỵ nào, nên nói câu nào cũng nặng. Đó là khác biệt lớn nhất giữa đọc sách và luận số.
Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
Trước khi đọc hai cột dưới đây, xin nhớ quy tắc về lực, vì cùng một sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho ra hai kết quả khác hẳn. Đồng cung là mạnh nhất, hai sao cùng ngồi một chỗ nên nhập vào nhau. Xung chiếu mạnh nhì, vì hai cung đối diện chung một trục và luôn kéo nhau. Tam hợp chiếu nhẹ hơn, là ảnh hưởng từ xa, có mặt nhưng không quyết định. Giáp hai bên là thế bao vây, mạnh với sát tinh và với các thế chặn, nhẹ với cát tinh. Với Hóa Kỵ, quy tắc này đặc biệt quan trọng: Kỵ đồng cung là cái vướng nằm ngay trong tay mình, Kỵ xung chiếu là cái vướng đến từ phía đối diện, còn Kỵ tam hợp chiếu nhiều khi chỉ là tiếng vọng.
Hóa Kỵ mừng khi gặp
- Hóa Khoa (đồng cung mạnh nhất, xung chiếu kế, tam hợp nhẹ hơn): cái ám được soi sáng, chuyện rối có người gỡ. Giảm nhẹ chứ không xóa.
- Lộc Tồn (đồng cung): sao giữ của có tính hòa hoãn, đứng cùng Kỵ thì cái giữ chặt thành ra biết tích lũy; đây cũng là sao đỡ cho thế Kình Đà giáp Kỵ.
- Tuần Không, Triệt Lộ (án ngay cung có Kỵ): chặn bớt cái ám, đổi lại mọi việc trong cung ấy đến muộn.
- Thiên Đồng, Thiên Lương (đồng cung hoặc chiếu): một là phúc tinh, một là ấm tinh, đều có tính giải; cái vướng vẫn có nhưng có chỗ tựa.
- Thái Dương và Thái Âm sáng tại Sửu Mùi (đồng cung): thế mây năm sắc chầu Nhật Nguyệt, Tân Biên ghi là làm Nhật Nguyệt thêm rực rỡ.
- Liêm Trinh và Tham Lang tại Tỵ Hợi (đồng cung): Tân Biên ghi Kỵ ở thế này chế được tính hung của Liêm Tham.
- Bốn cung Tứ Mộ Thìn Tuất Sửu Mùi (là vị trí, không phải sao): Kỵ đắc địa ở đây, cái hung giảm nhẹ.
Hóa Kỵ e ngại khi gặp
- Kình Dương và Đà La kẹp hai bên (thế giáp, nặng nhất trong các thế giáp): Kình Đà giáp Kỵ, trước sau đều bị chặn. Chỉ thành khi Kỵ rơi đúng cung Lộc Tồn.
- Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung nặng nhất, giáp cũng nặng): giữ chặt gặp tiêu tán, vừa vướng vừa hao.
- Đà La (đồng cung): sao trì kéo gặp sao giữ chặt, việc gì cũng dây dưa, lòng thì ôm lâu không nói.
- Thiên Riêu (đồng cung): cùng Đà La và Hóa Kỵ hợp thành bộ Tam ám, che mờ ánh sáng của Nhật Nguyệt.
- Cự Môn (đồng cung): ám tinh gặp ám khí, Tân Biên ghi là gây bệnh tật tai họa nặng, thị phi kiện cáo.
- Hóa Kỵ khác tầng đậu cùng cung (đồng cung, cộng dồn): Song Kỵ, đếm được bao nhiêu tầng thì nặng bấy nhiêu phần.
- Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung): cái vướng thêm phần nóng vội, chuyện nhỏ dễ thành to vì nói năng lúc đang giận.
Hóa Kỵ là cái khí giữ chặt và ám trệ. Đặt vào chỗ cần giữ thì thành giữ của; đặt vào chỗ cần thông thì thành bế tắc. Hiểu được điều này mới biết Hóa Kỵ không phải lúc nào cũng đáng sợ.
Hóa Kỵ Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Mọi mục phía trên nói về cái Kỵ "tĩnh": nó bám sao nào, đóng cung nào. Nhưng Hóa Kỵ là sao động nhất trong cả lá số, vì mỗi tầng can lại sinh ra một Kỵ mới. Đây là chỗ khách hỏi nhiều nhất, và cũng là chỗ người luận dễ nói quá lời nhất.
Đại vận đi vào cung có Hóa Kỵ bản mệnh
Khi đại vận mười năm rơi đúng vào cung có Kỵ bản mệnh, lĩnh vực của cung ấy trở thành chủ đề chính của cả một thập niên. Đại vận vào cung Tài Bạch có Kỵ là mười năm bận tâm về tiền: không nhất thiết là mười năm nghèo, mà là mười năm tiền bạc chiếm phần lớn tâm trí, có thể là mười năm cày để trả nợ, cũng có thể là mười năm dựng cơ nghiệp bằng cách thắt lưng buộc bụng. Đại vận vào cung Phu Thê có Kỵ là mười năm chuyện gia đạo phải giải quyết. Thầy vẫn nói với khách một câu: đại vận đi vào cung có Kỵ là mười năm học một bài. Học xong thì qua, không học thì đại vận sau lại phải học lại bằng cách khác. Người chịu nhìn thẳng vào cái Kỵ của mình thường qua vận nhanh hơn người né tránh.
Hóa Kỵ của đại vận, tầng ít người xét
Mỗi cung đại vận có thiên can riêng, và can ấy sinh ra một bộ Tứ Hóa của riêng đại vận đó. Cái Kỵ này bay tới một cung, và cung ấy chính là nơi phải cẩn thận trong mười năm ấy, dù cung đó không hề có Kỵ bản mệnh. Cách đọc rất tiện: lấy cung đại vận làm Mệnh mới, rồi xem Kỵ đại vận rơi vào cung nào tính theo Mệnh mới ấy. Kỵ đại vận rơi vào cung Tài của đại vận thì mười năm ấy tiền là chỗ vướng. Kỵ đại vận bay ngược về cung Mệnh gốc thì mười năm ấy chính con người mình thay đổi, thường là thay đổi vì bị hoàn cảnh ép. Kỵ đại vận trùng đúng cung có Kỵ bản mệnh thì đó là hai tầng chồng nhau suốt mười năm, đây mới là đại vận cần chuẩn bị kỹ.
Hóa Kỵ lưu niên: năm nào sao nào bị Kỵ
Tứ Hóa lưu niên lấy theo can của năm xem, dùng đúng bảng như Tứ Hóa bản mệnh. Vì thế cứ mười năm một vòng, mỗi ngôi sao trong lá số của mọi người lại lần lượt bị Kỵ một lần. Bảng dưới liệt kê các năm gần đây và sắp tới cho từng can, để quý vị tra nhanh.
Giáp
- Sao lưu hóa Kỵ: Thái Dương
- Các năm gần đây và sắp tới: 2014 Giáp Ngọ · 2024 Giáp Thìn · 2034 Giáp Dần
- Đọc thế nào: Năm giữ mắt, giữ tiếng; để ý sức khỏe cha hoặc chồng; công việc dễ bị soi.
Ất
- Sao lưu hóa Kỵ: Thái Âm
- Các năm gần đây và sắp tới: 2015 Ất Mùi · 2025 Ất Tỵ · 2035 Ất Mão
- Đọc thế nào: Năm tiền tích lũy dễ phải rút ra; lo ngầm, mất ngủ; để ý sức khỏe mẹ hoặc vợ.
Bính
- Sao lưu hóa Kỵ: Liêm Trinh
- Các năm gần đây và sắp tới: 2016 Bính Thân · 2026 Bính Ngọ · 2036 Bính Thìn
- Đọc thế nào: Năm cẩn thận giấy tờ, hợp đồng, kiện tụng; máu huyết và tình cảm dễ rối.
Đinh
- Sao lưu hóa Kỵ: Cự Môn
- Các năm gần đây và sắp tới: 2017 Đinh Dậu · 2027 Đinh Mùi · 2037 Đinh Tỵ
- Đọc thế nào: Năm của thị phi và hiểu lầm; nói ít lại, viết rõ ra, đừng để lời truyền miệng.
Mậu
- Sao lưu hóa Kỵ: Thiên Cơ
- Các năm gần đây và sắp tới: 2018 Mậu Tuất · 2028 Mậu Thân · 2038 Mậu Ngọ
- Đọc thế nào: Năm kế hoạch hay đổi, tính nhiều mà chưa ra; đừng đổi hướng liên tục.
Kỷ
- Sao lưu hóa Kỵ: Văn Khúc
- Các năm gần đây và sắp tới: 2019 Kỷ Hợi · 2029 Kỷ Dậu · 2039 Kỷ Mùi
- Đọc thế nào: Năm giấy tờ và chữ nghĩa dễ sai sót; kiểm lại hợp đồng, hồ sơ, đơn từ.
Canh
- Sao lưu hóa Kỵ: Thiên Tướng (Nam phái) · Thiên Đồng (Bắc phái)
- Các năm gần đây và sắp tới: 2020 Canh Tý · 2030 Canh Tuất · 2040 Canh Thân
- Đọc thế nào: Nam phái: năm chớ đứng tên hộ, chớ bảo lãnh. Bắc phái: năm muốn yên mà khó yên.
Tân
- Sao lưu hóa Kỵ: Văn Xương
- Các năm gần đây và sắp tới: 2021 Tân Sửu · 2031 Tân Hợi · 2041 Tân Dậu
- Đọc thế nào: Năm hồ sơ, bằng cấp, thủ tục dễ trục trặc; nộp sớm và giữ bản sao.
Nhâm
- Sao lưu hóa Kỵ: Vũ Khúc
- Các năm gần đây và sắp tới: 2022 Nhâm Dần · 2032 Nhâm Tý · 2042 Nhâm Tuất
- Đọc thế nào: Năm tiền dễ kẹt, cho vay khó đòi, đầu tư chôn vốn; giữ tiền mặt một phần.
Quý
- Sao lưu hóa Kỵ: Tham Lang
- Các năm gần đây và sắp tới: 2023 Quý Mão · 2033 Quý Sửu · 2043 Quý Hợi
- Đọc thế nào: Năm ham muốn dễ dẫn đi xa mục tiêu; chọn một việc mà làm cho xong.
Cách đọc nhanh mà chắc gồm ba bước. Bước một, xem năm ấy can gì, tra bảng trên để biết sao nào bị lưu Kỵ. Bước hai, tìm sao ấy trên lá số của mình xem nó đang đóng cung nào, đó là cung phải để ý trong năm. Bước ba, hỏi cung ấy đã có Kỵ bản mệnh chưa, đã có Kỵ đại vận chưa: có một tầng nữa là nặng thêm một bậc. Ví dụ gọn: người tuổi Nhâm có Vũ Khúc hóa Kỵ ở Tài Bạch, tới năm can Nhâm thì Vũ Khúc lại lưu hóa Kỵ ngay tại Tài Bạch, thành Song Kỵ trong năm, đó là năm không nên cho vay và không nên rót vốn vào chỗ khó rút. Trên trang an lá số, chọn năm xem là lá số tự hiện Tứ Hóa lưu và các sao lưu của năm ấy.
Các lưu sao chạm vào cung có Hóa Kỵ
- Lưu Thái Tuế tới cung có Kỵ: năm có việc dính tới công quyền, giấy tờ, danh phận. Kỵ được giải thì là thủ tục lằng nhằng rồi xong; Kỵ nặng thì là chuyện phải theo đuổi lâu.
- Lưu Kình Dương, lưu Đà La tới cung có Kỵ: đây là lúc thế Kình Đà giáp Kỵ có thể tái hiện theo năm dù bản mệnh không có. Năm ấy việc trong cung ấy bị chặn cả trước lẫn sau, nên chủ động đi sớm hơn dự định.
- Lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ tới cung Tật Ách hoặc Phụ Mẫu đang có Kỵ: đây là tổ hợp Thầy luôn dặn khách đi khám sớm, cho mình và cho cha mẹ. Không kết luận điều gì nặng nề, chỉ là đi khám.
- Lưu Xương Khúc, lưu Khôi Việt tới cung có Kỵ: năm có quý nhân và có cơ hội giấy tờ; nếu năm ấy lại có lưu Khoa chiếu tới nữa thì là năm thích hợp để gỡ những việc tồn đọng.
- Lưu Hóa Lộc tới cung có Kỵ bản mệnh: thành Lộc Kỵ đồng cung theo năm, tức năm có tiền vào mà cũng có khoản phải chi lớn. Nhiều người năm ấy vừa được thưởng vừa phải sửa nhà, đó là tượng rất đúng của thế này.
Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Hóa Kỵ
Không sao nào trong Đẩu Số bị gán oan nhiều như Hóa Kỵ. Chỉ một chữ Kỵ mà làm bao nhiêu người xem lá số của chính mình rồi mất ngủ. Mục này nói rõ sách nói gì và không nói gì.
Hóa Kỵ không phải án tử, Kỵ là cái vướng chứ không phải cái chết
Đây là điều quan trọng nhất của cả bài. Tân Biên xếp Hóa Kỵ vào loại hung tinh và ghi các nghĩa trở ngại, thị phi, bệnh tật, nhưng cũng chính Tân Biên ghi Hóa Kỵ giữ của cải bền vững, và ghi Hóa Kỵ đắc địa tại Tứ Mộ thì đỡ lo bệnh tật tai họa. Sách chưa bao giờ nói Hóa Kỵ định đoạt sinh tử của một người. Thầy nói thẳng với quý vị: Kỵ là cái vướng, cái bận tâm, chứ không phải cái chết. Và có Kỵ mới có chỗ dụng công. Một lá số toàn Lộc mà không có chỗ nào phải cố, thì cái Lộc ấy cũng trôi qua tay mà người không lớn lên được. Cái Kỵ chính là nơi đời bắt người ta phải học một điều gì đó cho đến nơi đến chốn, và trên lá số thật, chỗ có Kỵ rất hay lại là chỗ người ấy giỏi nhất về sau. Người có Vũ Khúc Kỵ mà thành người quản tiền chặt chẽ nhất nhà, người có Cự Môn Kỵ mà thành người viết và nói cẩn trọng nhất, đó không phải chuyện hiếm. Ai cũng có ít nhất một cung mang Kỵ bản mệnh, không trừ một ai, nên nếu Kỵ là án tử thì cả thiên hạ đều mang án.
Kỵ ở cung nào thì đọc lĩnh vực ấy, không phán chung cho cả đời
Sách an Hóa Kỵ vào một cung cụ thể, và nghĩa của nó là nghĩa của cung ấy. Sách không nói Kỵ ở một cung thì cả lá số hỏng. Đây là lỗi nặng nhất mà Thầy hay gặp khi đọc lại lời luận của người khác: thấy Kỵ ở Phu Thê liền nói "số này hôn nhân bất hạnh", thấy Kỵ ở Tài Bạch liền nói "số này vất vả về tiền cả đời". Nói đúng phải là: cung Phu Thê có Kỵ thì chuyện vợ chồng là chỗ phải dụng công, còn hạnh phúc hay không thì phải xem thêm Phúc Đức, xem chính tinh, xem đại vận, xem cả người bạn đời. Một cung có Kỵ trong mười hai cung không quyết định được đời người, cũng như một câu khó trong bài thi không quyết định được điểm cả bài.
Hóa Kỵ trong Tử Vi không phải "sao xấu chiếu mệnh" của cúng sao giải hạn
Hai hệ hoàn toàn khác nhau. Sao hạn mà người ta cúng đầu năm thuộc hệ Cửu Diệu gồm La Hầu, Thổ Tú, Thủy Diệu, Thái Bạch, Thái Dương, Vân Hán, Kế Đô, Thái Âm, Mộc Đức, an theo tuổi mụ và giới tính, mỗi năm đổi một sao. Hóa Kỵ trong Tử Vi Đẩu Số là hóa khí sinh theo thiên can, bám vào chính tinh trên lá số. Người có Hóa Kỵ nặng trong lá số vẫn có thể gặp năm sao hạn tốt, và ngược lại. Muốn tra sao hạn từng năm thì dùng công cụ sao hạn, không phải bài này.
Không có chuyện "cúng để mất Hóa Kỵ"
Hóa Kỵ sinh ra từ thiên can năm sinh, mà thiên can năm sinh thì không đổi được. Cho nên không có nghi lễ nào làm cho Hóa Kỵ biến khỏi lá số, cũng như không có vật phẩm nào gỡ được nó ra. Cái đổi được là cách người ấy sống với cái Kỵ của mình: biết trước lĩnh vực nào dễ vướng thì chuẩn bị sớm, làm kỹ, đừng chủ quan. Thầy dặn kỹ điều này vì nó liên quan tới túi tiền của quý vị: hễ ai nói có cách xóa Hóa Kỵ trên lá số, xin quý vị hiểu rằng khoa Đẩu Số không có chỗ nào nói như vậy.
Hóa Kỵ không đồng nghĩa với nghèo, cũng không đồng nghĩa với bệnh
Nghèo giàu trong lá số do cung Tài Bạch, cung Điền Trạch, các tài tinh như Vũ Khúc, Thiên Phủ, Lộc Tồn và bộ Tứ Hóa nói chung quyết định, không do một mình chữ Kỵ. Bệnh tật đọc ở cung Tật Ách và theo tạng của sao, không đọc từ chữ Kỵ. Trên lá số thật, người có Kỵ ở Tài Bạch rất hay là người giữ tiền giỏi, đúng như Tân Biên ghi Hóa Kỵ giữ của cải bền vững; cái vướng của họ thường là tiền khó rút ra chứ không phải không có tiền. Cho nên nghe tới Kỵ ở Tài Bạch, câu hỏi đúng là "tiền của anh chị đang nằm ở đâu mà khó động tới", chứ không phải "anh chị có nghèo không".
Lời khuyên và cách hóa giải
Với Hóa Kỵ, hóa giải là biết tránh những thế hung, tận dụng mặt giữ của, và tu dưỡng tâm tính để giảm thị phi.
- Thận trọng ở cung Hóa Kỵ đóng. Đó là lĩnh vực dễ vướng nhất, cần cẩn thận giấy tờ, lời nói, quan hệ.
- Tránh tranh chấp kiện tụng. Hóa Kỵ chủ thị phi; nhường một bước thường hóa giải được nhiều rắc rối.
- Tận dụng mặt giữ của. Cái khí giữ chặt của Hóa Kỵ hợp với tiết kiệm, tích lũy, quản tài chặt chẽ.
- Tu tâm, tĩnh trí. Bớt ghen ghét, bớt nghĩ ngợi tiêu cực chính là cách hóa giải gốc rễ của sao này.
- Xem cả lá số. Hóa Kỵ hung hay nhẹ tùy nó bám sao nào, đắc hay hãm, có Hóa Khoa giải hay bị Kình Đà giáp.
Gợi ý: người có Hóa Kỵ nổi bật nên xem nó như lời nhắc cẩn trọng ở một lĩnh vực, đồng thời tận dụng tính giữ của; tâm an và sống ngay thẳng là cách hóa giải bền nhất.
Câu hỏi thường gặp
Hóa Kỵ là chân thứ tư của bộ Tứ Hóa Tử Vi Đẩu Số, hành Thủy, là hóa khí duy nhất mang tính hung. Nó phủ lên một chính tinh tầng ám trệ: trở ngại, vướng mắc, ganh ghét, thị phi, hao tổn; nhưng đặt đúng chỗ lại có thể giữ của bền.
Giáp Thái Dương, Ất Thái Âm, Bính Liêm Trinh, Đinh Cự Môn, Mậu Thiên Cơ, Kỷ Văn Khúc, Canh Thiên Đồng, Tân Văn Xương, Nhâm Vũ Khúc, Quý Tham Lang. Sao bị Hóa Kỵ là nơi cần thận trọng nhất trong lá số.
Không. Hóa Kỵ chủ trở ngại nhưng cũng giữ của cải bền. Đắc địa ở Tứ Mộ thì cái hung giảm nhẹ; ở Sửu Mùi gặp Nhật Nguyệt thì làm sáng thêm; ở Tỵ Hợi gặp Liêm Tham thì chế hung; gặp Hóa Khoa thì được giải. Cần luận trong trọn bộ lá số.
Là khi Cự Môn hoặc Thiên Cơ gặp Hóa Kỵ, chủ thị phi kiện cáo nặng. Cùng với Kình Đà giáp Kỵ và bộ Tam ám (Hóa Kỵ, Đà La, Thiên Riêu) che Nhật Nguyệt, đây là các thế hung cần đặc biệt thận trọng.
Thận trọng ở cung Hóa Kỵ đóng, tránh tranh chấp kiện tụng, tận dụng mặt giữ của để tiết kiệm tích lũy, tu tâm tĩnh trí để giảm thị phi, và xem cả lá số để biết Hóa Kỵ có được Hóa Khoa giải hay bị Kình Đà giáp.
Kỵ chồng Kỵ, còn gọi là Song Kỵ, là khi hai tầng Hóa Kỵ trở lên cùng đậu vào một cung: Kỵ của can năm sinh, Kỵ của can đại vận, Kỵ của can năm xem, hoặc Kỵ phi hóa từ can của một cung khác bay tới. Một tầng chỉ là lời nhắc, ai cũng có. Hai tầng thì nên để ý. Ba tầng trở lên mới là lúc phải chuẩn bị kỹ cho lĩnh vực của cung ấy, và cũng chỉ trong quãng thời gian có hạn của vận hay của năm chứ không phải cả đời.
Là khi Hóa Lộc và Hóa Kỵ cùng đóng một cung, đọc ra tượng tiền vào tiền ra, được rồi lại phải chi. Đây không phải thế hung mà là thế dòng chảy, hợp với nghề có dòng tiền lớn chạy qua tay hơn là nghề ăn lương cố định. Nếu chỉ xét Tứ Hóa của can năm sinh thì trong mười can chỉ tuổi Ất tạo được thế này một cách trọn vẹn, khi Thiên Cơ hóa Lộc và Thái Âm hóa Kỵ cùng đứng trong bộ Cơ Âm. Ngoài ra thế này rất hay xuất hiện khi Lộc lưu niên rơi vào cung có Kỵ bản mệnh.
Hóa Khoa gặp Hóa Kỵ thì cái ám được soi cho rõ và chuyện rối có người gỡ hộ, mạnh nhất khi đồng cung, kế là xung chiếu, nhẹ hơn là tam hợp chiếu. Nhưng đó là giảm nhẹ chứ không xóa, sách chưa bao giờ nói Khoa làm mất Kỵ. Đáng chú ý là Khoa và Kỵ của cùng một tuổi can hầu như không gặp nhau: trong phạm vi các chính tinh chỉ tuổi Đinh có Thiên Cơ hóa Khoa đồng cung được với Cự Môn hóa Kỵ. Cho nên cái Khoa cứu Kỵ thường phải đến từ đại vận, lưu niên hoặc phi hóa.
Có. Hai cung xung chiếu nhau chung một trục nên không tách rời được. Kỵ đóng ở Mệnh thì Thiên Di bị kéo theo, Kỵ đóng ở Phu Thê thì Quan Lộc đối diện chịu lây, Kỵ đóng ở Tài Bạch thì Phúc Đức đối diện chịu. Trên lá số thật, cái cung bị xung nhiều khi lộ rõ hơn cả cung có Kỵ, vì cung có Kỵ là chỗ mình biết mình vướng, còn cung bị xung là chỗ mình không ngờ tới.