Tử Vi

Sao Hồng Loan: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung

Tìm hiểu sao Hồng Loan trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.

Đạo Quán59 phút đọc

Tổng quan về sao Hồng Loan

Hồng Loan là sao đào hoa chủ về hỷ sự và cưới hỏi, ngũ hành Thủy đới Kim. Hồng Loan luôn xung chiếu với Thiên Hỷ, tạo thành trục hỷ khánh trong lá số, đặc biệt quan trọng khi luận tình duyên, hôn nhân.

  • Ngũ hành: Thủy (đới Kim)
  • Nhóm: Phụ Tinh Đào Hoa
  • Cách an: Hồng loan an theo địa chi năm sinh và luôn xung chiếu với thiên hỷ
  • Cai quản: hỷ sự, cưới hỏi, duyên tình
  • Tính chất: Hỷ sự, cưới hỏi

Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.

Ý nghĩa tại cung Mệnh

  • Hồng Loan gặp cát, đắc thế: Người có duyên, ưa nhìn, hòa nhã, dễ được lòng người; sự vui đến với mình trước khi mình đi tìm. Thiên Hỷ ở Thiên Di nên ra ngoài cũng gặp việc mừng.
  • Hồng Loan gặp hung, thất thế: Đa cảm quá mức, dễ xiêu lòng, để tình cảm chi phối quyết định lớn; hay vui buồn theo người khác.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Hồng Loan Mệnh gặp Tử Vi, Thiên Phủ, Thái Dương, Thái Âm thì Tân Biên khen là thêm rực rỡ. Gặp Thiên Riêu và Đà La cùng lúc thì giảm phần đoan chính, phải xét thêm Phúc Đức.

Ý nghĩa ở các cung khác

Đối chiếu ý nghĩa của Hồng Loan với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.

Cung Phụ Mẫu

  • Hồng Loan gặp cát, đắc thế: Cha mẹ hòa thuận, gia đình có nếp vui; thường có hỷ sự bên cha mẹ trong quãng mình còn nhỏ.
  • Hồng Loan gặp hung, thất thế: Cha mẹ có chuyện tình cảm riêng làm con cái bận lòng, hoặc mình phải chứng kiến việc người lớn không muốn nói ra.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Hồng Loan tại Phụ Mẫu mà Thiên Hỷ tại Tật Ách: tin mừng của nhà thường đi liền với chuyện sức khỏe, hay gặp nhất là tin sinh nở trong họ.

Cung Phúc Đức

  • Hồng Loan gặp cát, đắc thế: Tâm tính vui vẻ, biết hưởng cái đẹp, có phúc về đường tình cảm, gia đạo êm; hưởng thụ tinh thần dồi dào.
  • Hồng Loan gặp hung, thất thế: Ham vui, thích cái nhẹ nhàng nên ngại việc nặng; phúc phần hao vì chuyện tình cảm.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Phúc Đức có Hồng Loan mà Tài Bạch có Thiên Hỷ là người tiêu tiền cho cái vui và cái đẹp; nếu thêm Đào Hoa thì chi cho giao tế rất mạnh tay.

Cung Điền Trạch

  • Hồng Loan gặp cát, đắc thế: Nhà cửa sáng sủa, có duyên với nhà đẹp; hay có hỷ sự tổ chức ngay tại nhà, hoặc mua nhà vào năm cưới.
  • Hồng Loan gặp hung, thất thế: Nhà là nơi phát sinh chuyện tình cảm rắc rối; hoặc dọn nhà, đổi chỗ ở vì chuyện đôi lứa.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Điền Trạch có Hồng Loan thì Tử Tức có Thiên Hỷ, đây là cặp mà Thầy hay xem khi khách hỏi chuyện con cái và chuyện tậu nhà trong cùng một giai đoạn.

Cung Quan Lộc

  • Hồng Loan gặp cát, đắc thế: Nghề nghiệp có dính tới cái đẹp, tới người, tới việc mừng: cưới hỏi, trang phục, mỹ phẩm, nghệ thuật, tiếp tân, truyền thông. Được đồng nghiệp quý.
  • Hồng Loan gặp hung, thất thế: Việc và tình lẫn lộn, dễ có chuyện tình cảm nơi làm việc gây phiền; công việc trôi theo quan hệ hơn là theo năng lực.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Quan Lộc có Hồng Loan thì Phu Thê có Thiên Hỷ: rất hay gặp trường hợp bạn đời quen từ công việc, hoặc hai vợ chồng cùng nghề.

Cung Nô Bộc

  • Hồng Loan gặp cát, đắc thế: Bạn bè đông vui, được bạn giới thiệu duyên; nhiều người mai mối, quan hệ xã hội rộng và lành.
  • Hồng Loan gặp hung, thất thế: Bạn bè xen vào chuyện riêng, hoặc duyên tình đến từ nhóm bạn rồi cũng vỡ vì nhóm bạn ấy.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Nô Bộc có Hồng Loan mà thêm Đào Hoa là người sống bằng quan hệ; nếu Mệnh không đủ vững thì dễ bị cuốn theo đám đông.

Cung Thiên Di

  • Hồng Loan gặp cát, đắc thế: Ra ngoài gặp duyên, đi xa gặp người; hợp làm việc tiếp xúc nhiều người, dễ có duyên với người khác vùng, khác xứ.
  • Hồng Loan gặp hung, thất thế: Duyên chỉ nở khi xa nhà rồi tàn khi về; đi lại nhiều mà tình cảm không có chỗ đậu.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Thiên Di có Hồng Loan thì Mệnh có Thiên Hỷ. Chú ý: dù Thiên Di là Dần, Tỵ, Thân hay Hợi thì Thiên Mã cũng không thể đồng cung Hồng Loan, cùng lắm là đứng cung liền kề, nên đừng vội gọi đây là cách Hồng Mã.

Cung Tật Ách

  • Hồng Loan gặp cát, đắc thế: Ít bệnh nặng, sắc mặt tươi; bệnh nếu có thì nhẹ và mau khỏi. Nữ mệnh thường da dẻ mịn.
  • Hồng Loan gặp hung, thất thế: Bệnh liên quan huyết, nội tiết, đường sinh sản; nữ mệnh chú ý kinh nguyệt và thai sản.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Hồng Loan tại Tật gặp Thiên Riêu, Đà La, Hóa Kỵ là tổ hợp cần đi khám chứ không cần đi cúng. Gặp Thiên Hình thì nghiêng về can thiệp bằng thủ thuật.

Cung Tài Bạch

  • Hồng Loan gặp cát, đắc thế: Tiền vào từ việc vui và việc đẹp; có lộc nhờ người khác giới, nhờ quan hệ, nhờ nghề làm dịch vụ cho người.
  • Hồng Loan gặp hung, thất thế: Tiền hao vì tình, vì giao tế, vì chiều người; kiếm được bao nhiêu cũng có chỗ tiêu.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Tài Bạch có Hồng Loan đồng cung Lộc Tồn chỉ xảy ra với sáu tuổi Bính Tuất, Mậu Tuất, Nhâm Thìn, Đinh Dậu, Kỷ Dậu, Quý Mão; khi ấy tiền và duyên buộc vào nhau rất chặt.

Cung Tử Tức

  • Hồng Loan gặp cát, đắc thế: Con cái xinh xắn, dễ thương, có duyên; đường con cái thuận, tin vui đến đúng lúc mong.
  • Hồng Loan gặp hung, thất thế: Con cái đến muộn hoặc phải chờ; hoặc có tin vui rồi lại thôi, cần xem kỹ Tật Ách.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Tử Tức có Hồng Loan mà Điền Trạch có Thiên Hỷ là cặp báo tin sinh nở khá rõ trong lưu niên, nhất là khi lưu Đào Hoa cùng năm cũng bay tới.

Cung Phu Thê

  • Hồng Loan gặp cát, đắc thế: Bạn đời ưa nhìn, tình cảm, biết chiều; cưới hỏi có nghi lễ đàng hoàng, hôn nhân là việc mừng của cả hai họ. Đây là vị trí Hồng Loan được nói tới nhiều nhất.
  • Hồng Loan gặp hung, thất thế: Duyên nồng mà không bền, dễ có chuyện ngoài hôn nhân, hoặc cưới sớm rồi phải làm lại. Tân Biên có nói Hồng ở Mệnh Thân có thể chủ hai đời vợ chồng, ở Phu Thê càng phải xét kỹ.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Phu Thê có Hồng Loan thì Quan Lộc có Thiên Hỷ. Hồng Loan Phu Thê gặp Tuần hoặc Triệt là duyên bị chặn một quãng, thường ứng vào chuyện cưới hụt hoặc hoãn cưới; gặp Không Kiếp là tình đến nhanh đi nhanh.

Cung Huynh Đệ

  • Hồng Loan gặp cát, đắc thế: Anh chị em hòa thuận, hay có hỷ sự trong hàng anh em; được anh chị em giúp chuyện dựng vợ gả chồng.
  • Hồng Loan gặp hung, thất thế: Anh chị em có chuyện tình cảm làm cả nhà bận tâm; hoặc mình phải đứng giữa hòa giải.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Huynh Đệ có Hồng Loan thì Nô Bộc có Thiên Hỷ, người này thường coi bạn như anh em và ngược lại; hỷ sự trong đời hay do bạn bè và anh em cùng lo.

Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc

Hồng Loan an theo địa chi năm sinh, không theo tháng, không theo giờ, không theo can. Phép an cổ truyền dạy: khởi từ cung Mão đếm ngược chiều kim đồng hồ, tuổi Tý thì dừng ngay tại Mão, tuổi Sửu lùi một cung tới Dần, tuổi Dần lùi hai cung tới Sửu, cứ thế đi nghịch cho hết mười hai tuổi. Viết gọn lại thành một công thức: lấy cung Mão trừ đi chỉ số chi năm sinh. Thiên Hỷ an ở cung xung chiếu của Hồng Loan, tức thêm sáu cung nữa.

Chỉ một dòng công thức ấy thôi mà sinh ra rất nhiều điều không bao giờ thay đổi trong mọi lá số của mọi người. Đây là chỗ Thầy muốn quý vị đọc kỹ nhất trong cả bài, vì biết trước cái gì không thể xảy ra thì khi cầm lá số sẽ khỏi mất công tìm, và khi nghe ai nói một tổ hợp không thể có thì biết ngay là lá số đã an sai.

Tý

  • Hồng Loan: Mão
  • Thiên Hỷ: Dậu
  • Đào Hoa: Dậu
  • Thiên Mã: Dần

Sửu

  • Hồng Loan: Dần
  • Thiên Hỷ: Thân
  • Đào Hoa: Ngọ
  • Thiên Mã: Hợi

Dần

  • Hồng Loan: Sửu
  • Thiên Hỷ: Mùi
  • Đào Hoa: Mão
  • Thiên Mã: Thân

Mão

  • Hồng Loan: Tý
  • Thiên Hỷ: Ngọ
  • Đào Hoa: Tý
  • Thiên Mã: Tỵ

Thìn

  • Hồng Loan: Hợi
  • Thiên Hỷ: Tỵ
  • Đào Hoa: Dậu
  • Thiên Mã: Dần

Tỵ

  • Hồng Loan: Tuất
  • Thiên Hỷ: Thìn
  • Đào Hoa: Ngọ
  • Thiên Mã: Hợi

Ngọ

  • Hồng Loan: Dậu
  • Thiên Hỷ: Mão
  • Đào Hoa: Mão
  • Thiên Mã: Thân

Mùi

  • Hồng Loan: Thân
  • Thiên Hỷ: Dần
  • Đào Hoa: Tý
  • Thiên Mã: Tỵ

Thân

  • Hồng Loan: Mùi
  • Thiên Hỷ: Sửu
  • Đào Hoa: Dậu
  • Thiên Mã: Dần

Dậu

  • Hồng Loan: Ngọ
  • Thiên Hỷ: Tý
  • Đào Hoa: Ngọ
  • Thiên Mã: Hợi

Tuất

  • Hồng Loan: Tỵ
  • Thiên Hỷ: Hợi
  • Đào Hoa: Mão
  • Thiên Mã: Thân

Hợi

  • Hồng Loan: Thìn
  • Thiên Hỷ: Tuất
  • Đào Hoa: Tý
  • Thiên Mã: Tỵ

Bảy điều bất biến của Hồng Loan

  • Hồng Loan an được cả mười hai cung. Chạy đủ mười hai địa chi thì Hồng Loan lần lượt rơi vào Mão, Dần, Sửu, Tý, Hợi, Tuất, Dậu, Thân, Mùi, Ngọ, Tỵ, Thìn. Không có cung nào Hồng Loan không tới được. Điều này khác hẳn Đào Hoa (chỉ đóng tại Tý, Mão, Ngọ, Dậu) và Thiên Mã (chỉ đóng tại Dần, Tỵ, Thân, Hợi). Vì thế Hồng Loan là sao đào hoa duy nhất có thể xuất hiện ở tứ mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.
  • Hồng Loan không bao giờ đóng ngay tại cung mang chi năm sinh của chính mình. Muốn vậy phải có hai lần chỉ số chi bằng ba, mà ba là số lẻ nên phương trình vô nghiệm. Người tuổi Tý không bao giờ có Hồng Loan tại Tý, người tuổi Ngọ không bao giờ có Hồng Loan tại Ngọ. Thiên Hỷ cũng vậy. Nghĩa là cung Thái Tuế bản mệnh của quý vị chắc chắn không có Hồng Loan tọa thủ.
  • Hồng Loan có tính đối xứng, tuổi và cung đổi chỗ được cho nhau. Tuổi Tý thì Hồng Loan ở Mão, mà tuổi Mão thì Hồng Loan lại ở Tý. Sáu cặp đổi chỗ ấy là Tý với Mão, Sửu với Dần, Thìn với Hợi, Tỵ với Tuất, Ngọ với Dậu, Mùi với Thân. Nhớ sáu cặp này là nhớ được cả bảng, khỏi cần đếm ngược từng cung.
  • Thiên Hỷ luôn xung chiếu Hồng Loan, đủ mười hai tuổi, không một ngoại lệ. Đối chiếu bằng thuật toán thì mười hai trên mười hai trường hợp hai sao cách nhau đúng sáu cung. Vì vậy nói tới Hồng Loan là đã ngầm nói tới một trục hỷ khánh vắt ngang lá số, chứ không phải một điểm. Cung nào có Hồng Loan thì cung đối diện chắc chắn có Thiên Hỷ, và hai cung ấy luôn thuộc một cặp cung chức đối nhau: Mệnh với Thiên Di, Phu Thê với Quan Lộc, Tài Bạch với Phúc Đức, Huynh Đệ với Nô Bộc, Tử Tức với Điền Trạch, Tật Ách với Phụ Mẫu.
  • Hồng Loan và Đào Hoa chỉ đồng cung với đúng hai tuổi. Tuổi Mão hai sao cùng đóng tại Tý, tuổi Dậu hai sao cùng đóng tại Ngọ. Ngoài ra không còn tuổi nào khác. Đây là con số thật lấy từ thuật toán, không phải ước lượng.
  • Hồng Loan và Thiên Mã vĩnh viễn không gặp nhau. Không đồng cung, không xung chiếu, không tam hợp, với bất kỳ tuổi nào. Lý do nằm ở chẵn lẻ: khoảng cách giữa hai sao chạy qua đủ mười hai tuổi chỉ nhận các giá trị một, ba, năm, bảy, chín, mười một, toàn số lẻ; trong khi đồng cung là cách không, xung chiếu là cách sáu, tam hợp là cách bốn hoặc tám, đều là số chẵn. Quan hệ gần nhất mà hai sao có thể có là đứng liền cung, xảy ra với bốn tuổi Tý, Tỵ, Ngọ, Hợi.
  • Không có chính tinh nào bị cấm đứng cùng Hồng Loan. Chạy đủ mười hai thế Tử Vi cho từng vị trí của Hồng Loan thì cả mười bốn chính tinh đều có thể đồng cung, ở bất cứ cung nào trong mười hai cung. Nói cách khác, Hồng Loan không kén chính tinh; cái quyết định sắc thái là chính tinh nào đứng cùng chứ không phải chính tinh nào được phép đứng cùng.

Hồng Loan với Đào Hoa: bốn kiểu quan hệ, không phải một

Người mới học hay gom Hồng Loan và Đào Hoa làm một cặp, nói "ai cũng có Đào Hồng". Không phải. Cả hai cùng an theo chi năm sinh nên quan hệ giữa chúng là cố định theo tuổi, và có tới bốn kiểu khác nhau. Bảng dưới đây liệt kê đủ mười hai tuổi, sinh bằng thuật toán an sao, quý vị chỉ cần tra tuổi mình là biết ngay bộ Đào Hồng của mình có thành hay không.

Mão

  • Hồng Loan tại: Tý
  • Đào Hoa tại: Tý
  • Quan hệ giữa hai sao: Đồng cung, lực mạnh nhất

Dậu

  • Hồng Loan tại: Ngọ
  • Đào Hoa tại: Ngọ
  • Quan hệ giữa hai sao: Đồng cung, lực mạnh nhất

Tý

  • Hồng Loan tại: Mão
  • Đào Hoa tại: Dậu
  • Quan hệ giữa hai sao: Xung chiếu, thành trục đào hoa

Ngọ

  • Hồng Loan tại: Dậu
  • Đào Hoa tại: Mão
  • Quan hệ giữa hai sao: Xung chiếu, thành trục đào hoa

Sửu

  • Hồng Loan tại: Dần
  • Đào Hoa tại: Ngọ
  • Quan hệ giữa hai sao: Tam hợp chiếu, lực vừa

Tỵ

  • Hồng Loan tại: Tuất
  • Đào Hoa tại: Ngọ
  • Quan hệ giữa hai sao: Tam hợp chiếu, lực vừa

Mùi

  • Hồng Loan tại: Thân
  • Đào Hoa tại: Tý
  • Quan hệ giữa hai sao: Tam hợp chiếu, lực vừa

Hợi

  • Hồng Loan tại: Thìn
  • Đào Hoa tại: Tý
  • Quan hệ giữa hai sao: Tam hợp chiếu, lực vừa

Dần

  • Hồng Loan tại: Sửu
  • Đào Hoa tại: Mão
  • Quan hệ giữa hai sao: Cách hai cung, không hội chiếu

Thìn

  • Hồng Loan tại: Hợi
  • Đào Hoa tại: Dậu
  • Quan hệ giữa hai sao: Cách hai cung, không hội chiếu

Thân

  • Hồng Loan tại: Mùi
  • Đào Hoa tại: Dậu
  • Quan hệ giữa hai sao: Cách hai cung, không hội chiếu

Tuất

  • Hồng Loan tại: Tỵ
  • Đào Hoa tại: Mão
  • Quan hệ giữa hai sao: Cách hai cung, không hội chiếu

Bảng này có một hệ quả rất thực dụng khi luận. Tám tuổi Tý, Sửu, Mão, Tỵ, Ngọ, Mùi, Dậu, Hợi thì Đào Hoa và Hồng Loan hội nhau, mà Thiên Hỷ luôn ở cung xung của Hồng Loan nên Thiên Hỷ cũng nằm trong cùng bộ tam phương tứ chính ấy: bộ ba Đào Hồng Hỷ mà người xưa gọi là Tam Minh thành đủ. Bốn tuổi Dần, Thìn, Thân, Tuất thì hai sao cách nhau đúng hai cung, không đồng cung, không giáp, không tam hợp, không xung, tức là hoàn toàn không có quan hệ nào; bộ Tam Minh của bốn tuổi này không bao giờ thành. Người tuổi Dần, Thìn, Thân, Tuất mà nghe ai phán "lá số của anh có bộ Đào Hồng Hỷ hội chiếu" thì nên xem lại lá số ấy đã an đúng chưa.

Ba nhóm cung: tứ chính, tứ sinh, tứ mộ

Từ bảng vị trí có thể rút thêm một quy luật nhóm rất gọn. Người sinh tuổi tứ chính (Tý, Ngọ, Mão, Dậu) thì Hồng Loan cũng rơi vào tứ chính, tức cùng nhóm cung với Đào Hoa, đó là lý do bốn tuổi này có quan hệ Đào Hồng mạnh nhất, hoặc đồng cung hoặc xung chiếu. Người sinh tuổi tứ sinh (Dần, Thân, Tỵ, Hợi) thì Hồng Loan rơi vào tứ mộ Sửu, Mùi, Tuất, Thìn, là nơi Đào Hoa và Thiên Mã đều không tới được, nên Hồng Loan đứng một mình trong nhóm sao đào hoa. Người sinh tuổi tứ mộ (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi) thì Hồng Loan rơi vào tứ sinh Hợi, Tỵ, Dần, Thân, cùng nhóm cung với Thiên Mã mà vẫn không hội được Thiên Mã, vì như đã chứng ở trên khoảng cách giữa hai sao luôn lẻ.

Thầy hay dùng quy luật nhóm này để đọc nhanh: nghe tuổi là biết ngay Hồng Loan nằm ở nhóm cung nào, rồi mới tra cung chức. Hồng Loan ở tứ chính thì duyên tình lộ ra ngoài, ai cũng thấy; ở tứ sinh thì duyên gắn với đi lại, xa nhà, chuyển động; ở tứ mộ thì duyên kín đáo, chậm, nhưng bền hơn, vì tứ mộ là cung kho, cái gì vào đó cũng lắng lại.

Hồng Loan với Thiên Hình và Thiên Riêu: hai sao an theo tháng

Thiên Hình và Thiên Riêu không an theo chi năm mà an theo tháng sinh âm lịch: Thiên Hình khởi từ Dậu ở tháng giêng rồi thuận hành mỗi tháng một cung, Thiên Riêu khởi từ Sửu ở tháng giêng rồi cũng thuận hành. Vì hai tham số khác nhau nên quan hệ giữa Hồng Loan với hai sao ấy không cố định theo tuổi, mọi tổ hợp đều có thể xảy ra, và phải xét từng lá số cụ thể.

Tuy vậy vẫn có một điều bất biến đáng nhớ. Chạy đủ mười hai tháng thì Thiên Hình luôn cách Thiên Riêu đúng tám cung, tức hai sao này luôn tam hợp chiếu nhau, bất kể sinh tháng nào. Hệ quả: hễ Thiên Hình đồng cung với Hồng Loan thì Thiên Riêu chắc chắn nằm ở một cung tam hợp và chiếu về; hễ Thiên Riêu đồng cung với Hồng Loan thì Thiên Hình cũng chắc chắn tam hợp chiếu về. Hồng Loan không bao giờ gặp riêng một mình Hình hay một mình Riêu trong tam phương tứ chính, hễ có một là có cả hai, chỉ khác nhau ở chỗ sao nào ngồi cùng cung và sao nào đứng xa chiếu tới. Đây là chi tiết mà rất ít bài viết trên mạng nói tới, mà nó lại đổi hẳn cách luận cách Hồng Loan gặp Hình hay gặp Riêu ở mục cách cục bên dưới.

Tý

  • Hồng Loan tại: Mão
  • Sinh tháng nào thì Thiên Hình đồng cung: Tháng 7
  • Sinh tháng nào thì Thiên Riêu đồng cung: Tháng 3

Sửu

  • Hồng Loan tại: Dần
  • Sinh tháng nào thì Thiên Hình đồng cung: Tháng 6
  • Sinh tháng nào thì Thiên Riêu đồng cung: Tháng 2

Dần

  • Hồng Loan tại: Sửu
  • Sinh tháng nào thì Thiên Hình đồng cung: Tháng 5
  • Sinh tháng nào thì Thiên Riêu đồng cung: Tháng 1

Mão

  • Hồng Loan tại: Tý
  • Sinh tháng nào thì Thiên Hình đồng cung: Tháng 4
  • Sinh tháng nào thì Thiên Riêu đồng cung: Tháng 12

Thìn

  • Hồng Loan tại: Hợi
  • Sinh tháng nào thì Thiên Hình đồng cung: Tháng 3
  • Sinh tháng nào thì Thiên Riêu đồng cung: Tháng 11

Tỵ

  • Hồng Loan tại: Tuất
  • Sinh tháng nào thì Thiên Hình đồng cung: Tháng 2
  • Sinh tháng nào thì Thiên Riêu đồng cung: Tháng 10

Ngọ

  • Hồng Loan tại: Dậu
  • Sinh tháng nào thì Thiên Hình đồng cung: Tháng 1
  • Sinh tháng nào thì Thiên Riêu đồng cung: Tháng 9

Mùi

  • Hồng Loan tại: Thân
  • Sinh tháng nào thì Thiên Hình đồng cung: Tháng 12
  • Sinh tháng nào thì Thiên Riêu đồng cung: Tháng 8

Thân

  • Hồng Loan tại: Mùi
  • Sinh tháng nào thì Thiên Hình đồng cung: Tháng 11
  • Sinh tháng nào thì Thiên Riêu đồng cung: Tháng 7

Dậu

  • Hồng Loan tại: Ngọ
  • Sinh tháng nào thì Thiên Hình đồng cung: Tháng 10
  • Sinh tháng nào thì Thiên Riêu đồng cung: Tháng 6

Tuất

  • Hồng Loan tại: Tỵ
  • Sinh tháng nào thì Thiên Hình đồng cung: Tháng 9
  • Sinh tháng nào thì Thiên Riêu đồng cung: Tháng 5

Hợi

  • Hồng Loan tại: Thìn
  • Sinh tháng nào thì Thiên Hình đồng cung: Tháng 8
  • Sinh tháng nào thì Thiên Riêu đồng cung: Tháng 4

Mỗi tuổi chỉ có đúng một tháng sinh khiến Thiên Hình ngồi cùng Hồng Loan, và đúng một tháng khiến Thiên Riêu ngồi cùng. Nghĩa là trong một trăm bốn mươi bốn tổ hợp tuổi và tháng, chỉ mười hai tổ hợp có Hình đồng cung và mười hai tổ hợp có Riêu đồng cung. Cách Hồng Loan gặp Hình hay gặp Riêu ở thế đồng cung vì thế hiếm hơn nhiều so với cảm giác của người đọc sách, và khi gặp thì phải luận cho nặng, không được nói qua loa.

Hồng Loan với Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La

Lộc Tồn cùng Kình Dương và Đà La an theo thiên can năm sinh, còn Hồng Loan an theo chi năm sinh. Hai tham số này ghép lại thành sáu mươi tổ hợp can chi của một hoa giáp, nên quan hệ giữa chúng tuy không cố định theo riêng can hay riêng chi nhưng vẫn đếm được chính xác. Chạy đủ sáu mươi tuổi can chi thì:

  • Hồng Loan đồng cung Lộc Tồn chỉ có sáu tuổi: Bính Tuất và Mậu Tuất (cùng tại Tỵ), Nhâm Thìn (tại Hợi), Đinh Dậu và Kỷ Dậu (cùng tại Ngọ), Quý Mão (tại Tý). Đây là thế Hồng Loan được Lộc Tồn giữ, duyên có gốc, có của, hiếm và quý.
  • Hồng Loan đồng cung Kình Dương có bốn tuổi: Giáp Tý (tại Mão), Canh Ngọ (tại Dậu), Ất Hợi (tại Thìn), Tân Tỵ (tại Tuất). Kình là đao, duyên có phần gấp gáp và dễ sứt mẻ.
  • Hồng Loan đồng cung Đà La cũng bốn tuổi: Ất Sửu (tại Dần), Tân Mùi (tại Thân), Giáp Dần (tại Sửu), Canh Thân (tại Mùi). Đà là dây kéo lại, duyên đến chậm, hay dở dang rồi nối lại.

Mười bốn tuổi trên sáu mươi, tức khoảng một phần tư số người, có Hồng Loan ngồi chung cung với một trong ba sao thuộc vòng Lộc Tồn. Con số này Thầy nêu ra để quý vị thấy các thế "đặc biệt" trong sách thật ra không hiếm như người ta tưởng, và cũng để nhắc rằng một mình cái thế ấy chưa quyết định được gì, còn phải xem chính tinh của cung và cả tam phương tứ chính.

Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp an theo giờ sinh, tức tham số thứ tư, hoàn toàn độc lập với chi năm. Vì vậy mọi tổ hợp giữa Hồng Loan với bốn sao ấy đều có thể xảy ra và không có tuổi nào được miễn trừ. Kết luận chung của cả mục này: Hồng Loan bị ràng buộc rất chặt với Thiên Hỷ, ràng buộc vừa phải với Đào Hoa và Thiên Mã, và hoàn toàn tự do với mọi sao còn lại. Ai nắm được ba mức ràng buộc ấy thì đọc Hồng Loan sẽ không bao giờ nói sai cấu trúc.

Mức Độ Đắc Hãm Và Tính Chất Theo Thư Tịch

Theo Tân Biên, Hồng Loan cùng nhóm với Đào Hoa: vui vẻ, mau mắn, đa tình, có ảnh hưởng tới vợ hoặc chồng, liên quan việc cưới hỏi, lợi cho thi cử cầu công danh, đem nhiều sự vui mừng. Hồng Loan thiên về nét hỷ khánh, duyên lành hơn là phóng túng.

Hồng Loan làm Tử, Phủ, Nhật, Nguyệt thêm rực rỡ. Mệnh Thân có Hồng tọa thủ cũng có thể chủ hai đời vợ chồng; gặp Riêu Đà Kỵ thì giảm sự đoan chính, gặp nhiều Sát thì khó bền.

Hồng Loan Và Tứ Hóa: Sao Không Hóa Thì Đọc Thế Nào

Nhưng không hóa không có nghĩa là Tứ Hóa không đụng tới Hồng Loan. Hồng Loan là một tấm lụa hồng: tự nó không phát sáng, nó chỉ nhuộm màu cái đèn đặt cạnh nó. Chính tinh đồng cung hóa gì thì tấm lụa ấy ngả sang màu đó. Đây mới là cách đọc đúng: không hỏi Hồng Loan hóa gì, mà hỏi cung có Hồng Loan đang chứa hóa gì.

Hồng Loan gặp chính tinh hóa Lộc

Lộc là cái được, là dòng chảy vào. Hồng Loan gặp sao hóa Lộc đồng cung thì hỷ sự có kèm thực chất: cưới hỏi có của, có nhà, có nghề nghiệp ổn định đi cùng; duyên gặp là duyên đem lại lợi ích thật chứ không phải chỉ vui mắt. Thầy để ý hai trường hợp thường thấy nhất. Một là tuổi Mậu có Tham Lang hóa Lộc, mà Tham Lang vốn đã là chính tinh đào hoa; Tham Lang hóa Lộc gặp Hồng Loan là người có sức hút rất mạnh, giao tế rộng, tình duyên đến sớm và đến nhiều, cái được là nhân duyên rộng, cái phải giữ là biết dừng đúng lúc. Hai là tuổi Đinh có Thái Âm hóa Lộc; Thái Âm là sao chủ về vợ, về mẹ, về của cải kín, gặp Hồng Loan thì hôn nhân thường gắn với tài sản và với người phụ nữ trong nhà, nữ mệnh dễ được nhà chồng quý, nam mệnh dễ nhờ vợ mà nên.

Hồng Loan gặp chính tinh hóa Quyền

Quyền là cái nắm, là sức ép. Hồng Loan gặp sao hóa Quyền thì hỷ sự có tính "quyết": nói cưới là cưới, quyết là làm, ít khi kéo dài dùng dằng. Mặt trái là trong quan hệ đôi lứa dễ có một bên áp đặt, và cái áp đặt ấy thường đến từ phía có Quyền. Thái Dương hóa Quyền tuổi Tân đồng cung Hồng Loan ở Phu Thê thì người bạn đời có vai vế, có tiếng nói, nhưng cũng dễ khiến người kia phải nhường. Vũ Khúc hóa Quyền tuổi Canh gặp Hồng Loan thì hôn nhân rành mạch chuyện tiền nong tới mức khô khan, cần Hồng Loan làm mềm mà vẫn chưa đủ mềm.

Hồng Loan gặp chính tinh hóa Khoa

Khoa là danh tiếng, là cái đẹp có tiếng thơm, cũng là sao giải. Hồng Loan gặp Khoa là thế đẹp nhất trong bốn hóa đối với sao này: duyên tình đàng hoàng, cưới hỏi có nghi lễ, được người ngoài khen, ít điều tiếng. Hồng Loan gặp Khoa còn có một công dụng quý là giải bớt cái lụy: lá số có Hồng Loan đi cùng Thiên Riêu mà lại có một sao hóa Khoa trong cùng cung hoặc chiếu về thì cái đa tình được kéo về phía tình cảm lành mạnh, thay vì trượt sang phía vụng trộm. Đây là chỗ Thầy hay nhìn trước khi kết luận nặng lời về một lá số có Hồng Riêu.

Hồng Loan gặp chính tinh hóa Kỵ

Kỵ là cái vướng, cái dính, cái không dứt ra được. Hồng Loan gặp Hóa Kỵ đồng cung là tấm lụa hồng bị buộc nút: tình cảm vẫn có, thậm chí rất sâu, nhưng sâu theo lối vướng víu. Biểu hiện thường gặp là duyên đến rồi trắc trở, cưới hỏi bị hoãn, hoặc thương mà không nói được, hoặc dứt rồi vẫn quay lại. Bốn thế Kỵ mà Thầy thấy nặng nhất khi đi với Hồng Loan:

  • Tuổi Ất, Thái Âm hóa Kỵ. Thái Âm chủ vợ và mẹ. Hồng Loan gặp Thái Âm Kỵ tại Phu Thê là hôn nhân nhiều lo nghĩ ngầm, nữ mệnh hay tự chịu đựng; tại Điền Trạch thì chuyện nhà cửa và chuyện tình cảm buộc vào nhau.
  • Tuổi Quý, Tham Lang hóa Kỵ. Đào hoa tinh mà hóa Kỵ thì sức hút vẫn còn nhưng thành cái vướng: nhiều mối mà không mối nào yên, hoặc mê một thứ tới mức bỏ bê việc khác. Hồng Loan đồng cung càng làm đậm cái mê ấy.
  • Tuổi Đinh, Cự Môn hóa Kỵ. Cự Môn Kỵ là miệng tiếng. Hồng Loan gặp Cự Kỵ thì chuyện tình cảm dễ bị đem ra bàn tán, hoặc chính lời ăn tiếng nói làm hỏng duyên. Đây là thế cần khuyên người ta giữ mồm giữ miệng hơn là khuyên đi xem ngày.
  • Tuổi Kỷ có Văn Khúc hóa Kỵ và tuổi Tân có Văn Xương hóa Kỵ. Xương Khúc an theo giờ sinh nên có thể rơi vào bất cứ cung nào, kể cả cung có Hồng Loan. Xương Khúc Kỵ gặp Hồng Loan thường ứng vào giấy tờ và chữ nghĩa của chuyện hôn nhân: đăng ký chậm, giấy tờ sai, thư từ tin nhắn gây hiểu lầm.

Hóa từ cung khác bay tới, và vì sao Hồng Loan hay là nơi hóa đáp xuống

Bắc phái xét thêm một tầng nữa gọi là phi hóa: mỗi cung có can riêng, can ấy phóng ra bốn hóa bay sang cung khác. Hồng Loan tuy không hóa nhưng lại hay là đích đến của những hóa bay ấy, vì ba lẽ. Một, Hồng Loan an được cả mười hai cung nên xác suất nằm đúng cung bị hóa nhập là cao nhất trong nhóm sao đào hoa. Hai, Hồng Loan luôn kèm Thiên Hỷ ở cung đối, nên một hóa bay vào cung Hồng Loan thì lập tức có mặt trên cả trục hỷ khánh, không cách nào tránh. Ba, cung Phu Thê là cung mà người ta hay soi phi hóa nhất khi xem hôn nhân, mà Hồng Loan lại là sao hay được hỏi tới nhất ở cung ấy.

  • Can cung Phu Thê phóng Kỵ nhập cung Mệnh mà cung Mệnh có Hồng Loan: chuyện đôi lứa đè lên bản thân, người ấy sống vì mối quan hệ nhiều hơn vì mình.
  • Can cung Mệnh phóng Kỵ nhập cung Phu Thê có Hồng Loan: chính mình là người bám vào mối quan hệ, khó buông, dễ níu kéo.
  • Can cung Phúc Đức phóng Lộc nhập cung có Hồng Loan: phúc phần đưa duyên tới, thường ứng vào việc được người lớn trong nhà mai mối hoặc vun vào.

Tầng phi hóa này thuộc phần luận sâu và cần cả lá số mới nói được, bài viết chỉ nêu nguyên lý. Trên trang an lá số, sau khi lập lá số quý vị bấm vào từng cung sẽ thấy các dòng hóa xuất phát từ can của cung ấy bay đi đâu.

Tóm lại một câu để nhớ cho mục này: Hồng Loan không có Tứ Hóa của riêng mình, nên đọc Hồng Loan là đọc cái cung chứa nó. Người luận giỏi nhìn Hồng Loan xong là mắt đi ngay sang chính tinh cùng cung, rồi sang cung xung chiếu có Thiên Hỷ, rồi mới hỏi tuổi can để biết bốn hóa rơi vào đâu. Ai chỉ nhìn thấy hai chữ Hồng Loan rồi phán ngay chuyện cưới xin là mới đọc được cái vỏ.

Hội Họp Các Sao Và Bộ Cách

Hồng Loan phối với các sao tạo nên sắc thái hỷ sự khác nhau:

Đào Hoa, Thiên Hỷ

  • Ý nghĩa kết hợp: Bộ Tam Minh, duyên tình hỷ khánh rực rỡ.

Thiên Hỷ (xung chiếu)

  • Ý nghĩa kết hợp: Trục hỷ sự, lợi cưới hỏi, sinh nở.

Tử, Phủ, Nhật, Nguyệt

  • Ý nghĩa kết hợp: Thêm rực rỡ, duyên có quý khí.

Thiên Riêu, Đà, Kỵ

  • Ý nghĩa kết hợp: Giảm đoan chính, dễ lụy tình.

Các Cách Cục Của Hồng Loan Và Điều Kiện Thành Cách

Một cách cục chỉ có nghĩa khi nêu đủ điều kiện thành và điều kiện phá. Đây là chỗ người mới hay mừng hụt: thấy hai chữ Hồng Loan ở cung Phu Thê đã vội reo lên là năm nay cưới, trong khi cung ấy đang bị Triệt và đại vận thì còn ở tận cung khác. Tám cách dưới đây, mỗi cách Thầy ghi rõ thành cách ra sao, đủ đẹp thì cần gì, đáng ngại ở đâu, và phá cách hay giải cách bằng gì.

Một, Hồng Loan Thiên Hỷ, trục hỷ khánh

Thành cách: đây là cách duy nhất trong bài ai cũng có, vì Thiên Hỷ luôn ở cung xung chiếu của Hồng Loan, đủ mười hai tuổi không sót một ai. Cái phải hỏi không phải là có hay không, mà là trục ấy vắt qua hai cung chức nào. Đủ đẹp: trục rơi vào cặp Mệnh với Thiên Di, hoặc cặp Phu Thê với Quan Lộc, lại có chính tinh sáng sủa như Tử Vi, Thiên Phủ, Thái Dương, Thái Âm tọa thủ, thêm cát tinh Xương Khúc, Khôi Việt, Tả Hữu chầu về. Người hợp cách này cả đời có nhiều việc mừng, không phải chỉ một việc cưới xin: đỗ đạt, thăng chức, sinh con, tân gia, đều được kể là hỷ. Đáng ngại: trục rơi vào cặp Tật Ách với Phụ Mẫu mà lại có sát tinh, vì khi ấy cái "động" của trục hỷ khánh dễ ứng vào việc động chạm thân thể và động chạm người trên. Phá cách: Tuần hoặc Triệt án ngữ đúng một trong hai đầu trục, khiến việc mừng đến nửa chừng rồi khựng lại; hoặc Không Kiếp giáp một đầu, khiến việc mừng có mà không giữ được thành quả.

Hai, Đào Hồng, Hồng Loan gặp Đào Hoa

Thành cách: Hồng Loan và Đào Hoa cùng nằm trong một tam phương tứ chính. Đây là cách bị nói sai nhiều nhất, nên xin nhắc lại con số đã kiểm bằng thuật toán ở mục cấu trúc: hai sao đồng cung chỉ với tuổi Mão (tại Tý) và tuổi Dậu (tại Ngọ); xung chiếu với tuổi Tý và tuổi Ngọ; tam hợp chiếu với tuổi Sửu, Tỵ, Mùi, Hợi; và không hội chiếu bằng bất cứ đường nào với bốn tuổi Dần, Thìn, Thân, Tuất. Bốn tuổi cuối này không có cách Đào Hồng, chấm hết. Đủ đẹp: thế đồng cung của tuổi Mão và tuổi Dậu là mạnh nhất, người có sức hút rõ rệt, ăn nói dễ nghe, đi tới đâu cũng có người để ý; nếu thêm chính tinh sáng và có Hóa Khoa thì là cái duyên đàng hoàng, hợp nghề đứng trước đám đông. Đáng ngại: Đào Hồng mạnh mà Mệnh không có sao chủ vững, lại thêm Thiên Riêu, Đà La, Hóa Kỵ thì Tân Biên nói thẳng là giảm phần đoan chính, tình duyên nhiều mà không sâu. Giải cách: có Hóa Khoa, có Thiên Lương hoặc Thiên Đồng làm chủ, hoặc cung Phúc Đức vững, thì cái đa duyên chuyển thành cái được lòng người.

Ba, Tam Minh Đào Hồng Hỷ

Thành cách: đủ ba sao Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỷ cùng hội trong một tam phương tứ chính. Vì Thiên Hỷ luôn xung Hồng Loan, nên hễ Đào Hoa hội được Hồng Loan là bộ ba tự động đủ. Kết quả kiểm bằng thuật toán: tám tuổi Tý, Sửu, Mão, Tỵ, Ngọ, Mùi, Dậu, Hợi thành cách; bốn tuổi Dần, Thìn, Thân, Tuất không bao giờ thành. Đủ đẹp: bộ ba rơi vào tam phương của cung Mệnh hoặc cung Phu Thê, có chính tinh sáng, thêm Long Trì Phượng Các thì duyên tình rực rỡ mà vẫn đứng đắn, cưới hỏi long trọng. Đáng ngại: bộ ba đủ mà lại đóng ở tam phương của Nô Bộc hoặc Thiên Di, cả cuộc đời đông người vui bạn mà chuyện riêng của mình thì muộn. Phá cách: Không Kiếp thủ cung Mệnh, hoặc Cô Thần Quả Tú cùng chầu, khi ấy đông vui bên ngoài mà bên trong vẫn lẻ.

Bốn, Hồng Loan gặp Thiên Hình

Thành cách: Thiên Hình đồng cung hoặc chiếu Hồng Loan. Nhớ điều đã chứng ở mục cấu trúc: Thiên Hình và Thiên Riêu luôn cách nhau tám cung nên luôn tam hợp nhau, vì thế hễ Thiên Hình đồng cung Hồng Loan thì Thiên Riêu chắc chắn tam hợp chiếu về. Không có chuyện Hồng Loan chỉ gặp Hình mà tuyệt nhiên vắng Riêu. Thế đồng cung này hiếm: mỗi tuổi chỉ có đúng một tháng sinh tạo ra nó, tra bảng ở mục cấu trúc là biết. Đáng ngại: Hình là hình pháp, là dao kéo, là kỷ luật. Hồng Loan là cái mềm. Hai sao ngồi chung là cái mềm bị cắt: chuyện tình cảm hay dính tới giấy tờ pháp lý, tới ràng buộc, tới chia tách; ở cung Tật Ách thì nghiêng về can thiệp bằng thủ thuật; ở cung Phu Thê thì hôn nhân có phần lạnh và có kỷ luật, hoặc có lúc phải nhờ tới pháp luật để phân định. Đủ đẹp, mặt tích cực ít người nói: Thiên Hình cũng là sao chủ về kỷ cương và nghề dùng dao dùng luật. Hồng Loan gặp Thiên Hình mà chính tinh sáng, thêm Hóa Khoa, thì rất hợp các nghề đòi cả cái đẹp lẫn cái chính xác: y khoa, thẩm mỹ, luật sư về hôn nhân gia đình, giám định. Cái sắc của Hình lúc ấy không cắt vào duyên mà cắt vào nghề. Phá cách: thêm Kình Dương hoặc Hóa Kỵ vào cùng cung, khi ấy cái sắc quay ngược vào chính mình.

Năm, Hồng Loan gặp Thiên Riêu

Thành cách: Thiên Riêu đồng cung hoặc chiếu Hồng Loan. Tân Biên xếp đây vào nhóm thế làm giảm sự đoan chính, nhất là khi có thêm Đà La và Hóa Kỵ. Cũng như trên, hễ Riêu đồng cung Hồng Loan thì Thiên Hình chắc chắn tam hợp chiếu về, nên cách này thực chất luôn là thế ba sao Hồng Riêu Hình chứ không phải hai sao. Đáng ngại: Riêu là sương mù, là cái quyến rũ có phần mờ ám, là chuyện không tiện nói ra. Hồng Loan gặp Riêu thì duyên dễ thành lụy: mê đắm, vướng vào chuyện tình cảm phức tạp, hoặc bị người khác mê mình mà sinh phiền. Ở cung Phu Thê thì phải hỏi kỹ trước khi kết luận, không được nói thẳng chuyện ngoại tình cho khách nghe, vì cùng một thế sao ấy có người ứng vào tình cảm, có người ứng vào việc bị hiểu lầm oan. Giải cách: có Hóa Khoa, có Thiên Lương, có Tuần hoặc Triệt che đúng cung có Riêu, hoặc cung Phúc Đức có cát tinh vững; khi ấy cái mê chuyển thành cái tinh tế, hợp nghệ thuật, hợp nghề chăm sóc con người. Ranh giới cần giữ: Riêu làm Hồng Loan đục đi, nhưng không biến Hồng Loan thành sao dâm. Sách nói giảm đoan chính, không nói mất đạo đức. Người luận phải giữ đúng mức chữ nghĩa của sách.

Sáu, Hồng Loan tại Phu Thê và ứng kỳ cưới hỏi

Thành cách: Hồng Loan tọa thủ cung Phu Thê, khi ấy Thiên Hỷ tất ở cung Quan Lộc. Đây là vị trí được hỏi nhiều nhất trong cả bài. Tân Biên khen Hồng Loan chủ hỷ sự, cưới hỏi, có ảnh hưởng tới vợ hoặc chồng; nhưng cũng chính Tân Biên lưu ý Hồng tọa thủ Mệnh Thân có thể chủ hai đời vợ chồng, nên ở Phu Thê càng không được đọc một chiều. Đủ đẹp: Hồng Loan Phu Thê đi cùng chính tinh miếu vượng, có Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc, thêm Long Trì Phượng Các hoặc Thiên Hỷ chiếu mạnh, không bị sát tinh. Người hợp cách này bạn đời ưa nhìn, hôn nhân là việc mừng của hai họ, và thường cưới đúng vào giai đoạn đại vận đi qua cung Phu Thê. Đáng ngại: Hồng Loan Phu Thê mà thêm Thiên Riêu, Đà La, Hóa Kỵ hoặc nhiều sát tinh thì Tân Biên nói là khó bền; thực tế thường ứng vào cưới sớm rồi phải làm lại, hoặc duyên nồng lúc đầu rồi nguội. Phá cách: Tuần hay Triệt án ngữ cung Phu Thê, ứng vào cưới hụt, hoãn cưới, hoặc mối duyên bị chặn ngang; Không Kiếp đồng cung thì đến nhanh đi nhanh. Ứng kỳ: phần này Thầy để riêng ở mục vận hạn bên dưới, vì muốn nói năm nào cưới thì phải có đủ đại vận, lưu niên và lưu sao, chứ một mình Hồng Loan bản mệnh không định được năm.

Bảy, Hồng Loan gặp Tuần, Triệt hoặc Không Kiếp

Thành cách, và đây là cách đáng ngại: Tuần hoặc Triệt án ngữ đúng cung có Hồng Loan, hoặc Địa Không, Địa Kiếp đồng cung, giáp, hay xung chiếu. Bốn sao này khác nhau về cơ chế nên phải tách ra. Tuần và Triệt là màn che: cái gì ở dưới vẫn còn đó, chỉ là không phát ra được trong một quãng. Hồng Loan bị Triệt thì việc mừng đến muộn, hoặc đã sắp thành rồi phải hoãn; rất hay ứng vào chuyện dạm hỏi xong mà chưa cưới được. Có một mặt ngược ít người để ý: nếu Hồng Loan đang đi cùng Thiên Riêu và sát tinh, tức đang ở thế xấu, thì Tuần Triệt che lại có khi lại đỡ, vì cái đục bị che bớt. Đây là nguyên lý chung của Tuần Triệt, che cái sáng thì tiếc, che cái tối thì đỡ. Không Kiếp là moi rỗng: khác Tuần Triệt ở chỗ Không Kiếp không che mà lấy đi. Hồng Loan gặp Không Kiếp thì tình đến nhanh, đi cũng nhanh, người ta gọi là duyên hờ; ở Phu Thê thì hôn nhân dễ có quãng ly tán; ở Tài Bạch thì tiền theo tình mà đi. Giải cách: có Hóa Khoa hoặc Thiên Lương giải, có Lộc Tồn giữ, hoặc cung Phúc Đức có cát tinh mạnh. Thầy nhấn thêm một điều thực tế: gặp thế này thì lời khuyên nên là đừng vội, chứ không phải đừng cưới. Rất nhiều lá số Hồng Loan bị Triệt cưới muộn vài năm rồi vẫn êm ấm cả đời.

Tám, Hồng Loan gặp Tử Phủ Nhật Nguyệt và bộ Long Phượng

Thành cách: Hồng Loan đồng cung hoặc hội chiếu với Tử Vi, Thiên Phủ, Thái Dương, Thái Âm. Tân Biên chép rằng Hồng Loan làm cho Tử, Phủ, Nhật, Nguyệt thêm rực rỡ. Đây là một trong ít câu sách nói thẳng về mặt tốt của Hồng Loan mà không kèm điều kiện dài dòng. Đủ đẹp: bốn sao ấy đang miếu vượng, lại thêm Long Trì Phượng Các hoặc Thiên Hỷ chiếu; người hợp cách này có phong thái, có dung mạo dễ nhìn, được người kính mà cũng được người mến, hợp việc đối ngoại và việc lễ nghi. Đáng ngại: nếu bốn chính tinh ấy đang hãm hoặc đang mang Hóa Kỵ thì Hồng Loan không cứu được, nó chỉ tô đậm thêm cái đang có; lụa hồng phủ lên cái cũ thì cái cũ vẫn là cái cũ. Phá cách: Không Kiếp, Kình Đà cùng cung, khi ấy cái rực rỡ chỉ còn ở vẻ ngoài.

Ba điều phải nhớ khi dùng các cách trên

  • Không có cách nào của Hồng Loan tự nó quyết định cục diện. Hồng Loan là phụ tinh, mọi cách trên đều phải đọc chồng lên chính tinh của cung. Cùng một thế Hồng Riêu, đặt trên Thiên Lương khác hẳn đặt trên Tham Lang.
  • Có bốn tuổi không thể có cách Đào Hồng và Tam Minh. Tuổi Dần, Thìn, Thân, Tuất. Đây là kết quả của thuật toán an sao chứ không phải ý kiến của một phái nào, nên không có dị bản để tranh cãi.
  • Người lớn tuổi gặp hạn Hồng Loan thì đọc khác người trẻ. Trong dân gian và trong nhiều bản chép tay có lưu truyền một câu đại ý người già gặp hạn Hồng Loan thì chưa hẳn là tin mừng. Thầy nêu ý ấy ở đây và gắn thẻ chứ không gắn , vì bài này chưa đối chiếu được nguyên văn trên bản in của Tân Biên hay Toàn Thư. Về nguyên lý thì cũng hợp: Hồng Loan chủ sự động của tình cảm và của hỷ sự, mà cái động ấy ở tuổi già thường ứng vào biến cố trong nhà nhiều hơn là vào chuyện cưới xin. Gặp thế này Thầy khuyên xem thêm cung Tật Ách và các lưu sát tinh của năm rồi mới nói, tuyệt đối không dọa người.

Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế

Trước khi đọc hai cột dưới đây, xin nhớ quy tắc về lực, vì cùng một ngôi sao mà đứng ở vị thế khác nhau sẽ cho hai kết quả khác nhau. Đồng cung mạnh nhất, hai sao ngồi chung một cung thì tính chất trộn vào nhau. Xung chiếu mạnh nhì, cung đối diện chiếu thẳng sang, thấy rõ nhưng còn khoảng cách. Tam hợp chiếu nhẹ hơn, có ảnh hưởng mà không quyết định. Giáp là thế bao vây, hai cung hai bên kẹp lại, mạnh với sát tinh và nhẹ với cát tinh. Riêng với Hồng Loan còn một lưu ý về cấu trúc: Thiên Hỷ chỉ có thể ở thế xung chiếu, không bao giờ đồng cung; Thiên Mã chỉ có thể ở thế liền cung, không bao giờ đồng cung, xung chiếu hay tam hợp; nên đừng tìm những thế không tồn tại.

Hồng Loan rất hợp khi gặp

  • Thiên Hỷ (chỉ có thế xung chiếu, ai cũng có): trục hỷ khánh, nền tảng của mọi cách vui trong lá số. Việc cần làm là xem trục ấy vắt qua hai cung chức nào.
  • Đào Hoa (đồng cung mạnh nhất, chỉ với tuổi Mão và tuổi Dậu; xung chiếu với tuổi Tý và Ngọ; tam hợp với tuổi Sửu, Tỵ, Mùi, Hợi): sức hút và duyên tình cùng nổi, thành bộ Đào Hồng.
  • Long Trì, Phượng Các (đồng cung hoặc chiếu): duyên đẹp mà đứng đắn, cưới hỏi có nghi lễ; đây là bộ mà giới luận giải quen xếp chung với Hồng Loan để làm sang cho cách.
  • Tử Vi, Thiên Phủ, Thái Dương, Thái Âm miếu vượng (đồng cung mạnh nhất): Tân Biên chép Hồng Loan làm bốn sao này thêm rực rỡ.
  • Hóa Khoa (đồng cung hoặc chiếu): kéo cái duyên về phía đàng hoàng, có tiếng thơm; đây là sao giải quan trọng nhất cho mọi thế xấu của Hồng Loan.
  • Lộc Tồn (đồng cung, chỉ với sáu tuổi Bính Tuất, Mậu Tuất, Nhâm Thìn, Đinh Dậu, Kỷ Dậu, Quý Mão): duyên có gốc, có của giữ lại, hiếm và đáng quý.
  • Thiên Khôi, Thiên Việt (đồng cung hoặc chiếu): có quý nhân đứng ra mai mối, tác thành; rất hay ứng vào người lớn trong họ.
  • Thiên Đồng, Thiên Lương (đồng cung): làm dịu và làm lành, hợp cho lá số Hồng Loan đang bị sát tinh quấy.

Hồng Loan e ngại khi gặp

  • Thiên Riêu (đồng cung nặng nhất, tam hợp chiếu nhẹ hơn): giảm phần đoan chính, duyên dễ thành lụy. Nhớ rằng hễ Riêu đồng cung thì Thiên Hình tất tam hợp chiếu về.
  • Đà La (đồng cung, chỉ với bốn tuổi Ất Sửu, Tân Mùi, Giáp Dần, Canh Thân): duyên bị kéo lại, chậm, dở dang rồi nối; Tân Biên xếp Riêu Đà Kỵ là bộ làm giảm sự đoan chính.
  • Hóa Kỵ của chính tinh cùng cung (đồng cung nặng nhất, xung chiếu kế): tình cảm vướng víu, dứt không xong, hoặc cưới hỏi trục trặc giấy tờ.
  • Kình Dương (đồng cung, chỉ với bốn tuổi Giáp Tý, Canh Ngọ, Ất Hợi, Tân Tỵ): duyên gấp gáp, dễ sứt mẻ vì lời nói và tính khí.
  • Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung hoặc giáp, giáp còn nặng hơn chiếu): duyên hờ, đến nhanh đi nhanh, thành quả khó giữ.
  • Tuần, Triệt án ngữ (chỉ có thế án ngay cung): việc mừng bị hoãn, cưới hụt; nhưng nếu Hồng Loan đang ở thế đục thì bị che lại đỡ xấu.
  • Cô Thần, Quả Tú (đồng cung hoặc chiếu): ngoài vui trong lẻ, đông người mà vẫn thấy một mình.
  • Nhiều sát tinh cùng chầu (bất kỳ vị thế nào, cộng dồn): Tân Biên nói gặp nhiều Sát thì khó bền. Đây là điều kiện cộng dồn chứ không phải một sao quyết định.

Tóm lại, Hồng Loan là phụ tinh: đi với chính tinh và cát tinh hợp cách thì phát huy mặt hay, gặp sát tinh và hung cách thì lộ mặt yếu. Luôn xét cả lá số.

Hồng Loan Trong Đại Vận Và Lưu Niên: Cách Xem Năm Kết Hôn

Đại vận đi vào cung có Hồng Loan

Đại vận là quãng mười năm. Khi đại vận chuyển tới đúng cung có Hồng Loan bản mệnh, cả mười năm ấy được nhuộm một sắc thái: đây là quãng đời mà chuyện tình cảm, chuyện quan hệ và chuyện vui trong nhà nổi lên thành việc chính. Không phải là mười năm lúc nào cũng cưới, mà là mười năm mà những việc thuộc loại hỷ sự dồn về. Với người còn trẻ, đây thường là quãng gặp người, yêu, cưới. Với người đã lập gia đình, đây thường là quãng con cái dựng vợ gả chồng, hoặc nhà có thêm người. Với người làm nghề, đây là quãng dễ phát về mặt quan hệ và tiếng tăm.

Hai điều phải xét thêm ngay khi đại vận chạm cung Hồng Loan. Thứ nhất, vì Thiên Hỷ luôn ở cung xung, nên đại vận vào cung Hồng Loan cũng đồng thời có Thiên Hỷ xung chiếu về cung đại vận, tức cả trục hỷ khánh cùng được kích hoạt, sức của nó mạnh hơn người ta tưởng. Thứ hai, phải xem cung đại vận ấy đồng thời là cung chức gì trên lá số gốc. Đại vận vào cung Hồng Loan mà cung ấy là Phu Thê thì nghĩa cưới hỏi rõ nhất; là Tử Tức thì nghiêng về con cái; là Điền Trạch thì nghiêng về nhà cửa; là Tật Ách thì phải cẩn thận, vì cái động của trục hỷ khánh rơi vào cung bệnh không còn là chuyện vui thuần túy nữa.

Ngược lại, đại vận đi vào cung có Hồng Loan mà cung ấy đang bị Triệt, hoặc có Không Kiếp, Thiên Riêu, Hóa Kỵ, thì mười năm ấy là mười năm tình cảm nhiều mà thành tựu ít: quen nhiều người, nhiều lần tưởng sắp thành, rồi lại thôi. Thầy hay khuyên người rơi vào thế này đừng vội kết luận mình vô duyên, mà nên dùng mười năm ấy để dựng nghề nghiệp, rồi đại vận sau thường êm hơn hẳn.

Bản lưu niên của Hồng Loan và của Thiên Hỷ

Hồng Loan an theo chi năm sinh, nên khi xem một năm cụ thể, phép luận lưu là lấy đúng công thức ấy áp cho chi của năm đang xem: cung Mão trừ đi chỉ số chi của năm ra lưu Hồng Loan, thêm sáu cung ra lưu Thiên Hỷ. Cách làm này cùng một cơ chế với lưu Đào Hoa và lưu Thiên Mã, những sao cũng an theo chi năm. Bảng dưới đây tính sẵn cho mười hai năm tới để quý vị đối chiếu với lá số của mình.

2026 Bính Ngọ

  • Lưu Hồng Loan: Dậu
  • Lưu Thiên Hỷ: Mão
  • Lưu Đào Hoa: Mão
  • Lưu Thiên Mã: Thân

2027 Đinh Mùi

  • Lưu Hồng Loan: Thân
  • Lưu Thiên Hỷ: Dần
  • Lưu Đào Hoa: Tý
  • Lưu Thiên Mã: Tỵ

2028 Mậu Thân

  • Lưu Hồng Loan: Mùi
  • Lưu Thiên Hỷ: Sửu
  • Lưu Đào Hoa: Dậu
  • Lưu Thiên Mã: Dần

2029 Kỷ Dậu

  • Lưu Hồng Loan: Ngọ
  • Lưu Thiên Hỷ: Tý
  • Lưu Đào Hoa: Ngọ
  • Lưu Thiên Mã: Hợi

2030 Canh Tuất

  • Lưu Hồng Loan: Tỵ
  • Lưu Thiên Hỷ: Hợi
  • Lưu Đào Hoa: Mão
  • Lưu Thiên Mã: Thân

2031 Tân Hợi

  • Lưu Hồng Loan: Thìn
  • Lưu Thiên Hỷ: Tuất
  • Lưu Đào Hoa: Tý
  • Lưu Thiên Mã: Tỵ

2032 Nhâm Tý

  • Lưu Hồng Loan: Mão
  • Lưu Thiên Hỷ: Dậu
  • Lưu Đào Hoa: Dậu
  • Lưu Thiên Mã: Dần

2033 Quý Sửu

  • Lưu Hồng Loan: Dần
  • Lưu Thiên Hỷ: Thân
  • Lưu Đào Hoa: Ngọ
  • Lưu Thiên Mã: Hợi

2034 Giáp Dần

  • Lưu Hồng Loan: Sửu
  • Lưu Thiên Hỷ: Mùi
  • Lưu Đào Hoa: Mão
  • Lưu Thiên Mã: Thân

2035 Ất Mão

  • Lưu Hồng Loan: Tý
  • Lưu Thiên Hỷ: Ngọ
  • Lưu Đào Hoa: Tý
  • Lưu Thiên Mã: Tỵ

2036 Bính Thìn

  • Lưu Hồng Loan: Hợi
  • Lưu Thiên Hỷ: Tỵ
  • Lưu Đào Hoa: Dậu
  • Lưu Thiên Mã: Dần

2037 Đinh Tỵ

  • Lưu Hồng Loan: Tuất
  • Lưu Thiên Hỷ: Thìn
  • Lưu Đào Hoa: Ngọ
  • Lưu Thiên Mã: Hợi

Bảng này cho ra hai điều rất tiện. Thứ nhất, lưu Hồng Loan trùng đúng vị trí Hồng Loan bản mệnh vào năm bản mệnh, tức năm mà chi của năm trùng chi năm sinh, ứng vào các tuổi mười hai, hai mươi bốn, ba mươi sáu, bốn mươi tám, sáu mươi. Thứ hai, lưu Hồng Loan trùng vị trí Thiên Hỷ bản mệnh vào năm xung với chi năm sinh, ứng vào các tuổi sáu, mười tám, ba mươi, bốn mươi hai, năm mươi tư. Hai loại năm ấy là hai loại năm mà trục hỷ khánh bản mệnh bị chồng lên trục hỷ khánh của năm, sức nặng gấp đôi, và trong thực tế luận thì rất hay ứng.

Thêm một quan sát nữa từ bảng: có những năm mà lưu Hồng Loan và lưu Đào Hoa rơi đúng vào một cung, thí dụ năm 2029 Kỷ Dậu cả hai cùng ở Ngọ. Đó là vì chi của năm rơi vào Mão hoặc Dậu, đúng hai tuổi cho thế đồng cung mà mục cấu trúc đã nêu. Năm nào có thế ấy thì lực đào hoa của năm dồn hết vào một cung, ai có cung Mệnh hay cung Phu Thê nằm đúng chỗ đó thì năm ấy chuyện tình cảm động rất rõ.

Ba tầng để xem năm kết hôn

Đây là phần Thầy muốn quý vị nhớ nhất. Không có chuyện chỉ nhìn một sao rồi phán năm cưới. Thầy luôn xét ba tầng, và chỉ khi cả ba cùng chỉ về một hướng mới dám nói.

Tầng một, đại vận. Hỏi trước: đại vận mười năm hiện tại đang ở cung nào. Ba trường hợp đáng chú ý là đại vận vào cung Phu Thê của lá số gốc, đại vận vào cung có Hồng Loan bản mệnh, và đại vận vào cung có Thiên Hỷ bản mệnh, tức đầu kia của trục. Không rơi vào một trong ba thì khả năng cưới trong mười năm ấy vẫn có nhưng phải có lý do khác đỡ, thường là do lưu niên rất mạnh hoặc do hoàn cảnh thực tế thúc.

Tầng hai, lưu niên. Trong mười năm ấy, năm nào nổi lên thì xét bốn dấu hiệu, đếm xem được mấy dấu:

  • Cung hạn của năm chạm đúng cung có Hồng Loan bản mệnh, hoặc chạm cung có Thiên Hỷ bản mệnh. Đây là dấu mạnh nhất.
  • Lưu Hồng Loan hoặc lưu Thiên Hỷ của năm bay vào cung Mệnh hoặc cung Phu Thê của lá số gốc. Tra bảng ở trên là ra.
  • Lưu Đào Hoa của năm bay vào cung Mệnh, cung Phu Thê, hoặc vào đúng cung có Hồng Loan bản mệnh. Lưu Đào Hoa chỉ có thể rơi vào Tý, Mão, Ngọ, Dậu, nên dấu này chỉ ứng cho người có các cung ấy ở vị trí quan trọng.
  • Tứ Hóa lưu của năm mang Lộc hoặc Khoa vào cung Phu Thê, hoặc mang Hóa Lộc vào cung có Hồng Loan. Ngược lại nếu năm ấy Hóa Kỵ lưu bay vào Phu Thê thì phải trừ điểm chứ không cộng.

Được ba trên bốn dấu trở lên thì Thầy mới coi là năm có ứng kỳ hôn nhân. Được một hoặc hai dấu thì nói là năm có duyên, có thể quen người, có thể được mai mối, chứ chưa chắc thành lễ. Đây là ranh giới mà người luận phải giữ, vì nói sai một năm cưới là làm khổ người ta cả năm trời chờ đợi.

Tầng ba, hoàn cảnh thật. Lá số nói cái xu thế, đời sống mới quyết cái sự việc. Một người hai mươi lăm tuổi và một người mười lăm tuổi có thể cùng gặp một năm đủ ba dấu, nhưng chỉ người thứ nhất mới cưới. Với người đã có gia đình, đúng năm ấy cái ứng thường chuyển sang việc khác trong cùng họ hỷ sự: sinh con, con cưới, tân gia, đổi việc mừng. Người luận bỏ qua tầng này là người chỉ đọc giấy chứ không đọc người.

Tứ Hóa lưu của năm chạm vào cung Hồng Loan

Hồng Loan không hóa, nhưng cung chứa Hồng Loan thì năm nào cũng có thể bị Tứ Hóa lưu chạm tới, vì Tứ Hóa lưu lấy theo can của năm xem. Bốn loại năm đáng chú ý nhất với người xem chuyện tình cảm:

  • Năm can Ất, Thái Âm lưu hóa Kỵ: 2015 Ất Mùi, 2025 Ất Tỵ, 2035 Ất Mão. Thái Âm chủ vợ và mẹ; năm này nếu Thái Âm nằm cùng cung hoặc chiếu cung có Hồng Loan thì chuyện tình cảm hay có nỗi buồn ngầm, nữ mệnh dễ nghĩ nhiều.
  • Năm can Đinh, Cự Môn lưu hóa Kỵ: 2017 Đinh Dậu, 2027 Đinh Mùi, 2037 Đinh Tỵ. Cự Kỵ chạm cung Hồng Loan là năm dễ có miệng tiếng quanh chuyện riêng; nên hạn chế phô ra, nhất là trên chỗ đông người.
  • Năm can Quý, Tham Lang lưu hóa Kỵ: 2023 Quý Mão, 2033 Quý Sửu, 2043 Quý Hợi. Đào hoa tinh mang Kỵ chạm Hồng Loan thì cái mê thành cái vướng, dễ sa vào chuyện không nên.
  • Năm can Mậu, Tham Lang lưu hóa Lộc: 2018 Mậu Tuất, 2028 Mậu Thân, 2038 Mậu Ngọ. Ngược với trên, đây là năm sức hút mạnh và quan hệ mở, nếu cộng thêm lưu Hồng Loan hay lưu Đào Hoa bay đúng cung Phu Thê thì là năm đáng chú ý cho chuyện dựng vợ gả chồng.

Xin nói rõ để tránh hiểu lầm: bốn nhóm năm trên chỉ đáng kể khi chính tinh đang hóa nằm cùng cung hoặc chiếu cung có Hồng Loan trên lá số của quý vị. Cùng một năm Đinh, người có Cự Môn ở góc xa lá số thì chẳng ứng gì, người có Cự Môn ngồi ngay cạnh Hồng Loan mới thấy rõ. Đây là lý do vì sao dự báo chung cho cả tuổi bao giờ cũng lỏng lẻo hơn luận trên một lá số cụ thể.

Các lưu sao khác chạm vào cung Hồng Loan

  • Lưu Thái Tuế tới cung Hồng Loan: năm mà chuyện tình cảm được đưa ra thành việc chính thức, có giấy tờ, có công bố. Cát tinh chầu thì là hỷ sự, sát tinh chầu thì là kiện tụng, tranh chấp liên quan hôn nhân.
  • Lưu Kình Dương, lưu Đà La tới cung Hồng Loan: năm hay xảy ra cãi vã, chia tay gấp, hoặc kéo dài dùng dằng. Nếu cung ấy là Tật Ách thì lưu ý sức khỏe đường sinh sản.
  • Lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ tới cung Hồng Loan, nhất là với người lớn tuổi: đây là tổ hợp Thầy luôn dặn xem thêm cung Tật Ách và cung Phụ Mẫu trước khi nói. Không dọa, nhưng cũng không được nói bừa là năm vui.
  • Lưu Đào Hoa tới cung có Hồng Loan bản mệnh: một trong bốn dấu của tầng hai ở trên, dấu này chỉ có thể xảy ra khi Hồng Loan bản mệnh nằm ở Tý, Mão, Ngọ hoặc Dậu, tức chỉ với bốn tuổi Mão, Tý, Dậu, Ngọ.
  • Lưu Thiên Mã chạm cung Hồng Loan: xin phân biệt cho rõ. Thiên Mã bản mệnh thì vĩnh viễn không bao giờ đứng chung cung với Hồng Loan bản mệnh, đó là luật đã chứng ở mục cấu trúc. Nhưng lưu Thiên Mã của một năm bất kỳ vẫn có thể rơi đúng cung có Hồng Loan bản mệnh, với điều kiện Hồng Loan bản mệnh nằm ở Dần, Tỵ, Thân hoặc Hợi, tức là với bốn tuổi tứ mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Khi ấy là năm duyên gắn với đi lại, chuyển chỗ, xa nhà.
  • Lưu Xương Khúc, lưu Khôi Việt tới cung Hồng Loan: năm thuận cho giấy tờ, thi cử, và cho việc có người đứng ra tác thành.

Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Hồng Loan

Hồng Loan là ngôi sao được nhắc nhiều nhất mỗi khi ai đó hỏi chuyện tình duyên, mà càng được nhắc nhiều thì càng bị gán thêm những thứ sách không hề nói. Mục này nói rõ Hồng Loan không chủ về gì, để quý vị khỏi mừng hụt cũng khỏi lo oan.

Hồng Loan không phải cái công tắc bật ra đám cưới

Sách nói Hồng Loan chủ hỷ sự, cưới hỏi, duyên tình, đem nhiều sự vui mừng. Sách không nói năm nào có Hồng Loan là năm ấy cưới. Chữ hỷ sự trong thư tịch rộng hơn chữ cưới rất nhiều: thi đỗ, được chức, sinh con, dựng nhà, mừng thọ, đều là hỷ. Trên thực tế, Thầy gặp không ít lá số mà năm Hồng Loan động lại ứng vào việc con cái đỗ đạt hoặc anh em trong nhà cưới, chứ không phải bản thân đương số. Muốn chỉ đúng vào chuyện hôn nhân của chính người xem thì phải hội đủ ba tầng như mục vận hạn đã trình bày, chứ một mình hai chữ Hồng Loan thì chưa đủ để nói bất cứ điều gì chắc chắn.

Hồng Loan không phải sao dâm dục, đó là việc của Thiên Riêu và Mộc Dục

Tân Biên xếp Hồng Loan cùng nhóm với Đào Hoa và mô tả là vui vẻ, mau mắn, đa tình, lợi cho thi cử cầu công danh, đem nhiều sự vui mừng. Nghĩa gốc của Hồng Loan thiên hẳn về hỷ khánh và duyên lành, không phải về phóng túng. Chỗ sách nói tới sự giảm đoan chính là khi Hồng Loan gặp Thiên Riêu, Đà La, Hóa Kỵ, tức là do các sao kia mang tới chứ không phải bản thân Hồng Loan mang sẵn. Cách nói đúng là: Hồng Loan làm chuyện tình cảm nổi lên; Thiên Riêu mới là sao quyết định chuyện tình cảm ấy trong hay đục. Đổ hết cho Hồng Loan là oan cho một ngôi sao vốn được sách khen nhiều hơn chê.

Hồng Loan thủ Mệnh không đồng nghĩa hai đời chồng vợ

Câu trong sách là Mệnh Thân có Hồng tọa thủ cũng có thể chủ hai đời vợ chồng. Hai chữ "có thể" là ranh giới quan trọng nhất của cả bài. Đó là một khả năng cần xét thêm điều kiện, không phải một lời phán. Điều kiện phải xét gồm: cung Phu Thê có bị sát tinh, có Tuần Triệt, có Không Kiếp hay không; cung Phúc Đức dày hay mỏng; chính tinh chủ về hôn nhân đang miếu hay hãm; và tuổi cưới thật sự của người ấy. Thầy đã gặp rất nhiều lá số Hồng Loan thủ Mệnh mà một đời một vợ một chồng êm ấm. Đem một câu có chữ "có thể" ra nói với khách thành lời khẳng định là điều Thầy cấm học trò của mình làm.

Hồng Loan trong Tử Vi không phải Hồng Diễm hay Đào Hoa trong Bát Tự

Nhiều người đọc một bài Bát Tự nói về Hồng Diễm sát hay Đào Hoa sát, rồi đem sang áp vào lá số Tử Vi, hoặc ngược lại. Hai bên là hai hệ thống khác nhau hoàn toàn: Bát Tự luận theo can chi của bốn trụ và các thần sát riêng của nó, còn Hồng Loan trong Tử Vi Đẩu Số là một trong các sao được an vào mười hai cung theo địa chi năm sinh. Trùng tên hoặc gần tên không có nghĩa là trùng nghĩa, càng không có nghĩa là cộng dồn được với nhau. Muốn xem Bát Tự thì dùng đúng công cụ của Bát Tự tại trang lập lá số Bát Tự, đừng trộn hai hệ vào một câu kết luận.

Hồng Loan không có bảng miếu hãm chuẩn như chính tinh, và đó không phải lỗi

Với mười bốn chính tinh, các bộ sách đều lập bảng miếu vượng đắc hãm đủ mười hai cung. Với Hồng Loan thì không đồng đều: có bản chép mức đắc hãm, có bản chỉ mô tả tính chất mà không lập bảng. Khi hai bản khác nhau, đó là khác biệt giữa các trường phái, không phải một bên đúng một bên sai. Về nguyên lý thì cũng dễ hiểu: Hồng Loan an theo một tham số duy nhất là chi năm sinh, lại đi được cả mười hai cung, nên cái quyết định sức mạnh của nó chủ yếu là chính tinh cùng cung và các sao hội chiếu, chứ không phải bản thân địa chi. Bởi vậy khi đọc bảng đắc hãm của Hồng Loan ở bất cứ đâu, quý vị nên xem đó là gợi ý về sắc thái, không phải thước đo cứng như với chính tinh.

Không phải chỉ nữ mệnh mới xem Hồng Loan

Trong sách, Hồng Loan không được chép là sao riêng của nữ. Thư tịch nói Hồng Loan có ảnh hưởng tới vợ hoặc chồng, tức áp cho cả hai giới. Thói quen chỉ xem Hồng Loan cho phụ nữ là thói quen của người đời sau chứ không phải của sách. Trên lá số nam mệnh, Hồng Loan ở cung Phu Thê nói về người vợ và về cách người ấy bước vào hôn nhân, cũng rõ y như trên lá số nữ mệnh. Bỏ qua Hồng Loan khi luận cho nam là bỏ mất một nửa thông tin về cung Phu Thê.

Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải

Hồng Loan là ngôi sao dễ chịu nhất trong nhóm sao đào hoa, nên phần lời khuyên ở đây phần lớn không phải để hóa giải cái xấu mà để dùng cho đúng cái tốt. Thầy chia làm hai nhóm: nhóm cho người có Hồng Loan ở thế đẹp, và nhóm cho người có Hồng Loan bị Riêu, Kình Đà, Không Kiếp hay Hóa Kỵ quấy.

Nếu Hồng Loan của quý vị ở thế đẹp

  • Dùng cái duyên vào việc tử tế thì cái duyên bền. Hồng Loan cho quý vị lợi thế được người ta có thiện cảm ngay lần đầu gặp. Lợi thế ấy tiêu rất nhanh nếu dùng để lấy lòng suông, và tích lại rất dày nếu dùng để giữ chữ tín. Nghề nào cần gặp người thì quý vị có sẵn nửa phần vốn.
  • Đừng lẫn cái được lòng người với cái hợp làm bạn đời. Hồng Loan làm quý vị dễ mến nhiều người và dễ được nhiều người mến, nhưng chọn người đi cùng cả đời là việc của lý trí, phải xem tính nết, gia cảnh, cách xử sự lúc khó, chứ không xem cảm giác lúc mới quen.
  • Chủ động đúng lúc. Trong những đại vận và những năm mà trục hỷ khánh được kích hoạt như mục vận hạn đã chỉ, quý vị nên chủ động mở rộng chỗ gặp gỡ, nhận lời đi dự việc vui của người khác, không nên ru rú. Cùng một năm ấy, người đi ra thì gặp người, người ở nhà thì không.

Nếu Hồng Loan của quý vị bị sát tinh quấy

  • Gặp Thiên Riêu thì giữ ranh giới, đừng giữ bí mật. Phần lớn cái lụy của thế Hồng Riêu bắt đầu từ một chuyện nhỏ không tiện nói ra rồi lớn dần. Quy tắc rất giản dị: việc gì không nói được với người bạn đời thì đừng làm.
  • Gặp Kình Dương, Đà La thì chậm lại một nhịp. Kình làm lời nói sắc, Đà làm việc dây dưa. Trong lúc căng thì hoãn quyết định lại một ngày, đừng nhắn tin lúc đang giận. Nghe thì tầm thường mà chính là cách hóa giải hợp với cơ chế của hai sao ấy nhất.
  • Gặp Tuần Triệt thì đừng vội kết luận là vô duyên. Tuần Triệt là màn che chứ không phải là mất. Duyên đến muộn vài năm là chuyện rất thường trên loại lá số này. Việc nên làm trong quãng bị che là dựng nghề, dựng sức khỏe, dựng tài chính, để khi màn vén lên thì mình đã đủ vững.
  • Gặp Không Kiếp thì đừng đặt cược tài sản vào một mối quan hệ chưa đủ dài. Không Kiếp lấy đi cái mình cầm, nên chỗ dễ mất nhất của thế này là tiền bạc dính vào tình cảm: đứng tên hộ, vay hộ, góp vốn chung khi mới quen. Đây là lời khuyên thực tế nhất mà Thầy có thể đưa cho quý vị.
  • Gặp Hóa Kỵ thì làm cho rành mạch giấy tờ. Kỵ là cái dính. Đăng ký, hợp đồng, tài sản chung, di chúc, làm rõ ràng từ đầu thì cái dính không có chỗ bám.

Một điều Thầy muốn nói cho hết ý: không có phép nào "hóa giải" được vị trí của Hồng Loan, vì nó do chi năm sinh định ra và cố định suốt đời. Cái hóa giải được là cách quý vị hành xử trong lĩnh vực mà Hồng Loan chỉ tới. Ai bán cho quý vị một món đồ nói là trấn được sao Hồng Loan hay kích được Hồng Loan để cưới trong năm thì người ấy đang bán niềm tin chứ không bán mệnh lý. Thầy không làm việc ấy và cũng khuyên quý vị đừng mua.

Phong thủy bổ trợ, ghi rõ đây là gợi ý chung: những cách dưới đây thuộc về nếp sống và bài trí, không phải phép thuật, và không thay đổi được lá số. Giữ phòng ngủ gọn, thoáng, đủ tối khi ngủ và đủ sáng khi thức, kê giường có điểm tựa vững phía đầu. Trong nhà nên có một chỗ để đồ vật gợi việc vui của gia đình như ảnh cưới, ảnh họp mặt, thiệp mừng, thay vì để trống trơn. Với người đang mong duyên, cách bổ trợ có ích nhất vẫn là mở rộng chỗ gặp gỡ ngoài đời thật: sinh hoạt hội nhóm, học thêm một môn, nhận lời dự việc mừng của bạn bè. Màu sắc, hoa tươi, đồ trang trí ấm áp chỉ có tác dụng làm tâm mình dễ chịu và làm người khác thấy dễ gần, chừng ấy thôi, đừng trông đợi hơn.

Câu hỏi thường gặp

Hồng Loan là sao đào hoa chủ hỷ sự và cưới hỏi trong Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Thủy đới Kim, luôn xung chiếu với Thiên Hỷ. Cùng Đào Hoa, đây là cặp sao đào hoa chính của lá số.

Năm có Hồng Loan chiếu tới cung hạn thường báo hỷ sự, duyên tình, khả năng cưới hỏi hoặc gặp người thương, nhất là khi đi cùng Thiên Hỷ, Đào Hoa và cát tinh.

Cả hai đều là sao đào hoa, nhưng Hồng Loan thiên về hỷ sự, cưới hỏi và duyên lành, còn Đào Hoa thiên về sắc đẹp, sức hút và nét đa tình. Hai sao bổ trợ nhau khi luận tình duyên.

Hồng Loan an theo địa chi năm sinh và luôn nằm ở vị trí xung chiếu với Thiên Hỷ, tạo thành trục hỷ khánh trong lá số.

Chạy đủ mười hai địa chi năm sinh bằng thuật toán an sao thì chỉ có hai tuổi: tuổi Mão có Hồng Loan và Đào Hoa cùng đóng tại Tý, tuổi Dậu có hai sao cùng đóng tại Ngọ. Ngoài ra tuổi Tý và tuổi Ngọ có hai sao xung chiếu nhau, tuổi Sửu, Tỵ, Mùi, Hợi có hai sao tam hợp chiếu nhau, còn bốn tuổi Dần, Thìn, Thân, Tuất thì Hồng Loan và Đào Hoa cách nhau đúng hai cung nên không hội chiếu nhau bằng bất cứ đường nào.

Không, và đây là điều bất biến. Hồng Loan an theo công thức lấy Mão trừ đi chỉ số chi năm sinh, Thiên Mã an theo tam hợp chi năm sinh và chỉ đóng tại Dần, Tỵ, Thân, Hợi. Đối chiếu đủ mười hai tuổi thì khoảng cách giữa hai sao luôn là số lẻ, tức một, ba, năm, bảy, chín hoặc mười một cung. Vì đồng cung là cách không, xung chiếu là cách sáu, tam hợp là cách bốn hoặc tám, đều là số chẵn, nên Hồng Loan vĩnh viễn không đồng cung, không xung chiếu và không tam hợp với Thiên Mã. Bốn tuổi Tý, Tỵ, Ngọ, Hợi thì hai sao đứng liền cung nhau, đó là quan hệ gần nhất có thể có.

Không xem một dấu hiệu mà xem ba tầng chồng lên nhau. Tầng một là đại vận: đại vận mười năm có đi vào cung Phu Thê hoặc vào cung có Hồng Loan bản mệnh hay không. Tầng hai là lưu niên: cung hạn của năm có chạm cung Hồng Loan bản mệnh, hoặc lưu Hồng Loan cùng lưu Đào Hoa của năm có bay vào cung Mệnh, cung Phu Thê hay không. Tầng ba là điều kiện thực tế: tuổi tác, hoàn cảnh, ý muốn của đương số. Chỉ khi cả ba tầng cùng nói một hướng thì mới nên nói năm ấy là năm hỷ sự. Có Hồng Loan mà thiếu hai tầng kia thì thường chỉ là một mối duyên, một lời hỏi cưới chưa thành, hoặc một việc mừng khác trong nhà.