Tử Vi
Sao Hỷ Thần: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung
Tìm hiểu sao Hỷ Thần trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.
Tổng quan về sao Hỷ Thần
Hỷ Thần là sao thứ tám của vòng Bác Sĩ, là vị thần của niềm vui. Đây là một cát tinh, chủ hỷ sự, vui mừng, các việc cưới hỏi, sinh nở và những tin lành trong đời.
- Ngũ hành: Hỏa
- Nhóm: Vòng Bác Sĩ
- Cách an: Theo sao Lộc Tồn
- Cai quản: hỷ sự, vui mừng, cưới hỏi
- Tính chất: Hỷ sự, vui mừng
Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.
Ý nghĩa tại cung Mệnh
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Tính hòa nhã, dễ gần, nhìn việc theo mặt sáng, hồi phục tinh thần nhanh sau chuyện không vui. Đời có nhiều dịp mừng nho nhỏ.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Lạc quan quá tay thành chủ quan, hay tin điều mình muốn tin, dễ nhận lời rồi mới tính. Vui đâu chầu đấy nên khó bền một việc.
Ý nghĩa ở các cung khác
Đối chiếu ý nghĩa của Hỷ Thần với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.
Cung Phụ Mẫu
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Cha mẹ tính hiền hòa, nhà có nếp mừng lễ, quan hệ trên dưới nhẹ nhàng.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Bậc trên chiều con, thiếu phần nghiêm; hoặc việc trong nhà chỉ nói phần vui còn phần khó thì giấu nhau.
Cung Phúc Đức
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Tâm tính an, biết đủ, tuổi càng lớn càng thấy nhẹ. Đây là cung Hỷ Thần phát huy rõ nhất mặt hay.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Vui bề nổi mà trong lòng trống, tìm dịp vui để khỏi phải ngồi yên với chính mình.
Cung Điền Trạch
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Nhà cửa có dịp mừng: tân gia, sửa sang, thêm người. Không khí trong nhà ấm, khách tới thấy dễ chịu.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Nhà thành chỗ tụ tập ồn, chi cho việc sửa sang bày biện quá tay, việc giấy tờ nhà đất bị để chậm vì ngại.
Cung Quan Lộc
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Chỗ làm có không khí dễ chịu, đồng nghiệp thuận hòa, việc có tin vui theo đợt. Hợp nghề tổ chức sự kiện, dịch vụ, đón khách, giáo dục mầm non.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Công việc dễ dãi quá thành trì trệ, kỷ luật lỏng, mừng sớm khi việc chưa xong.
Cung Nô Bộc
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Bạn bè cấp dưới vui vẻ hợp tác, nhóm có không khí tốt, việc chung chạy vì mọi người thích làm cùng nhau.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Quan hệ chỉ vui lúc thuận, tới lúc khó thì tan. Người quanh mình rủ chơi nhiều hơn rủ làm.
Cung Thiên Di
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Ra ngoài gặp chuyện lành, đi xa có tin mừng, người lạ dễ có thiện cảm. Hợp việc phải giao tiếp và đón tiếp.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Ra ngoài ham vui, dễ bị cuốn theo cuộc hẹn không cần thiết, việc chính bị lùi lại.
Cung Tật Ách
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Tinh thần thoải mái, ăn ngủ dễ, ốm thì chóng lại. Sao này không nói gì về bộ phận cơ thể, chỉ nói về khí sắc.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Cái vui thành cái chủ quan với sức khỏe: ngại đi khám, ăn uống theo hứng, tiệc nhiều rượu nhiều. Bệnh phải đọc chính tinh và Tứ Hóa của cung, không đọc Hỷ Thần.
Cung Tài Bạch
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Tiền tới trong dịp vui: thưởng, quà, mừng, hoa hồng, việc làm thêm mùa lễ. Tiêu tiền thấy dễ chịu, không tiếc.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Vui tay là chi, tiền ra theo cảm hứng và theo dịp. Khoản mừng tặng biếu chiếm phần lớn hơn mức nên có.
Cung Tử Tức
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Tin vui về con cái, chuyện sinh nở thuận, con tính hồn nhiên dễ nuôi. Cũng chủ niềm vui từ việc mình tạo ra.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Mừng con mà thiếu phần rèn, dễ chiều. Tin vui đến rồi kèm việc phải thu xếp gấp.
Cung Phu Thê
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Duyên có tin mừng, chuyện cưới hỏi thuận, hai người sống với nhau nhẹ nhõm, biết làm nhau vui bằng việc nhỏ.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Vui thì hợp mà khó thì tránh, hai bên ngại nói chuyện nặng nên vấn đề bị đẩy lùi. Hỷ sự có mà phần lo cũng nhiều.
Cung Huynh Đệ
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Anh chị em bạn bè hòa thuận, nhà hay có dịp tụ họp, có người trong nhóm chuyên đứng ra tổ chức chuyện vui.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Vui vẻ bề ngoài mà việc chung không ai gánh, tiệc tùng nhiều mà lúc cần thì thưa người. Chi cho việc chung dễ vượt mức.
Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Hỷ Thần an theo sao Lộc Tồn, mà Lộc Tồn thì an theo thiên can năm sinh. Đặt Bác Sĩ vào đúng cung Lộc Tồn rồi đếm tiếp mười một sao của vòng, thuận với người dương nam âm nữ, nghịch với người âm nam dương nữ. Hỷ Thần là sao thứ tám trong thứ tự ấy, tức cách Bác Sĩ bảy bước. Đây là điều phải nắm trước tiên, vì nó phân biệt Hỷ Thần với một sao khác cũng mang chữ Hỷ và cũng chủ chuyện vui: sao Thiên Hỷ, an theo địa chi năm sinh, đã có trang riêng trong bộ này.
Bảy bước không phải điểm đối xứng của vòng mười hai, nên vị trí Hỷ Thần phụ thuộc cả hai thứ: thiên can năm sinh và chiều an. Người an thuận thì Hỷ Thần cách Lộc Tồn bảy cung theo chiều thuận; người an nghịch thì Hỷ Thần rơi vào cung cách Lộc Tồn năm cung theo chiều thuận. Vì thế, khác với Phi Liêm và Bác Sĩ vốn chỉ cần biết can là đủ, muốn an Hỷ Thần thì phải hỏi thêm người ấy nam hay nữ, tuổi can dương hay âm. Bảng dưới in đủ mười tuổi can cho cả hai chiều.
Giáp
- Lộc Tồn tại: Dần
- Hỷ Thần khi an thuận: Dậu
- Hỷ Thần khi an nghịch: Mùi
- Kình Dương · Đà La: Mão · Sửu
Ất
- Lộc Tồn tại: Mão
- Hỷ Thần khi an thuận: Tuất
- Hỷ Thần khi an nghịch: Thân
- Kình Dương · Đà La: Thìn · Dần
Bính
- Lộc Tồn tại: Tỵ
- Hỷ Thần khi an thuận: Tý
- Hỷ Thần khi an nghịch: Tuất
- Kình Dương · Đà La: Ngọ · Thìn
Đinh
- Lộc Tồn tại: Ngọ
- Hỷ Thần khi an thuận: Sửu
- Hỷ Thần khi an nghịch: Hợi
- Kình Dương · Đà La: Mùi · Tỵ
Mậu
- Lộc Tồn tại: Tỵ
- Hỷ Thần khi an thuận: Tý
- Hỷ Thần khi an nghịch: Tuất
- Kình Dương · Đà La: Ngọ · Thìn
Kỷ
- Lộc Tồn tại: Ngọ
- Hỷ Thần khi an thuận: Sửu
- Hỷ Thần khi an nghịch: Hợi
- Kình Dương · Đà La: Mùi · Tỵ
Canh
- Lộc Tồn tại: Thân
- Hỷ Thần khi an thuận: Mão
- Hỷ Thần khi an nghịch: Sửu
- Kình Dương · Đà La: Dậu · Mùi
Tân
- Lộc Tồn tại: Dậu
- Hỷ Thần khi an thuận: Thìn
- Hỷ Thần khi an nghịch: Dần
- Kình Dương · Đà La: Tuất · Thân
Nhâm
- Lộc Tồn tại: Hợi
- Hỷ Thần khi an thuận: Ngọ
- Hỷ Thần khi an nghịch: Thìn
- Kình Dương · Đà La: Tý · Tuất
Quý
- Lộc Tồn tại: Tý
- Hỷ Thần khi an thuận: Mùi
- Hỷ Thần khi an nghịch: Tỵ
- Kình Dương · Đà La: Sửu · Hợi
Đọc hai cột giữa của bảng rút ra ngay điều bất biến quan trọng nhất. Bảy cung và năm cung đều không phải khoảng cách tạo quan hệ trong Đẩu Số, vì quan hệ chỉ sinh ra ở khoảng cách không cung là đồng cung, bốn và tám cung là tam hợp, sáu cung là xung chiếu. Vậy Hỷ Thần vĩnh viễn không gặp Lộc Tồn và không gặp Bác Sĩ: không đồng cung, không xung chiếu, không tam hợp, ở bất kỳ tuổi nào và bất kỳ chiều an nào. Sao niềm vui và sao tài lộc dành dụm trong cùng một vòng mà cả đời không nhìn thấy nhau. Đây là chi tiết cấu trúc đáng nhớ nhất của Hỷ Thần, và nó bác thẳng câu quen miệng "Hỷ Thần gặp Lộc Tồn thì vui kèm lộc" mà nhiều trang chép lại.
Ngược lại, Hỷ Thần luôn gặp cả Kình Dương lẫn Đà La, và điều này cũng tuyệt đối. Kình Dương đứng liền sau Lộc Tồn, Đà La đứng liền trước. Người an thuận có Hỷ Thần cách Kình Dương đúng sáu cung nên xung chiếu, và cách Đà La bốn cung nên tam hợp. Người an nghịch thì đảo lại: xung chiếu Đà La, tam hợp Kình Dương. Không có trường hợp nào Hỷ Thần đồng cung với Kình hay Đà, cũng không có trường hợp nào nó thoát khỏi cả hai. Thầy vẫn nói với học trò rằng đây là chỗ cổ nhân sắp đặt rất tinh: niềm vui trong Đẩu Số không được đặt cạnh kho tiền, mà được đặt trong tầm nhìn của hai cây gai. Vui thì vui, nhưng luôn có cái nhắc mình đừng quên phần khó.
Sáu điều bất biến của Hỷ Thần
- Phải biết chiều an mới an được. Bảy bước không đối xứng, nên hỏi can năm sinh thôi chưa đủ; phải biết người ấy dương nam âm nữ hay âm nam dương nữ.
- Đủ mười hai cung. Gộp cả hai chiều thì Hỷ Thần có thể đóng bất kỳ cung nào trong mười hai cung, không có cung cấm. Đây là chỗ khác Phi Liêm, sao chỉ tới được tám cung.
- Không bao giờ gặp Lộc Tồn và Bác Sĩ. Luôn cách năm hoặc bảy cung, hai khoảng cách không tạo quan hệ.
- Luôn hội cả Kình Dương lẫn Đà La. An thuận thì xung Kình tam hợp Đà, an nghịch thì xung Đà tam hợp Kình. Không bao giờ đồng cung với hai sao ấy.
- Luôn bị Phi Liêm và Bệnh Phù giáp hai bên. Cố định ở mọi tuổi và cả hai chiều, chỉ đổi bên trái phải. Một bên là sao lời đồn, một bên là sao mỏi mệt, ở giữa là sao niềm vui.
- Trong vòng, luôn xung chiếu Lực Sĩ và luôn tam hợp Tiểu Hao cùng Quan Phủ. Ba quan hệ này cũng cố định tuyệt đối vì khoảng cách trong vòng không đổi.
Một hệ quả nữa ít người để ý: vì Hỷ Thần đi đủ mười hai cung và mọi chính tinh đều có thể rơi vào bất cứ cung nào qua mười hai thế của Tử Vi, nên Hỷ Thần có thể đứng cùng bất cứ chính tinh nào, hoặc đứng một mình trong cung vô chính diệu. Nó không kén hàng xóm. Cũng vì thế, giá trị luận của Hỷ Thần nằm ở chỗ nó đứng cạnh ai chứ không nằm ở chỗ nó có mặt hay không có mặt: lá số nào cũng có một Hỷ Thần, không thiếu ai cả.
Cách An Rút Gọn Và Vị Trí Trong Lá Số
Vòng Bác Sĩ gồm mười hai sao an theo sao Lộc Tồn. Bác Sĩ luôn đứng cùng cung với Lộc Tồn, rồi lần lượt Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ được an theo chiều thuận với người dương nam âm nữ và nghịch với người âm nam dương nữ.
Trong vòng mười hai sao, Hỷ Thần giữ vị trí cố định theo thứ tự. Biết Bác Sĩ (cùng cung Lộc Tồn) ở đâu và chiều an thuận hay nghịch là suy ra được vị trí Hỷ Thần.
Đặc Tính Và Tượng Của Hỷ Thần
Hỷ Thần mang khí vui tươi, gắn với hỷ sự và tin lành. Ở cung Phu Thê, Tử Tức, Phúc, nó báo điềm vui về tình duyên, con cái, gia đạo. Người có Hỷ Thần thường lạc quan, hòa nhã, đời có nhiều dịp vui.
Là cát tinh, Hỷ Thần đi cùng Thanh Long, Hồng Loan, Thiên Hỷ và chính tinh sáng thì điềm vui càng rõ, hợp các việc hôn nhân, sinh con, mừng khánh.
Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
Trước khi đọc hai cột dưới, cần nhớ quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Hỷ Thần là mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn, còn giáp hai bên là thế bao vây, mạnh với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Với Hỷ Thần còn thêm một tầng: cấu trúc an sao khóa sẵn một số quan hệ, có sao không bao giờ gặp được và có sao chắc chắn phải gặp. Danh sách dưới ghi rõ vị thế khả dĩ của từng sao.
Hỷ Thần hợp khi gặp
- Thiên Hỷ (đồng cung chỉ ở tám trường hợp đã liệt kê ở mục vòng; ngoài ra chiếu hoặc không liên quan): hai sao cùng tượng vui gặp nhau, hỷ sự rõ nét, hợp việc cưới hỏi sinh nở.
- Hồng Loan (đồng cung được ở một số hoa giáp, ngoài ra chiếu): duyên và vui đi cùng nhau, đây là tổ hợp hay gặp trong năm cưới.
- Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa (đồng cung qua chính tinh cùng cung, hoặc chiếu tới): cho niềm vui một cái cớ thật, biến chuyện mừng thành việc có kết quả.
- Long Đức, Thiên Đức, Nguyệt Đức, Giải Thần (đồng cung hoặc chiếu, tùy tuổi chi): làm nhẹ phần lo kèm theo hỷ sự.
- Chính tinh sáng đắc địa (đồng cung, cả mười bốn chính tinh đều khả dĩ): nền vững thì niềm vui có chỗ đứng, không thành vui suông.
Hỷ Thần e ngại khi gặp
- Hóa Kỵ (đồng cung qua chính tinh cùng cung là nặng nhất, chiếu nhẹ hơn): hỷ sự kèm vướng mắc, vui mà mệt, việc mừng mà tốn công thu xếp.
- Kình Dương hoặc Đà La (một trong hai luôn xung chiếu, sao còn lại luôn tam hợp; không bao giờ đồng cung): niềm vui luôn nằm trong tầm nhìn của gai. Đây là điều kiện mặc định của mọi lá số, không phải điềm xấu riêng của ai.
- Tang Môn, Bạch Hổ (đồng cung hoặc chiếu tùy tuổi chi): việc mừng và việc buồn đến gần nhau trong cùng một quãng.
- Phi Liêm và Bệnh Phù (luôn giáp hai bên, cố định mọi tuổi): thế bao vây nhẹ khi hai cung ấy sạch, đáng ngại khi hai cung ấy có thêm sát tinh.
- Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung khi sinh đúng giờ tương ứng; giáp xấu hơn chiếu): mừng hụt, tin vui tới rồi tan, kế hoạch vui bị hủy.
- Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung khả dĩ ở mọi tuổi): vui bốc lên nhanh rồi nguội nhanh, quyết định trong lúc phấn khởi thường phải sửa lại.
- Tuần, Triệt án ngữ (chặn cả cung): hỷ sự tới chậm, việc mừng bị hoãn. Chặn cái tốt thì tiếc, nên với một cát tinh như Hỷ Thần thì Tuần Triệt phần nhiều là bất lợi.
- Thanh Long (cùng vòng Bác Sĩ nhưng luôn cách Hỷ Thần năm hoặc bảy cung nên không bao giờ hội chiếu): ghi vào đây không phải vì nó đáng ngại, mà để người đọc khỏi đi tìm; câu "Hỷ Thần gặp Thanh Long thì niềm vui nhân đôi" chép trên nhiều trang là không đúng với cấu trúc an sao.
Tóm lại, cùng một sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho kết quả khác nhau, và với Hỷ Thần thì cấu trúc an sao đã khóa sẵn hai điều: nó không bao giờ gặp Lộc Tồn, và nó luôn nằm trong tầm nhìn của Kình Dương cùng Đà La. Đọc hai cột trên phải đọc kèm vị thế ghi trong ngoặc, rồi mới kết luận.
Hỷ Thần Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Mọi mục trên nói về Hỷ Thần đứng yên, còn câu khách hỏi nhiều nhất lại là chuyện động: năm nay có tin vui không, giai đoạn này cưới được chưa. Muốn trả lời phải xét ba tầng chồng lên nhau: đại vận mười năm, lưu niên một năm, và bản lưu của chính vòng Bác Sĩ.
Đại vận đi vào cung có Hỷ Thần
Khi đại vận mười năm bước vào cung có Hỷ Thần bản mệnh, sắc thái chung của quãng ấy là đời sống nhẹ đi: quan hệ thuận hơn, dễ có dịp mừng, tâm trạng ổn hơn quãng trước. Nếu cung ấy có chính tinh sáng và cát tinh thì đây là quãng hợp cho những việc cần lòng người: cưới hỏi, sinh con, mở hàng, hợp tác, làm nghề đón khách. Nếu cung ấy có sát tinh hoặc Hóa Kỵ thì cái vui vẫn có nhưng kèm phần lo, thường ứng vào những dịp mừng mà tốn kém hoặc phải thu xếp gấp. Thầy nhắc thêm một điều rất thực tế: đại vận có Hỷ Thần là quãng dễ chủ quan. Người ta thấy mọi thứ trôi nên bớt cẩn thận, và những sai sót lớn của một đời thường không rơi vào quãng khó mà rơi vào quãng dễ.
Hỷ Thần có bản lưu niên
Bốn vòng phụ tinh không giống nhau ở chỗ này, nên phải nói cho rõ. Vòng Thái Tuế và vòng Bác Sĩ đều có bản lưu niên: vòng Thái Tuế lưu theo địa chi năm xem, vòng Bác Sĩ lưu theo thiên can năm xem. Ngược lại, vòng Tràng Sinh không có bản lưu vì nó an theo cục của lá số chứ không theo can chi năm; các sao an theo tháng sinh hay giờ sinh như Tả Hữu, Xương Khúc, Thiên Hình, Thiên Riêu cũng không có bản lưu vì tháng sinh và giờ sinh của một người thì không đổi theo năm.
Vậy Hỷ Thần có lưu Hỷ Thần. Cách tính: lấy thiên can năm đang xem, tìm lưu Lộc Tồn của can ấy, rồi đếm bảy bước theo đúng chiều an của người xem. Chiều an vẫn là chiều của bản mệnh, không đổi theo năm. Bảng dưới tính sẵn cả hai chiều cho các năm lưu niên gần, và thêm cột lưu Thiên Hỷ để quý vị thấy tận mắt hai sao chạy theo hai nhịp khác nhau: lưu Hỷ Thần quay theo can nên mười năm một vòng, lưu Thiên Hỷ quay theo chi nên mười hai năm một vòng.
2026 Bính Ngọ
- Lưu Lộc Tồn: Tỵ
- Lưu Hỷ Thần nếu an thuận: Tý
- Lưu Hỷ Thần nếu an nghịch: Tuất
- Lưu Thiên Hỷ: Mão
2027 Đinh Mùi
- Lưu Lộc Tồn: Ngọ
- Lưu Hỷ Thần nếu an thuận: Sửu
- Lưu Hỷ Thần nếu an nghịch: Hợi
- Lưu Thiên Hỷ: Dần
2028 Mậu Thân
- Lưu Lộc Tồn: Tỵ
- Lưu Hỷ Thần nếu an thuận: Tý
- Lưu Hỷ Thần nếu an nghịch: Tuất
- Lưu Thiên Hỷ: Sửu
2029 Kỷ Dậu
- Lưu Lộc Tồn: Ngọ
- Lưu Hỷ Thần nếu an thuận: Sửu
- Lưu Hỷ Thần nếu an nghịch: Hợi
- Lưu Thiên Hỷ: Tý
2030 Canh Tuất
- Lưu Lộc Tồn: Thân
- Lưu Hỷ Thần nếu an thuận: Mão
- Lưu Hỷ Thần nếu an nghịch: Sửu
- Lưu Thiên Hỷ: Hợi
2031 Tân Hợi
- Lưu Lộc Tồn: Dậu
- Lưu Hỷ Thần nếu an thuận: Thìn
- Lưu Hỷ Thần nếu an nghịch: Dần
- Lưu Thiên Hỷ: Tuất
2032 Nhâm Tý
- Lưu Lộc Tồn: Hợi
- Lưu Hỷ Thần nếu an thuận: Ngọ
- Lưu Hỷ Thần nếu an nghịch: Thìn
- Lưu Thiên Hỷ: Dậu
2033 Quý Sửu
- Lưu Lộc Tồn: Tý
- Lưu Hỷ Thần nếu an thuận: Mùi
- Lưu Hỷ Thần nếu an nghịch: Tỵ
- Lưu Thiên Hỷ: Thân
2034 Giáp Dần
- Lưu Lộc Tồn: Dần
- Lưu Hỷ Thần nếu an thuận: Dậu
- Lưu Hỷ Thần nếu an nghịch: Mùi
- Lưu Thiên Hỷ: Mùi
2035 Ất Mão
- Lưu Lộc Tồn: Mão
- Lưu Hỷ Thần nếu an thuận: Tuất
- Lưu Hỷ Thần nếu an nghịch: Thân
- Lưu Thiên Hỷ: Ngọ
2036 Bính Thìn
- Lưu Lộc Tồn: Tỵ
- Lưu Hỷ Thần nếu an thuận: Tý
- Lưu Hỷ Thần nếu an nghịch: Tuất
- Lưu Thiên Hỷ: Tỵ
2037 Đinh Tỵ
- Lưu Lộc Tồn: Ngọ
- Lưu Hỷ Thần nếu an thuận: Sửu
- Lưu Hỷ Thần nếu an nghịch: Hợi
- Lưu Thiên Hỷ: Thìn
2038 Mậu Ngọ
- Lưu Lộc Tồn: Tỵ
- Lưu Hỷ Thần nếu an thuận: Tý
- Lưu Hỷ Thần nếu an nghịch: Tuất
- Lưu Thiên Hỷ: Mão
Hai cách dùng bảng này. Cách thứ nhất là tìm năm trùng phùng: năm nào lưu Hỷ Thần rơi đúng cung có Hỷ Thần bản mệnh thì năm ấy sắc thái vui mừng đậm gấp đôi. Vì can năm quay một vòng mười năm nên năm trùng phùng trở lại đều đặn mười năm một lần, là những năm có thiên can trùng với thiên can năm sinh. Cách thứ hai là xem lưu Hỷ Thần rơi vào cung chức nào của mình trong năm ấy: rơi vào Phu Thê thì tin vui thuộc chuyện đôi lứa, rơi vào Tử Tức thì thuộc chuyện con cái, rơi vào Điền Trạch thì thuộc chuyện nhà cửa, rơi vào Quan Lộc thì thuộc chuyện nghề nghiệp.
Các lưu sao khác chạm vào cung Hỷ Thần cũng nên xem cùng lúc. Lưu Kình Dương và lưu Đà La đáng chú ý nhất, vì trên bản mệnh Hỷ Thần không bao giờ đồng cung với hai sao ấy; chỉ có năm lưu mới đưa chúng vào ngồi chung. Năm nào lưu Kình hoặc lưu Đà đóng đúng cung Hỷ Thần bản mệnh thì việc vui năm ấy dễ kèm va chạm hoặc kèm chuyện phải xử lý gấp. Lưu Thái Tuế vào cung Hỷ Thần thì việc mừng được nhiều người biết. Lưu Tang Môn và lưu Bạch Hổ vào cung Hỷ Thần thì trong một năm có cả việc hiếu lẫn việc hỷ, đây là tổ hợp rất hay gặp và không nên nói thành điềm gở. Thầy vẫn dặn một câu gọn: một lớp chạm chỉ là dấu nhỏ, ba lớp cùng chạm vào một cung thì năm ấy mới đáng nói.
Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Hỷ Thần
Hỷ Thần là cát tinh nhỏ, và chính vì cái tên dễ nghe nên nó hay bị đọc quá tay theo chiều tốt. Bốn mục dưới đây nói rõ sách nói gì và không nói gì.
Một: Hỷ Thần không phải Thiên Hỷ
Đây là hiểu lầm số một, và nó không phải chuyện chữ nghĩa mà là chuyện an sai sao. Thiên Hỷ an theo địa chi năm sinh, luôn đối cung Hồng Loan, thuộc bộ Tam Minh cùng Đào Hoa và Hồng Loan. Hỷ Thần an theo Lộc Tồn, tức theo thiên can năm sinh cộng với chiều thuận nghịch, thuộc vòng Bác Sĩ và luôn bị Phi Liêm với Bệnh Phù giáp hai bên. Hai sao dùng hai tham số khác nhau nên phần lớn lá số chúng nằm ở hai cung khác nhau; chạy đủ sáu mươi hoa giáp nhân hai giới thì chỉ tám trường hợp cho hai sao ngồi chung. Ai đọc một bài viết nói "Hỷ Thần đối cung Hồng Loan" thì đó là bài đang nói về Thiên Hỷ mà gọi nhầm tên.
Hai: Hỷ Thần cũng không phải hỷ thần trong Bát Tự và trong lịch chọn ngày
Chữ hỷ thần xuất hiện ở ba nơi hoàn toàn khác nhau, và ba nơi ấy không mượn nghĩa của nhau. Trong Tử Vi Đẩu Số, Hỷ Thần là một trong mười hai sao vòng Bác Sĩ, an trên địa bàn mười hai cung. Trong Bát Tự Tử Bình, hỷ thần là ngũ hành hỗ trợ cho dụng thần của tứ trụ, không phải một ngôi sao và cũng không đóng ở cung nào. Trong lịch chọn ngày, hướng Hỷ Thần là một hướng tốt tính theo thiên can của ngày, dùng để xuất hành. Ba thứ trùng tên nhưng khác hệ, khác cách tính, khác cách dùng. Đem cách hiểu của môn này áp vào môn kia là chỗ sai rất hay gặp trên mạng.
Ba: có Hỷ Thần không có nghĩa là năm nay sẽ cưới
Tân Biên xếp Hỷ Thần vào nhóm phụ tinh của vòng Bác Sĩ, chép ngắn về nó, và không lập cách cục riêng nào. Một sao được sách chép trong vài dòng thì trọng lượng luận cũng chỉ nên bằng vài dòng. Hỷ Thần cho biết sắc thái của một cung, không cho biết sự việc. Hơn nữa lá số nào cũng có Hỷ Thần và vòng Bác Sĩ trải kín mười hai cung, nên việc một cung có Hỷ Thần là chuyện đương nhiên chứ không phải điềm hiếm. Muốn nói tới hôn nhân phải xét cung Phu Thê với chính tinh, Tứ Hóa, đại vận và lưu niên; Hỷ Thần chỉ là một dấu nhỏ cộng thêm.
Bốn: Hỷ Thần không hóa giải được sát tinh
Nhiều bài viết cho Hỷ Thần vai trò giải hung, kiểu "có Hỷ Thần thì hung tinh nhẹ đi". Sách không nói như vậy. Vai trò giải trong Đẩu Số thuộc về nhóm khác: Thiên Đức, Nguyệt Đức, Long Đức, Giải Thần, Thiên Giải, Địa Giải, cùng với Thiên Lương và Hóa Khoa. Hỷ Thần chỉ là sao mang sắc thái vui, nó làm cung ấy dễ chịu hơn về mặt tinh thần chứ không cắt được lực của sát tinh. Trên lá số thật, Thầy thấy cung có Hỷ Thần mà đồng thời có Kỵ và sát tinh thì kết quả thường là chuyện vẫn xảy ra, chỉ khác ở chỗ người trong cuộc chịu đựng nhẹ nhàng hơn. Đó là một cái lợi thật, nhưng không phải cái lợi mà người ta hay hứa.
Lời Khuyên Khi Hỷ Thần Nổi Bật
Hỷ Thần là cát tinh nên không có gì để hóa giải. Lời khuyên ở đây đi theo hướng ngược lại: giữ cho cái vui không thành cái lỏng. Đó là mặt yếu duy nhất mà Thầy thấy lặp lại trên lá số thật của người có Hỷ Thần đậm ở Mệnh hoặc Phúc Đức.
Ba việc làm được ngay
Một, đừng quyết việc lớn trong lúc đang vui. Ký kết, mua bán, hứa hẹn nên để qua ít nhất một đêm, vì lúc phấn khởi thì cái gì cũng thấy làm được. Hai, đặt hạn cho khoản chi vào dịp vui. Mừng, biếu, tiệc tùng là chỗ tiền ra êm nhất và cũng khó kiểm nhất; định trước một mức rồi giữ đúng mức ấy. Ba, việc khó thì nói sớm. Người có Hỷ Thần đậm hay tránh câu chuyện nặng để giữ không khí, và chuyện bị đẩy lùi thì càng để lâu càng khó nói.
Dùng Hỷ Thần vào việc
Phong thủy bổ trợ, ghi rõ là gợi ý chung: những việc dưới đây thuộc loại điều chỉnh nếp sống và bài trí, không phải trấn yểm, không thay thế được nỗ lực của bản thân và cũng không sửa được lá số. Trong nhà nên có một chỗ dành cho việc tụ họp và một chỗ dành cho việc yên tĩnh, tách bạch hai chỗ ấy thì cả vui lẫn nghỉ đều trọn. Bàn làm việc nên có một khay riêng cho giấy tờ chưa xong, để cái ngại không biến thành cái quên. Ánh sáng chỗ sinh hoạt chung nên ấm và đủ, chỗ làm việc nên sáng và trung tính. Về màu sắc, người có Hỷ Thần đậm thường hợp với sắc ấm vừa phải và chất liệu mộc hơn là sắc quá rực, vì nếp sống vốn đã đủ phần rộn. Đây là gợi ý chung cho mọi người; ai muốn chỉnh theo đúng lá số của mình thì nên xem cung Điền Trạch và cung Phúc Đức rồi hãy quyết.
Lời cuối của mục này: vui là một khả năng, không phải một phần thưởng. Người có Hỷ Thần đậm được trời cho sẵn khả năng ấy; dùng nó để làm nhẹ việc khó thì là phúc, dùng nó để né việc khó thì thành nợ. Sao chỉ cho biết mình có gì trong tay.
Câu hỏi thường gặp
Hỷ Thần là sao thứ tám của vòng Bác Sĩ trong Tử Vi Đẩu Số, là vị thần của niềm vui. Đây là cát tinh chủ hỷ sự, vui mừng, các việc cưới hỏi, sinh nở và những tin lành.
Hỷ Thần ở Phu Thê báo điềm vui về tình duyên, hợp cưới hỏi, nhất là khi đi cùng Hồng Loan, Thiên Hỷ, Thanh Long và chính tinh sáng.
Hỷ Thần đứng thứ tám trong vòng Bác Sĩ, an theo Lộc Tồn và đi theo chiều thuận hoặc nghịch tùy âm dương nam nữ.
Trong lưu niên, cung gặp Hỷ Thần thường có hỷ sự, tin vui, dịp mừng như cưới hỏi, sinh con, khánh thành, là một sao báo điềm lành đáng mong.
Không, đây là hai sao khác nhau hoàn toàn về cách an. Thiên Hỷ an theo địa chi năm sinh và luôn đối cung với Hồng Loan, thuộc bộ Tam Minh cùng Đào Hoa và Hồng Loan. Hỷ Thần an theo Lộc Tồn, tức theo thiên can năm sinh cộng chiều thuận nghịch, thuộc vòng Bác Sĩ và luôn bị Phi Liêm với Bệnh Phù giáp hai bên. Chạy đủ sáu mươi hoa giáp nhân hai giới thì chỉ tám trường hợp hai sao đồng cung, còn lại chúng nằm ở hai cung khác nhau.
Vì Hỷ Thần cách Bác Sĩ bảy bước, mà bảy không phải điểm đối xứng của vòng mười hai cung. Người dương nam âm nữ an thuận thì Hỷ Thần ở cung cách Lộc Tồn bảy cung theo chiều thuận; người âm nam dương nữ an nghịch thì Hỷ Thần rơi vào cung cách Lộc Tồn năm cung. Biết thiên can năm sinh thôi chưa đủ để an sao này.
Không bao giờ. Hỷ Thần luôn cách Lộc Tồn năm hoặc bảy cung tùy chiều an, mà năm và bảy đều không tạo quan hệ trong Đẩu Số, vì quan hệ chỉ sinh ở khoảng cách không cung là đồng cung, bốn và tám cung là tam hợp, sáu cung là xung chiếu. Ngược lại Hỷ Thần luôn hội cả Kình Dương lẫn Đà La: an thuận thì xung chiếu Kình và tam hợp Đà, an nghịch thì đảo lại, và không bao giờ đồng cung với hai sao ấy.
Có. Vòng Bác Sĩ lưu theo thiên can của năm đang xem, giống như vòng Thái Tuế lưu theo địa chi năm xem; còn vòng Tràng Sinh và các sao an theo tháng sinh hay giờ sinh thì không có bản lưu. Tìm lưu Lộc Tồn theo can năm rồi đếm bảy bước theo đúng chiều an của người xem là ra lưu Hỷ Thần. Vì can năm quay một vòng mười năm nên lưu Hỷ Thần trở về đúng cung Hỷ Thần bản mệnh đều đặn mười năm một lần.