Tử Vi
Sao Hóa Quyền: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung
Tìm hiểu sao Hóa Quyền trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.
Tổng quan về sao Hóa Quyền
Hóa Quyền là một trong bốn hóa khí của bộ Tứ Hóa, hành Mộc, sinh theo can năm sinh. Cũng như Hóa Lộc, nó không có chỗ đứng cố định mà bám vào một chính tinh, khoác thêm cho sao ấy phần quyền uy, sức mạnh và khả năng nắm bắt.
Sao nào được Hóa Quyền thì như người được trao ấn lệnh: thêm uy, thêm thế, dám đứng ra cầm trịch và làm chủ tình thế ở lĩnh vực sao ấy cai quản.
- Ngũ hành: Mộc đới Thủy
- Nhóm: Tứ Hóa (Lộc Quyền Khoa Kỵ)
- Tính chất: Cát tinh, quyền uy
- Cách phát sinh: Theo can năm sinh
- Cai quản: Quyền lực, uy thế, sự làm chủ
- Hợp gặp: Hóa Lộc, Hóa Khoa, chính tinh miếu vượng
- Kỵ: Không Kiếp, Tuần Triệt, sát tinh nặng
Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.
Ý nghĩa tại cung Mệnh
- Quyền bám chính tinh sáng, hội cát: Quyết đoán, có khí thế, tự mình định đoạt đời mình; người khác tự nhiên nghe theo mà không cần chức danh.
- Quyền bám sao hung hoặc gặp sát tinh: Cứng đầu, áp đặt, không chịu ai; càng bị cản càng làm tới, dễ hỏng việc vì không lùi được.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Quyền đồng cung Kỵ tại Mệnh là người vừa mạnh vừa vướng, nói được làm được nhưng luôn có một chỗ tự mình buộc mình. Quyền gặp Không Kiếp tại Mệnh là quyền hư, nói to mà không có thực lực đằng sau.
Ý nghĩa ở các cung khác
Đối chiếu ý nghĩa của Hóa Quyền với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.
Cung Phụ Mẫu
- Quyền bám chính tinh sáng, hội cát: Cha mẹ có uy, có vị thế; được thừa hưởng nề nếp và chỗ đứng của gia đình.
- Quyền bám sao hung hoặc gặp sát tinh: Cha mẹ nghiêm khắc quá, áp đặt đường đi; con lớn lên hay phản ứng ngược hoặc rời nhà sớm.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Quyền tại Phụ Mẫu là người trên có tiếng nói quyết định với mình, kể cả khi đã trưởng thành. Vũ Khúc Quyền đồng cung Thiên Tướng Kỵ tại Dần hoặc Thân, tuổi Canh, là thế cha mẹ mạnh mà quan hệ có chỗ nghẽn, cần chủ động nối lời.
Cung Phúc Đức
- Quyền bám chính tinh sáng, hội cát: Tinh thần chủ động, tự quyết, không lệ thuộc; sống theo nguyên tắc riêng và thấy an với điều đó.
- Quyền bám sao hung hoặc gặp sát tinh: Ép mình quá mức, ôm việc vì không tin ai; nghỉ ngơi cũng phải theo kế hoạch, khó thư giãn.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Quyền tại Phúc Đức là người mà lòng tự trọng cao hơn mức trung bình rất nhiều. Gặp Kỵ thì thành cố chấp, nghĩ nhiều về chuyện hơn thua.
Cung Điền Trạch
- Quyền bám chính tinh sáng, hội cát: Tự đứng tên và tự quản cơ ngơi; nhà cửa do mình quyết, có tài sản gắn với sự nghiệp.
- Quyền bám sao hung hoặc gặp sát tinh: Tranh chấp nhà đất, giấy tờ phải giành; sửa chữa xây dựng hay lấn cấn với người trong họ.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Quyền tại Điền là người quyết định chuyện mua bán nhà trong gia đình. Quyền gặp Kỵ tại Điền thì nhà đất có một điểm vướng về pháp lý cần xử sớm.
Cung Quan Lộc
- Quyền bám chính tinh sáng, hội cát: Vị trí Hóa Quyền thích nhất: sự nghiệp có thực quyền, được giao quản lý, chỉ huy; chức và quyền đi cùng nhau.
- Quyền bám sao hung hoặc gặp sát tinh: Có chức mà không có người theo, hoặc có quyền mà việc rối; ôm việc rồi kiệt sức.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Quan Lộc có Quyền lại được Lộc và Khoa chiếu về là thế Tam Kỳ hội về sự nghiệp, thường quý hơn Tam Kỳ hội về Mệnh. Quan có Quyền mà gặp Tuần Triệt thì quyền bị ngăn, thăng chức muộn.
Cung Nô Bộc
- Quyền bám chính tinh sáng, hội cát: Cấp dưới có năng lực, dám nhận việc; bạn bè là người có thế lực và giúp được việc lớn.
- Quyền bám sao hung hoặc gặp sát tinh: Cấp dưới lấn quyền, bạn bè chi phối mình; mình đứng tên mà người khác điều khiển.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Đây là cung phải luận rất kỹ, xem mục cách cục. Quyền tại Nô Bộc mà Mệnh không có Quyền, lại thêm Kỵ, là thế quyền nằm ở tay người khác. Ký kết, ủy quyền, đứng tên hộ đều phải cẩn trọng.
Cung Thiên Di
- Quyền bám chính tinh sáng, hội cát: Ra ngoài có vị thế, đi đến đâu cũng được giao việc cầm trịch; hợp làm ăn xa, hợp môi trường cạnh tranh.
- Quyền bám sao hung hoặc gặp sát tinh: Ra ngoài hay va chạm vì không nhường; dễ vướng tranh chấp nơi đất khách.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Quyền tại Thiên Di mà Mệnh nhẹ là thế người ngoài quý mà người nhà không phục. Thêm Thiên Mã thì đi xa mà nắm việc, hợp mở chi nhánh, hợp nhận nhiệm sở mới.
Cung Tật Ách
- Quyền bám chính tinh sáng, hội cát: Thể chất bền, sức chịu đựng cao, ý chí thắng bệnh tốt; bệnh đến rồi đi nhanh.
- Quyền bám sao hung hoặc gặp sát tinh: Bệnh cấp và mạnh chứ không âm ỉ; hay chủ quan vì tin vào sức mình nên phát hiện muộn.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Quyền tại Tật Ách không phải là cung nên vui: nó khuếch đại đặc tính bệnh của sao chủ. Thái Dương Quyền thì để ý huyết áp, Vũ Khúc Quyền thì để ý hô hấp và răng xương, Cự Môn Quyền thì để ý tiêu hóa và họng.
Cung Tài Bạch
- Quyền bám chính tinh sáng, hội cát: Chủ động trong tiền bạc, nắm được nguồn thu, tự quyết chi tiêu và đầu tư; tiền do mình định đoạt.
- Quyền bám sao hung hoặc gặp sát tinh: Ôm quá nhiều khoản, quyết chi liều, dùng đòn bẩy quá tay; tiền có mà luôn căng.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Vũ Khúc Quyền tại Tài là người cầm ngân khố thật sự. Quyền gặp Kỵ tại Tài là tiền vào nhiều mà luôn có một khoản khóa chặt không rút ra được.
Cung Tử Tức
- Quyền bám chính tinh sáng, hội cát: Con cái có chí, sớm tự lập, có bản lĩnh riêng; học trò và người mình dìu dắt về sau có vị thế.
- Quyền bám sao hung hoặc gặp sát tinh: Con bướng, khó dạy bằng roi vọt và mệnh lệnh; càng ép càng chống.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Quyền tại Tử Tức thì cách dạy con phải đổi: giao việc và giao quyền chọn, đừng ra lệnh. Quyền gặp sát tinh tại đây là con sớm rời nhà đi theo ý mình.
Cung Phu Thê
- Quyền bám chính tinh sáng, hội cát: Bạn đời giỏi giang, có chủ kiến, gánh được việc lớn; nhà có người cầm lái rõ ràng.
- Quyền bám sao hung hoặc gặp sát tinh: Bạn đời lấn lướt, mọi việc phải theo ý người ấy; hai bên tranh quyền thì gia đạo nặng nề.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Quyền tại Phu Thê mà Mệnh có Kỵ là thế mình nhường quyền. Vũ Khúc Quyền tại Phu Thê thì bạn đời cứng, cần Hóa Khoa hoặc Thiên Đồng làm mềm. Cự Môn Quyền tại Phu Thê thì cãi nhau bằng lời rất sắc, nên tránh nói lúc nóng.
Cung Huynh Đệ
- Quyền bám chính tinh sáng, hội cát: Anh em hoặc cộng sự có thực lực, dám đứng ra gánh; hợp làm ăn chung có người cầm trịch rõ ràng.
- Quyền bám sao hung hoặc gặp sát tinh: Anh em lấn quyền, cộng sự tranh phần quyết; hùn hạp dễ vỡ vì không ai chịu ai.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Quyền tại Huynh Đệ mà Mệnh không có Quyền là thế mình đứng tên, người khác quyết. Thêm Kình Đà thì bất hòa vì quyền lợi chứ không phải vì tình.
Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Hóa Quyền không phải một ngôi sao có chỗ ngồi riêng trên lá số. Nó là một hóa khí, tức một trạng thái được rót thêm vào một chính tinh đã có sẵn. Vì vậy câu hỏi đúng không phải "Hóa Quyền an ở cung nào" mà là "Hóa Quyền bám vào sao nào, và sao ấy đang đứng ở cung nào". Người mới học hay đi tìm Hóa Quyền như tìm Lộc Tồn hay Thiên Mã, rồi bối rối vì không có bảng vị trí theo chi năm hay theo giờ sinh. Không có, và sẽ không bao giờ có, vì bản chất của nó khác hẳn.
Tham số duy nhất sinh ra Hóa Quyền là thiên can. Mười can sinh ra mười sao hóa Quyền, mỗi can đúng một sao, không thiếu không thừa. Nhưng thiên can trong Tử Vi có tới bốn tầng, và đây là chỗ nhiều bài viết trên mạng bỏ qua:
- Can năm sinh sinh ra Tứ Hóa bản mệnh, đi theo người suốt đời, đây là tầng nặng nhất.
- Can của cung đại vận sinh ra Tứ Hóa đại vận, chỉ có hiệu lực trong mười năm ấy.
- Can của năm xem sinh ra Tứ Hóa lưu niên, chỉ có hiệu lực trong một năm.
- Can của từng cung trên lá số sinh ra phi hóa, tức hóa bay từ cung này sang cung kia, là tầng luận sâu của Bắc phái.
Cùng một lá số, Hóa Quyền có thể xuất hiện ở bốn tầng cùng lúc và ở bốn cung khác nhau. Một người tuổi Nhâm có Tử Vi hóa Quyền suốt đời; đi vào đại vận có can Canh thì thêm Vũ Khúc hóa Quyền của mười năm ấy; gặp năm Quý thì thêm Cự Môn hóa Quyền của năm ấy. Ba cái Quyền này không cộng dồn thành một cái Quyền to hơn, mà chồng lớp: Quyền bản mệnh là bản tính, Quyền đại vận là cái vai người ấy đang đóng, Quyền lưu niên là cái việc năm nay người ấy phải cầm trịch. Đọc sai tầng là luận sai vận.
Bảng dưới đây là bảng gốc, sinh trực tiếp từ thuật toán an sao đang chạy trên trang an lá số, chứ không chép từ trí nhớ:
Giáp
- Sao hóa Quyền: Phá Quân
Ất
- Sao hóa Quyền: Thiên Lương
Bính
- Sao hóa Quyền: Thiên Cơ
Đinh
- Sao hóa Quyền: Thiên Đồng
Mậu
- Sao hóa Quyền: Thái Âm
Kỷ
- Sao hóa Quyền: Tham Lang
Canh
- Sao hóa Quyền: Vũ Khúc
Tân
- Sao hóa Quyền: Thái Dương
Nhâm
- Sao hóa Quyền: Tử Vi
Quý
- Sao hóa Quyền: Cự Môn
Bốn điều bất biến của Hóa Quyền
- Chỉ mười chính tinh được hóa Quyền, bốn sao thì không bao giờ. Chạy đủ mười can thì thấy Hóa Quyền chỉ rơi vào Phá Quân, Thiên Lương, Thiên Cơ, Thiên Đồng, Thái Âm, Tham Lang, Vũ Khúc, Thái Dương, Tử Vi, Cự Môn. Bốn sao Liêm Trinh, Thiên Phủ, Thiên Tướng, Thất Sát không bao giờ hóa Quyền với bất kỳ tuổi nào. Ai nói "Thất Sát hóa Quyền" hay "Thiên Phủ hóa Quyền" là đã nhớ nhầm bảng.
- Hóa Quyền là hóa duy nhất mà Nam phái và Bắc phái không có chỗ nào lệch nhau. Đối chiếu bảng Nam phái với bảng Bắc phái mà máy chủ đang dùng thì thấy Hóa Khoa lệch ở tuổi Canh và tuổi Nhâm, Hóa Kỵ lệch ở tuổi Canh. Riêng cột Quyền, mười can của hai phái trùng khít, không lệch một ô nào. Đây là điều Thầy đã cho chạy đối chiếu từng ô, và cũng là lý do Hóa Quyền là chỗ ít tranh cãi nhất trong bộ Tứ Hóa.
- Không có chính tinh nào vừa hóa Quyền vừa hóa Kỵ với cùng một can. Quyền và Kỵ của một tuổi luôn là hai sao khác nhau, nên "Quyền Kỵ đồng tinh" không tồn tại ở tầng bản mệnh; chỉ có "Quyền Kỵ đồng cung", tức hai sao khác nhau cùng ngồi một cung, và điều này chỉ xảy ra với ba tuổi (xem mục cách cục).
- Ba sao Thiên Phủ, Thiên Tướng, Thất Sát không nằm trong bất kỳ cột nào của bảng Quyền, nên khi ba sao ấy thủ Mệnh, cái quyền của người đó không đến từ Hóa Quyền bản mệnh mà phải đến từ sao chiếu về, từ đại vận, hoặc từ Lộc Tồn và bộ phò tá. Đây là điểm phân biệt rất hữu dụng khi luận: cùng là người có uy, người Tử Vi Quyền có uy từ trong mệnh, người Thiên Phủ có uy từ hoàn cảnh.
Vì Hóa Quyền bám sao, nên mọi tính chất cấu trúc của nó là tính chất của sao chủ. Muốn biết Hóa Quyền của một tuổi có thể ngồi những cung nào, hội những sao nào, phải tra cấu trúc của sao chủ. Ví dụ tuổi Bính, Thiên Cơ hóa Quyền, mà Thiên Cơ thuộc bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương nên cái Quyền ấy luôn nằm trong khí vị mềm, linh động, thiên về mưu và về kế hoạch. Tuổi Giáp, Phá Quân hóa Quyền, mà Phá Quân thuộc bộ Sát Phá Tham nên cái Quyền ấy luôn nằm trong khí vị phá cũ lập mới, quyết liệt, đổi thay. Quyền không tự có màu; nó ăn màu của sao nó bám.
Có một hệ quả cấu trúc rất tiện mà Thầy hay dùng khi xem nhanh. Chạy đối chiếu vị trí sao hóa Quyền với sao hóa Lộc của cùng một tuổi qua đủ mười hai thế Tử Vi, thì thấy: năm tuổi Giáp, Ất, Đinh, Kỷ, Tân có Quyền và Lộc thuộc hai sao có thể ngồi chung một cung (Giáp là Phá Quân với Liêm Trinh tại Mão hoặc Dậu, Ất là Thiên Lương với Thiên Cơ tại Thìn hoặc Tuất, Đinh là Thiên Đồng với Thái Âm tại Tý hoặc Ngọ, Kỷ là Tham Lang với Vũ Khúc tại Sửu hoặc Mùi, Tân là Thái Dương với Cự Môn tại Dần hoặc Thân). Năm tuổi ấy là năm tuổi duy nhất có thể có Quyền Lộc đồng cung ở tầng bản mệnh. Năm tuổi còn lại là Bính, Mậu, Canh, Nhâm, Quý thì Quyền và Lộc không bao giờ chung cung, dù đổi giờ sinh, đổi tháng sinh thế nào cũng vậy, vì hai sao chủ của chúng không bao giờ đứng chung. Với năm tuổi sau, muốn có Quyền Lộc gặp nhau thì phải trông vào tam hợp, vào xung chiếu, hoặc vào tầng đại vận và lưu niên.
Một hệ quả nữa, ít người nói mà rất quan trọng khi bán chữ "Tam Kỳ Gia Hội" cho khách: không phải tuổi nào cũng có cơ hội hội đủ Khoa Quyền Lộc. Chi tiết ở mục cách cục, nhưng kết quả kiểm bằng thuật toán thì nêu ngay đây cho quý vị đỡ mừng hụt: chỉ bốn tuổi Giáp, Bính, Đinh, Tân là có thể; sáu tuổi Ất, Mậu, Kỷ, Canh, Nhâm, Quý thì ba hóa cát bản mệnh không bao giờ cùng chầu về một tam phương tứ chính, dù lá số dựng thế nào.
Ý nghĩa và đặc tính của Hóa Quyền
Theo Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, Hóa Quyền chủ sự mạnh bạo, mau mắn, oai vệ và thích nắm quyền hành. Người có Hóa Quyền nổi bật thường quyết đoán, có khí thế, dám gánh trách nhiệm và có khả năng chỉ huy.
Một đặc điểm quan trọng của Hóa Quyền là tính khuếch đại theo hai chiều: gặp nhiều sao tốt đẹp thì làm cho tốt đẹp thêm, gặp nhiều sao xấu xa thì làm cho xấu xa thêm. Vì thế Hóa Quyền là con dao trao thêm sức mạnh, mạnh để dựng hay mạnh để phá đều tùy bộ sao đi cùng.
Các Cách Cục Của Hóa Quyền Và Điều Kiện Thành Cách
Cách quý gắn với Hóa Quyền là bộ Khoa Quyền Lộc, tức ba hóa Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc cùng hội về Mệnh hoặc tam phương, chủ danh quyền tài đủ cả, công danh hiển đạt. Khi ba hóa cát này liên kết qua tam phương tứ chính thì gọi là Tam Hóa liên châu, một trong các cách đại cát.
Hóa Quyền đi với chính tinh đế vương như Tử Vi, hoặc tài tinh như Vũ Khúc, thì uy quyền càng rõ. Người luận số luôn xem Hóa Quyền rơi vào đâu để biết người ta mạnh và làm chủ được ở lĩnh vực nào.
Cách cục của Hóa Quyền phần lớn là cách tổ hợp hóa, tức xét Quyền đứng cạnh hóa nào, chứ không phải xét Quyền ở chi nào. Dưới đây mỗi cách ghi rõ điều kiện thành, điều kiện đủ đẹp hoặc đáng ngại, và điều kiện phá hoặc giải. Những con số về tuổi can trong mục này đều đã chạy đối chiếu bằng thuật toán an sao qua đủ mười can và mười hai thế Tử Vi.
Tam Kỳ Gia Hội (Khoa Quyền Lộc cùng chầu)
Thành cách: ba hóa cát Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc cùng có mặt trong tam phương tứ chính của một cung, thường xét ở Mệnh hoặc Quan Lộc. Toàn Thư phần Cốt Tủy Phú có câu "Khoa Quyền Lộc củng, danh dự chiêu chương", tức ba hóa chầu về thì danh tiếng rạng rỡ. Đây là cách quý nhất mà Hóa Quyền tham dự.
Đủ đẹp: ba hóa rơi vào chính tinh miếu vượng, có thêm Tả Hữu hoặc Khôi Việt, và không bị Tuần Triệt án ngữ cung chính. Cách này chủ danh, quyền, tài đủ cả, hợp người làm việc lớn có tổ chức. Phá cách: có Không Kiếp thủ tại cung chính, hoặc sát tinh nặng xen vào giữa; khi ấy ba hóa vẫn còn nhưng thành cái đẹp bề ngoài.
Đây là chỗ Thầy phải nói thẳng một điều mà rất nhiều bài viết trên mạng không nói, vì họ chưa chạy thử: không phải tuổi nào cũng có cửa vào cách này ở tầng bản mệnh. Cho chạy đủ mười can trên mười hai thế Tử Vi thì kết quả như sau. Chỉ bốn tuổi có thể hội đủ ba hóa cát trong một tam phương tứ chính: Giáp (Liêm Trinh Lộc, Phá Quân Quyền, Vũ Khúc Khoa), Đinh (Thái Âm Lộc, Thiên Đồng Quyền, Thiên Cơ Khoa), Bính và Tân (hai tuổi này Hóa Khoa rơi vào Văn Xương và Văn Khúc là phụ tinh an theo giờ sinh, nên còn tùy giờ, nhưng cửa thì có). Sáu tuổi Ất, Mậu, Kỷ, Canh, Nhâm, Quý thì ba hóa cát bản mệnh không bao giờ cùng chầu về một tam phương tứ chính, dù đổi giờ, đổi tháng, đổi thế Tử Vi thế nào cũng vậy, vì hai trong ba sao chủ luôn ở thế cách nhau một cung hoặc lệch nhau góc lẻ. Với sáu tuổi ấy, Tam Kỳ chỉ có thể xuất hiện khi mượn hóa của đại vận hoặc lưu niên, và khi đó nó chỉ có hiệu lực trong mười năm hoặc một năm chứ không phải cả đời.
Riêng hai tuổi Giáp và Đinh thì lá số nào cũng có một cung hội đủ ba hóa, chỉ khác nhau ở chỗ cung ấy là cung gì. Cho nên khi gặp lá số tuổi Giáp hay Đinh, việc nên làm là đi tìm cung ấy trước, vì đó là chỗ mạnh nhất của cả đời người. Nếu nó rơi vào Quan Lộc thì sự nghiệp là mặt trận chính; nếu rơi vào Nô Bộc hay Tật Ách thì phải luận rất khác, và đấy mới là chỗ nghề nghiệp của người xem số.
Quyền Lộc tuần phùng (Quyền và Lộc gặp nhau)
Thành cách: Hóa Quyền và Hóa Lộc đồng cung, hoặc xung chiếu, hoặc tam hợp chiếu nhau. Toàn Thư phần Cốt Tủy Phú có câu "Quyền Lộc tuần phùng, sát tấu, hư dự chi long", nghĩa là Quyền và Lộc gặp nhau vốn quý, nhưng nếu có sát tinh xen vào thì chỉ còn là cái danh hão. Chính câu phú ấy đã cài sẵn cả điều kiện thành lẫn điều kiện phá, nên Thầy dẫn nguyên câu để quý vị thấy người xưa cẩn trọng thế nào.
Đủ đẹp: Quyền và Lộc đồng cung, sao chủ miếu vượng, không có Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp trong cung ấy. Khi ấy quyền và lợi đi liền: người này quyết được và cũng hưởng được, không phải kiểu làm cho người khác ăn. Phá cách: đúng như câu phú, có sát tinh tấu vào; hoặc Tuần Triệt án ngữ khiến cả Quyền lẫn Lộc bị ngăn.
Phần cấu trúc đã kiểm bằng thuật toán: chỉ năm tuổi Giáp, Ất, Đinh, Kỷ, Tân có thể có Quyền Lộc đồng cung ở tầng bản mệnh, cụ thể là Giáp tại Mão hoặc Dậu, Ất tại Thìn hoặc Tuất, Đinh tại Tý hoặc Ngọ, Kỷ tại Sửu hoặc Mùi, Tân tại Dần hoặc Thân. Cũng năm tuổi ấy, khi hai sao không đồng cung thì chúng nằm ở thế xung chiếu (Giáp tại trục Tý Ngọ, Ất tại trục Sửu Mùi, Đinh tại trục Mão Dậu, Kỷ tại trục Thìn Tuất, Tân tại trục Tỵ Hợi). Năm tuổi còn lại là Bính, Mậu, Canh, Nhâm, Quý thì Quyền và Lộc không bao giờ chung cung; riêng Bính thì hai sao luôn tam hợp nhau nên vẫn coi là gặp, còn Mậu, Canh, Nhâm, Quý thì chỉ gặp qua đại vận và lưu niên.
Quyền gặp Kỵ cùng cung
Thành cách (đây là cách đáng ngại, không phải cách quý): Hóa Quyền và Hóa Kỵ của cùng một tuổi rơi vào cùng một cung. Kiểm bằng thuật toán thì chỉ ba tuổi có thể gặp thế này ở tầng bản mệnh: Đinh (Thiên Đồng Quyền cùng Cự Môn Kỵ tại Sửu hoặc Mùi), Mậu (Thái Âm Quyền cùng Thiên Cơ Kỵ tại Dần hoặc Thân), Canh (Vũ Khúc Quyền cùng Thiên Tướng Kỵ tại Dần hoặc Thân). Bảy tuổi còn lại không có cửa gặp thế này ở tầng bản mệnh, dù vẫn có thể gặp khi Quyền hoặc Kỵ đến từ đại vận, lưu niên hay phi hóa.
Đáng ngại ở chỗ nào: Quyền là sức đẩy, Kỵ là sức níu, hai thứ ấy đặt chung một cung thì thành cái động cơ chạy hết công suất mà chân phanh vẫn đạp. Người có thế này thường rất mạnh và rất bền, nhưng cả đời có một chỗ tự mình buộc mình: biết là nên buông mà không buông được, biết là nên nhẹ lời mà vẫn nói nặng. Tại Mệnh thì đó là tính cách; tại Tài Bạch thì đó là một khoản tiền hoặc một khoản nợ khóa chặt; tại Phu Thê thì đó là một chuyện trong hôn nhân mà hai bên cùng biết mà không ai nói ra.
Giải cách: không có phép trấn yểm nào ở đây, chỉ có ba đường thực tế. Một là có Hóa Khoa chiếu về, Khoa là danh chính ngôn thuận, nó làm mềm cả Quyền lẫn Kỵ. Hai là sao chủ miếu vượng, sao mạnh thì chịu được cả hai lực. Ba là chính chủ ý thức được và chủ động chọn chỗ buông, tức là đem cái Quyền ấy dùng vào việc khác, đừng dùng đúng vào chỗ Kỵ đang níu. Điều nên tránh là Tuần Triệt án ngữ cung ấy: nhiều người tưởng Tuần Triệt che được Kỵ, nhưng nó che luôn cả Quyền, thành ra vừa không đi được vừa không đứng yên được.
Quyền tại Nô Bộc (quyền ở tay người khác)
Thành cách: Hóa Quyền đóng tại cung Nô Bộc, trong khi cung Mệnh và cung Quan Lộc không có Quyền. Đây là một trong những thế Thầy dặn kỹ nhất, vì nó rất dễ bị đọc thành lời khen. Nhiều người thấy Quyền là mừng, quên mất một điều căn bản đã nói ở bảng mười hai cung: Hóa Quyền chỉ ra chỗ có quyền quyết định, chứ không nói người ấy là ai. Quyền ở Nô Bộc nghĩa là quyền quyết định nằm trong tay bạn bè, cộng sự, cấp dưới, người cùng hội cùng thuyền.
Đáng ngại: nếu thêm Hóa Kỵ tại Mệnh hoặc tại Tài Bạch, thêm Không Kiếp, hoặc thêm Đà La tại cung Nô Bộc, thì thế này rất dễ thành cảnh mình đứng tên mà người khác điều khiển: đứng tên vay hộ, đứng tên công ty, ký bảo lãnh, góp vốn mà không nắm sổ sách. Ngược lại, đủ đẹp khi Mệnh vững, sao chủ tại Nô Bộc miếu vượng và có Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc cùng chầu: khi ấy nó thành thế dùng được người giỏi, cấp dưới có thực lực mà vẫn ở dưới quyền mình, rất hợp người làm nghề tổ chức, nghề xây đội ngũ.
Cách kiểm nhanh: so cung Nô Bộc với cung Huynh Đệ ở thế xung chiếu, và so với cung Mệnh. Nếu Mệnh nhẹ mà Nô Bộc nặng thì thế lệch đã rõ. Lời khuyên rất giản dị và không hề huyền bí: người có thế này nên viết mọi thỏa thuận thành văn bản, đừng bao giờ để chuyện tiền bạc dựa vào tình bạn, và đừng ký thay ai bất cứ giấy tờ nào.
Quyền gặp Không Kiếp
Thành cách (cách đáng ngại): Hóa Quyền đồng cung hoặc bị giáp bởi Địa Không, Địa Kiếp. Sách gọi thế này là quyền hóa hư: có tiếng mà không có miếng, có danh phận mà không có thực lực điều động. Lý do nằm ở bản chất hai sao: Không là hư không, Kiếp là cướp đoạt; Quyền là cái nắm, mà cái nắm gặp cái hư thì nắm vào chỗ trống, gặp cái đoạt thì nắm được rồi bị lấy đi.
Về cấu trúc, Địa Không và Địa Kiếp an theo giờ sinh và luôn đối xứng nhau qua trục Tỵ Hợi. Kiểm bằng thuật toán thì hai sao này chỉ đồng cung với nhau ở đúng hai giờ sinh: sinh giờ Tý thì cả hai cùng tại Hợi, sinh giờ Ngọ thì cả hai cùng tại Tỵ. Ở mười giờ còn lại chúng luôn tách ra hai cung khác nhau. Cho nên thế "Quyền bị Không Kiếp kẹp cả hai bên" là thế hiếm, còn thế "Quyền gặp một trong hai sao" thì thường gặp hơn nhiều, và nhẹ hơn hẳn.
Giải cách: có Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc trong cùng cung thì cái hư được lấp phần nào, vì Lộc là thực chất. Có Hóa Khoa thì cái danh trở nên chính đáng, đỡ được tiếng hão. Trong đời sống, người có thế này nên chọn nghề mà kết quả đo được bằng con số hoặc bằng sản phẩm cụ thể, tránh những vị trí chỉ có chức danh mà không có việc thật; và tuyệt đối tránh nhận chức mà không nhận nguồn lực đi kèm.
Quyền bám sát tinh: Phá Quân Quyền, Tham Lang Quyền
Thành cách: Hóa Quyền rơi vào sao vốn mang khí sát hoặc khí dục, tức Phá Quân với tuổi Giáp và Tham Lang với tuổi Kỷ. Nguyên tắc đọc là: Quyền vào sát tinh thì sát khí có kỷ luật. Cái phá của Phá Quân vốn tán loạn, nay được Quyền thì thành cuộc cải tổ có kế hoạch. Cái dục của Tham Lang vốn tản mát, nay được Quyền thì thành tham vọng có lộ trình. Sức phá không giảm, nó chỉ được đóng khung lại và chĩa về một hướng.
Đủ đẹp: sao chủ miếu vượng, có Hóa Khoa hoặc Thiên Tướng, Tả Hữu ở gần để giữ nhịp, và cung Phúc Đức không quá nặng. Khi ấy đây là mẫu người dựng nghiệp từ chỗ đổ nát, rất được việc trong giai đoạn chuyển đổi. Đáng ngại: thêm Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh vào cùng cung. Sát chồng sát rồi lại có Quyền cầm nhịp thì cái hại đi rất xa và rất nhanh, vì nó không còn là bốc đồng nữa mà là có chủ ý. Đây là chỗ câu kinh văn của Tân Biên phát huy đúng nhất: Hóa Quyền gặp nhiều sao tốt thì làm tốt thêm, gặp nhiều sao xấu thì làm xấu thêm.
Quyền bám ám tinh: Cự Môn Quyền
Thành cách: tuổi Quý, Cự Môn hóa Quyền. Nguyên tắc đọc ngược với cách trên: Quyền vào ám tinh thì cái ám mạnh thêm. Cự Môn chủ nghi, chủ khẩu thiệt, chủ những gì chưa nói ra. Được Quyền thì lời nói có sức nặng, nhưng cái nghi cũng có sức nặng, và cái che đậy cũng vững chãi hơn. Mặt sáng là tài tranh biện và khả năng hỏi tới cùng, rất hợp nghề luật, đàm phán, điều tra, kiểm định. Mặt tối là áp đặt bằng lời và nghi kỵ thành hệ thống.
Đủ đẹp: Cự Môn Quyền mà có Thái Dương sáng đồng cung hoặc chiếu về, vì Thái Dương là ánh sáng công khai, nó soi vào cái ám khiến lời nói thành minh bạch. Đây là lý do bộ Cự Nhật được sách coi trọng. Đáng ngại: Cự Môn Quyền hãm địa, lại thêm Thiên Riêu, Đà La hoặc Hóa Kỵ ở gần: khi ấy lời nói mạnh mà không sáng, thị phi theo suốt. Giải cách: Hóa Khoa hoặc Thiên Lương chiếu về, cả hai đều mang khí chính trực, làm cho cái mạnh của lời nói có chỗ dựa đạo lý.
Ba câu nên nhớ trước khi mừng vì có Hóa Quyền
Một, Hóa Quyền không phải cát tinh vô điều kiện. Tân Biên nói rõ nó khuếch đại cả hai chiều, nên câu hỏi đúng luôn là khuếch đại cái gì, chứ không phải có Quyền là tốt phải không.
Hai, Quyền chỉ chỗ có quyền quyết định, không chỉ người. Quyền ở cung của người khác thì người khác quyết.
Ba, Quyền ở tầng nào chỉ có hiệu lực ở tầng ấy. Quyền lưu niên là việc của một năm, đừng đem ra phán về cả đời, và cũng đừng vì một năm không có Quyền mà nghĩ mình mất quyền.
Sao Hợp Và Sao Kỵ Của Hóa Quyền, Phân Theo Vị Thế
Trước khi đọc hai cột dưới đây, xin nhớ quy tắc về lực, vì cùng một sao mà đứng ở vị thế khác nhau thì cho kết quả khác hẳn. Đồng cung mạnh nhất, hai sao trộn vào nhau thành một khí. Xung chiếu mạnh nhì, là thế đối mặt, cái kia luôn nhìn thẳng vào mình. Tam hợp chiếu nhẹ hơn, là thế hỗ trợ hoặc quấy nhiễu từ xa. Giáp hai bên là thế bao vây, rất nặng với sát tinh vì bị kẹp không có đường lui, nhưng khá nhẹ với cát tinh vì cát tinh giáp chỉ là được che chở chứ không phải được trao tay. Riêng với Hóa Quyền còn một tầng nữa: sao chủ mà Quyền bám vào luôn mạnh hơn mọi sao khác trong cùng cung, vì Quyền ăn màu của nó trước khi ăn màu của ai.
Hóa Quyền rất thích gặp
- Hóa Lộc (đồng cung mạnh nhất, xung chiếu và tam hợp vẫn tốt): quyền đi với lợi, quyết được và hưởng được. Đồng cung chỉ có ở năm tuổi Giáp, Ất, Đinh, Kỷ, Tân.
- Hóa Khoa (đồng cung hoặc tam hợp): Khoa là danh chính ngôn thuận, nó làm cái quyền trở nên có lý lẽ, bớt thô. Đủ ba hóa thì thành Tam Kỳ Gia Hội.
- Lộc Tồn (đồng cung tốt nhất): Lộc Tồn là thực chất và là sự bền, nó chống lại đúng cái bệnh quyền hão. Lộc Tồn giáp Mệnh cũng quý nhưng nhẹ hơn.
- Tả Phụ, Hữu Bật (đồng cung mạnh nhất, giáp cũng tốt): có người phò tá thì mới cầm quyền được. Với Tử Vi Quyền thì đây gần như là điều kiện bắt buộc, thiếu nó là đế cô quân.
- Thiên Khôi, Thiên Việt (đồng cung hoặc chiếu): quý nhân mở đường, quyền đến sớm và đến thuận, hợp thi cử và bổ nhiệm.
- Chính tinh miếu vượng (đây là điều kiện nền, không phải sao gặp): sao chủ sáng thì quyền chính đáng, sao chủ hãm thì quyền thành gánh nặng.
Hóa Quyền e ngại khi gặp
- Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung nặng nhất, giáp hai bên còn nặng hơn chiếu): quyền hóa hư, có chức không có thực lực. Hai sao này chỉ đồng cung với nhau khi sinh giờ Tý hoặc giờ Ngọ.
- Hóa Kỵ (đồng cung là thế riêng đã luận ở mục cách cục, xung chiếu kế đó): sức đẩy và sức níu cùng lúc, mạnh mà vướng. Kỵ tam hợp chiếu thì chỉ là một chỗ lấn cấn, không phải bế tắc.
- Kình Dương, Đà La (đồng cung nặng nhất): quyền thành cương bạo, giành giật; Đà La còn làm cái quyền ấy trì trệ, quyết rồi mà mãi không xong việc.
- Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung): thêm nóng và thêm gấp, ra quyết định trong lúc bốc; hợp việc cần đánh nhanh, hại việc cần lâu dài.
- Tuần, Triệt án ngữ (án ngay cung có Quyền): quyền bị ngăn, thi thố muộn. Điểm cần nhớ là Tuần Triệt không chọn lọc, nó che luôn cả cái hay nên đừng mừng khi thấy nó che Kỵ trong cùng cung.
- Sao chủ hãm địa (điều kiện nền): quyền có mà không có thế, thường thành gánh việc thay người khác chứ không phải làm chủ.
Hóa Quyền là phần sức mạnh được trao thêm. Có nền chính tinh sáng thì sức mạnh ấy thành quyền uy chính đáng; thiếu nền tảng thì nó dễ thành sự độc đoán. Quyền phải đi với đức và tài mới bền.
Hóa Quyền Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Đại vận đi vào cung có Hóa Quyền bản mệnh
Khi cung đại vận trùng với cung có Hóa Quyền của can năm sinh, đó thường là mười năm cái quyền vốn có được đem ra dùng. Người vốn quyết đoán nay có chỗ để quyết, người vốn giỏi tổ chức nay có việc để tổ chức. Nếu sao chủ miếu vượng và cung ấy lại có Lộc Tồn hay Hóa Lộc thì đây thường là đại vận đỉnh của đời, chức và tiền cùng lên. Ngược lại, khi sao chủ hãm hoặc cung ấy nhiều sát tinh, mười năm này thường là mười năm ôm việc: được giao trách nhiệm lớn hơn năng lực và nguồn lực hiện có, làm được nhưng kiệt. Thầy hay dặn khách trong tình huống ấy một câu: nhận việc thì phải nhận cả người và cả ngân sách, đừng nhận mỗi cái chức.
Hóa Quyền của chính đại vận
Mỗi cung đại vận có can riêng, và can ấy sinh ra một bộ Tứ Hóa chỉ sống trong mười năm. Hóa Quyền đại vận rơi vào cung nào thì mười năm ấy quyền quyết định của đời người dịch về phía cung đó. Rơi vào Quan Lộc là mười năm sự nghiệp cầm trịch. Rơi vào Điền Trạch là mười năm chuyện nhà cửa do mình định đoạt, thường là giai đoạn mua bán hoặc xây dựng. Rơi vào Phu Thê là mười năm bạn đời có tiếng nói nặng hơn trong nhà, không nhất thiết xấu, nhiều khi là lúc người kia gánh giúp. Rơi vào Tật Ách là mười năm sức khỏe trở thành việc phải chủ động quản, không phải chuyện để mặc.
Điều đáng chú ý nhất là khi Quyền đại vận đè lên cung có Kỵ bản mệnh. Đây là thế Thầy gặp rất nhiều ở người làm quản lý tuổi bốn mươi: mười năm được đề bạt đúng vào lĩnh vực mà cả đời mình vốn vướng. Nó không xấu, nhưng nó mệt, và nó đòi người ta phải đối diện với đúng chỗ mình hay tránh. Ngược lại, Quyền đại vận rơi vào cung vốn đã có Lộc bản mệnh thì mười năm ấy thuận, việc gì cũng vừa quyết được vừa có phần.
Hóa Quyền lưu niên: năm nào sao nào cầm ấn
Tứ Hóa lưu niên lấy theo can của năm xem, dùng đúng bảng của Tứ Hóa bản mệnh, không có bảng riêng. Vì thế cứ mười năm một vòng, Hóa Quyền lại lần lượt đi qua mười chính tinh trong lá số của mọi người:
Giáp
- Sao lưu hóa Quyền năm ấy: Phá Quân hóa Quyền
- Các năm gần đây và sắp tới: 2014 Giáp Ngọ · 2024 Giáp Thìn · 2034 Giáp Dần
Ất
- Sao lưu hóa Quyền năm ấy: Thiên Lương hóa Quyền
- Các năm gần đây và sắp tới: 2015 Ất Mùi · 2025 Ất Tỵ · 2035 Ất Mão
Bính
- Sao lưu hóa Quyền năm ấy: Thiên Cơ hóa Quyền
- Các năm gần đây và sắp tới: 2016 Bính Thân · 2026 Bính Ngọ · 2036 Bính Thìn
Đinh
- Sao lưu hóa Quyền năm ấy: Thiên Đồng hóa Quyền
- Các năm gần đây và sắp tới: 2017 Đinh Dậu · 2027 Đinh Mùi · 2037 Đinh Tỵ
Mậu
- Sao lưu hóa Quyền năm ấy: Thái Âm hóa Quyền
- Các năm gần đây và sắp tới: 2018 Mậu Tuất · 2028 Mậu Thân · 2038 Mậu Ngọ
Kỷ
- Sao lưu hóa Quyền năm ấy: Tham Lang hóa Quyền
- Các năm gần đây và sắp tới: 2019 Kỷ Hợi · 2029 Kỷ Dậu · 2039 Kỷ Mùi
Canh
- Sao lưu hóa Quyền năm ấy: Vũ Khúc hóa Quyền
- Các năm gần đây và sắp tới: 2020 Canh Tý · 2030 Canh Tuất · 2040 Canh Thân
Tân
- Sao lưu hóa Quyền năm ấy: Thái Dương hóa Quyền
- Các năm gần đây và sắp tới: 2021 Tân Sửu · 2031 Tân Hợi · 2041 Tân Dậu
Nhâm
- Sao lưu hóa Quyền năm ấy: Tử Vi hóa Quyền
- Các năm gần đây và sắp tới: 2022 Nhâm Dần · 2032 Nhâm Tý · 2042 Nhâm Tuất
Quý
- Sao lưu hóa Quyền năm ấy: Cự Môn hóa Quyền
- Các năm gần đây và sắp tới: 2023 Quý Mão · 2033 Quý Sửu · 2043 Quý Hợi
Cách đọc nhanh mà chắc gồm ba bước. Bước một, xem năm ấy sao nào lưu hóa Quyền. Bước hai, tìm sao ấy đang nằm ở cung nào trong lá số của mình. Bước ba, đọc lĩnh vực của cung ấy: năm nay việc cầm trịch nằm ở đó. Ví dụ năm Quý thì Cự Môn lưu hóa Quyền; ai có Cự Môn ở Quan Lộc thì năm ấy công việc đòi phải lên tiếng, phải đàm phán, phải bảo vệ quan điểm; ai có Cự Môn ở Phu Thê thì năm ấy chuyện gia đạo phải nói cho ra nhẽ chứ không để lâu được.
Các sao lưu chạm vào cung có Hóa Quyền
- Lưu Thái Tuế đến cung có Hóa Quyền: năm có việc dính tới danh phận, giấy tờ, bổ nhiệm, kiện tụng. Sao chủ sáng thì là năm được công nhận; sao chủ hãm hoặc có sát tinh thì là năm phải đứng ra đối chất.
- Lưu Kình Dương, lưu Đà La đến cung có Hóa Quyền: quyền gặp sát, năm dễ có va chạm vì tranh phần quyết. Lưu Kình thì va chạm nhanh và gắt, lưu Đà thì trì trệ và dây dưa. Đây là năm nên viết mọi thỏa thuận thành văn bản.
- Lưu Lộc Tồn đến cung có Hóa Quyền: đây là một trong những tổ hợp lưu niên đẹp nhất cho người đi làm, quyền có sẵn nay thêm thực chất, thường ứng vào việc tăng lương, nhận thêm mảng, hoặc chính thức hóa một vai trò vốn chỉ là tạm.
- Lưu Xương Khúc, lưu Khôi Việt đến cung có Hóa Quyền: năm thuận cho thi cử, xét duyệt, bổ nhiệm chính thức, vì có cả cái quyền lẫn cái danh và có người đỡ.
- Lưu Thiên Mã đến cung có Hóa Quyền: năm cầm việc ở xa, hợp chuyển công tác, mở chi nhánh, nhận nhiệm sở mới. Nếu cung ấy lại là Thiên Di thì càng rõ.
- Lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ đến cung có Hóa Quyền tại Phụ Mẫu hoặc Tật Ách: đây là tổ hợp Thầy luôn dặn khách đi khám sớm cho người trên trong nhà, không kết luận điều gì nặng nề, chỉ là nhắc để chủ động.
Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Hóa Quyền
Hóa Quyền là sao được khen nhiều nhất trong bộ Tứ Hóa, và vì thế cũng bị gán thêm nhiều thứ mà sách không hề nói. Mục này nói rõ Hóa Quyền không chủ về gì, để quý vị khỏi mừng hụt hoặc lo oan.
Hóa Quyền không phải là chức vụ
Sách nói Hóa Quyền chủ sự mạnh bạo, oai vệ, thích nắm quyền hành. Đó là mô tả một khí chất và một vị thế quyết định, không phải một chức danh trong tổ chức. Trên lá số thật, Thầy gặp rất nhiều người có Hóa Quyền đẹp mà cả đời không giữ chức gì: họ là người thợ cả mà cả xưởng phải hỏi, là người con thứ mà cả nhà phải nghe, là người viết một bài mà cả ngành phải bàn. Ngược lại cũng gặp không ít người có chức to mà Hóa Quyền rơi vào Nô Bộc, tức là ngồi ghế mà không cầm việc. Lẫn lộn quyền với chức là lỗi phổ biến nhất khi đọc sao này.
Hóa Quyền không phải cát tinh vô điều kiện
Tân Biên viết rất rõ rằng Hóa Quyền gặp nhiều sao tốt đẹp thì làm cho tốt đẹp thêm, gặp nhiều sao xấu xa thì làm cho xấu xa thêm. Nghĩa là bản thân nó là bộ khuếch đại, không phải nguồn sáng. Xếp Hóa Quyền vào nhóm cát tinh chỉ đúng khi nền chính tinh sáng. Cách kiểm giản dị: che Hóa Quyền đi, đọc cung ấy xem tốt hay xấu, rồi mở ra và nhân mức độ lên. Nếu cung ấy vốn xấu thì Hóa Quyền làm nó xấu nhanh hơn và dứt khoát hơn, chứ không cứu được.
Hóa Quyền không đối lập với Hóa Lộc, và không thay được Hóa Lộc
Nhiều người đọc lướt rồi kết luận Quyền là quyền, Lộc là tiền, có Quyền thì thiếu tiền. Không phải. Lộc là cái được, Quyền là cái nắm, hai trục hoàn toàn khác nhau chứ không đối nghịch. Một người có thể vừa được vừa nắm (đó là Quyền Lộc tuần phùng), có thể được mà không nắm (Lộc mạnh Quyền yếu, kiểu người có của thừa kế mà không tự quyết), có thể nắm mà không được (Quyền mạnh Lộc yếu, kiểu người cầm việc lớn mà lương ba cọc ba đồng), và có thể chẳng được cũng chẳng nắm. Bốn trường hợp ấy đều có thật trên lá số, và luận số là để phân biệt được chúng.
Nữ mệnh Hóa Quyền không phải là điều đáng lo
Toàn Thư phần nữ mệnh ca có nhắc nữ mệnh Hóa Quyền thường mạnh mẽ, đôi khi lấn lướt trong gia đình. Cần đọc câu ấy đúng bối cảnh: nó viết trong xã hội mà vai của người phụ nữ được định sẵn là thuận tòng, nên bất cứ biểu hiện chủ động nào cũng bị ghi là lấn. Sách không nói nữ mệnh Hóa Quyền thì muộn chồng, không nói khắc chồng, không nói cô độc. Thời nay, người phụ nữ có Hóa Quyền là người có năng lực quyết định, và đó là lợi thế rõ ràng trong công việc. Điều duy nhất cần lưu tâm cũng đúng với cả nam lẫn nữ: quyền dùng đúng chỗ thì được lòng người, dùng sai chỗ thì mất người.
Hóa Quyền của một năm không phải là bản tính của một đời
Đây là nhầm lẫn hay gặp khi người ta tra bảng Tứ Hóa trên mạng rồi tự xem. Bảng mười can dùng chung cho cả bốn tầng: can năm sinh, can đại vận, can năm xem, can từng cung. Cùng một bảng nhưng bốn nghĩa khác nhau. Lấy Hóa Quyền của năm nay mà kết luận về tính cách một người là sai tầng, cũng như lấy thời tiết một ngày để mô tả khí hậu một vùng. Muốn biết bản tính thì phải xem Tứ Hóa của can năm sinh, và phải xem nó rơi vào sao nào, cung nào, sáng hay tối, quanh nó có ai.
Lời khuyên và cách phát huy
Với Hóa Quyền, việc cần làm là biến quyền uy thành thực lực chính đáng, tránh để nó thành độc đoán hay quyền hão.
- Dùng quyền vào lĩnh vực cung Hóa Quyền đóng. Đó là nơi thầy có thế mạnh để đứng ra làm chủ.
- Bồi đắp đức và tài. Quyền đi với đức và năng lực mới bền; quyền suông dễ chuốc đố kỵ.
- Tìm người phò tá. Có Tả Hữu Khôi Việt thì cầm quyền mới thuận, một mình thì vất vả.
- Tránh để quyền thành cương bạo. Nhất là khi quanh Hóa Quyền có nhiều sát tinh, cần tiết chế độc đoán.
- Xem cả lá số. Hóa Quyền chính đáng hay không tùy nó bám sao nào, ở cung nào, đi cùng ai.
Gợi ý: người có Hóa Quyền nên chủ động nhận vai trò dẫn dắt đúng lĩnh vực sở trường, đồng thời rèn sự khiêm hòa để quyền uy được lòng người.
Câu hỏi thường gặp
Hóa Quyền là một trong bộ Tứ Hóa của Tử Vi Đẩu Số, hành Mộc, chủ quyền lực, sự nắm bắt và mạnh mẽ. Nó là hóa khí bám vào một chính tinh theo can năm sinh, khoác thêm cho sao ấy phần quyền uy và khả năng làm chủ.
Mỗi can khiến một sao hóa Quyền: Giáp Phá Quân, Ất Thiên Lương, Bính Thiên Cơ, Đinh Thiên Đồng, Mậu Thái Âm, Kỷ Tham Lang, Canh Vũ Khúc, Tân Thái Dương, Nhâm Tử Vi, Quý Cự Môn.
Là khi ba hóa cát Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc cùng hội về Mệnh hoặc tam phương tứ chính, chủ danh, quyền, tài đủ cả, công danh hiển đạt. Khi ba hóa liên kết qua tam phương thì gọi là Tam Hóa liên châu, một cách đại cát.
Vì Hóa Quyền khuếch đại theo hai chiều: gặp sao tốt thì làm tốt thêm, gặp sao xấu thì làm xấu thêm. Bám chính tinh sáng thì thành quyền uy chính đáng; bám sao hung hay nhiều sát tinh thì thành cương bạo, độc đoán.
Nữ mệnh Hóa Quyền là người có chủ kiến, giỏi giang, dám đứng mũi chịu sào. Cổ thư nhắc loại mệnh này mạnh mẽ đôi khi lấn lướt trong nhà; thời nay đó là lợi thế của người phụ nữ độc lập, chỉ cần biết dung hòa để giữ ấm gia đạo.
Chạy đủ mười can thì Hóa Quyền chỉ rơi vào mười chính tinh là Phá Quân, Thiên Lương, Thiên Cơ, Thiên Đồng, Thái Âm, Tham Lang, Vũ Khúc, Thái Dương, Tử Vi và Cự Môn. Bốn sao Liêm Trinh, Thiên Phủ, Thiên Tướng và Thất Sát không bao giờ hóa Quyền với bất kỳ tuổi nào. Khi ba sao Thiên Phủ, Thiên Tướng, Thất Sát thủ Mệnh thì cái uy của người ấy phải đến từ sao chiếu về, từ đại vận hoặc từ bộ phò tá, chứ không đến từ Hóa Quyền bản mệnh.
Hóa Lộc là cái được, Hóa Quyền là cái nắm. Lộc trả lời câu hỏi người này được hưởng gì, Quyền trả lời câu hỏi người này quyết định được cái gì. Hai trục ấy độc lập nhau: có người nhiều Lộc mà không tự quyết được, có người ít Lộc mà chỗ nào cũng có tiếng nói. Khi Quyền và Lộc gặp nhau thì gọi là Quyền Lộc tuần phùng, quyền đi liền với lợi; nhưng Toàn Thư dặn thêm rằng nếu có sát tinh xen vào thì chỉ còn là cái danh hão.
Cần đọc rất thận trọng. Hóa Quyền chỉ ra chỗ có quyền quyết định chứ không nói người ấy là ai, nên Quyền tại Nô Bộc nghĩa là quyền nằm trong tay bạn bè, cộng sự và cấp dưới. Nếu Mệnh vững, sao chủ miếu vượng và có Lộc Tồn cùng chầu thì đó là thế dùng được người giỏi. Nhưng nếu Mệnh có Hóa Kỵ, thêm Không Kiếp hoặc Đà La tại cung ấy, thì rất dễ thành cảnh mình đứng tên mà người khác điều khiển, nên tránh ký thay, bảo lãnh và góp vốn không có văn bản.