Tử Vi
Sao Kiếp Sát: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung
Tìm hiểu sao Kiếp Sát trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.
Tổng quan về sao Kiếp Sát
Kiếp Sát là một sát tinh của lá số Tử Vi, ngũ hành Hỏa, an theo tam hợp địa chi năm sinh. Sao này mang khí hung, chủ sự sát phạt, tai ương, và những việc liên quan dao kéo, thương tích.
- Ngũ hành: Hỏa
- Nhóm: Phụ Tinh Hình Sát
- Cách an: Kiếp sát an theo tam hợp địa chi năm sinh
- Cai quản: sát phạt, giết chóc, tai họa
- Tính chất: Sát phạt, tai ương
Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.
Ý nghĩa tại cung Mệnh
- Khi có chính tinh miếu vượng, Hóa Khoa, Lộc Tồn hoặc đức tinh đỡ: Người quyết đoán, nhìn ra chỗ phải cắt và cắt được, làm việc gọn không dây dưa.
- Khi chính tinh hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Nóng vội, cắt cả chỗ chưa cần cắt; lời nói sắc làm mất người.
Ý nghĩa ở các cung khác
Đối chiếu ý nghĩa của Kiếp Sát với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.
Cung Phụ Mẫu
- Khi có chính tinh miếu vượng, Hóa Khoa, Lộc Tồn hoặc đức tinh đỡ: Bậc trên nghiêm, dạy bằng khuôn phép; mình học được tính dứt khoát.
- Khi chính tinh hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Cha con ít lời và dễ căng; nên chủ động hỏi han.
Cung Phúc Đức
- Khi có chính tinh miếu vượng, Hóa Khoa, Lộc Tồn hoặc đức tinh đỡ: Trong lòng rành mạch, không ôm chuyện thừa; hợp lối sống giản lược.
- Khi chính tinh hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Hay tự cắt mình khỏi người khác rồi thấy trống; nên giữ vài mối thân thật.
Cung Điền Trạch
- Khi có chính tinh miếu vượng, Hóa Khoa, Lộc Tồn hoặc đức tinh đỡ: Nhà cửa gọn, biết bỏ đồ thừa; mua bán nhà đất dứt khoát.
- Khi chính tinh hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Nhà hay phải sửa chữa cắt bỏ; chú ý an toàn điện nước và vật sắc.
Cung Quan Lộc
- Khi có chính tinh miếu vượng, Hóa Khoa, Lộc Tồn hoặc đức tinh đỡ: Hợp nghề có tính sát phạt được xã hội cần: ngoại khoa, quân đội, công an, pháp lý, kiểm toán, an toàn, cơ khí, đầu bếp.
- Khi chính tinh hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Nghề nhiều va chạm, hay phải làm lại, thăng tiến dễ bị cắt ngang.
Cung Nô Bộc
- Khi có chính tinh miếu vượng, Hóa Khoa, Lộc Tồn hoặc đức tinh đỡ: Bạn ít mà chọn lọc, biết dừng đúng lúc với người không hợp.
- Khi chính tinh hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Quan hệ hay đứt đột ngột; nên nói rõ trước, tránh cắt lúc nóng.
Cung Thiên Di
- Khi có chính tinh miếu vượng, Hóa Khoa, Lộc Tồn hoặc đức tinh đỡ: Ra ngoài dứt khoát, xử lý được việc gấp, người ngoài nể vì rõ ràng.
- Khi chính tinh hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Đi lại cẩn trọng; bớt tranh hơn thua với người lạ.
Cung Tật Ách
- Khi có chính tinh miếu vượng, Hóa Khoa, Lộc Tồn hoặc đức tinh đỡ: Bệnh thuộc dạng xử lý dứt điểm được, can thiệp thì hồi phục gọn.
- Khi chính tinh hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Lưu ý an toàn lao động, đồ sắc nhọn, va chạm giao thông. Đây là gợi ý phòng ngừa và đi khám, không phải lời phán bệnh.
Cung Tài Bạch
- Khi có chính tinh miếu vượng, Hóa Khoa, Lộc Tồn hoặc đức tinh đỡ: Tiền vào từ việc phải quyết nhanh, biết cắt lỗ đúng lúc nên giữ được vốn.
- Khi chính tinh hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Hao vì quyết vội hoặc cắt sai chỗ; nên đặt sẵn ngưỡng dừng.
Cung Tử Tức
- Khi có chính tinh miếu vượng, Hóa Khoa, Lộc Tồn hoặc đức tinh đỡ: Con cái cá tính, sớm biết tự quyết; nên dạy bằng nguyên tắc rõ.
- Khi chính tinh hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Cha con dễ va nhau vì cả hai đều cứng; con đến muộn hoặc ít con.
Cung Phu Thê
- Khi có chính tinh miếu vượng, Hóa Khoa, Lộc Tồn hoặc đức tinh đỡ: Bạn đời thẳng thắn, không úp mở.
- Khi chính tinh hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Lời qua tiếng lại sắc, dễ nói câu cắt đứt lúc nóng; tránh bàn chuyện lớn khi đang giận.
Cung Huynh Đệ
- Khi có chính tinh miếu vượng, Hóa Khoa, Lộc Tồn hoặc đức tinh đỡ: Anh em ít mà rõ ràng, sòng phẳng chuyện chung.
- Khi chính tinh hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Dễ đứt gãy vì một chuyện dứt khoát quá; nên có giấy tờ rõ khi làm ăn chung.
Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Kiếp Sát an theo tam hợp địa chi năm sinh, không dính tới can năm, tháng sinh hay giờ sinh. Phép an gọn trong một câu: người tuổi Dần, Ngọ, Tuất khởi Kiếp Sát tại Hợi; tuổi Thân, Tý, Thìn khởi tại Tỵ; tuổi Tỵ, Dậu, Sửu khởi tại Dần; tuổi Hợi, Mão, Mùi khởi tại Thân. Đặt xong Kiếp Sát thì mười một thần sát còn lại cứ thế đếm thuận. Vì tham số là tuổi nên vị trí ấy cả đời không đổi một cung.
Tý
- Kiếp Sát an tại: Tỵ
Sửu
- Kiếp Sát an tại: Dần
Dần
- Kiếp Sát an tại: Hợi
Mão
- Kiếp Sát an tại: Thân
Thìn
- Kiếp Sát an tại: Tỵ
Tỵ
- Kiếp Sát an tại: Dần
Ngọ
- Kiếp Sát an tại: Hợi
Mùi
- Kiếp Sát an tại: Thân
Thân
- Kiếp Sát an tại: Tỵ
Dậu
- Kiếp Sát an tại: Dần
Tuất
- Kiếp Sát an tại: Hợi
Hợi
- Kiếp Sát an tại: Thân
Nhìn cột bên phải của bảng là thấy ngay điều quan trọng nhất, và đây cũng là điểm cấu trúc đáng nói nhất của sao này: Kiếp Sát chỉ có đúng bốn ô để đứng, là Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Bốn cung ấy nhà nghề gọi là tứ sinh, tức bốn cung Trường Sinh của bốn hành. Tám cung còn lại, gồm cả bốn cung tứ chính Tý Ngọ Mão Dậu và bốn cung tứ mộ Thìn Tuất Sửu Mùi, thì Kiếp Sát vĩnh viễn không bao giờ tới. Đã chạy đủ mười hai tuổi bằng thuật toán an sao của trang để xác nhận lại điều này, không có ngoại lệ nào.
Có một cách nhớ đẹp hơn cả bảng, đã kiểm bằng máy cho cả bốn nhóm tam hợp: Kiếp Sát luôn đóng đúng cung Tuyệt trong vòng sinh vượng của hành tam hợp tuổi mình, tức cung lùi ba bước ngược chiều từ cung Trường Sinh. Nhóm Dần Ngọ Tuất thuộc Hỏa, Trường Sinh tại Dần, lùi ba bước qua Sửu và Tý là tới Hợi; nhóm Thân Tý Thìn thuộc Thủy, sinh tại Thân, Kiếp Sát về Tỵ; nhóm Tỵ Dậu Sửu thuộc Kim, sinh tại Tỵ, Kiếp Sát về Dần; nhóm Hợi Mão Mùi thuộc Mộc, sinh tại Hợi, Kiếp Sát về Thân. Cung Tuyệt là chỗ khí cũ đã dứt mà khí mới chưa nhen, không phải chỗ nào hung dữ. Riêng chi tiết này đã đủ để đọc lại cái tên nghe rất dữ của nó.
Bảy điều bất biến của Kiếp Sát
- Chỉ đóng bốn cung tứ sinh Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Không bao giờ vào Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất. Đây là ràng buộc mạnh nhất của sao này.
- Luôn có Hoa Cái ở cung liền trước và Tai Sát ở cung liền sau. Thế giáp cố định ở mọi tuổi, không tuổi nào khác đi.
- Luôn bị Vong Thần xung chiếu, vì Vong Thần đứng cách Kiếp Sát đúng sáu bậc trong vòng.
- Luôn có Đào Hoa và Phan An ở hai cung tam hợp. Đào Hoa cách bốn cung, Phan An cách tám cung. Nghĩa là Đào Hoa và Kiếp Sát không bao giờ đồng cung, mà cũng không bao giờ rời nhau, luôn nhìn nhau qua đường tam hợp.
- Thiên Đức và Phúc Đức luôn nằm trong tam phương tứ chính, đồng cung ở bốn tuổi Dần, Tỵ, Thân, Hợi và tam hợp chiếu ở tám tuổi còn lại. Với một sao mang tiếng hung thì đây là cái đỡ có sẵn trong cấu trúc.
- Kình Dương vĩnh viễn không thể đồng cung, vì nó an theo can năm và không rơi vào cung tứ sinh nào, đã chạy đủ sáu mươi hoa giáp.
- Giải Thần, Phượng Các, Long Trì, Thiên Khốc, Thiên Hư cùng sáu sao Thái Tuế, Tang Môn, Quan Phù, Tuế Phá, Bạch Hổ, Điếu Khách không bao giờ vào tam phương tứ chính của Kiếp Sát, chỉ có thể ở thế giáp. Điều này bác thẳng dòng chữ vẫn thấy trong nhiều bảng hợp kỵ rằng Giải Thần giải được Kiếp Sát.
Chính tinh nào có thể ngồi cùng, và Lộc Tồn Đà La ở tuổi nào
Chạy đủ mười hai thế Tử Vi cho cả bốn vị trí thì cả mười bốn chính tinh đều có thể đồng cung với Kiếp Sát. Nghĩa là cái tên Kiếp Sát không hàm ý gì về chính tinh đi kèm; hai người cùng có Kiếp Sát thủ Mệnh mà một người là Tử Vi Thất Sát, một người là Thiên Đồng Thái Âm thì đọc hoàn toàn khác nhau.
Với ba sao an theo can năm, đã chạy đủ sáu mươi hoa giáp. Lộc Tồn đóng đúng cung Kiếp Sát ở chín tuổi, chỉ thuộc ba can Bính, Mậu, Nhâm: Bính Tý, Bính Thìn, Bính Thân, Mậu Tý, Mậu Thìn, Mậu Thân, Nhâm Dần, Nhâm Ngọ, Nhâm Tuất. Đà La đóng cùng cung ở sáu tuổi Ất Sửu, Ất Tỵ, Ất Dậu, Tân Mão, Tân Mùi, Tân Hợi. Còn Kình Dương thì không một tuổi nào.
Chín tuổi có Lộc Tồn ngồi chung là chín tuổi Thầy hay dùng để dạy học trò về ranh giới của sao này: sao của cải ngồi ngay trên cái người ta gọi là sát tinh, và trên lá số thật tổ hợp ấy thường ra một người làm ăn có nghề, dám cắt bỏ, chứ không ra một người gặp nạn. Ngược lại sáu tuổi có Đà La ngồi chung thì cái phải cắt lại cắt không dứt.
Không Kiếp, Thiên Hình, Tuần và Triệt rơi vào cung Kiếp Sát khi nào
Kiếp Sát chốt theo tuổi còn Không Kiếp chốt theo giờ sinh, nên mỗi vị trí có đúng một giờ sinh làm chúng đồng cung, và hai vị trí có điểm rất đáng chú ý: Kiếp Sát tại Tỵ thì cả Địa Không lẫn Địa Kiếp cùng vào cung ấy khi sinh giờ Ngọ, Kiếp Sát tại Hợi thì cả hai cùng vào khi sinh giờ Tý. Đó là hai tổ hợp nặng thật, và chúng nặng vì Không Kiếp đồng cung chứ không phải vì Kiếp Sát. Thiên Hình an theo tháng sinh nên cũng có đúng một tháng cho mỗi vị trí: Kiếp Sát tại Dần gặp Thiên Hình khi sinh tháng sáu, tại Tỵ tháng chín, tại Thân tháng mười hai, tại Hợi tháng ba.
Triệt an theo can năm và chỉ phủ được mười cung, hai cung Tuất và Hợi không bao giờ có Triệt. Vì thế Kiếp Sát đóng tại Hợi thì vĩnh viễn không thể bị Triệt án ngữ; ba vị trí còn lại thì có thể, tổng cộng chín hoa giáp, còn Tuần phủ được cả bốn vị trí.
Đặc Tính Và Ý Nghĩa Theo Thư Tịch
Theo Tân Biên, Kiếp Sát chủ sự sát phạt giết chóc, gây tai họa, liên quan tới sự đâm chém, mổ cắt, châm chích. Đặc biệt, khi tọa thủ tại cung Mệnh hay cung Tật Ách, Kiếp Sát có đặc tính như Địa Kiếp, thường được gọi là Địa Kiếp thứ hai.
Là sát tinh, Kiếp Sát cần được chế hóa. Gặp phúc tinh, sao giải và chính tinh miếu vượng thì cái hung được giảm; gặp Lưu Hà, các sát tinh khác thì tác họa khủng khiếp. Tuy nhiên ở người làm nghề có tính sát phạt (quân đội, y khoa, mổ xẻ) lại có thể hóa dụng.
Vị Trí Của Kiếp Sát Trong Vòng Mười Hai Thần Sát
Đẩu Số có bốn vòng phụ tinh, mỗi vòng mười hai sao rải kín mười hai cung. Vòng Thái Tuế đếm theo chi năm sinh, vòng Bác Sĩ theo Lộc Tồn tức can năm sinh và có chiều thuận nghịch, vòng Tràng Sinh khởi theo Cục. Vòng thứ tư là vòng mười hai thần sát theo tam hợp mà Kiếp Sát là sao khởi đầu: đếm theo nhóm tam hợp của địa chi năm sinh, đặt Kiếp Sát trước rồi an thuận chiều kim đồng hồ lần lượt Kiếp Sát, Tai Sát, Thiên Sát, Chỉ Bối, Đào Hoa, Nguyệt Sát, Vong Thần, Tướng Tinh, Phan An, Thiên Mã, Tức Thần, Hoa Cái.
Nhiều sách khởi vòng theo lối khác mà cùng kết quả: lấy Tướng Tinh đặt vào cung vượng của tam hợp, tức Thân Tý Thìn tại Tý, Dần Ngọ Tuất tại Ngọ, Tỵ Dậu Sửu tại Dậu, Hợi Mão Mùi tại Mão, rồi đếm ngược về sẽ ra Kiếp Sát. Hai lối cho cùng một bàn sao, đã đối chiếu bằng máy trên cả mười hai tuổi.
Tý
- Kiếp Sát: Tỵ
- Tai Sát: Ngọ
- Thiên Sát: Mùi
- Chỉ Bối: Thân
- Đào Hoa: Dậu
- Nguyệt Sát: Tuất
- Vong Thần: Hợi
- Tướng Tinh: Tý
- Phan An: Sửu
- Thiên Mã: Dần
- Tức Thần: Mão
- Hoa Cái: Thìn
Sửu
- Kiếp Sát: Dần
- Tai Sát: Mão
- Thiên Sát: Thìn
- Chỉ Bối: Tỵ
- Đào Hoa: Ngọ
- Nguyệt Sát: Mùi
- Vong Thần: Thân
- Tướng Tinh: Dậu
- Phan An: Tuất
- Thiên Mã: Hợi
- Tức Thần: Tý
- Hoa Cái: Sửu
Dần
- Kiếp Sát: Hợi
- Tai Sát: Tý
- Thiên Sát: Sửu
- Chỉ Bối: Dần
- Đào Hoa: Mão
- Nguyệt Sát: Thìn
- Vong Thần: Tỵ
- Tướng Tinh: Ngọ
- Phan An: Mùi
- Thiên Mã: Thân
- Tức Thần: Dậu
- Hoa Cái: Tuất
Mão
- Kiếp Sát: Thân
- Tai Sát: Dậu
- Thiên Sát: Tuất
- Chỉ Bối: Hợi
- Đào Hoa: Tý
- Nguyệt Sát: Sửu
- Vong Thần: Dần
- Tướng Tinh: Mão
- Phan An: Thìn
- Thiên Mã: Tỵ
- Tức Thần: Ngọ
- Hoa Cái: Mùi
Thìn
- Kiếp Sát: Tỵ
- Tai Sát: Ngọ
- Thiên Sát: Mùi
- Chỉ Bối: Thân
- Đào Hoa: Dậu
- Nguyệt Sát: Tuất
- Vong Thần: Hợi
- Tướng Tinh: Tý
- Phan An: Sửu
- Thiên Mã: Dần
- Tức Thần: Mão
- Hoa Cái: Thìn
Tỵ
- Kiếp Sát: Dần
- Tai Sát: Mão
- Thiên Sát: Thìn
- Chỉ Bối: Tỵ
- Đào Hoa: Ngọ
- Nguyệt Sát: Mùi
- Vong Thần: Thân
- Tướng Tinh: Dậu
- Phan An: Tuất
- Thiên Mã: Hợi
- Tức Thần: Tý
- Hoa Cái: Sửu
Ngọ
- Kiếp Sát: Hợi
- Tai Sát: Tý
- Thiên Sát: Sửu
- Chỉ Bối: Dần
- Đào Hoa: Mão
- Nguyệt Sát: Thìn
- Vong Thần: Tỵ
- Tướng Tinh: Ngọ
- Phan An: Mùi
- Thiên Mã: Thân
- Tức Thần: Dậu
- Hoa Cái: Tuất
Mùi
- Kiếp Sát: Thân
- Tai Sát: Dậu
- Thiên Sát: Tuất
- Chỉ Bối: Hợi
- Đào Hoa: Tý
- Nguyệt Sát: Sửu
- Vong Thần: Dần
- Tướng Tinh: Mão
- Phan An: Thìn
- Thiên Mã: Tỵ
- Tức Thần: Ngọ
- Hoa Cái: Mùi
Thân
- Kiếp Sát: Tỵ
- Tai Sát: Ngọ
- Thiên Sát: Mùi
- Chỉ Bối: Thân
- Đào Hoa: Dậu
- Nguyệt Sát: Tuất
- Vong Thần: Hợi
- Tướng Tinh: Tý
- Phan An: Sửu
- Thiên Mã: Dần
- Tức Thần: Mão
- Hoa Cái: Thìn
Dậu
- Kiếp Sát: Dần
- Tai Sát: Mão
- Thiên Sát: Thìn
- Chỉ Bối: Tỵ
- Đào Hoa: Ngọ
- Nguyệt Sát: Mùi
- Vong Thần: Thân
- Tướng Tinh: Dậu
- Phan An: Tuất
- Thiên Mã: Hợi
- Tức Thần: Tý
- Hoa Cái: Sửu
Tuất
- Kiếp Sát: Hợi
- Tai Sát: Tý
- Thiên Sát: Sửu
- Chỉ Bối: Dần
- Đào Hoa: Mão
- Nguyệt Sát: Thìn
- Vong Thần: Tỵ
- Tướng Tinh: Ngọ
- Phan An: Mùi
- Thiên Mã: Thân
- Tức Thần: Dậu
- Hoa Cái: Tuất
Hợi
- Kiếp Sát: Thân
- Tai Sát: Dậu
- Thiên Sát: Tuất
- Chỉ Bối: Hợi
- Đào Hoa: Tý
- Nguyệt Sát: Sửu
- Vong Thần: Dần
- Tướng Tinh: Mão
- Phan An: Thìn
- Thiên Mã: Tỵ
- Tức Thần: Ngọ
- Hoa Cái: Mùi
Vòng này thật ra là vòng Tràng Sinh của tam hợp, gọi bằng tên khác
Đây là phát hiện cấu trúc đáng giá nhất của bài, đã chạy kiểm cho cả bốn nhóm tam hợp và không lệch một cung: mười hai thần sát của vòng này trùng khít mười hai mốc Tràng Sinh của hành tam hợp tuổi mình, chỉ đổi tên gọi. Chỉ Bối đứng đúng cung Trường Sinh, Đào Hoa cung Mộc Dục, Tướng Tinh cung Đế Vượng, Thiên Mã cung Bệnh, Hoa Cái cung Mộ, và Kiếp Sát cung Tuyệt.
Kiếp Sát
- Thứ tự: 1
- Trùng mốc Tràng Sinh: Tuyệt
- Cung theo bốn nhóm tam hợp Dần Ngọ Tuất · Thân Tý Thìn · Tỵ Dậu Sửu · Hợi Mão Mùi: Hợi · Tỵ · Dần · Thân
Tai Sát
- Thứ tự: 2
- Trùng mốc Tràng Sinh: Thai
- Cung theo bốn nhóm tam hợp Dần Ngọ Tuất · Thân Tý Thìn · Tỵ Dậu Sửu · Hợi Mão Mùi: Tý · Ngọ · Mão · Dậu
Thiên Sát
- Thứ tự: 3
- Trùng mốc Tràng Sinh: Dưỡng
- Cung theo bốn nhóm tam hợp Dần Ngọ Tuất · Thân Tý Thìn · Tỵ Dậu Sửu · Hợi Mão Mùi: Sửu · Mùi · Thìn · Tuất
Chỉ Bối
- Thứ tự: 4
- Trùng mốc Tràng Sinh: Tràng Sinh
- Cung theo bốn nhóm tam hợp Dần Ngọ Tuất · Thân Tý Thìn · Tỵ Dậu Sửu · Hợi Mão Mùi: Dần · Thân · Tỵ · Hợi
Đào Hoa
- Thứ tự: 5
- Trùng mốc Tràng Sinh: Mộc Dục
- Cung theo bốn nhóm tam hợp Dần Ngọ Tuất · Thân Tý Thìn · Tỵ Dậu Sửu · Hợi Mão Mùi: Mão · Dậu · Ngọ · Tý
Nguyệt Sát
- Thứ tự: 6
- Trùng mốc Tràng Sinh: Quan Đới
- Cung theo bốn nhóm tam hợp Dần Ngọ Tuất · Thân Tý Thìn · Tỵ Dậu Sửu · Hợi Mão Mùi: Thìn · Tuất · Mùi · Sửu
Vong Thần
- Thứ tự: 7
- Trùng mốc Tràng Sinh: Lâm Quan
- Cung theo bốn nhóm tam hợp Dần Ngọ Tuất · Thân Tý Thìn · Tỵ Dậu Sửu · Hợi Mão Mùi: Tỵ · Hợi · Thân · Dần
Tướng Tinh
- Thứ tự: 8
- Trùng mốc Tràng Sinh: Đế Vượng
- Cung theo bốn nhóm tam hợp Dần Ngọ Tuất · Thân Tý Thìn · Tỵ Dậu Sửu · Hợi Mão Mùi: Ngọ · Tý · Dậu · Mão
Phan An
- Thứ tự: 9
- Trùng mốc Tràng Sinh: Suy
- Cung theo bốn nhóm tam hợp Dần Ngọ Tuất · Thân Tý Thìn · Tỵ Dậu Sửu · Hợi Mão Mùi: Mùi · Sửu · Tuất · Thìn
Thiên Mã
- Thứ tự: 10
- Trùng mốc Tràng Sinh: Bệnh
- Cung theo bốn nhóm tam hợp Dần Ngọ Tuất · Thân Tý Thìn · Tỵ Dậu Sửu · Hợi Mão Mùi: Thân · Dần · Hợi · Tỵ
Tức Thần
- Thứ tự: 11
- Trùng mốc Tràng Sinh: Tử
- Cung theo bốn nhóm tam hợp Dần Ngọ Tuất · Thân Tý Thìn · Tỵ Dậu Sửu · Hợi Mão Mùi: Dậu · Mão · Tý · Ngọ
Hoa Cái
- Thứ tự: 12
- Trùng mốc Tràng Sinh: Mộ
- Cung theo bốn nhóm tam hợp Dần Ngọ Tuất · Thân Tý Thìn · Tỵ Dậu Sửu · Hợi Mão Mùi: Tuất · Thìn · Sửu · Mùi
Đọc bảng ấy thì nhiều thứ tự nhiên sáng ra. Đào Hoa ở Mộc Dục nên tượng là tắm gội, tô điểm, phô ra ngoài. Tướng Tinh ở Đế Vượng nên ứng với quyền. Hoa Cái ở Mộ nên tượng là cất giữ, thu về. Còn Kiếp Sát ở Tuyệt, tức chỗ khí đã dứt hẳn, sắp quay lại đầu vòng để sinh. Ba sao mang tên nghe dữ nhất của vòng là Kiếp Sát, Tai Sát, Thiên Sát thì đứng liền nhau ở đúng ba mốc Tuyệt, Thai, Dưỡng, tức đoạn lặng nhất của cả chu kỳ, chứ không đứng ở mốc nào bạo liệt.
Kiếp Sát đứng ở vị trí thứ nhất của vòng
Kiếp Sát ở vị trí thứ nhất, là mốc khởi của cả vòng. Quan hệ vị trí của nó tính bằng khoảng cách cố định nên đúng ở mọi tuổi:
- Đứng ngay trước: Hoa Cái, tức sao cuối vòng, ứng cung Mộ.
- Đứng ngay sau: Tai Sát, tức Tai Sát, ứng cung Thai.
- Ở cung xung chiếu: Vong Thần, luôn cách sáu cung, ứng cung Lâm Quan.
- Hai sao ở tam hợp: Đào Hoa cách bốn cung và Phan An cách tám cung.
Điều đáng nói là Đào Hoa luôn ở tam hợp của Kiếp Sát, mà Đào Hoa là sao đã có trang riêng và ai cũng biết. Cùng với Thiên Mã ở vị trí thứ mười và Hoa Cái ở vị trí thứ mười hai, đây là vòng nối kết nhiều sao quen thuộc: ba cái tên người ta tra hằng ngày hóa ra là ba mắt của cùng một chuỗi mà Kiếp Sát đứng đầu.
Kiếp Sát không nằm trong bảng Tứ Hóa, nhưng vẫn chịu Tứ Hóa
Bảng Tứ Hóa theo can năm chỉ gọi tên mười bốn chính tinh cùng Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, tùy phái thêm Thiên Phủ. Kiếp Sát không có tên trong bảng ấy ở bất kỳ can nào, nên tự nó không hóa Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ. Sách cũng không lập cách hóa riêng cho nó và bài này không bịa thêm. Nhưng nó nhận sắc thái từ chính tinh đồng cung đang hóa, và bốn hóa cho bốn giọng rất khác:
- Hóa Lộc: cái sắc bén được trả công, đọc là người biết cắt bỏ đúng lúc để giữ phần lợi; ở Tài Bạch thì tiền vào từ những việc phải quyết nhanh.
- Hóa Quyền: mình là người cầm dao, tức người ra quyết định cắt. Được việc nhưng dễ mất lòng.
- Hóa Khoa: cái sắc được bọc trong khuôn phép, hóa lành nhất với sao này, hay thấy ở nghề chuyên môn cần ra tay dứt khoát mà vẫn có quy chuẩn như y khoa và pháp lý.
- Hóa Kỵ: thế nặng nhất và cũng hay bị phán bừa nhất. Đọc đúng là cắt mà không dứt, quyết rồi vẫn tiếc, hoặc cắt sai chỗ. Đây là chỉ dấu về cách hành xử, không phải căn cứ để nói về tai nạn của ai.
Vì sao đọc Kiếp Sát thì phải đọc cả vòng
Kiếp Sát là cái tên khiến người ta dừng lại và sợ. Nhưng nhìn cả vòng thì nó chỉ là một mắt trong mười hai mắt xích của một chu kỳ sinh vượng, và mắt của nó là mắt Tuyệt, chỗ hết một vòng để bắt đầu vòng mới. Muốn biết cung có Kiếp Sát nặng hay nhẹ thì phải xem ba cái cùng lúc: chính tinh của cung ấy, Đào Hoa và Thiên Mã cùng vòng đang ở cung chức nào, và Tướng Tinh đứng ở đâu. Chỉ cần biết tuổi chi là dựng được cả bản đồ ấy.
Hội Họp Các Sao, Bản Rút Gọn
Kiếp Sát phối với các sao cho kết quả khác nhau:
Lưu Hà
- Ý nghĩa kết hợp: Tác họa khủng khiếp, tai ương nặng.
Địa Không, Địa Kiếp, Kình Đà
- Ý nghĩa kết hợp: Tăng tính sát phạt, dễ tai nạn.
Thiên Hình, sao võ
- Ý nghĩa kết hợp: Hóa dụng cho nghề quân sự, y khoa.
Phúc tinh, sao giải, chính tinh miếu vượng
- Ý nghĩa kết hợp: Giảm hung, chế được tai họa.
Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
Trước khi đọc hai cột dưới, xin nhớ quy tắc về lực: đồng cung mạnh nhất vì hai khí trộn thẳng vào nhau, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn và mang tính hoàn cảnh, còn giáp hai bên là thế bao vây, mạnh với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Riêng với Kiếp Sát phải nhớ thêm hai tầng đã kiểm bằng máy: Kình Dương vĩnh viễn không thể đồng cung, và Giải Thần vĩnh viễn không vào được tam phương tứ chính, dù nhiều bảng hợp kỵ vẫn ghi Giải Thần giải được sao này.
Kiếp Sát nhẹ đi khi gặp
- Chính tinh miếu vượng đồng cung (cả mười bốn chính tinh đều có thể): sao sáng lấn át được sát khí, là cái đỡ mạnh nhất.
- Thiên Đức và Phúc Đức (luôn trong tam phương tứ chính; đồng cung ở bốn tuổi Dần, Tỵ, Thân, Hợi, tam hợp chiếu ở tám tuổi còn lại): hai đức tinh này là cái đỡ có sẵn trong cấu trúc của Kiếp Sát, khác hẳn nhiều sao hung khác.
- Hóa Khoa (đồng cung mạnh nhất, xung chiếu vẫn có tác dụng): cái sắc được bọc trong khuôn phép, ra tay dứt khoát mà vẫn có quy chuẩn.
- Lộc Tồn (đồng cung ở chín tuổi Bính Tý, Bính Thìn, Bính Thân, Mậu Tý, Mậu Thìn, Mậu Thân, Nhâm Dần, Nhâm Ngọ, Nhâm Tuất): cái sắc bén có chỗ tựa vật chất, thành nghề chứ không thành nạn.
- Hóa Lộc (đồng cung): việc phải quyết nhanh lại là việc ra tiền.
- Thiên Hình cùng chính tinh võ cách (đồng cung, ứng đúng một tháng sinh cho mỗi vị trí): sách chép đây là thế hóa dụng cho nghề quân sự và y khoa.
- Thiên Quan, Thiên Phúc (an theo can năm, riêng Thiên Quan đồng cung ở mười hai hoa giáp): hai phúc tinh nhỏ nhưng tới được thật.
- Tuần, Triệt án ngữ (chặn cả cung): chặn cả cung chứ không chọn sao, và Kiếp Sát tại Hợi thì không bao giờ có Triệt.
Kiếp Sát nặng thêm khi gặp
- Địa Không và Địa Kiếp (đồng cung, mỗi vị trí ứng một giờ sinh; riêng Kiếp Sát tại Tỵ và tại Hợi thì cả hai cùng vào một lượt, giờ Ngọ và giờ Tý): tổ hợp nặng thật, sách gọi Kiếp Sát là Địa Kiếp thứ hai chính vì cái nhìn này.
- Đà La (đồng cung ở sáu tuổi Ất Sửu, Ất Tỵ, Ất Dậu, Tân Mão, Tân Mùi, Tân Hợi): việc phải cắt lại dây dưa không dứt, kéo dài rồi mới xong.
- Kình Dương (không bao giờ đồng cung): ghi vào đây để quý vị khỏi đi tìm. Kình Dương không rơi vào cung tứ sinh nào, nên tổ hợp Kiếp Sát Kình Dương đồng cung là điều không tồn tại.
- Lưu Hà (đồng cung ở mười hai hoa giáp, gồm các tuổi can Đinh, Mậu, Nhâm, Quý theo bảng đã chạy): sách nói gặp Lưu Hà thì tác họa nặng. Đây là một trong ít tổ hợp mà thư tịch nói thẳng.
- Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung, khả dĩ ở mọi tuổi): chuyện đến đột ngột, tính khí nóng, dễ ra tay lúc chưa nghĩ xong.
- Hóa Kỵ (đồng cung mạnh nhất): cắt mà không dứt, quyết rồi vẫn tiếc, hoặc cắt sai chỗ.
- Vong Thần (luôn xung chiếu ở mọi tuổi): cùng vòng, cùng loại thần sát nhỏ. Vì không né được nên chỉ tính nặng nhẹ theo chính tinh của hai cung, không tính là một điềm.
- Giải Thần, Phượng Các, Long Trì, Thiên Khốc, Thiên Hư (không bao giờ vào tam phương tứ chính của Kiếp Sát): ghi vào cột này để đính chính. Năm sao ấy chỉ có thể ở thế giáp hoặc ở cung cách xa, nên không thể coi Giải Thần là thuốc giải cho Kiếp Sát như nhiều bảng vẫn ghi.
Tóm lại, cùng một sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho kết quả khác nhau, và với Kiếp Sát còn thêm hai tầng cố định đã kiểm bằng máy: Kình Dương vĩnh viễn không thể đồng cung, còn Giải Thần thì không bao giờ vào tam phương tứ chính của nó. Đọc hai cột trên phải đọc kèm vị thế ghi trong ngoặc, và luôn xét cả cung lẫn đại vận lưu niên.
Kiếp Sát Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Kiếp Sát bản mệnh cố định cả đời ở đúng một cung, nên tự nó không nói được chuyện năm nào. Muốn trả lời câu hỏi về thời gian phải xét ba tầng chồng lên nhau: đại vận mười năm, lưu niên một năm, và các lưu sao chạm vào cung ấy. Phần lớn nỗi sợ về Kiếp Sát sinh ra từ chỗ đem một sao cố định của cả đời ra đọc như điềm báo của năm nay.
Đại vận đi vào cung có Kiếp Sát
Mười năm đại vận đóng vào cung có Kiếp Sát bản mệnh thường là mười năm phải cắt bỏ một thứ gì đó: đổi nghề, bỏ một mối quan hệ đã hỏng, rời một nơi ở, dừng một dự án đã lỗ, hoặc xử lý dứt điểm một vấn đề sức khỏe. Cung ấy có chính tinh miếu vượng, Hóa Khoa, Lộc Tồn hay hai đức tinh đỡ thì đây là vận lột xác, ứng đúng với cung Tuyệt: hết một vòng để bắt đầu vòng mới.
Nếu cung ấy chính tinh hãm, lại có Không Kiếp, Đà La, Hỏa Linh hoặc Hóa Kỵ thì mười năm ấy vất vả thật, và cái vất vả nằm ở chỗ cắt sai nhịp: cắt lúc chưa nên cắt, hoặc để quá lâu mới cắt. Thầy dặn khách đang ở đại vận này ba việc: đặt ngưỡng dừng bằng con số trước khi vào việc có rủi ro tiền bạc; giữ an toàn lao động, đồ sắc nhọn và đi lại; không quyết cắt đứt quan hệ lúc đang giận.
Vòng thần sát có bản lưu niên không
Trong bốn vòng phụ tinh, vòng Thái Tuế và vòng Bác Sĩ có bản lưu theo can chi năm xem, còn vòng Tràng Sinh thì không vì nó khởi theo Cục; các sao an theo tháng sinh và giờ sinh cũng không có bản lưu. Vòng thần sát tam hợp nằm ở chỗ giữa. Về nguyên tắc thì lưu được, vì tham số của nó là địa chi mà mỗi năm lại có một địa chi mới: lấy chi của năm đang xem, tra nhóm tam hợp rồi khởi lưu Kiếp Sát y như phép an bản mệnh. Trong vòng này đã có sẵn hai sao mà bản lưu được dùng rộng rãi là lưu Đào Hoa và lưu Thiên Mã, tính đúng bằng chính phép ấy. Nhưng Tân Biên và Toàn Thư không lập bản lưu riêng cho Kiếp Sát, nên bảng dưới xin ghi rõ là suy luận, để tham khảo chứ không phải kinh văn.
2026 Bính Ngọ
- Lưu Kiếp Sát: Hợi
- Lưu Tai Sát: Tý
- Lưu Thiên Sát: Sửu
- Lưu Đào Hoa: Mão
- Lưu Thiên Mã: Thân
2027 Đinh Mùi
- Lưu Kiếp Sát: Thân
- Lưu Tai Sát: Dậu
- Lưu Thiên Sát: Tuất
- Lưu Đào Hoa: Tý
- Lưu Thiên Mã: Tỵ
2028 Mậu Thân
- Lưu Kiếp Sát: Tỵ
- Lưu Tai Sát: Ngọ
- Lưu Thiên Sát: Mùi
- Lưu Đào Hoa: Dậu
- Lưu Thiên Mã: Dần
2029 Kỷ Dậu
- Lưu Kiếp Sát: Dần
- Lưu Tai Sát: Mão
- Lưu Thiên Sát: Thìn
- Lưu Đào Hoa: Ngọ
- Lưu Thiên Mã: Hợi
2030 Canh Tuất
- Lưu Kiếp Sát: Hợi
- Lưu Tai Sát: Tý
- Lưu Thiên Sát: Sửu
- Lưu Đào Hoa: Mão
- Lưu Thiên Mã: Thân
2031 Tân Hợi
- Lưu Kiếp Sát: Thân
- Lưu Tai Sát: Dậu
- Lưu Thiên Sát: Tuất
- Lưu Đào Hoa: Tý
- Lưu Thiên Mã: Tỵ
Bảng ấy cho một quy tắc gọn, tính được chứ không phải nhớ: lưu Kiếp Sát về đúng cung Kiếp Sát bản mệnh vào những năm có chi cùng nhóm tam hợp với chi năm sinh, tức ba năm trong mỗi mười hai năm chứ không phải một. Người tuổi Dần, Ngọ, Tuất thì các năm Dần, Ngọ, Tuất đều có lưu Kiếp Sát về đúng cung Hợi của mình.
Nói cho thật rõ vì đây là chỗ hay bị dùng để dọa người: những năm ấy không phải năm gặp nạn. Trên lá số thật, cái hay gặp là năm phải quyết dứt khoát một việc, năm đổi việc, năm chấm dứt một thứ đã kéo quá dài. Cách dùng đúng của bảng trên là chuẩn bị trước, không phải lo sợ.
Các lưu sao khác chạm vào cung Kiếp Sát
- Lưu Hóa Khoa (theo can năm xem): việc phải cắt được làm đúng khuôn phép và được ghi nhận, thế đẹp nhất.
- Lưu Hóa Kỵ: cắt mà không dứt, hoặc quyết rồi phải quay lại sửa; năm nên chậm một nhịp.
- Lưu Kình Dương và lưu Đà La: rơi vào cung Kiếp Sát thì việc đến gấp hơn hoặc dây dưa hơn, tùy sao nào tới; nên có dự phòng và có người bàn.
- Lưu Thái Tuế và lưu Tang Hổ: chồng lên cung Kiếp Sát thì năm ấy chuyện phải quyết thường dính tới người khác chứ không chỉ mình.
- Lưu Thiên Mã, cùng vòng nên rất dễ tra: tới cung Kiếp Sát thì việc phải cắt đi kèm chuyện di chuyển, đổi nơi làm.
Một nguyên tắc Thầy giữ suốt nhiều năm: không bao giờ nói một câu về tai nạn hay thương tích chỉ vì lưu niên chạm vào cung có Kiếp Sát. Một thần sát nhỏ không đủ tư cách để nói câu ấy. Cái đúng mực là nhắc giữ an toàn, nhắc đặt ngưỡng dừng, nhắc đừng quyết lúc nóng, rồi để người ta tự sắp xếp.
Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Kiếp Sát
Với một sao mang tên như Kiếp Sát thì đây là mục quan trọng nhất của cả bài. Xin nói ngay và nói thẳng: Kiếp Sát là một thần sát nhỏ, sức nặng kém xa Lục Sát, và không bao giờ được phán tai họa từ nó.
Một: đây là thần sát nhỏ mượn từ hệ Bát Tự, không phải Lục Sát của Đẩu Số
Vòng mười hai thần sát tam hợp vốn là bộ khái niệm của hệ Bát Tự Tứ Trụ, được các đời sau đưa sang bàn Tử Vi cho đủ bộ. Nó khác hẳn Lục Sát của Đẩu Số là Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, những sao có bảng miếu vượng riêng, cách cục riêng, phú riêng và có sức làm hỏng một cung thật sự. Kiếp Sát không có bảng miếu vượng, không có cách cục mang tên nó, và các bộ chính điển không lập câu phú riêng cho nó. Đọc một thần sát nhỏ với sức nặng của Lục Sát là lỗi so sánh nhầm cấp, và là lỗi hay gặp nhất khi người ta gặp cái tên này. Ngay câu Địa Kiếp thứ hai của Tân Biên cũng chỉ là một lối ví về tượng phá bỏ, không phải một dấu bằng về cấp bậc.
Hai: tên sao không phải điều sẽ xảy ra
Chữ Kiếp và chữ Sát khiến nhiều người đọc thành cướp bóc, chém giết, tai nạn. Cấu trúc bác bỏ cách hiểu ấy ngay: Kiếp Sát an theo tam hợp chi năm sinh nên ai cũng có một sao Kiếp Sát trong lá số, ở đúng một cung, suốt đời không đổi, và một phần tư số người có nó ở cùng một chi. Nếu nó là điềm tai nạn thì cả nhân loại đang mang điềm ấy từ lúc lọt lòng. Thêm nữa, đã kiểm bằng máy: sao này đứng đúng cung Tuyệt, tức chỗ khí đã dứt để quay lại đầu vòng, chứ không phải chỗ khí bạo phát. Tượng đúng của nó là cắt bỏ, không phải bị hại.
Ba: sách nói tới đặc tính, không nói tới sự kiện
Điều Tân Biên thật sự chép là: Kiếp Sát chủ sự sát phạt, giết chóc, gây tai họa, liên quan tới đâm chém, mổ cắt, châm chích; khi tọa thủ tại Mệnh hay Tật Ách thì có đặc tính như Địa Kiếp nên được gọi là Địa Kiếp thứ hai; gặp Lưu Hà và các sát tinh khác thì tác họa nặng; gặp phúc tinh, sao giải và chính tinh miếu vượng thì hung giảm; ở người làm nghề có tính sát phạt như quân đội hay y khoa thì hóa dụng. Xin đọc kỹ chữ nghĩa: sách nói về đặc tính của một khí, và nói ngay trong cùng một đoạn rằng khí ấy hóa dụng được thành nghề. Sách không nói người có Kiếp Sát sẽ gặp nạn, không nêu tuổi nào năm nào, không lập một cách cục tai họa nào mang tên nó. Chỗ nào sách im lặng thì bài này ghi thẳng là sách không nói, chứ không suy diễn thêm.
Bốn: Giải Thần không giải được Kiếp Sát, còn Kình Dương không thể đồng cung
Hai đính chính này chỉ thấy được khi chạy máy. Nhiều bảng hợp kỵ, kể cả bản cũ của chính trang này, ghi rằng Kiếp Sát gặp Giải Thần thì được chế. Chạy đủ mười hai tuổi thì Giải Thần không bao giờ vào cung đồng, cung xung hay hai cung tam hợp của Kiếp Sát, cùng cảnh với Phượng Các, Long Trì, Thiên Khốc, Thiên Hư. Cái đỡ thật nằm ở chính tinh miếu vượng, ở Thiên Đức và Phúc Đức vốn luôn có mặt trong tam phương, ở Hóa Khoa, Lộc Tồn và Thiên Quan Thiên Phúc. Ngược lại, nhiều tài liệu cảnh báo Kiếp Sát gặp Kình Dương, mà Kình Dương không bao giờ đồng cung được với Kiếp Sát.
Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải
Kiếp Sát không phải sao cần trấn yểm, và Thầy đặc biệt không tán thành việc lấy cái tên này ra để bán lễ giải hạn. Đây là một thần sát nhỏ nói về việc phải cắt bỏ, mà việc cắt bỏ thì không hóa giải bằng lễ, chỉ giải bằng cách cắt cho đúng lúc và đúng chỗ.
Ba việc rất cụ thể, làm khi chưa có chuyện gì
Người có Kiếp Sát nổi bật ở Mệnh, Tật Ách, Tài Bạch hay Quan Lộc nên làm sẵn ba việc. Một, đặt ngưỡng dừng bằng con số cho mọi việc có rủi ro tiền bạc, ghi ra giấy trước khi vào việc. Hai, làm tử tế phần an toàn thân thể: an toàn lao động, dụng cụ sắc nhọn, mũ bảo hiểm và tốc độ khi đi lại, khám định kỳ. Ba, tự đặt luật không cắt đứt quan hệ lúc đang giận, để qua một đêm rồi hãy nói. Ba việc ấy biến phần lớn cái người ta gọi là hạn Kiếp Sát thành việc đã có phương án.
Dùng cái sắc như một nghề, nếu nó đậm
Chính sách chép rằng ở người làm nghề có tính sát phạt như quân đội hay y khoa thì Kiếp Sát hóa dụng. Trên lá số thật, Thầy gặp rất nhiều người có sao này nổi bật làm bác sĩ ngoại khoa, quân nhân, công an, luật sư, kiểm toán, kỹ sư an toàn, đầu bếp. Điểm chung của họ không phải là gặp nạn, mà là chịu được việc phải ra tay dứt khoát trong khi người khác chần chừ. Nếu Kiếp Sát đậm ở Mệnh hoặc Quan Lộc, hãy đưa nó vào một khuôn nghề nghiệp thay vì để nó bung ra trong quan hệ đời thường.
Chỗ cần giữ nhất là lời nói và nhịp quyết
Cái hao thật của Kiếp Sát hiếm khi là một biến cố lớn; nó thường là một câu nói sắc quá làm mất một người, hoặc một quyết định cắt sớm hơn cần thiết. Lời khuyên hiệu quả nhất cũng là lời đời thường nhất: tập nói chậm nửa nhịp, hỏi lại một câu trước khi kết luận, và mỗi lần định dừng một việc thì viết ra ba dòng lý do rồi để tới hôm sau mới quyết.
Phong thủy bổ trợ, ghi rõ là gợi ý chung: những việc dưới đây thuộc loại điều chỉnh nếp sống và bài trí, không phải trấn yểm, không thay thế được nỗ lực của bản thân và cũng không sửa được lá số. Trong nhà nên cất dao kéo và vật sắc vào chỗ có bao có hộp, không bày ra lối đi và chỗ trẻ nhỏ. Bàn làm việc nên gọn, vì người có khí cắt mà sống trong chỗ bừa thì trong lòng càng bức. Nên có cây xanh và ánh sáng tự nhiên buổi sáng để hạ bớt tính nóng. Ai muốn chỉnh theo đúng lá số của mình thì nên xem cung Điền Trạch và cung Phúc Đức rồi hãy quyết.
Lời cuối của mục này, cũng là câu Thầy hay nói khi khách mở lá số ra và giật mình vì thấy chữ Kiếp Sát: đời ai cũng có lúc phải cắt bỏ một thứ, lá số chỉ nói cho biết chỗ ấy nằm ở đâu để mà cắt cho khéo.
Câu hỏi thường gặp
Kiếp Sát là một sát tinh của Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Hỏa, an theo tam hợp địa chi năm sinh. Sao chủ sát phạt, giết chóc, tai họa, liên quan đâm chém, mổ cắt. Ở Mệnh hay Tật Ách có đặc tính như Địa Kiếp thứ hai.
Kiếp Sát ở Tật Ách nhắc đề phòng tai nạn, thương tích, dao kéo, phẫu thuật. Cần có phúc tinh, sao giải và chính tinh miếu vượng để chế bớt cái hung.
Có. Với người làm nghề có tính sát phạt như quân đội, y khoa, mổ xẻ, Kiếp Sát đi cùng Thiên Hình và sao võ có thể hóa dụng thành nghề nghiệp phù hợp.
Kiếp Sát an theo tam hợp địa chi năm sinh, cố định trong lá số.
Không. Kiếp Sát an theo tam hợp địa chi năm sinh nên ai cũng có một sao Kiếp Sát trong lá số, ở đúng một cung, suốt đời không đổi, và một phần tư số người có nó ở cùng một chi. Sách Tân Biên chép về đặc tính của nó là sát phạt, mổ cắt, châm chích, đồng thời nói ngay rằng người làm nghề sát phạt như quân đội hay y khoa thì hóa dụng được. Đây là một thần sát nhỏ mượn từ hệ Bát Tự, sức nặng kém xa Lục Sát, nên không bao giờ được phán tai họa từ riêng nó.
Chỉ bốn cung tứ sinh Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Tám cung còn lại gồm Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất thì Kiếp Sát vĩnh viễn không tới, đã chạy đủ mười hai tuổi bằng thuật toán an sao để xác nhận. Cách nhớ gọn nhất là Kiếp Sát luôn đóng cung Tuyệt trong vòng sinh vượng của hành tam hợp tuổi mình, tức cung lùi ba bước ngược chiều từ cung Trường Sinh: tuổi Dần Ngọ Tuất tại Hợi, tuổi Thân Tý Thìn tại Tỵ, tuổi Tỵ Dậu Sửu tại Dần, tuổi Hợi Mão Mùi tại Thân.
Địa Kiếp là một trong Lục Sát của Đẩu Số, an theo giờ sinh, có bảng miếu vượng đắc hãm đủ mười hai cung và nhiều cách cục mang tên. Kiếp Sát là thần sát nhỏ an theo tam hợp chi năm sinh, chỉ tới bốn cung, không có bảng miếu vượng, không có cách cục riêng và các bộ chính điển không lập phú cho nó. Câu Địa Kiếp thứ hai trong Tân Biên là một lối ví về tượng phá bỏ, không phải dấu bằng về cấp bậc.
Chạy đủ mười hai tuổi thì Giải Thần, Phượng Các, Long Trì, Thiên Khốc và Thiên Hư không bao giờ vào được tam phương tứ chính của Kiếp Sát, nên không thể coi Giải Thần là thuốc giải như nhiều bảng hợp kỵ vẫn ghi. Cái đỡ thật gồm chính tinh miếu vượng đồng cung, Thiên Đức và Phúc Đức vốn luôn có mặt trong tam phương, Hóa Khoa và Hóa Lộc tới qua chính tinh, Lộc Tồn đồng cung ở chín tuổi thuộc ba can Bính Mậu Nhâm, cùng Thiên Quan Thiên Phúc.