Tử Vi
Sao Kình Dương: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung
Tìm hiểu sao Kình Dương trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.
Tổng quan về sao Kình Dương
Kình Dương, tên khác là Dương Nhận, là một trong sáu sát tinh của Tử Vi Đẩu Số, thuộc Bắc Đẩu, ngũ hành Âm Kim mang theo khí Hỏa. Người xưa hình dung Kình Dương như một lưỡi dao sắc: bản thân nó không phân thiện ác, mà sắc bén tới mức dùng đúng thì chặt được gai góc, dùng ẩu thì đứt tay chính mình.
Kình Dương chủ về sát phạt, hình thương, sự cương quyết và bạo liệt. Đây là sao của hành động dứt khoát, của tranh đấu, của những nghề cầm dao cầm kiếm theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
- Ngũ hành: Âm Kim đới Hỏa
- Chòm sao: Bắc Đẩu
- Loại sao: Sát tinh, hình tinh
- Cách an: Lộc Tồn tiến một cung
- Cai quản: Sát phạt, hình thương, quyết đoán
- Hợp gặp: Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng chế hung
- Kỵ: Thất Sát, Hỏa Linh, Hóa Kỵ
Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.
Ý nghĩa tại cung Mệnh
- Kình đắc địa hoặc gặp cát tinh: Cương nghị, quyết đoán, chịu được va đập, dám nhận việc khó; hợp môi trường kỷ luật và cạnh tranh.
- Kình hãm địa hoặc gặp hung tinh: Nóng vội, hiếu thắng, hay tự chuốc thị phi; thân thể dễ mang thương tích hoặc sẹo.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Kình tại Ngọ cùng Thiên Đồng là Mã Đầu Đới Kiếm. Kình đồng cung Tử Vi hoặc Thiên Phủ là sát bị chế phục, hợp cầm quyền. Kình cùng Thất Sát mà thiếu cát tinh là sát chồng sát.
Ý nghĩa ở các cung khác
Đối chiếu ý nghĩa của Kình Dương với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.
Cung Phụ Mẫu
- Kình đắc địa hoặc gặp cát tinh: Cha mẹ nghiêm, dạy con có phép tắc; mình học được sự cứng cỏi từ nhà.
- Kình hãm địa hoặc gặp hung tinh: Cha mẹ nghiêm quá hóa xa cách, hoặc trong nhà có người sức khỏe phải can thiệp bằng phẫu thuật.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Kình Dương tại Phụ Mẫu cộng lưu Kình hoặc lưu Đà của năm chạm tới là năm nên đưa cha mẹ đi khám, không kết luận gì nặng hơn thế.
Cung Phúc Đức
- Kình đắc địa hoặc gặp cát tinh: Tinh thần mạnh, không sợ khó, tự lực; có phúc của người dám chịu trách nhiệm.
- Kình hãm địa hoặc gặp hung tinh: Trong lòng hay bứt rứt, khó buông, nghĩ nhiều về chuyện hơn thua; ngủ không sâu.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Kình Dương ở Phúc Đức là cung ít người để ý mà lại quan trọng, vì nó nói cái gốc của tính nóng. Kình cùng Thiên Hình ở đây thì nên chọn một lối tu tâm hoặc một môn rèn thân có kỷ luật.
Cung Điền Trạch
- Kình đắc địa hoặc gặp cát tinh: Có nhà đất nhờ tự tay gây dựng; hợp sửa chữa, cải tạo, xây mới hơn là giữ nguyên.
- Kình hãm địa hoặc gặp hung tinh: Nhà đất hay vướng tranh chấp ranh giới, giấy tờ; nhà gần đường lớn, gần công trình, hay có tiếng ồn.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Kình Dương tại Điền Trạch gặp Hóa Kỵ là tổ hợp nên kiểm kỹ sổ đỏ và ranh mốc trước khi mua. Kình cùng Hỏa Tinh là phải để ý điện và bếp.
Cung Quan Lộc
- Kình đắc địa hoặc gặp cát tinh: Vị trí Kình Dương thích nhất: nghề có kỷ luật và có đối thủ, quân đội, công an, ngoại khoa, kỹ thuật, thể thao, pháp lý, kinh doanh cạnh tranh.
- Kình hãm địa hoặc gặp hung tinh: Công việc nhiều va chạm, hay bị soi, dễ mất chức vì nóng; đổi việc theo cảm xúc.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Kình đắc tại Tứ Mộ ở Quan Lộc cùng Vũ Khúc hoặc Thất Sát là cách võ nghiệp có thực quyền. Kình cùng Hóa Quyền là người ra lệnh, cần Hóa Khoa hoặc Thiên Tướng làm mềm.
Cung Nô Bộc
- Kình đắc địa hoặc gặp cát tinh: Cấp dưới làm việc quyết liệt, bạn bè là người dám nói thật; hợp quản lý đội ngũ cần kỷ luật.
- Kình hãm địa hoặc gặp hung tinh: Bị bạn hoặc người dưới phản, hay dính chuyện tranh giành sau lưng; giúp người rồi mang oán.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Kình Dương tại Nô Bộc mà cung ấy có chính tinh hóa Kỵ là tổ hợp Thầy luôn dặn: chớ bảo lãnh, chớ cho mượn danh nghĩa, chớ giao con dấu.
Cung Thiên Di
- Kình đắc địa hoặc gặp cát tinh: Ra ngoài dám xông, cạnh tranh giỏi, hợp đi làm xa nhà, hợp nghề phải va chạm với người lạ.
- Kình hãm địa hoặc gặp hung tinh: Ra đường dễ va chạm, dễ vướng lời qua tiếng lại; đi lại cần cẩn thận, nhất là xe cộ.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Kình Dương ở Thiên Di xung chiếu về Mệnh là thế "dao ở bên ngoài": người hiền mà hoàn cảnh bắt phải cứng. Kình cùng Thiên Mã không thể đồng cung, xin xem lại mục cơ chế an sao.
Cung Tật Ách
- Kình đắc địa hoặc gặp cát tinh: Sức vóc chắc, chịu đau tốt, bệnh đến thì dứt điểm nhanh, hợp chữa bằng can thiệp hơn là dùng thuốc kéo dài.
- Kình hãm địa hoặc gặp hung tinh: Thương tích, dao kéo, phẫu thuật, tai nạn giao thông; chứng do khí Kim và Hỏa như viêm, mụn nhọt, đau răng, đau đầu.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Đây là cung Kình Dương lộ ra rõ nhất. Kình cùng Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh là bỏng, là chấn thương do va đập mạnh. Kình cùng Hóa Kỵ tại Tật là năm phải mổ. Kình cùng Thiên Hình là thương tích có liên quan tới pháp luật hoặc do nghề.
Cung Tài Bạch
- Kình đắc địa hoặc gặp cát tinh: Tiền vào bằng tranh đấu và tay nghề: nghề cứng, nghề cạnh tranh, nghề ăn theo kết quả rõ ràng.
- Kình hãm địa hoặc gặp hung tinh: Tiền đến rồi đi vì hấp tấp, dễ mất vì tranh chấp, vì bảo lãnh, vì đầu tư theo lời rủ.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Kình gặp Lộc Tồn giáp bên là thế "dao có bao": kiếm tiền cứng mà giữ được. Kình cùng Vũ Khúc hóa Kỵ tuổi Nhâm là thế phải tránh vay mượn và đứng tên hộ.
Cung Tử Tức
- Kình đắc địa hoặc gặp cát tinh: Con cái cứng cỏi, có chí, sớm tự lập; hợp hướng con vào nghề có kỷ luật.
- Kình hãm địa hoặc gặp hung tinh: Sinh nở vất vả, hay phải can thiệp; con nghịch, cha con dễ va nhau vì đều cứng.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Kình Dương tại Tử Tức cộng lưu Kình của năm chạm vào là năm nên khám thai kỹ và chọn nơi sinh có chuyên môn tốt. Kình cùng Phá Quân là con đi xa sớm.
Cung Phu Thê
- Kình đắc địa hoặc gặp cát tinh: Bạn đời có cá tính mạnh, giỏi việc, dứt khoát; hai người hợp nhau nhờ cùng thẳng thắn.
- Kình hãm địa hoặc gặp hung tinh: Vợ chồng hay lời qua tiếng lại, dễ nói nặng lúc nóng; duyên đến sớm thì trắc trở, đến muộn lại yên.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Kình Dương hãm ở Phu Thê gặp Hóa Kỵ đồng cung là tổ hợp cần luận kỹ, không kết luận vội về ly hợp. Kình gặp Thiên Riêu là chuyện tình cảm có bên thứ ba xen vào.
Cung Huynh Đệ
- Kình đắc địa hoặc gặp cát tinh: Anh em thẳng tính, nói ra là làm, có người trong nhà làm nghề cứng và giúp được mình.
- Kình hãm địa hoặc gặp hung tinh: Anh em bất hòa, dễ tranh nhau phần chia; bạn cùng làm ăn hay trở mặt vì tiền.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Kình Dương ở đây mà cung Lộc Tồn kề bên có chính tinh hóa Kỵ là thế dễ mất tình vì tài sản chung. Kình cùng Vũ Khúc là chuyện tiền giữa anh em phải rõ ràng bằng giấy.
Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Kình Dương không có vị trí riêng của mình. Nó là cái bóng của Lộc Tồn. Sách an sao dạy một câu rất gọn: tìm Lộc Tồn theo thiên can năm sinh trước, rồi cung kế Lộc Tồn theo chiều thuận, tức Lộc Tồn tiến một cung, là Kình Dương; cung kế Lộc Tồn theo chiều nghịch, tức Lộc Tồn lùi một cung, là Đà La. Nhiều sách Việt gọi tắt Kình Dương là sao ở "cung trước Lộc Tồn", chữ trước ở đây hiểu là phía trước mặt theo chiều đi thuận của mười hai cung, tức đúng cung mà Lộc Tồn tiến một bước sẽ tới; còn Đà La là cung ở phía sau lưng. Cách nói nào cũng được, miễn là hiểu đúng chiều. Vì thế ba sao này sinh ra cùng một lúc, đi thành một cụm ba cung liền nhau, và suốt đời không rời nhau nửa bước. Hiểu Kình Dương mà bỏ Lộc Tồn ra ngoài là hiểu một nửa.
Từ chỗ Kình Dương bám vào Lộc Tồn, mà Lộc Tồn lại bám vào can năm sinh, rút ra ngay một hệ quả quan trọng: tuổi can nào thì Kình Dương ở cung ấy, không có ngoại lệ, không phụ thuộc tháng sinh, giờ sinh hay giới tính. Hai người sinh cách nhau nửa năm, khác tháng khác giờ, lá số khác nhau hoàn toàn, nhưng nếu cùng một can năm sinh thì Kình Dương của họ đóng đúng một cung địa chi. Đây là điểm khác hẳn Hỏa Tinh, Linh Tinh hay Không Kiếp, những sao phải có giờ sinh mới an được.
Giáp
- Lộc Tồn: Dần
- Kình Dương: Mão
- Đà La: Sửu
Ất
- Lộc Tồn: Mão
- Kình Dương: Thìn
- Đà La: Dần
Bính
- Lộc Tồn: Tỵ
- Kình Dương: Ngọ
- Đà La: Thìn
Đinh
- Lộc Tồn: Ngọ
- Kình Dương: Mùi
- Đà La: Tỵ
Mậu
- Lộc Tồn: Tỵ
- Kình Dương: Ngọ
- Đà La: Thìn
Kỷ
- Lộc Tồn: Ngọ
- Kình Dương: Mùi
- Đà La: Tỵ
Canh
- Lộc Tồn: Thân
- Kình Dương: Dậu
- Đà La: Mùi
Tân
- Lộc Tồn: Dậu
- Kình Dương: Tuất
- Đà La: Thân
Nhâm
- Lộc Tồn: Hợi
- Kình Dương: Tý
- Đà La: Tuất
Quý
- Lộc Tồn: Tý
- Kình Dương: Sửu
- Đà La: Hợi
Sáu điều bất biến của Kình Dương
- Kình Dương chỉ có mặt ở tám cung. Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất. Nó không bao giờ an tại Dần, Thân, Tỵ, Hợi, tức bốn cung Tứ Sinh. Ai đọc lá số mà thấy Kình Dương ghi ở Dần hay ở Hợi thì lá số ấy an sai, không cần bàn thêm.
- Kình Dương và Đà La luôn cách nhau đúng hai cung, kẹp Lộc Tồn ở giữa. Hệ quả rất mạnh mà ít sách nói thẳng: Kình và Đà không bao giờ đồng cung, không bao giờ xung chiếu nhau, và cũng không bao giờ tam hợp nhau. Quan hệ duy nhất giữa hai sao này là cùng giáp một cung. Câu "Kình Đà đồng cung" nếu có ai nói thì là nói sai cấu trúc.
- Kình Dương không bao giờ đồng cung hay xung chiếu Lộc Tồn. Vì hai sao kề nhau. Lộc Tồn chỉ có thể tới với Kình Dương ở thế giáp một bên. Vậy nên câu quen miệng "Kình Dương gặp Lộc Tồn thì bớt hung" phải hiểu đúng là Lộc Tồn đứng sát bên cạnh, chứ không phải ngồi cùng cung.
- Tuổi can dương thì Kình Dương luôn hãm, tuổi can âm thì Kình Dương luôn đắc. Chạy đủ mười can thấy rõ: Giáp Mão, Bính Ngọ, Mậu Ngọ, Canh Dậu, Nhâm Tý, năm can dương thì Kình rơi trọn vào Tứ Chính là đất hãm; Ất Thìn, Đinh Mùi, Kỷ Mùi, Tân Tuất, Quý Sửu, năm can âm thì Kình rơi trọn vào Tứ Mộ là đất đắc. Không có một tuổi nào lệch ra ngoài quy luật này.
- Kình đắc thì Đà hãm, Kình hãm thì Đà đắc, luôn luôn. Cùng bộ số ấy: tuổi can dương Đà La rơi vào Tứ Mộ (Giáp Sửu, Bính Thìn, Mậu Thìn, Canh Mùi, Nhâm Tuất) là đất đắc của Đà; tuổi can âm Đà La rơi vào Tứ Sinh (Ất Dần, Đinh Tỵ, Kỷ Tỵ, Tân Thân, Quý Hợi) là đất hãm. Hai lưỡi dao trong một lá số không bao giờ cùng sắc và cũng không bao giờ cùng cùn.
- Lộc Tồn không bao giờ ở Tứ Mộ. Ghép ba điều lại thành một bức tranh rất đẹp của khoa an sao: Lộc Tồn tránh Tứ Mộ, Kình Dương tránh Tứ Sinh, Đà La tránh Tứ Chính. Ba sao chia nhau ba nhóm cung, không sao nào đi hết mười hai cung, và bao giờ cũng đủ chỗ cho cả ba.
Bảng dưới đây đọc theo chiều ngược lại, từ cung nhìn ra tuổi. Nó trả lời câu hỏi mà người luận hay phải tự hỏi trong đầu: cung này có Kình Dương thì người ấy tuổi can gì, và Kình ấy đắc hay hãm. Vì mỗi cung chỉ ứng với một hoặc hai can, chỉ cần nhìn cung là đoán được nửa phần thông tin về tuổi.
Tý
- Ứng với tuổi can: Nhâm
- Nhóm cung: Tứ Chính
- Mức đắc hãm theo Tân Biên: Hãm
Sửu
- Ứng với tuổi can: Quý
- Nhóm cung: Tứ Mộ
- Mức đắc hãm theo Tân Biên: Đắc
Mão
- Ứng với tuổi can: Giáp
- Nhóm cung: Tứ Chính
- Mức đắc hãm theo Tân Biên: Hãm
Thìn
- Ứng với tuổi can: Ất
- Nhóm cung: Tứ Mộ
- Mức đắc hãm theo Tân Biên: Đắc
Ngọ
- Ứng với tuổi can: Bính, Mậu
- Nhóm cung: Tứ Chính
- Mức đắc hãm theo Tân Biên: Hãm, nhưng là đất của cách Mã Đầu Đới Kiếm
Mùi
- Ứng với tuổi can: Đinh, Kỷ
- Nhóm cung: Tứ Mộ
- Mức đắc hãm theo Tân Biên: Đắc
Dậu
- Ứng với tuổi can: Canh
- Nhóm cung: Tứ Chính
- Mức đắc hãm theo Tân Biên: Hãm
Tuất
- Ứng với tuổi can: Tân
- Nhóm cung: Tứ Mộ
- Mức đắc hãm theo Tân Biên: Đắc
Dần, Thân, Tỵ, Hợi
- Ứng với tuổi can: không tuổi nào
- Nhóm cung: Tứ Sinh
- Mức đắc hãm theo Tân Biên: Kình Dương không bao giờ tới
Kình Dương gặp được chính tinh nào
Chạy đủ mười hai thế Tử Vi cho từng vị trí trong tám cung nói trên, kết quả rất thoáng: cả mười bốn chính tinh đều có thể đồng cung với Kình Dương ở bất kỳ cung nào trong tám cung ấy. Nghĩa là Kình Dương không kén chính tinh như Thái Dương kén bộ Nhật Nguyệt Cự Lương. Nó là con dao, ai cầm cũng được, vấn đề chỉ là bàn tay cầm nó thuộc về ai. Đây chính là lý do sách bắt phải xem chính tinh trước rồi mới xem Kình Dương, chứ không luận Kình Dương một mình.
Ngược lại, với các phụ tinh cùng an theo can năm sinh thì cấu trúc rất chặt và có hai điều bất ngờ. Thứ nhất, Kình Dương không bao giờ đồng cung và cũng không bao giờ xung chiếu Thiên Khôi hay Thiên Việt, kiểm đủ mười can đều đúng; hai sao quý nhân ấy nhiều lắm chỉ tam hợp chiếu tới Kình Dương, và chỉ với năm tuổi Giáp, Ất, Đinh, Tân, Quý. Với năm tuổi Bính, Mậu, Kỷ, Canh, Nhâm thì Khôi Việt không chạm được vào tam phương tứ chính của Kình Dương một chút nào. Thứ hai, Kình Dương không bao giờ đồng cung và cũng không bao giờ xung chiếu Thiên Mã, vì Thiên Mã chỉ an ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi, đúng bốn cung mà Kình Dương vắng mặt. Kiểm hết sáu mươi cặp can chi hợp lệ thì Thiên Mã chỉ tới được Kình Dương bằng đường tam hợp, và cũng chỉ ở mười tám trong sáu mươi trường hợp.
Điều thứ hai ấy có một hệ quả rất thực dụng khi luận: cách Mã Đầu Đới Kiếm không liên quan gì tới sao Thiên Mã. Chữ "mã" trong tên cách là con ngựa của cung Ngọ, vì Ngọ thuộc ngựa trong mười hai con giáp, chứ không phải sao Thiên Mã trong lá số. Thầy đã gặp không ít người tự đọc lá số rồi tưởng mình có Mã Đầu Đới Kiếm chỉ vì thấy Thiên Mã nằm gần Kình Dương. Theo cấu trúc an sao thì điều ấy không thể xảy ra, vì hai sao đó vĩnh viễn không ngồi cùng cung.
Cách an và đặc tính thủ Mệnh
Người có Kình Dương đóng Mệnh thường nóng tính, thẳng thừng, làm việc quyết đoán, không thích vòng vo. Khi sao này đắc địa, đó là khí chất của người dám nghĩ dám làm, gan dạ, chịu được va đập, hợp với môi trường cạnh tranh và kỷ luật.
Cách an Kình Dương rất rõ: nó luôn đứng ở cung kế sao Lộc Tồn theo chiều thuận, tức Lộc Tồn tiến một cung, mà Lộc Tồn lại an theo can năm sinh. Vì vậy Kình Dương chỉ xuất hiện ở tám cung, không bao giờ rơi vào bốn cung Tứ Sinh là Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Mặt trái của sao này là dễ liều, dễ chuốc thị phi và thương tích nếu thiếu sao lành kìm giữ.
Kình Dương Và Tứ Hóa Theo Tuổi Can
Nói ngay cho rõ: Kình Dương không nằm trong Tứ Hóa. Không có tuổi nào làm Kình Dương hóa Lộc, hóa Quyền, hóa Khoa hay hóa Kỵ. Bảng Tứ Hóa chỉ gọi tên mười bốn chính tinh cùng bốn phụ tinh Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật (và Thiên Phủ ở bản Bắc phái tuổi Nhâm). Kình Dương đứng ngoài bảng ấy.
Nhưng đứng ngoài không có nghĩa là không dính. Trái lại, Kình Dương dính vào Tứ Hóa chặt hơn hầu hết phụ tinh khác, vì một lý do cấu trúc: Tứ Hóa an theo can năm sinh, Kình Dương cũng an theo can năm sinh. Hai bên cùng một gốc. Cho nên khi biết tuổi can, ta biết ngay cả bộ Tứ Hóa lẫn cung của Kình Dương, và biết luôn bộ Tứ Hóa nào có quyền gặp Kình Dương. Với một sao an theo giờ như Hỏa Tinh thì tổ hợp là ngẫu nhiên; với Kình Dương thì tổ hợp là bị khóa cứng theo tuổi.
Giáp
- Kình Dương tại: Mão (hãm)
- Tứ Hóa của tuổi ấy (Lộc · Quyền · Khoa · Kỵ): Liêm Trinh · Phá Quân · Vũ Khúc · Thái Dương
- Điều đáng chú ý: Kỵ của tuổi này là Thái Dương. Kình Dương hãm mà đồng cung Thái Dương hóa Kỵ là thế nặng cho mắt và cho duyên với cha.
Ất
- Kình Dương tại: Thìn (đắc)
- Tứ Hóa của tuổi ấy (Lộc · Quyền · Khoa · Kỵ): Thiên Cơ · Thiên Lương · Tử Vi · Thái Âm
- Điều đáng chú ý: Kình đắc lại có thể gặp Tử Vi hóa Khoa cùng cung: sát khí được ấn lệnh chế phục, là thế đẹp của tuổi Ất.
Bính
- Kình Dương tại: Ngọ (hãm)
- Tứ Hóa của tuổi ấy (Lộc · Quyền · Khoa · Kỵ): Thiên Đồng · Thiên Cơ · Văn Xương · Liêm Trinh
- Điều đáng chú ý: Đất của Mã Đầu Đới Kiếm. Nếu Thiên Đồng hóa Lộc cùng cung thì kiếm có bao; nếu Liêm Trinh hóa Kỵ cùng cung thì thành Hình Tù Giáp Ấn.
Đinh
- Kình Dương tại: Mùi (đắc)
- Tứ Hóa của tuổi ấy (Lộc · Quyền · Khoa · Kỵ): Thái Âm · Thiên Đồng · Thiên Cơ · Cự Môn
- Điều đáng chú ý: Kình đắc mà gặp Cự Môn hóa Kỵ cùng cung thì lời nói thành dao: miệng tiếng, kiện tụng, tranh chấp giấy tờ.
Mậu
- Kình Dương tại: Ngọ (hãm)
- Tứ Hóa của tuổi ấy (Lộc · Quyền · Khoa · Kỵ): Tham Lang · Thái Âm · Hữu Bật · Thiên Cơ
- Điều đáng chú ý: Cũng là đất Mã Đầu Đới Kiếm. Thiên Cơ hóa Kỵ gặp Kình Dương là mưu tính nhiều mà rối, cần Tử Phủ Tướng chế.
Kỷ
- Kình Dương tại: Mùi (đắc)
- Tứ Hóa của tuổi ấy (Lộc · Quyền · Khoa · Kỵ): Vũ Khúc · Tham Lang · Thiên Lương · Văn Khúc
- Điều đáng chú ý: Kỵ của tuổi này là phụ tinh Văn Khúc, chính tinh không ai mang Kỵ. Đây là tuổi mà Kình Dương ít bị Kỵ chính tinh làm nặng thêm nhất.
Canh
- Kình Dương tại: Dậu (hãm)
- Tứ Hóa của tuổi ấy (Lộc · Quyền · Khoa · Kỵ): Thái Dương · Vũ Khúc · Thiên Đồng · Thiên Tướng (Nam phái)
- Điều đáng chú ý: Bắc phái tuổi Canh là Thái Dương · Vũ Khúc · Thái Âm · Thiên Đồng. Ai luận theo Bắc phái thì tổ hợp Kình Dương gặp Kỵ đổi hẳn, phải nói rõ mình theo phái nào.
Tân
- Kình Dương tại: Tuất (đắc)
- Tứ Hóa của tuổi ấy (Lộc · Quyền · Khoa · Kỵ): Cự Môn · Thái Dương · Văn Khúc · Văn Xương
- Điều đáng chú ý: Kỵ lại rơi vào phụ tinh Văn Xương. Kình đắc tại Tuất mà gặp Thái Dương hóa Quyền là thế uy danh có kỷ cương.
Nhâm
- Kình Dương tại: Tý (hãm)
- Tứ Hóa của tuổi ấy (Lộc · Quyền · Khoa · Kỵ): Thiên Lương · Tử Vi · Tả Phụ · Vũ Khúc (Nam phái)
- Điều đáng chú ý: Bắc phái đổi Khoa từ Tả Phụ sang Thiên Phủ. Vũ Khúc hóa Kỵ gặp Kình Dương hãm là thế tiền bạc sinh tranh chấp, phải xem kỹ Tài Bạch.
Quý
- Kình Dương tại: Sửu (đắc)
- Tứ Hóa của tuổi ấy (Lộc · Quyền · Khoa · Kỵ): Phá Quân · Cự Môn · Thái Âm · Tham Lang
- Điều đáng chú ý: Kình đắc tại Sửu mà đồng cung Tham Lang hóa Kỵ là thế ham muốn bị chặn, hợp người tu nghề hơn người tham lợi.
Kình Dương gặp chính tinh đang hóa Lộc
Hóa Lộc là cái được, là phần mềm mại và đầy đặn. Đặt cạnh Kình Dương, Lộc có tác dụng như bao kiếm: dao vẫn sắc mà không cứa vào tay. Thầy thấy trên lá số thật, người có Kình Dương đồng cung với một chính tinh đang hóa Lộc thường làm nghề cứng mà vẫn có tiền vào đều, kiểu người thầu công trình, người mở xưởng, người làm ngoại khoa có phòng khám riêng: quyết liệt nhưng có phần thưởng rõ ràng nên không phải quyết liệt oan. Cần nhớ Lộc chỉ làm dịu chứ không làm mất sát khí; người ấy vẫn nóng, vẫn thẳng, chỉ là cái nóng có chỗ tiêu.
Kình Dương gặp chính tinh đang hóa Quyền
Đây là tổ hợp mạnh nhất và cũng dễ đi chệch nhất. Quyền là quyền uy, Kình Dương là sát phạt; hai cái cộng lại thành người ra lệnh và bắt người khác nghe. Khi Kình Dương đắc địa ở Tứ Mộ thì đó là uy của người chỉ huy, quy củ, nói một là một. Khi Kình Dương hãm ở Tứ Chính thì Quyền dễ thành áp đặt, được việc mà mất người, và cái mất ấy thường lộ ra ở cung Nô Bộc hoặc cung Huynh Đệ chứ không lộ ở cung Mệnh. Nguyên lý rất đơn giản: dao sắc cộng với quyền cầm dao thì phải có luật, luật ở đây là Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng hoặc Hóa Khoa.
Kình Dương gặp chính tinh đang hóa Khoa
Khoa là danh tiếng, là chữ nghĩa, là cái nề nếp. Trong bốn hóa thì Khoa hợp với Kình Dương nhất theo nghĩa hóa giải, vì Khoa dạy cho lưỡi dao biết cách dùng. Người có Kình Dương gặp Hóa Khoa thường là người sắc bén mà có bài bản: bác sĩ giỏi tay dao lại chịu viết, kỹ sư cứng nghề lại đi dạy nghề, người làm luật vừa cứng vừa nắm điều khoản. Đáng tiếc là Khoa của tuổi Bính và tuổi Tân rơi vào Văn Xương, Văn Khúc, tức phụ tinh an theo giờ, nên có gặp được Kình Dương hay không lại phụ thuộc giờ sinh, không khóa theo tuổi như các hóa khác.
Kình Dương gặp chính tinh đang hóa Kỵ
Đây là chỗ sách nói nặng lời nhất và cũng là chỗ người đọc hay hoảng nhất. Hóa Kỵ là cái vướng, cái tắc; Kình Dương là cái sắc, cái nhọn. Vướng cộng nhọn thì thành đâm vào chính mình. Toàn Thư xếp thẳng thế Dương Đà giáp Kỵ vào loại bại cục. Nhưng phải tách ba mức, không được gộp làm một. Kình Dương đắc địa đồng cung với Kỵ là có va chạm mà giải quyết được, thường biểu hiện thành một quãng kiện tụng hoặc một lần phẫu thuật rồi qua. Kình Dương hãm địa đồng cung với Kỵ mới là thế phải dè chừng thật, nhất là ở cung Tật Ách và cung Phu Thê. Kỵ chỉ tam hợp chiếu tới thì phần lớn chỉ là tiếng ra tiếng vào, không thành chuyện. Thầy chưa bao giờ kết luận nặng cho một lá số chỉ vì thấy Kỵ chiếu xa tới Kình Dương.
Hóa từ cung khác bay tới cung có Kình Dương
Bắc phái Trung Châu còn xét hóa bay từ cung này sang cung kia theo can của từng cung, gọi là phi hóa. Với Kình Dương, ba tình huống hay được hỏi nhất:
- Cung Phu Thê phi Kỵ vào cung có Kình Dương. Chuyện trong nhà thành chuyện tranh cãi có lời nặng; nếu cung đích lại là Tật Ách thì thường là sức khỏe sa sút vì căng thẳng gia đạo, không phải vì tai nạn.
- Cung Tài Bạch phi Kỵ vào cung có Kình Dương. Tiền bạc sinh tranh chấp, hay gặp ở người cho vay, đứng tên hộ, hùn vốn miệng không giấy tờ. Đây là tổ hợp Thầy dặn kỹ nhất, vì hậu quả có thật và phòng được.
- Cung có Kình Dương phi Lộc ra cung Quan Lộc. Cái sắc bén được đưa ra ngoài làm việc, thường là dấu hiệu của người chọn đúng nghề: nghề có kỷ luật, có cạnh tranh, có ranh giới rõ.
Các cách cục và điều kiện thành cách
Cách nổi tiếng nhất của sao này là Mã Đầu Đới Kiếm, tức Kình Dương cư Ngọ, ví như thanh kiếm đeo bên đầu ngựa. Người hợp cách thường uy mãnh, có chí lớn, lập công nơi gian khó, nhưng đời cũng nhiều hiểm nguy, cần bản lĩnh và phúc đức đỡ phía sau.
Kình Dương cùng Đà La kẹp lấy một cung gọi là thế giáp sát, cung bị kẹp chịu áp lực lớn. Khi Kình Dương gặp Hóa Kỵ hay đi cùng Thất Sát Phá Quân thì là các thế hung, cần sao giải. Ngược lại, Kình Dương đắc địa hội Tử Phủ Vũ Tướng thì cái sát hóa thành uy quyền.
Một cách cục chỉ "thành" khi hội đủ điều kiện và "phá" khi vướng điều kiện phá. Dưới đây bảy cách của Kình Dương, mỗi cách ghi rõ cả hai đầu. Xin nói trước một điều về phú: trong toàn bộ mục này, Thầy chỉ dẫn hai câu phú mà chắc chắn có trong Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư qua bản dịch của Vũ Tài Lục. Những cách còn lại tuy có tên gọi lưu truyền nhưng Thầy không tìm được câu phú gốc đủ tin cậy, nên chỉ ghi điều kiện, không gán phú. Thà thiếu một câu hay còn hơn thêm một câu bịa.
Mã Đầu Đới Kiếm (thanh kiếm bên đầu ngựa)
Thành cách: Kình Dương thủ Mệnh tại Ngọ. Vì Kình Dương an theo can năm sinh nên điều này chỉ xảy ra với tuổi Bính và tuổi Mậu, không có tuổi thứ ba, kiểm bằng thuật toán an sao là chắc chắn. Sách hay nêu thêm điều kiện gặp Thiên Đồng tại Ngọ, vì Đồng là phúc tinh làm bao cho lưỡi kiếm. Toàn Thư có câu "Mã đầu đới kiếm, trấn ngự biên cương", nghĩa là người hợp cách ra trấn giữ nơi biên ải, tức lập công ở chỗ gian nan xa xôi chứ không ở chốn êm ấm. Đủ đẹp: tuổi Bính có Thiên Đồng hóa Lộc ngay tại Ngọ, kiếm sắc mà có bao, là thế đẹp nhất của cách này; thêm Tử Vi, Thiên Phủ hoặc Thiên Tướng ở tam phương thì càng vững. Phá cách: Ngọ vốn là đất hãm của Kình Dương, nên nếu không có phúc tinh hay cát tinh nào chế mà lại thêm Hỏa Tinh, Linh Tinh, Hóa Kỵ đồng cung thì cách này lật mặt: uy mãnh thành liều lĩnh, lập công thành chuốc họa. Thầy vẫn nói với khách rằng Mã Đầu Đới Kiếm là cách của người phải đi xa nhà và phải chịu khổ trước, ai muốn an nhàn thì cách này không hợp, dù nó nổi tiếng đến đâu.
Kình Dương đắc địa Tứ Mộ (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi)
Thành cách: Kình Dương đóng tại một trong bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Tân Biên chép rõ Kình Dương đắc địa Tứ Mộ thì can đảm dũng mãnh, uy khí có ích. Kiểm bằng thuật toán thì điều kiện này tương đương một câu ngắn hơn nhiều: người tuổi can âm, tức Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý. Năm tuổi ấy Kình Dương rơi trọn vào Tứ Mộ, không sót tuổi nào; năm tuổi can dương còn lại thì không bao giờ có được. Đây là một trong những chỗ mà cấu trúc an sao cho ta một quy tắc gọn hơn cả sách. Đủ đẹp: thêm Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng, Vũ Khúc đắc địa hoặc Hóa Quyền cùng cung thì thành uy quyền có kỷ cương, hợp cầm quân, cầm nghề, cầm dao. Phá cách: gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh hoặc Hóa Kỵ đồng cung thì đất đắc cũng chỉ đỡ được một phần, vẫn phải đề phòng thương tích; và nên nhớ Kình đắc thì Đà La của chính người ấy đang hãm ở Tứ Sinh, cái nhẹ bên này thường đổi lấy cái nặng bên kia.
Kình Dương gặp Thất Sát, Phá Quân (sát chồng sát)
Thành cách (đây là cách đáng ngại): Kình Dương đồng cung hoặc xung chiếu với Thất Sát, Phá Quân, nhất là khi Kình hãm địa tại Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Thất Sát và Phá Quân vốn đã là khí phá cũ, thêm lưỡi dao vào thì đời nhiều sóng gió, hay đổi thay, dễ thương tật, dễ vướng kiện tụng. Kiểm cấu trúc thì cả Thất Sát lẫn Phá Quân đều có thể đồng cung với Kình Dương ở bất kỳ cung nào trong tám cung của nó, nên tổ hợp này không hiếm, và cũng vì thế không nên vừa thấy đã hoảng. Giải cách: có Tử Vi hoặc Thiên Phủ trong tam phương tứ chính, hoặc Hóa Khoa, hoặc Lộc Tồn giáp bên. Trên lá số thật, người có tổ hợp này mà chọn đúng nghề có kỷ luật thì sóng gió biến thành thành tích; chọn nghề tự do không ai quản thì sóng gió đúng là sóng gió.
Kình Dương gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh
Thành cách (đây là cách đáng ngại): Kình Dương đồng cung với Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh. Kình Dương là Âm Kim đới Hỏa, Hỏa Linh lại thuần Hỏa; kim gặp lửa thì kim chảy, sách xếp đây là tổ hợp dễ sinh tai họa thương tật và biến cố đột ngột. Khác với Đà La hay Lộc Tồn vốn khóa cứng theo tuổi, Hỏa Tinh và Linh Tinh an theo chi năm sinh cộng giờ sinh, nên tổ hợp này không bị khóa theo tuổi can: hai người cùng tuổi can, một người có, một người không, tùy giờ sinh. Muốn biết chắc thì phải an đủ lá số, không suy từ tuổi ra được. Đáng ngại nhất: khi rơi vào cung Tật Ách hoặc cung Thiên Di, vì đó là hai cung của thân thể và của đường đi. Giải cách: Tử Phủ Tướng chế phục, Lộc Tồn giáp bên, và trong đời sống là giữ kỷ luật với xe cộ, lửa, điện, vật sắc.
Kình Dương gặp Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng (sát bị chế phục)
Thành cách: Kình Dương đồng cung hoặc hội chiếu với Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng. Tử Vi là đế tinh, Thiên Phủ là kho lẫm, Thiên Tướng là ấn lệnh; ba sao ấy có tư cách cầm lấy con dao. Sát khí không mất đi mà đổi hướng, thành quyền uy, thành kỷ cương, thành sức quyết đoán dùng đúng chỗ. Đây là thế mà sách khen là hợp người cầm quân, cầm quyền, làm nghề phải ra quyết định dứt khoát. Đủ đẹp: Kình đắc địa Tứ Mộ cộng Tử Vi hoặc Thiên Phủ đồng cung, thêm Hóa Quyền hoặc Hóa Khoa. Tuổi Ất là ví dụ đẹp và kiểm được: Kình Dương đắc tại Thìn, mà Tứ Hóa tuổi Ất có Tử Vi hóa Khoa, nên nếu Tử Vi đóng đúng cung Thìn thì lá số ấy có cả đất đắc, cả đế tinh, cả Hóa Khoa cùng một chỗ. Phá cách: Thiên Tướng tuy chế được Kình nhưng bản thân Thiên Tướng lại sợ bị hình và tù kẹp, xin xem cách ngay dưới đây.
Hình Tù Giáp Ấn (hình tinh và tù tinh kẹp lấy ấn tinh)
Thành cách (đây là cách đáng ngại): Thiên Tướng là ấn tinh, Liêm Trinh là tù tinh, Kình Dương là hình tinh; khi ấn bị hình và tù áp sát thì cái quyền trong tay hóa thành cái vạ. Kiểm bằng thuật toán an sao cho ra một điều kiện rất sắc nét: Liêm Trinh và Thiên Tướng chỉ đồng cung được ở hai chỗ là Tý và Ngọ; mà Kình Dương chỉ tới Ngọ với tuổi Bính, tuổi Mậu và tới Tý với tuổi Nhâm. Trong ba tuổi ấy, tuổi Bính là trường hợp hội đủ đẹp nhất, vì tuổi Bính có Liêm Trinh hóa Kỵ, nên Liêm Tướng tại Ngọ cùng Kình Dương tại Ngọ thành trọn bộ hình, tù, ấn với Kỵ ngay tại chỗ. Đọc thế nào: người có thế này thường nắm một phần quyền hoặc một phần trách nhiệm giấy tờ, mà chính chỗ ấy sinh phiền: bị soi xét, bị liên đới, ký thay người khác rồi mang tiếng. Giải cách: có Lộc Tồn giáp bên, có Hóa Khoa, hoặc Tử Vi Thiên Phủ trong tam phương. Thầy dặn người có thế này một câu rất đời thường mà hiệu quả: đừng ký thay ai, đừng nhận giữ hộ con dấu, và mọi việc có trách nhiệm thì phải có văn bản.
Dương Đà Giáp Kỵ (Kình Dương và Đà La kẹp cung có Hóa Kỵ)
Thành cách (đây là cách đáng ngại): Kình Dương và Đà La kẹp hai bên một cung, cung ấy lại có chính tinh hóa Kỵ. Toàn Thư xếp thẳng "Dương Đà giáp Kỵ" vào loại bại cục. Đây là chỗ mà thuật toán an sao cho một câu trả lời rất bất ngờ và rất hữu dụng: vì Kình Dương luôn ở cung kế Lộc Tồn theo chiều thuận còn Đà La luôn ở cung kế theo chiều nghịch, nên cung bị Kình Đà kẹp bao giờ cũng là chính cung có Lộc Tồn, không thể là cung nào khác. Nói cách khác, thế Dương Đà giáp Kỵ thật ra là thế Lộc Tồn và Hóa Kỵ ngồi chung một cung, hai bên là hai lưỡi dao. Người đọc lá số nắm được điều này thì tìm cách ấy chỉ mất ba giây: nhìn xem cung Lộc Tồn có chính tinh nào hóa Kỵ không, thế là xong.
Chính vì cung bị kẹp luôn có Lộc Tồn nên Thầy không đọc cách này nặng như tên gọi của nó. Lộc Tồn là sao của tài lộc và của sự bền, nó nằm ngay giữa, tức là cách này luôn có sẵn một sao giải ở chính giữa trận. Điều đáng lo không phải là mất trắng, mà là cái được thì phải chịu áp lực hai đầu: có tiền nhưng tiền ấy bị đòi hỏi, có phần nhưng phần ấy bị tranh, có chỗ đứng nhưng chỗ ấy bị nhòm ngó. Đọc như vậy vừa đúng cấu trúc vừa không dọa người. Nặng thêm khi: cung bị kẹp là Tài Bạch, Điền Trạch hoặc Mệnh, và Hóa Kỵ ấy lại là Kỵ của chính tuổi mình. Nhẹ đi khi: chính tinh trong cung là Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng, hoặc cung ấy còn có Hóa Khoa, Tả Hữu, Xương Khúc.
Ba câu nhắc trước khi kết luận về một cách cục của Kình Dương
- Đắc hãm của Kình Dương đã bị tuổi can khóa từ trước. Người tuổi can dương không có cách nào để Kình Dương của mình đắc địa, và ngược lại. Vì vậy đừng tiếc, hãy chuyển sang xem chính tinh nào cầm con dao ấy, đó mới là phần thay đổi được bằng lựa chọn nghề nghiệp và cách sống.
- Kình đắc thì Đà hãm. Một lá số không bao giờ có cả hai lưỡi dao cùng sắc, cũng không bao giờ có cả hai cùng cùn. Luận Kình Dương mà quên nhìn sang Đà La là bỏ mất một nửa bức tranh.
- Cách cục chỉ nói xu hướng, không nói kết cục. Mã Đầu Đới Kiếm không bảo đảm làm tướng, Dương Đà giáp Kỵ không bảo đảm phá sản. Cách cục cho biết đề bài của đời người, còn đáp án nằm ở nghề đã chọn, người đã kết giao và tính đã rèn.
Sao hợp và sao kỵ, phân theo vị thế
Trước khi đọc hai cột dưới đây, xin nhớ quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Kình Dương là mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn, còn giáp hai bên là thế bao vây, rất mạnh với sát tinh mà lại khá nhẹ với cát tinh. Riêng với Kình Dương, cấu trúc an sao còn loại bỏ sẵn vài vị thế: Lộc Tồn và Đà La không bao giờ đồng cung hay xung chiếu Kình Dương, Thiên Khôi Thiên Việt và Thiên Mã cũng vậy. Cho nên với những sao ấy, chỉ có thế giáp hoặc thế tam hợp là có thật, mọi lời bàn về "đồng cung" đều là bàn suông.
Kình Dương mừng khi gặp
- Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng (đồng cung mạnh nhất, tam hợp cũng tốt): đế tinh, kho lẫm và ấn lệnh có tư cách cầm con dao, sát khí đổi thành quyền uy có kỷ cương.
- Lộc Tồn (chỉ có thể giáp một bên, không bao giờ đồng cung): làm dịu và thêm phần thực lợi, ví như con dao có bao. Đây là sao đi liền với Kình Dương suốt đời nên hầu như lá số nào cũng dùng được.
- Hóa Lộc, Hóa Khoa của chính tinh đồng cung (đồng cung mạnh nhất): Lộc cho cái sắc bén một chỗ tiêu, Khoa cho nó một bài bản. Trong bốn hóa thì Khoa hợp nhất với Kình Dương.
- Vũ Khúc, Thất Sát đắc địa cùng Kình đắc Tứ Mộ (đồng cung): thành uy danh võ nghiệp, hợp nghề kỷ luật và nghề dùng tay nghề cứng.
- Thái Dương miếu vượng (đồng cung hoặc xung chiếu): ánh sáng lớn làm lộ rõ đường dao, người ấy quyết liệt mà quang minh, ít khi ra tay lén.
- Bốn cung Tứ Mộ Thìn Tuất Sửu Mùi (đây là vị trí chứ không phải sao): đất đắc của Kình Dương, chỉ tuổi can âm mới có.
- Thiên Khôi, Thiên Việt (chỉ có thể tam hợp, và chỉ với tuổi Giáp, Ất, Đinh, Tân, Quý): quý nhân đứng xa mà đỡ, không đứng cạnh mà đỡ, nên tác dụng đến muộn và đến qua người khác.
Kình Dương e ngại khi gặp
- Hóa Kỵ của chính tinh đồng cung (đồng cung nặng nhất, xung chiếu kế): vướng cộng nhọn thành đâm vào chính mình. Kỵ chỉ tam hợp chiếu tới thì phần lớn chỉ là tiếng ra tiếng vào.
- Thất Sát, Phá Quân (đồng cung nặng nhất): sát chồng sát, đời nhiều sóng gió, dễ thương tật và kiện tụng, nhất là khi Kình hãm ở Tứ Chính.
- Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung): kim gặp lửa thì kim chảy, dễ có biến cố đột ngột và thương tích. Tổ hợp này tùy giờ sinh chứ không tùy tuổi can.
- Đà La (chỉ có thể ở thế cùng giáp một cung, không bao giờ đồng cung hay xung chiếu): hai sao cùng kẹp một cung thì cung ấy chịu áp lực hai đầu, đó là toàn bộ nội dung của thế Dương Đà giáp.
- Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung hoặc giáp Mệnh): dao vung vào chỗ trống, làm nhiều mà không giữ được thành quả; thế giáp xấu hơn thế chiếu.
- Thiên Hình (đồng cung): hai hình tinh gặp nhau, nặng về pháp luật, kỷ luật và thương tích do nghề; nếu chọn đúng nghề y hoặc nghề luật thì lại thành sở trường.
- Bốn cung Tứ Chính Tý Ngọ Mão Dậu (vị trí chứ không phải sao): đất hãm của Kình Dương, chỉ tuổi can dương mới rơi vào.
Nguyên tắc xuyên suốt: Kình Dương cần một bàn tay vững cầm lấy nó. Có chính tinh sáng và sao lành chế ngự thì lưỡi dao thành công cụ hữu dụng; thiếu sự kìm giữ thì chính nó làm chủ bị thương.
Kình Dương Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Đại vận đi vào cung có Kình Dương
Đại vận đến cung có Kình Dương đắc địa Tứ Mộ là mười năm dụng võ: có việc khó để làm, có đối thủ để đua, có cơ hội cầm quyền hoặc cầm nghề. Người vốn hiền đến vận này cũng cứng lên, dám nói dám quyết, thường là quãng lập nghiệp hoặc quãng được giao trách nhiệm lớn. Đại vận đến cung có Kình Dương hãm địa Tứ Chính là mười năm phải giữ mình: dễ va chạm, dễ nóng, dễ vướng chuyện giấy tờ và thương tích. Thầy quan sát thấy hai điều lặp lại trên lá số thật. Một, đại vận Kình Dương hãm thường không nghèo, mà là hao: hao sức, hao tình, hao thời gian vì tranh chấp. Hai, người dùng đúng mười năm ấy để học một nghề cứng, một môn có kỷ luật, thì sang vận sau lại được hưởng, vì con dao đã có nghề để cắm vào.
Có một điểm về đại vận mà cấu trúc an sao nói giúp: đại vận đi qua cung Kình Dương thì trước hoặc sau đó đúng hai bước sẽ đi qua cung Đà La, và ở giữa là cung Lộc Tồn. Nghĩa là ba đại vận liền nhau của bất kỳ ai cũng là bộ ba Kình, Lộc, Đà theo thứ tự thuận hoặc nghịch tùy chiều đi của đại vận. Ba mươi năm ấy là ba mươi năm mà tiền bạc, sự sắc bén và sự trì trệ thay nhau lên tiếng. Biết trước thì chuẩn bị được.
Bản lưu niên của chính Kình Dương: lưu Kình Dương
Kình Dương là một trong những sao có bản lưu. Cách an lưu Kình Dương giống hệt cách an Kình Dương bản mệnh, chỉ đổi tham số: lấy can của năm xem thay cho can năm sinh, tìm lưu Lộc Tồn trước, rồi cung kế theo chiều thuận là lưu Kình Dương, cung kế theo chiều nghịch là lưu Đà La. Vì thế mỗi năm cả ba sao ấy cùng dời chỗ một lượt, và cứ mười năm thì trở lại đúng cung cũ.
Giáp
- Các năm gần đây và sắp tới: 2014 Giáp Ngọ · 2024 Giáp Thìn · 2034 Giáp Dần
- Lưu Lộc Tồn: Dần
- Lưu Kình Dương: Mão
- Lưu Đà La: Sửu
Ất
- Các năm gần đây và sắp tới: 2015 Ất Mùi · 2025 Ất Tỵ · 2035 Ất Mão
- Lưu Lộc Tồn: Mão
- Lưu Kình Dương: Thìn
- Lưu Đà La: Dần
Bính
- Các năm gần đây và sắp tới: 2016 Bính Thân · 2026 Bính Ngọ · 2036 Bính Thìn
- Lưu Lộc Tồn: Tỵ
- Lưu Kình Dương: Ngọ
- Lưu Đà La: Thìn
Đinh
- Các năm gần đây và sắp tới: 2017 Đinh Dậu · 2027 Đinh Mùi · 2037 Đinh Tỵ
- Lưu Lộc Tồn: Ngọ
- Lưu Kình Dương: Mùi
- Lưu Đà La: Tỵ
Mậu
- Các năm gần đây và sắp tới: 2018 Mậu Tuất · 2028 Mậu Thân · 2038 Mậu Ngọ
- Lưu Lộc Tồn: Tỵ
- Lưu Kình Dương: Ngọ
- Lưu Đà La: Thìn
Kỷ
- Các năm gần đây và sắp tới: 2019 Kỷ Hợi · 2029 Kỷ Dậu · 2039 Kỷ Mùi
- Lưu Lộc Tồn: Ngọ
- Lưu Kình Dương: Mùi
- Lưu Đà La: Tỵ
Canh
- Các năm gần đây và sắp tới: 2020 Canh Tý · 2030 Canh Tuất · 2040 Canh Thân
- Lưu Lộc Tồn: Thân
- Lưu Kình Dương: Dậu
- Lưu Đà La: Mùi
Tân
- Các năm gần đây và sắp tới: 2021 Tân Sửu · 2031 Tân Hợi · 2041 Tân Dậu
- Lưu Lộc Tồn: Dậu
- Lưu Kình Dương: Tuất
- Lưu Đà La: Thân
Nhâm
- Các năm gần đây và sắp tới: 2022 Nhâm Dần · 2032 Nhâm Tý · 2042 Nhâm Tuất
- Lưu Lộc Tồn: Hợi
- Lưu Kình Dương: Tý
- Lưu Đà La: Tuất
Quý
- Các năm gần đây và sắp tới: 2023 Quý Mão · 2033 Quý Sửu · 2043 Quý Hợi
- Lưu Lộc Tồn: Tý
- Lưu Kình Dương: Sửu
- Lưu Đà La: Hợi
Cách dùng bảng này rất gọn và rất hiệu quả. Trước hết xem Kình Dương bản mệnh của mình ở cung nào. Sau đó nhìn can của năm định xem để biết lưu Kình Dương năm ấy rơi vào cung nào. Có ba tình huống đáng chú ý. Một, lưu Kình trùng cung Kình bản mệnh, gọi là Kình chồng Kình, đây là năm đậm nhất của sao này trong cả một chu kỳ mười năm; nếu cung ấy là Tật Ách thì nên khám sức khỏe chủ động, nếu là Quan Lộc thì nên rà lại hợp đồng và trách nhiệm. Với người tuổi Bính và tuổi Mậu, Kình bản mệnh ở Ngọ, thì các năm can Bính và can Mậu chính là những năm ấy, gần đây có năm Bính Ngọ 2026 và năm Mậu Thân 2028. Hai, lưu Kình chạm đúng cung Mệnh hoặc cung đại vận đang đi. Ba, lưu Kình và lưu Đà cùng kẹp một cung quan trọng, mà theo cấu trúc thì cung bị kẹp ấy luôn là cung có lưu Lộc Tồn, nên năm đó cung ấy vừa có lộc vừa chịu ép.
Xin nói rõ một điều để tránh hiểu sai: lưu Kình Dương chỉ ở lại một năm rồi đi. Nó làm cho một chuyện vốn đã có sẵn trong lá số nổi lên trong năm ấy, chứ nó không tự sinh ra chuyện mới. Cung nào không có gì đáng nói thì lưu Kình đi qua cũng chỉ là một năm bận rộn và hơi nóng tính.
Các lưu sao khác chạm vào cung có Kình Dương
- Lưu Thái Tuế đến cung có Kình Dương: năm có việc dính tới công quyền, giấy tờ, kỷ luật, hợp đồng. Kình đắc thì làm được việc khó, Kình hãm thì dễ vướng lôi thôi.
- Lưu Đà La đến cung có Kình Dương bản mệnh: hai lưỡi dao chồng nhau, một sắc một cùn, năm ấy việc gì cũng vừa gấp vừa chậm, dễ ức chế. Thầy hay khuyên đây là năm không nên khởi sự lớn mà nên dọn dẹp việc cũ.
- Lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ đến cung có Kình Dương tại Tật Ách hoặc Phụ Mẫu: đây là tổ hợp Thầy luôn dặn khách đi khám sớm, nhất là khi có thêm Hóa Kỵ. Không kết luận điều gì nặng, chỉ là đi khám.
- Lưu Hóa Kỵ của năm rơi vào cung có Kình Dương: năm dễ có tranh chấp hoặc phải can thiệp bằng phẫu thuật. Nếu Hóa Kỵ ấy lại trùng với Kỵ của tuổi mình thì thành Kỵ chồng Kỵ ngay trên đầu con dao, đây là tổ hợp cần thận trọng nhất trong cả bài này.
- Lưu Lộc Tồn giáp cung có Kình Dương bản mệnh: năm có lộc mà lộc ấy phải tranh mới có, hợp người làm nghề ăn theo kết quả.
- Lưu Xương Khúc, lưu Khôi Việt tam hợp chiếu tới cung Kình Dương: năm thi cử, xét tuyển, thi tay nghề thuận lợi, vì quý nhân đứng xa mà đỡ đúng lúc con dao cần một cái bao.
Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Kình Dương
Kình Dương là sao bị sợ oan nhiều nhất trong sáu sát tinh, chỉ vì cái tên và vì chữ "hình thương" trong sách. Mục này nói rõ sách nói gì và không nói gì, để quý vị khỏi lo hão.
Kình Dương không phải là "sao tai nạn" báo trước tai nạn
Tân Biên chép Kình Dương hãm địa thì "liều lĩnh hung bạo, tai họa thương tật". Đọc kỹ thì đó là một câu về tính khí dẫn tới hậu quả, không phải một lời tiên đoán về biến cố. Sách nói cái nóng và cái liều là gốc, tai họa là ngọn. Trên lá số thật, người có Kình Dương mà điềm tĩnh, làm nghề có kỷ luật, tuân thủ quy trình thì phần lớn không có gì xảy ra cả; ngược lại người có Kình Dương mà phóng xe ẩu, nóng lên là cãi, thì đúng là hay xây xát. Sách không hề nói Kình Dương thì nhất định bị nạn, và Thầy cũng không bao giờ nói câu ấy với khách.
Mã Đầu Đới Kiếm không dính gì tới sao Thiên Mã
Đây là nhầm lẫn phổ biến nhất về Kình Dương và may thay lại là nhầm lẫn kiểm được bằng máy. Chữ "mã" trong tên cách chỉ cung Ngọ, vì Ngọ ứng với con ngựa trong mười hai con giáp. Còn sao Thiên Mã trong lá số chỉ an tại Dần, Thân, Tỵ, Hợi, đúng bốn cung mà Kình Dương không bao giờ tới. Chạy đủ sáu mươi cặp can chi hợp lệ thì Thiên Mã không có lấy một trường hợp nào đồng cung hay xung chiếu Kình Dương; nó chỉ tam hợp chiếu tới, và cũng chỉ trong mười tám trên sáu mươi trường hợp. Vậy nên thấy Thiên Mã nằm gần Kình Dương không có nghĩa là có cách Mã Đầu Đới Kiếm. Điều kiện thật của cách ấy chỉ có một: Kình Dương ở Ngọ, tức tuổi Bính hoặc tuổi Mậu.
"Kình Đà đồng cung" là một câu không thể đúng
Người ta hay nói gộp "Kình Đà" như một cặp, rồi từ đó nói tiếp "Kình Đà đồng cung thì rất xấu". Cấu trúc an sao bác bỏ câu ấy: Kình Dương ở cung kế Lộc Tồn theo chiều thuận, Đà La ở cung kế theo chiều nghịch, hai sao cách nhau đúng hai cung với mọi tuổi can, nên chúng không bao giờ đồng cung, không bao giờ xung chiếu, và cũng không bao giờ tam hợp nhau. Quan hệ duy nhất có thật giữa hai sao là cùng kẹp một cung, và cung bị kẹp bao giờ cũng là cung có Lộc Tồn. Khi ai đó nói "Kình Đà hội họp", điều họ muốn nói thực ra là thế giáp, xin cứ đọc đúng như vậy.
Kình Dương hãm địa không đồng nghĩa với số khổ
Kình Dương hãm là chuyện đã bị khóa từ khi sinh ra: cứ tuổi can dương là Kình hãm, không ai chọn được. Nếu hãm mà đồng nghĩa với khổ thì một nửa nhân loại phải khổ, điều đó vô lý. Cái mà hãm địa thật sự nói là con dao chưa có bao: sức mạnh có sẵn nhưng chưa có khuôn khổ để dùng. Bao ấy đến từ chính tinh cùng cung, từ Lộc Tồn kề bên, từ nghề nghiệp và từ kỷ luật tự rèn. Thầy đã gặp nhiều người tuổi Bính, tuổi Mậu, Kình Dương hãm ở Ngọ, mà làm bác sĩ ngoại khoa hoặc sĩ quan, đời rất vững vàng. Cùng một lá số, nghề khác nhau thì kết quả khác nhau, đó mới là chỗ con người can dự được.
Kình Dương không "hóa Kỵ", và cũng không có tuổi nào làm nó hóa Lộc
Thỉnh thoảng có người hỏi Thầy "tuổi nào thì Kình Dương hóa Kỵ". Câu trả lời là không tuổi nào cả. Bảng Tứ Hóa chỉ gồm mười bốn chính tinh cùng Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, và Thiên Phủ ở bản Bắc phái tuổi Nhâm. Kình Dương không có tên trong đó. Nó chỉ chịu ảnh hưởng của Tứ Hóa qua chính tinh đứng cùng cung hoặc chiếu tới. Nói "Kình Dương hóa Kỵ" là nói sai tên gọi, dù ý người nói có thể đúng, tức là Kình Dương gặp một chính tinh đang hóa Kỵ.
Lời khuyên và cách hóa giải
Với sát tinh, hóa giải không có nghĩa là sợ hãi, mà là biết đặt cái khí quyết liệt vào đúng nơi và giữ cho nó không quay lại làm hại mình.
- Chọn nghề dùng tới sự sắc bén. Quân đội, công an, ngoại khoa, kỹ thuật, nghề cạnh tranh là nơi Kình Dương phát huy thay vì gây họa.
- Tập tiết chế nóng giận. Phần lớn tai họa của sao này đến từ một phút bốc đồng; chậm lại một nhịp là hóa giải được rất nhiều.
- Đề phòng thương tích. Cẩn trọng dao kéo, xe cộ, vật sắc nhọn, nhất là khi Kình Dương ở Tật Ách hoặc gặp năm hạn xấu.
- Tìm chính tinh sáng và sao lành. Trong lá số, Kình Dương cạnh Tử Phủ Tướng hay Lộc Tồn sẽ bớt hung rất nhiều; nên xem cả cục diện.
- Nhờ người có chuyên môn luận kỹ. Mức lành dữ của Kình Dương phụ thuộc vị trí và bộ sao, không nên tự suy đoán một chiều.
Gợi ý: người có Kình Dương nổi bật nên rèn cả sự điềm tĩnh và một nghề có kỷ luật rõ ràng, để cái cương của mình thành lợi thế chứ không thành rủi ro.
Câu hỏi thường gặp
Kình Dương, còn gọi Dương Nhận, là một trong sáu sát tinh của Tử Vi Đẩu Số, thuộc Bắc Đẩu, ngũ hành Âm Kim. Đây là hình tinh chủ sát phạt, hình thương, sự cương quyết và bạo liệt, ví như một lưỡi dao sắc trong lá số.
Kình Dương đắc địa tại bốn cung Tứ Mộ là Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, khi đó thành can đảm dũng mãnh. Nó hãm tại bốn cung Tứ Chính là Tý, Ngọ, Mão, Dậu, dễ thành liều lĩnh và tai họa. Kình Dương không an ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi.
Đó là cách Kình Dương cư Ngọ, ví như thanh kiếm đeo bên đầu ngựa. Người hợp cách thường uy mãnh, có chí lớn, lập công nơi gian khó, nhưng đời cũng nhiều hiểm nguy nên cần bản lĩnh và phúc đức.
Tùy vị trí và sao đi cùng. Đắc địa và gặp Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng chế phục thì thành uy quyền, hợp võ nghiệp. Hãm địa hoặc gặp Thất Sát, Phá Quân, Hỏa Linh thì dễ chuốc thị phi, thương tích.
Hướng cái sắc bén vào nghề có kỷ luật như quân đội, công an, ngoại khoa, kỹ thuật; tập tiết chế nóng giận; đề phòng thương tích; và xem cả lá số để biết Kình Dương có được chính tinh sáng cùng sao lành chế ngự hay không.
Kiểm bằng thuật toán an sao thì quy luật rất gọn: năm tuổi can dương là Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm thì Kình Dương luôn rơi vào bốn cung Tứ Chính Tý, Ngọ, Mão, Dậu, tức luôn hãm địa. Năm tuổi can âm là Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý thì Kình Dương luôn rơi vào bốn cung Tứ Mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, tức luôn đắc địa. Không có tuổi nào lệch ra ngoài quy luật này, và cũng vì thế đắc hay hãm của Kình Dương là điều đã bị khóa từ khi sinh, không đổi được.
Không bao giờ. Kình Dương an tại cung kế Lộc Tồn theo chiều thuận, Đà La an tại cung kế theo chiều nghịch, nên hai sao luôn cách nhau đúng hai cung với cả mười thiên can. Vì cách nhau hai cung nên chúng không thể đồng cung, không thể xung chiếu và cũng không thể tam hợp nhau. Quan hệ duy nhất có thật giữa Kình Dương và Đà La là cùng kẹp một cung, và cung bị kẹp bao giờ cũng chính là cung có Lộc Tồn.
Không phải. Chữ mã trong tên cách chỉ cung Ngọ, vì Ngọ ứng với con ngựa trong mười hai con giáp. Sao Thiên Mã chỉ an tại Dần, Thân, Tỵ, Hợi, đúng bốn cung mà Kình Dương không bao giờ tới, nên hai sao ấy vĩnh viễn không đồng cung và cũng không xung chiếu nhau. Điều kiện thật của cách Mã Đầu Đới Kiếm chỉ có một: Kình Dương đóng tại Ngọ, tức người tuổi Bính hoặc tuổi Mậu, và sách thường nêu thêm điều kiện gặp Thiên Đồng tại đó.
Không. Kình Dương không nằm trong bảng Tứ Hóa. Bảng ấy chỉ gồm mười bốn chính tinh cùng bốn phụ tinh Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, và thêm Thiên Phủ ở bản Bắc phái tuổi Nhâm. Kình Dương chỉ chịu ảnh hưởng của Tứ Hóa qua chính tinh đứng cùng cung hoặc chiếu tới. Điều đáng chú ý là cả Kình Dương lẫn Tứ Hóa đều an theo can năm sinh, nên khi biết tuổi can là biết luôn bộ Tứ Hóa nào có thể gặp Kình Dương của người ấy.
Giống hệt cách an Kình Dương bản mệnh, chỉ đổi tham số: lấy can của năm định xem thay cho can năm sinh, tìm lưu Lộc Tồn trước rồi cung kế theo chiều thuận là lưu Kình Dương, cung kế theo chiều nghịch là lưu Đà La. Năm can Giáp lưu Kình ở Mão, can Ất ở Thìn, can Bính và Mậu ở Ngọ, can Đinh và Kỷ ở Mùi, can Canh ở Dậu, can Tân ở Tuất, can Nhâm ở Tý, can Quý ở Sửu. Năm nào lưu Kình trùng đúng cung Kình bản mệnh thì gọi là Kình chồng Kình, là năm đậm nhất của sao này trong chu kỳ mười năm.