Tử Vi

Sao Lộc Tồn: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung

Tìm hiểu sao Lộc Tồn trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.

Đạo Quán45 phút đọc

Tổng quan về sao Lộc Tồn

Lộc Tồn là một quý tinh quan trọng của Tử Vi Đẩu Số, thuộc Bắc Đẩu, ngũ hành Dương Thổ mang khí Thủy. Sao này chủ về tài lộc, phúc thọ và sự ổn định của cải. Nếu Hóa Lộc là dòng lộc tới thì Lộc Tồn là cái kho giữ lộc lại, làm cho của cải bền vững.

Lộc Tồn an theo can năm sinh và có một đặc điểm cố hữu: luôn bị Kình Dương đứng ở cung kế sau theo chiều thuận của địa chi và Đà La đứng ở cung liền trước, hai sát tinh canh giữ hai bên như hai người lính gác kho.

  • Ngũ hành: Dương Thổ đới Thủy
  • Chòm sao: Bắc Đẩu
  • Loại sao: Quý tinh, tài lộc phúc thọ
  • Cách an: Theo can năm sinh
  • Cai quản: Tài lộc, phúc thọ, giải tai, giữ của
  • Hợp gặp: Hóa Lộc (Song Lộc), Thiên Mã (Lộc Mã)
  • Kỵ: Không Kiếp, Hỏa Linh, Tuần Triệt; bị Kình Đà giáp

Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.

Ý nghĩa tại cung Mệnh

  • Khi chính tinh sáng, có cát tinh đỡ: Người nghiêm cẩn, biết tính toán, có phúc về tiền, sống có kỷ luật, tự lập sớm và giữ được cái mình làm ra.
  • Khi gặp Không Kiếp, Hỏa Linh, Tuần Triệt: Chặt chẽ thành ra keo, cẩn thận thành ra ngờ vực; làm ra tiền mà không giữ, lại thêm cô đơn vì tự lo quen rồi.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Lộc Tồn thủ Mệnh mà Kình Đà kẹp là thế cô lập điển hình, cần Tả Hữu Khôi Việt. Lộc Tồn cùng chính tinh hóa Lộc là Song Lộc thủ Mệnh, sách xếp vào cách quý.

Theo Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, người có Lộc Tồn thường thông minh, hiếu học, nghiêm cẩn, nhân hậu, từ thiện, có lòng cứu khốn phò nguy. Lộc Tồn gia tăng tài lộc và phúc thọ, lại có khả năng giải trừ bệnh tật, tai họa và triệt tiêu tính dâm đãng hoa nguyệt của Đào Hoa, Hồng Loan.

Mặt cần lưu ý là Lộc Tồn mang chút khí cô độc: người có sao này hay tự lo liệu, đôi khi đơn độc trong việc giữ của và lập thân. Vì bị Kình Đà kẹp, Lộc Tồn luôn cần chính tinh sáng và các sao lành ở tam phương để cái kho ấy được an toàn.

Ý nghĩa ở các cung khác

Đối chiếu ý nghĩa của Lộc Tồn với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.

Cung Phụ Mẫu

  • Khi chính tinh sáng, có cát tinh đỡ: Cha mẹ có của để lại, gia đình nề nếp, được thừa hưởng cả tài sản lẫn nếp sống tiết kiệm.
  • Khi gặp Không Kiếp, Hỏa Linh, Tuần Triệt: Cha mẹ giữ của mà con khó xin, hoặc của để lại vướng giấy tờ, chia chác lâu xong.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Với can dương, Lộc Tồn ở Phụ Mẫu thì Kình Dương rơi vào Mệnh, đó là điểm phải xem kỹ chứ không mừng vội. Lộc Tồn ở Phụ Mẫu gặp Hóa Kỵ hay ứng chuyện thừa kế kéo dài.

Cung Phúc Đức

  • Khi chính tinh sáng, có cát tinh đỡ: Phúc dày, tâm an, biết đủ, tổ tiên có nền; hưởng thụ có chừng mực nên phúc bền, thọ khá.
  • Khi gặp Không Kiếp, Hỏa Linh, Tuần Triệt: Lo nghĩ về tiền nhiều hơn mức cần, tâm không thảnh thơi, hay tự làm khổ mình vì tiếc của.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Lộc Tồn tại Phúc Đức là vị trí Thầy đánh giá cao ngang với ở Tài Bạch, vì nó chi phối cả tam hợp Phúc Tài Điền. Gặp Thiên Không, Địa Không tại đây thì phúc có mà lòng vẫn trống.

Cung Điền Trạch

  • Khi chính tinh sáng, có cát tinh đỡ: Có nhà đất để dành, mua rồi giữ được, nhà cửa gọn gàng chắc chắn; hợp tích sản hơn lướt sóng.
  • Khi gặp Không Kiếp, Hỏa Linh, Tuần Triệt: Nhà đất kẹt vốn, bán không được mà giữ thì tốn; hoặc phải vay nợ dài để giữ cho bằng được.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Lộc Tồn tại Điền cùng Thiên Phủ là kho chồng kho, rất bền. Lộc Tồn tại Điền gặp Địa Kiếp là mua đắt bán rẻ, nên tránh vay lớn.

Cung Quan Lộc

  • Khi chính tinh sáng, có cát tinh đỡ: Nghề có bổng lộc ổn định, vị trí lâu dài, hợp cơ quan lớn, ngân hàng, tài chính, kế toán, hành chính.
  • Khi gặp Không Kiếp, Hỏa Linh, Tuần Triệt: Việc thì chắc mà lương thì cứng, khó bứt lên; hoặc mang tiếng giữ của nên đồng nghiệp ngại.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Lộc Tồn tại Quan cùng Vũ Khúc là cách của người sống bằng nghề tiền bạc. Lộc Tồn tại Quan gặp Kình Dương chiếu thì công việc có tranh giành, phải rạch ròi giấy tờ.

Cung Nô Bộc

  • Khi chính tinh sáng, có cát tinh đỡ: Bạn bè và cấp dưới có điều kiện, giúp được mình về vật chất; người làm công trung thành và biết tính.
  • Khi gặp Không Kiếp, Hỏa Linh, Tuần Triệt: Quan hệ đo bằng tiền, hết tiền hết bạn; hoặc mình hay phải đứng ra lo phần tiền cho nhóm.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Lộc Tồn tại Nô mà Mệnh không có sao giữ của là thế tiền chảy sang người khác. Gặp Đại Hao, Tiểu Hao của chính vòng Bác Sĩ tại đây thì chớ cho vay, chớ bảo lãnh.

Cung Thiên Di

  • Khi chính tinh sáng, có cát tinh đỡ: Ra ngoài kiếm được, đi xa có lộc, hợp làm ăn khác tỉnh khác nước; ở đâu cũng có chỗ dựa về tài chính.
  • Khi gặp Không Kiếp, Hỏa Linh, Tuần Triệt: Đi xa tốn kém, được đồng nào tiêu đồng ấy nơi đất khách; hoặc phải xa nhà mới có tiền, được của mất người.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Lộc Tồn tại Thiên Di ở Dần, Thân với tuổi Giáp, Canh có thể gặp Thiên Mã đồng cung, thành Lộc Mã giao trì tại cung xuất ngoại, là thế rất đẹp cho người làm ăn xa.

Cung Tật Ách

  • Khi chính tinh sáng, có cát tinh đỡ: Sách nói Lộc Tồn có khả năng giải bệnh giải tai; bệnh thường nhẹ, gặp thầy gặp thuốc, có tiền để chữa.
  • Khi gặp Không Kiếp, Hỏa Linh, Tuần Triệt: Bệnh dai dẳng về tiêu hóa, dạ dày, tỳ vị do Dương Thổ bị sát tinh quấy; hoặc lo nghĩ về tiền sinh bệnh.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Lộc Tồn thuộc Dương Thổ nên khi luận Tật Ách hướng vào tỳ vị, dạ dày, đường ruột. Kề bên luôn có Kình Đà, nên cung Tật có Lộc Tồn thì hai cung liền kề mang sát, cần đọc cả ba cung một lượt.

Cung Tài Bạch

  • Khi chính tinh sáng, có cát tinh đỡ: Vị trí Lộc Tồn thích nhất: tiền vào đều, biết tích lũy, có quỹ dự phòng, khó túng quẫn dù thời buổi khó.
  • Khi gặp Không Kiếp, Hỏa Linh, Tuần Triệt: Có kho mà kho thủng: tiền vào rồi đi ngay, hoặc tiền bị giam trong khoản không rút được.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Tài Bạch có Lộc Tồn cùng Hóa Lộc là Song Lộc thủ Tài, thế phú rõ nhất. Tài Bạch có Lộc Tồn gặp Không Kiếp là thế sách cảnh báo nặng, chớ đầu tư mạo hiểm.

Cung Tử Tức

  • Khi chính tinh sáng, có cát tinh đỡ: Con cái có phúc về vật chất, biết lo cho mình khi về già; để lại được cho con.
  • Khi gặp Không Kiếp, Hỏa Linh, Tuần Triệt: Con hiếm hoặc muộn, hoặc lo cho con tốn kém dài; tiền dồn hết vào con mà con chưa hiểu.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Lộc Tồn tại Tử Tức mang khí cô của sao này nên hay ứng vào con thưa, con xa. Gặp Thiên Đồng, Thiên Hỷ thì đỡ hẳn.

Cung Phu Thê

  • Khi chính tinh sáng, có cát tinh đỡ: Bạn đời biết làm biết giữ, hôn nhân có nền tài chính vững, cưới rồi khá lên.
  • Khi gặp Không Kiếp, Hỏa Linh, Tuần Triệt: Vợ chồng tính toán với nhau, tình cảm bị chuyện tiền chi phối; hoặc mỗi người giữ một kho riêng.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Lộc Tồn tại Phu Thê bị Kình Đà kẹp là thế hôn nhân ít người đứng giữa hòa giải, hai bên phải tự nói với nhau. Sách nói Lộc Tồn triệt tiêu tính hoa nguyệt của Đào Hồng, nên tại cung này người bạn đời thường đứng đắn.

Cung Huynh Đệ

  • Khi chính tinh sáng, có cát tinh đỡ: Anh em có của, giúp nhau được về tiền; hợp làm ăn chung với người trong nhà nếu rạch ròi.
  • Khi gặp Không Kiếp, Hỏa Linh, Tuần Triệt: Anh em ít, hoặc chia của không đều sinh xa cách; mình hay là người phải gánh phần tiền cho cả nhà.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Với can âm, Lộc Tồn ở Huynh Đệ thì Kình Dương rơi vào Phu Thê và Đà La vào Mệnh, phải đọc cả ba cung cùng lúc chứ không mừng riêng cung Huynh Đệ.

Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc

Lộc Tồn không an theo tháng, không an theo giờ, không đi theo Tử Vi hay Thiên Phủ. Nó an theo thiên can của năm sinh, mười can cho mười vị trí, và chỉ có thế. Đây là điểm khác biệt lớn nhất giữa Lộc Tồn với đa số phụ tinh: vị trí của nó không phụ thuộc vào chính tinh, mà chính tinh nào rơi vào cung ấy là chuyện của lá số. Vì vậy khi đọc một lá số, biết can năm sinh là biết ngay Lộc Tồn ở đâu, và biết luôn Kình Dương ở đâu, Đà La ở đâu, vòng Bác Sĩ mười hai sao khởi từ cung nào.

Giáp

  • Lộc Tồn: Dần
  • Kình Dương: Mão
  • Đà La: Sửu

Ất

  • Lộc Tồn: Mão
  • Kình Dương: Thìn
  • Đà La: Dần

Bính

  • Lộc Tồn: Tỵ
  • Kình Dương: Ngọ
  • Đà La: Thìn

Đinh

  • Lộc Tồn: Ngọ
  • Kình Dương: Mùi
  • Đà La: Tỵ

Mậu

  • Lộc Tồn: Tỵ
  • Kình Dương: Ngọ
  • Đà La: Thìn

Kỷ

  • Lộc Tồn: Ngọ
  • Kình Dương: Mùi
  • Đà La: Tỵ

Canh

  • Lộc Tồn: Thân
  • Kình Dương: Dậu
  • Đà La: Mùi

Tân

  • Lộc Tồn: Dậu
  • Kình Dương: Tuất
  • Đà La: Thân

Nhâm

  • Lộc Tồn: Hợi
  • Kình Dương: Tý
  • Đà La: Tuất

Quý

  • Lộc Tồn: Tý
  • Kình Dương: Sửu
  • Đà La: Hợi

Sáu điều bất biến của Lộc Tồn

  • Lộc Tồn không bao giờ đóng ở tứ mộ. Chạy đủ mười can, Lộc Tồn chỉ có thể rơi vào tám cung: Tý, Dần, Mão, Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi. Bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi không bao giờ có Lộc Tồn. Ai đọc một lá số mà thấy Lộc Tồn nằm ở Thìn hay Mùi thì lá số ấy đã an sai, không cần luận thêm.
  • Luôn bị Kình Dương và Đà La kẹp hai bên. Không có ngoại lệ, không có tuổi nào thoát. Cung có Lộc Tồn vĩnh viễn là một cung bị giáp sát. Nói cách khác, trong Tử Vi Đẩu Số không tồn tại một lá số nào có Lộc Tồn mà không có thế Kình Đà giáp.
  • Ba sao chia nhau ba nhóm cung, mỗi nhóm một sao. Đây là quy luật đẹp nhất mà thuật toán cho thấy. Với can dương (Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm): Lộc Tồn ở tứ sinh (Dần, Thân, Tỵ, Hợi), Kình Dương ở tứ chính (Tý, Ngọ, Mão, Dậu), Đà La ở tứ mộ (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi). Với can âm (Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý): Lộc Tồn ở tứ chính, Kình Dương ở tứ mộ, Đà La ở tứ sinh. Ba sao luôn rải đều ba nhóm, không bao giờ có hai sao cùng một nhóm.
  • Kình Dương không bao giờ ở tứ sinh, Đà La không bao giờ ở tứ chính. Đây là hệ quả trực tiếp của điều trên. Vì vậy Kình Dương vĩnh viễn không thể đồng cung với Thiên Mã, do Thiên Mã chỉ an ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Câu này rất đáng nhớ: người ta hay lo "ngựa gặp dao", nhưng dao Kình thì không bao giờ gặp ngựa, chỉ có dao Đà mới gặp.
  • Cung an Lộc Tồn có thể là bất kỳ chính tinh nào, hoặc trống. Kiểm đủ mười hai thế Tử Vi cho từng vị trí, cả mười bốn chính tinh đều có thể đứng cùng cung với Lộc Tồn. Không có chính tinh nào bị loại. Cũng vì thế mà giá trị thật của Lộc Tồn hoàn toàn do chính tinh đồng cung quyết định: kho đặt cạnh Tử Phủ khác hẳn kho đặt cạnh Phá Quân, dù cùng là một cái kho.
  • Lộc Tồn là gốc của vòng Bác Sĩ mười hai sao. Bác Sĩ luôn đồng cung Lộc Tồn, rồi Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ nối nhau đủ mười hai cung. Chiều an là thuận với dương nam và âm nữ, nghịch với âm nam và dương nữ. Nghĩa là định được Lộc Tồn là định luôn mười hai sao của cả một vòng.

Vòng Bác Sĩ: cái mà ít người để ý khi nói về Lộc Tồn

Trong Tử Vi Đẩu Số có ba vòng phụ tinh lớn: vòng Trường Sinh khởi theo cục, vòng Thái Tuế khởi theo chi năm, và vòng Bác Sĩ khởi theo Lộc Tồn. Sách xếp Lộc Tồn vào Bắc Đẩu, chủ tước lộc, nhưng chức năng cấu trúc của nó lớn hơn thế nhiều: nó là cái đinh mà cả một vòng mười hai sao đóng vào. Trong vòng ấy có hai sao hao là Tiểu Hao và Đại Hao, có Phục Binh, có Quan Phủ, có Bệnh Phù. Cho nên khi ta nói "cung này có Lộc Tồn", ta đồng thời đang nói cung đối diện, cung tam hợp, cung giáp đều đã có sẵn một sao của vòng Bác Sĩ đứng đó.

Từ đó rút ra một cách đọc mà Thầy hay dùng: Lộc Tồn không phải một điểm, nó là một trục. Muốn biết cái kho ấy có yên không, đừng chỉ nhìn cung Lộc Tồn, hãy nhìn sang cung Đại Hao và Tiểu Hao của cùng vòng ấy. Kho đầy mà hai sao hao rơi vào Tài Bạch hay Điền Trạch thì tiền vào cửa trước ra cửa sau. Đây là suy luận từ cấu trúc vòng, chưa phải câu chữ trong sách, quý vị nên coi là hướng để tự kiểm trên lá số của mình.

Ba nhóm cung, ba tính cách khác hẳn nhau của cùng một Lộc Tồn

Vì can dương đặt Lộc Tồn ở tứ sinh còn can âm đặt nó ở tứ chính, nên chỉ cần nghe can năm sinh là đã đoán được kiểu lộc của người ấy. Tứ sinh Dần Thân Tỵ Hợi là bốn cung của sự khởi đầu, của đường sá, của Thiên Mã. Lộc Tồn đóng ở đó là lộc động: tiền đi theo bước chân, hợp buôn bán, đi lại, mở mang, làm ăn với người phương xa. Tứ chính Tý Ngọ Mão Dậu là bốn cung của sự vượng cực, của trục dọc trục ngang. Lộc Tồn đóng ở đó là lộc tĩnh: tiền đến từ chỗ ổn định, từ chức phận, từ nghề đã định, hợp tích lũy hơn hợp xoay vòng.

Trên lá số thật, Thầy thấy khác biệt này khá rõ. Người tuổi Giáp, Canh (Lộc Tồn tứ sinh) hay có nghề dính tới di chuyển, tới nhiều đầu mối, tiền vào theo đợt. Người tuổi Đinh, Kỷ, Quý (Lộc Tồn tứ chính) thì tiền vào đều đặn hơn, và cũng bảo thủ hơn trong việc giữ tiền. Đây là kinh nghiệm, không phải kinh văn, quý vị nên đối chiếu với chính lá số của mình trước khi tin.

Vì sao thế Kình Đà giáp lại là chuyện lớn

Sách Tân Biên khi nói về Lộc Tồn có ghi rõ đặc tính "cô độc, nghiêm cẩn". Nhiều người đọc câu ấy rồi tưởng đó là mô tả tính nết, thật ra nó là hệ quả của cấu trúc. Hai cung kề Lộc Tồn đã bị Kình và Đà chiếm chỗ, nghĩa là hai cung sát nhất với cung Mệnh về mặt tương tác đời thường lại là hai cung sát tinh. Nếu Lộc Tồn ở Mệnh thì Huynh Đệ và Phụ Mẫu là hai cung có Kình Đà; nếu Lộc Tồn ở Tài Bạch thì Tử Tức và Tật Ách mang sát. Người ấy làm gì cũng có cảm giác không ai đỡ được cho mình, phải tự tính tự lo, và cái nếp "tự lo" lâu ngày thành ra cô.

Đó cũng là lý do vì sao Lộc Tồn rất cần Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt. Không phải vì các sao ấy thêm tiền, mà vì chúng bù đúng cái thiếu do cấu trúc gây ra: có người đứng bên. Một cái kho có hai lính gác mà không có người quản thì lính gác dễ thành mối lo; có người quản thì hai lính ấy lại thành hàng rào. Cách đọc này giải thích được vì sao hai lá số cùng có Lộc Tồn thủ Mệnh mà một người phú túc an hòa, một người giàu mà đơn độc.

Lộc Tồn Và Tứ Hóa Theo Tuổi Can

Nói ngay cho rõ để tránh hiểu lầm: Lộc Tồn không nằm trong Tứ Hóa. Nó không hóa Lộc, không hóa Quyền, không hóa Khoa, không hóa Kỵ với bất kỳ tuổi nào. Bảng Tứ Hóa mười can chỉ gọi tên mười bốn chính tinh cùng bốn sao Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật; Lộc Tồn không có mặt trong đó. Nhưng cũng chính vì thế mà quan hệ giữa Lộc Tồn và Tứ Hóa lại đặc biệt: Lộc Tồn là cái lộc cố định của trời cho theo can năm, Hóa Lộc là cái lộc chảy tới theo can năm ấy đậu vào một chính tinh. Hai cái lộc cùng sinh ra từ một thiên can, mà lại đi hai đường khác nhau.

Lộc Tồn gặp chính tinh hóa Lộc: cách Song Lộc

Đây là tổ hợp danh giá nhất của Lộc Tồn. Sách gọi là Song Lộc, hai cái lộc chồng lên nhau: một cái là kho, một cái là dòng chảy. Lộc Tồn giữ, Hóa Lộc rót vào. Có kho mà không có dòng thì kho cạn dần; có dòng mà không có kho thì nước chảy qua tay. Đủ cả hai mới là phú quý bền.

Điều thú vị mà chỉ chạy thuật toán mới thấy: với mỗi tuổi can, chính tinh mang Hóa Lộc rơi đúng vào cung Lộc Tồn ở đúng một thế Tử Vi trong mười hai thế, tam hợp chiếu ở hai thế, xung chiếu ở một thế. Cộng lại là bốn trên mười hai, tức một phần ba số lá số có Song Lộc nằm trong tam phương tứ chính của cung Lộc Tồn. Song Lộc không hiếm như nhiều người tưởng, cái hiếm là Song Lộc đồng cung mà chính tinh lại miếu vượng và không bị Không Kiếp phá.

Giáp

  • Lộc Tồn tại: Dần
  • Chính tinh hóa Lộc: Liêm Trinh
  • Song Lộc đồng cung khi Tử Vi an tại: Tuất

Ất

  • Lộc Tồn tại: Mão
  • Chính tinh hóa Lộc: Thiên Cơ
  • Song Lộc đồng cung khi Tử Vi an tại: Thìn

Bính

  • Lộc Tồn tại: Tỵ
  • Chính tinh hóa Lộc: Thiên Đồng
  • Song Lộc đồng cung khi Tử Vi an tại: Tuất

Đinh

  • Lộc Tồn tại: Ngọ
  • Chính tinh hóa Lộc: Thái Âm
  • Song Lộc đồng cung khi Tử Vi an tại: Hợi (cùng lúc Thiên Đồng hóa Quyền cũng đồng cung)

Mậu

  • Lộc Tồn tại: Tỵ
  • Chính tinh hóa Lộc: Tham Lang
  • Song Lộc đồng cung khi Tử Vi an tại: Sửu

Kỷ

  • Lộc Tồn tại: Ngọ
  • Chính tinh hóa Lộc: Vũ Khúc
  • Song Lộc đồng cung khi Tử Vi an tại: Tuất

Canh

  • Lộc Tồn tại: Thân
  • Chính tinh hóa Lộc: Thái Dương
  • Song Lộc đồng cung khi Tử Vi an tại: Hợi

Tân

  • Lộc Tồn tại: Dậu
  • Chính tinh hóa Lộc: Cự Môn
  • Song Lộc đồng cung khi Tử Vi an tại: Tuất

Nhâm

  • Lộc Tồn tại: Hợi
  • Chính tinh hóa Lộc: Thiên Lương
  • Song Lộc đồng cung khi Tử Vi an tại: Tuất

Quý

  • Lộc Tồn tại: Tý
  • Chính tinh hóa Lộc: Phá Quân
  • Song Lộc đồng cung khi Tử Vi an tại: Dần

Đọc bảng này nên chú ý ba chỗ. Thứ nhất, tuổi Kỷ có Vũ Khúc hóa Lộc gặp Lộc Tồn ở Ngọ: tài tinh mang Lộc lại đứng trong kho, là thế tiền bạc rất chắc, hợp người làm nghề dính trực tiếp tới tiền. Thứ hai, tuổi Đinh là trường hợp duy nhất mà cả Hóa Lộc lẫn Hóa Quyền cùng rơi vào cung Lộc Tồn trong một thế Tử Vi, vì Thái Âm và Thiên Đồng đồng cung tại Ngọ; đó là thế lộc quyền cùng về một chỗ, đáng quý nhưng Thái Âm ở Ngọ lại hãm, nên phú quý ấy phải xét thêm. Thứ ba, tuổi Quý có Phá Quân hóa Lộc gặp Lộc Tồn ở Tý: lộc đến bằng cách phá cũ dựng mới, hợp người khai phá hơn người thủ thành, và cái kho ấy hay bị chính chủ tự mở ra tiêu.

Lộc Tồn gặp chính tinh hóa Quyền và hóa Khoa

Hóa Quyền đồng cung Lộc Tồn là kho có người cầm chìa khóa. Quyền chủ nắm giữ, Lộc Tồn chủ tích chứa; hai cái hợp nhau thì người ấy không những có của mà còn có tiếng nói về của ấy, hợp vai trò quản tài, quản kho, quản ngân sách, làm chủ doanh nghiệp nhỏ. Mặt cần dè là Quyền cộng với khí cô của Lộc Tồn dễ thành cứng, tự quyết, không chịu nghe ai; cần Tả Hữu hoặc Hóa Khoa làm mềm.

Hóa Khoa đồng cung Lộc Tồn là kho có sổ sách. Khoa chủ danh tiếng, chủ khoa bảng, chủ sự minh bạch. Người có thế này thường kiếm tiền bằng cái đầu và bằng uy tín chuyên môn, tiền không nhiều đột biến nhưng sạch và bền, lại hay được người tìm đến nhờ cậy. Thầy thấy đây là tổ hợp hợp nghề thầy: dạy học, thầy thuốc, tư vấn, nghiên cứu. Riêng tuổi Bính và tuổi Tân có Hóa Khoa đậu vào Văn Xương, Văn Khúc là hai sao không thuộc chuỗi chính tinh nên phải tra vị trí riêng theo giờ sinh, không suy ra từ thế Tử Vi được.

Lộc Tồn gặp chính tinh hóa Kỵ: lộc và vướng cùng một chỗ

Đây là thế đáng bàn nhất và cũng hay bị đọc sai nhất. Hóa Kỵ là cái vướng, cái dính, cái không thoát ra được. Lộc Tồn là cái kho. Kỵ đậu vào kho thì không phải là mất của, mà là của bị buộc lại: tiền có mà không rút ra được, tài sản có mà đang tranh chấp, nợ đòi mãi không xong, hoặc chính mình quá tiếc của nên không dám tiêu, không dám đầu tư. Trên lá số thật, Lộc Tồn gặp Hóa Kỵ tại Tài Bạch hay Điền Trạch rất hay ứng vào chuyện giấy tờ nhà đất chưa xong, hoặc tiền cho vay chưa lấy lại được, chứ ít khi là nghèo túng.

Nặng hay nhẹ còn tùy Kỵ ấy đậu vào sao nào. Kỵ đậu Vũ Khúc (tuổi Nhâm) hay Thái Âm (tuổi Ất) là Kỵ đúng vào tài tinh, chuyện tiền rõ nhất. Kỵ đậu Cự Môn (tuổi Đinh) là tiền dính miệng tiếng, hay có tranh cãi hợp đồng. Kỵ đậu Thái Dương (tuổi Giáp) thì cái vướng thiên về danh và về người cha, người chồng, chứ không hẳn về tiền. Kỵ đậu Văn Xương, Văn Khúc (tuổi Tân, tuổi Kỷ) thì phải tra vị trí hai sao ấy theo giờ sinh mới biết có chạm cung Lộc Tồn hay không.

Hóa từ cung khác bay tới cung Lộc Tồn (phi hóa)

Tứ Hóa theo can năm sinh mới là tầng thứ nhất. Bắc phái Trung Châu còn xét can của từng cung: cung Tài Bạch mang can gì thì phóng ra một bộ Tứ Hóa của riêng nó, bay tới cung khác. Với Lộc Tồn, có ba đường bay đáng để ý nhất:

  • Cung Tài Bạch phi Lộc tới cung có Lộc Tồn. Tiền tự tìm về kho. Đây là thế người làm nghề gì cũng dôi ra được một khoản để dành, không cần cố mà vẫn có tích lũy.
  • Cung Điền Trạch phi Kỵ tới cung có Lộc Tồn. Nhà đất buộc chân cái kho: tiền của đổ hết vào bất động sản rồi kẹt ở đó, hoặc gánh nợ vay mua nhà kéo dài. Không phải xấu về bản chất, nhưng phải liệu dòng tiền.
  • Cung Mệnh phi Lộc tới cung có Lộc Tồn. Chính mình là nguồn của cái kho ấy: lộc do tự thân làm ra chứ không do thừa hưởng. Thế này hợp với đặc tính tự lo của Lộc Tồn đã nói ở mục cấu trúc.

Phi hóa từng cung là tầng sâu, thuộc phần luận trả phí của UK MASTER ACADEMY. Trên trang an lá số, sau khi có lá số, bấm vào từng dòng phi hóa dưới lá số là đọc được đường bay của từng cung.

Một lưu ý về dị bản trước khi khép mục này. Bảng Tứ Hóa của trang an lá số dùng Nam phái làm mặc định; hai tuổi Canh và Nhâm có Hóa Khoa và Hóa Kỵ khác nhau giữa Nam phái và Bắc phái. May là cả hai phái đều thống nhất về Hóa Lộc, nên toàn bộ bảng Song Lộc ở trên đúng cho cả hai phái, không phải chọn phe. Chỗ cần chọn phe chỉ nằm ở phần Khoa và Kỵ của hai tuổi ấy.

Các Cách Cục Và Điều Kiện Thành Cách

Lộc Tồn là tâm điểm của nhiều cách tài lộc. Song Lộc (Lộc Tồn cùng Hóa Lộc) chủ phú quý vững. Lộc Mã giao trì (Lộc Tồn gặp Thiên Mã) chủ tài tới từ xa. Cổ thư có câu Song Lộc thủ Mệnh, ví như bà Lã Hậu chuyên quyền, ý nói cách này rất quý.

Nhưng đặc trưng không thể tách rời của Lộc Tồn là luôn bị Kình Dương và Đà La giáp hai bên. Cung an Lộc Tồn vì thế vừa có lộc vừa có sát; nếu chính tinh sáng và có sao lành thì lộc thắng sát, ngược lại thì cái kho dễ bị quấy. Đây là lý do người xưa nói Lộc Tồn quý nhưng phải biết giữ.

Một cách cục chỉ "thành" khi hội đủ điều kiện, và "phá" khi vướng một trong các điều kiện phá. Với Lộc Tồn, chỗ người mới hay mừng hụt là thấy có Lộc Tồn trong lá số đã vội gọi là giàu, quên mất rằng cái kho ấy vĩnh viễn có hai lính gác cầm dao, và quên rằng phần lớn các cách của Lộc Tồn đòi thêm một sao thứ hai mới thành. Dưới đây mỗi cách ghi rõ điều kiện đủ và điều kiện phá, phần cấu trúc đều đã kiểm bằng thuật toán an sao.

Song Lộc giao trì (Lộc Tồn gặp Hóa Lộc)

Thành cách: Lộc Tồn và một chính tinh hóa Lộc cùng đứng trong tam phương tứ chính của cung Mệnh, mạnh nhất là đồng cung. Sách Toàn Thư có câu "Song Lộc thủ Mệnh, ví như bà Lã Hậu chuyên quyền", ý nói cách này rất quý và người hợp cách thường nắm thực lực. Đủ đẹp: chính tinh đồng cung miếu vượng, thêm Tả Hữu hoặc Khôi Việt để bù khí cô, và cung ấy không bị Tuần Triệt án ngữ. Kiểm bằng thuật toán: với mỗi tuổi can, sao hóa Lộc đồng cung Lộc Tồn ở đúng một thế Tử Vi, tam hợp ở hai thế, xung chiếu ở một thế, tổng cộng bốn trên mười hai lá số. Phá cách: Địa Không hoặc Địa Kiếp đồng cung, hoặc Tuần Triệt đóng ngay cung ấy. Khi ấy hai cái lộc cùng bị chặn một lượt, sách gọi là lộc thành hư, có mà như không.

Lộc Mã giao trì (Lộc Tồn gặp Thiên Mã)

Thành cách: Lộc Tồn gặp Thiên Mã, chủ tài lộc tới từ phương xa, làm ăn đi lại, xuất ngoại hanh thông. Thiên Mã an theo chi năm sinh và chỉ đóng ở tứ sinh Dần, Thân, Tỵ, Hợi, cho nên cách này chỉ có thể bàn ở bốn cung ấy. Đây là chỗ thuật toán cho một kết quả bất ngờ, xin quý vị đọc kỹ: chạy đủ sáu mươi hoa giáp, Lộc Mã đồng cung chỉ xảy ra với tuổi Giáp (tại Dần) và tuổi Canh (tại Thân). Tuổi Ất và tuổi Tân được thế tam hợp (Ất: Lộc Tồn Mão hợp Thiên Mã Hợi; Tân: Lộc Tồn Dậu hợp Thiên Mã Tỵ). Tuổi Giáp và Canh với chi năm khác thì được thế xung chiếu. Còn sáu tuổi Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Nhâm, Quý thì không bao giờ có Lộc Mã giao trì, dù dưới bất kỳ dạng nào, kể cả xung chiếu. Lý do gọn thôi: can dương luôn đi với chi dương nên Thiên Mã chỉ ở Dần hoặc Thân, mà Lộc Tồn của Bính, Mậu ở Tỵ và của Nhâm ở Hợi, ba cung ấy với Dần Thân không đồng, không hợp, không xung. Phá cách: Thiên Mã gặp Đà La thành ngựa què. Thuật toán cho thấy thế này chỉ xảy ra với tuổi Đinh và tuổi Kỷ (Đà La tại Tỵ, chi năm Mão, Mùi, Hợi) và tuổi Quý (Đà La tại Hợi, chi năm Sửu, Tỵ, Dậu). Đổi lại, Kình Dương thì vĩnh viễn không bao giờ đồng cung với Thiên Mã, vì Kình Dương không bao giờ đóng ở tứ sinh.

Dương Lương Xương Lộc

Thành cách: Thái Dương và Thiên Lương đồng cung, có Văn Xương và Lộc Tồn cùng chầu. Toàn Thư có câu "Dương Lương Xương Lộc, lư truyền đệ nhất danh", là cách của người đỗ đầu, nổi danh về học vấn và chữ nghĩa. Đủ đẹp: kiểm bằng thuật toán, Thái Dương và Thiên Lương chỉ đồng cung tại Mão (khi Tử Vi an tại Ngọ) và tại Dậu (khi Tử Vi an tại Tý). Mà Lộc Tồn đóng ở Mão chỉ với tuổi Ất, đóng ở Dậu chỉ với tuổi Tân. Vậy cách này chỉ trọn vẹn với hai tuổi ấy, cộng thêm giờ sinh đưa Văn Xương vào đúng cung. Bản Mão tốt hơn bản Dậu vì Thái Dương ở Mão đang lên còn ở Dậu đã xế. Tuổi khác muốn có cách này thì phải thay Lộc Tồn bằng Hóa Lộc chiếu về, sách xem là cách gần chứ không phải cách trọn. Phá cách: Thái Dương hóa Kỵ (tuổi Giáp) hoặc cung ấy gặp Không Kiếp, Hỏa Linh. Khi ấy tài học vẫn còn nhưng danh đến muộn và phải qua nhiều lần thi lại.

Lộc Tồn thủ Mệnh mà bị Kình Đà kẹp

Đây không phải cách tốt, mà là thế đáng ngại, và điều oái oăm là nó xảy ra với mọi lá số có Lộc Tồn thủ Mệnh. Vì cấu trúc an sao buộc Kình Dương đứng cung kế sau và Đà La cung liền trước, người có Lộc Tồn thủ Mệnh luôn có Phụ Mẫu và Huynh Đệ mang sát tinh (nếu can dương thì Kình ở Phụ Mẫu, Đà ở Huynh Đệ; can âm thì ngược lại theo chiều an cung). Kết quả là người ấy có của, có phúc, nhưng không có ai đứng bên cạnh gánh giúp. Sách Tân Biên ghi đặc tính "cô độc" của Lộc Tồn chính là chỗ này. Trên lá số thật, biểu hiện thường thấy là: tự lập rất sớm, việc gì cũng tự làm cho chắc, ngại nhờ vả, và về sau thành ra khó chia sẻ ngay cả với người thân. Giải cách: có Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt đồng cung hoặc chiếu về là hiệu quả nhất, vì đó đúng là bốn sao "có người bên cạnh". Thiên Đồng, Thiên Lương chiếu cũng làm dịu. Cách hóa giải trong đời sống thì đơn giản và không cần trấn yểm: chủ động giữ liên lạc với anh em, cha mẹ, và tập giao việc cho người khác.

Lộc Tồn gặp Không Kiếp Tuần Triệt: lộc thành hư

Đáng ngại: Lộc Tồn rất kỵ Địa Không, Địa Kiếp, và kỵ Tuần Triệt án ngữ. Không Kiếp là phá là cướp, Tuần Triệt là chặn là ngăn. Kho gặp cướp thì mất của, kho bị niêm phong thì có mà không dùng được. Sách còn nói khi Lộc Tồn và Hóa Lộc cùng bị Không Kiếp thì thành thế Lưỡng trùng Hoa Cái, hai cái lộc cùng hóa hư, là điều đáng tiếc nhất trong các thế của sao này. Cần phân biệt hai kiểu hỏng khác nhau, vì cách xử cũng khác: Không Kiếp làm lộc mất thật, tiền ra khỏi tay, hay ứng vào đầu tư hỏng, bị lừa, bảo lãnh cho người; Tuần Triệt làm lộc bị treo, tiền vẫn còn đó nhưng chưa đến lượt mình dùng, hay ứng vào của thừa kế chưa chia, dự án chưa giải ngân, nhà chưa ra sổ. Người bị Không Kiếp cần giữ, người bị Tuần Triệt cần chờ. Giải cách: chính tinh miếu vượng đồng cung đỡ được phần lớn; Hóa Khoa hoặc Thiên Phủ chiếu về giúp kho có sổ sách nên khó thất thoát. Thầy cũng thấy Tuần Triệt đóng ở cung Lộc Tồn của người tuổi trẻ thường ứng thành phát muộn, ngoài bốn mươi mới thật sự có của, chứ không phải cả đời không có.

Lộc Tồn hội Tử Phủ Vũ Tướng

Đủ đẹp: vì thuật toán cho thấy mọi chính tinh đều có thể đồng cung với Lộc Tồn, nên không có cấm kỵ nào về mặt cấu trúc; điều quyết định là chính tinh ấy có hợp với tượng "kho" hay không. Bộ Tử Vi, Thiên Phủ, Vũ Khúc, Thiên Tướng là bốn sao thuộc tượng quản trị và tích chứa, gặp Lộc Tồn thì kho có chủ, có sổ, có tường rào. Thiên Phủ vốn đã là kho lẫm, cộng thêm Lộc Tồn là kho chồng kho, sách xếp vào thế phú túc bền vững nhất. Đáng ngại: ngược lại, Lộc Tồn đi với Phá Quân, Thất Sát, Tham Lang là kho đặt cạnh người thích phá và thích liều; tiền vẫn làm ra được, có khi rất nhiều, nhưng vào ra dữ dội, và phải nhờ Hóa Khoa hay Thiên Phủ chiếu mới giữ lại được phần nào. Đây là suy luận từ tượng sao và cấu trúc, quý vị nên tự đối chiếu trên lá số nhà mình.

Điều cần nhớ khi luận cách cục của Lộc Tồn

Trong tất cả các cách trên, chỉ có Song Lộc và Lộc Mã giao trì là cách của riêng Lộc Tồn; Dương Lương Xương Lộc là cách của Thái Dương và Thiên Lương mà Lộc Tồn góp một chân; còn thế Kình Đà kẹp thì không phải cách, nó là điều kiện mặc định của mọi lá số có Lộc Tồn. Cho nên câu hỏi đúng khi cầm một lá số không phải là "có Lộc Tồn không" mà là "Lộc Tồn ấy có thêm được sao thứ hai nào, và cái kho ấy có bị phá không". Trả lời được hai vế đó là luận xong sao này.

Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế

Trước khi đọc hai cột dưới đây, xin nhớ quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Lộc Tồn là mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn, còn giáp hai bên là thế bao vây, mạnh với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Riêng với Lộc Tồn có một điều đặc biệt: thế giáp của nó đã bị Kình Dương và Đà La chiếm sẵn, không sao nào khác chen vào được. Vì vậy mọi sao trong hai cột dưới đây chỉ có thể tác động lên Lộc Tồn ở ba vị thế đồng cung, xung chiếu hoặc tam hợp, chứ không bao giờ ở vị thế giáp. Đây là điểm mà nhiều bài viết về Lộc Tồn bỏ sót.

Lộc Tồn mừng khi gặp

  • Chính tinh hóa Lộc (đồng cung mạnh nhất, xung chiếu và tam hợp vẫn tính): thành cách Song Lộc, kho có dòng chảy rót vào, phú quý bền.
  • Thiên Mã (đồng cung, chỉ có ở tuổi Giáp tại Dần và tuổi Canh tại Thân; tam hợp ở tuổi Ất và Tân): Lộc Mã giao trì, tiền tới từ xa, hợp đi lại và xuất ngoại.
  • Thiên Phủ (đồng cung tốt nhất, tam hợp cũng quý): kho lẫm gặp kho lộc, thế giữ của vững nhất trong các tổ hợp.
  • Tả Phụ, Hữu Bật (đồng cung hoặc tam hợp): bù đúng cái thiếu do cấu trúc, có người bên cạnh nên khí cô độc giảm hẳn.
  • Thiên Khôi, Thiên Việt (đồng cung hoặc chiếu): quý nhân đứng ra bảo lãnh cho cái kho, việc tiền bạc có người đỡ.
  • Hóa Khoa (đồng cung): kho có sổ sách, tiền minh bạch, khó thất thoát, lại thêm tiếng thơm về chuyên môn.
  • Chính tinh miếu vượng bất kỳ (đồng cung): quyết định phần lớn giá trị của Lộc Tồn, vì thuật toán cho thấy chính tinh nào cũng có thể đứng cùng cung với nó.

Lộc Tồn e ngại khi gặp

  • Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung nặng nhất, xung chiếu kế): kho bị phá, lộc mất thật. Cùng Hóa Lộc mà gặp Không Kiếp thì thành thế Lưỡng trùng Hoa Cái, hai lộc cùng hư.
  • Tuần, Triệt án ngữ (đóng ngay cung Lộc Tồn): lộc bị treo chứ không mất, thường ứng thành phát muộn. Đây là kiểu hỏng khác hẳn Không Kiếp, chớ đọc lẫn.
  • Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung): lửa vào kho, tiền vào ra gấp gáp, dễ có khoản chi đột ngột.
  • Hóa Kỵ (đồng cung): của bị buộc lại, tranh chấp, nợ khó đòi, giấy tờ dây dưa; nặng nhất khi Kỵ đậu vào Vũ Khúc hoặc Thái Âm.
  • Đại Hao, Tiểu Hao (cùng vòng Bác Sĩ, ở tam hợp hoặc xung của cung Lộc Tồn): hai sao hao vốn sinh ra từ chính vòng khởi bởi Lộc Tồn, nên luôn có mặt đâu đó trên lá số; rơi vào Tài hay Điền thì tiền vào cửa trước ra cửa sau.
  • Kình Dương và Đà La (vị thế giáp, cố định, không tránh được): không phải sao gặp mà là thế mặc định. Chỉ nặng thêm khi hai sao ấy lại gặp Hỏa Linh Không Kiếp tại chính cung của chúng.

Lộc Tồn là cái kho có hai lính gác. Có chính tinh sáng và sao lành thì kho an toàn, lộc bền; thiếu nền tảng thì hai lính gác Kình Đà lại thành mối lo. Giữ được lộc mới là cái quý thật của sao này.

Lộc Tồn Trong Đại Vận Và Lưu Niên

Mọi mục phía trên nói về Lộc Tồn "tĩnh": nó đóng ở cung nào theo can năm sinh, đi với chính tinh nào. Nhưng lá số là một dòng chảy. Mỗi mười năm đại vận chuyển sang cung khác, mỗi năm lưu niên chuyển một bước, và điều quan trọng nhất với sao này là: Lộc Tồn có bản lưu niên riêng. Nghĩa là ngoài Lộc Tồn cố định của năm sinh, mỗi năm còn có một Lộc Tồn khác chạy tới, mang theo cả lưu Kình và lưu Đà kẹp hai bên y hệt.

Đại vận đi vào cung có Lộc Tồn

Đại vận đến cung có Lộc Tồn là mười năm của cải ổn định. Sách nói Lộc Tồn chủ tài lộc phúc thọ và giải tai, nên giai đoạn này thường là lúc người ta dựng được nền: mua được nhà, để dành được khoản đầu tiên, công việc vào guồng, sức khỏe có chỗ nương. Nếu cung ấy có chính tinh miếu vượng và thêm Hóa Lộc thì đây thường là đại vận đỉnh về tiền bạc của cả đời. Điều Thầy hay dặn khách là: đại vận Lộc Tồn hợp tích lũy hơn hợp bung ra. Nhiều người thấy mười năm thuận bèn vay lớn để mở rộng, mà quên rằng hai cung kề của đại vận ấy đang có Kình Đà; kết quả là được nửa vận thì vướng.

Ngược lại, đại vận đi vào cung có Kình Dương hoặc Đà La của bản mệnh, tức hai cung kề Lộc Tồn, là mười năm phải tranh và phải chờ. Vì cấu trúc, đại vận trước và đại vận sau đại vận Lộc Tồn luôn là hai đại vận sát tinh; đây là quy luật đúng cho mọi lá số, không cần tra. Người biết trước điều này thì chuẩn bị được: vận trước Lộc Tồn hay là vận vất vả để dựng, vận Lộc Tồn là vận hưởng, vận sau là vận phải giữ.

Bản lưu niên của chính Lộc Tồn: lưu Lộc Tồn

Lưu Lộc Tồn an theo can của năm xem, dùng đúng bảng như Lộc Tồn bản mệnh. Cùng với nó, lưu Kình Dương đóng cung kế sau và lưu Đà La đóng cung liền trước, thành một bộ ba chạy vòng quanh lá số theo từng năm. Vì mười can quay đủ một vòng trong mười năm, nên cứ mười năm một lần lưu Lộc Tồn lại trở về đúng cung Lộc Tồn bản mệnh của quý vị.

Giáp

  • Lưu Lộc Tồn tại: Dần
  • Lưu Kình · lưu Đà: Mão · Sửu
  • Các năm gần và sắp tới: 2014 Giáp Ngọ · 2024 Giáp Thìn · 2034 Giáp Dần

Ất

  • Lưu Lộc Tồn tại: Mão
  • Lưu Kình · lưu Đà: Thìn · Dần
  • Các năm gần và sắp tới: 2015 Ất Mùi · 2025 Ất Tỵ · 2035 Ất Mão

Bính

  • Lưu Lộc Tồn tại: Tỵ
  • Lưu Kình · lưu Đà: Ngọ · Thìn
  • Các năm gần và sắp tới: 2016 Bính Thân · 2026 Bính Ngọ · 2036 Bính Thìn

Đinh

  • Lưu Lộc Tồn tại: Ngọ
  • Lưu Kình · lưu Đà: Mùi · Tỵ
  • Các năm gần và sắp tới: 2017 Đinh Dậu · 2027 Đinh Mùi · 2037 Đinh Tỵ

Mậu

  • Lưu Lộc Tồn tại: Tỵ
  • Lưu Kình · lưu Đà: Ngọ · Thìn
  • Các năm gần và sắp tới: 2018 Mậu Tuất · 2028 Mậu Thân · 2038 Mậu Ngọ

Kỷ

  • Lưu Lộc Tồn tại: Ngọ
  • Lưu Kình · lưu Đà: Mùi · Tỵ
  • Các năm gần và sắp tới: 2019 Kỷ Hợi · 2029 Kỷ Dậu · 2039 Kỷ Mùi

Canh

  • Lưu Lộc Tồn tại: Thân
  • Lưu Kình · lưu Đà: Dậu · Mùi
  • Các năm gần và sắp tới: 2020 Canh Tý · 2030 Canh Tuất · 2040 Canh Thân

Tân

  • Lưu Lộc Tồn tại: Dậu
  • Lưu Kình · lưu Đà: Tuất · Thân
  • Các năm gần và sắp tới: 2021 Tân Sửu · 2031 Tân Hợi · 2041 Tân Dậu

Nhâm

  • Lưu Lộc Tồn tại: Hợi
  • Lưu Kình · lưu Đà: Tý · Tuất
  • Các năm gần và sắp tới: 2022 Nhâm Dần · 2032 Nhâm Tý · 2042 Nhâm Tuất

Quý

  • Lưu Lộc Tồn tại: Tý
  • Lưu Kình · lưu Đà: Sửu · Hợi
  • Các năm gần và sắp tới: 2023 Quý Mão · 2033 Quý Sửu · 2043 Quý Hợi

Cách dùng bảng này rất tiện và Thầy dùng gần như mỗi buổi luận. Bước một: xem Lộc Tồn bản mệnh của quý vị ở cung nào. Bước hai: tra năm cần xem có can gì, lưu Lộc Tồn rơi vào cung nào của lá số. Bước ba: đối chiếu hai cung ấy.

  • Lưu Lộc Tồn trùng đúng cung Lộc Tồn bản mệnh (mười năm một lần, khi can năm xem trùng can năm sinh): hai kho chồng nhau, là năm rất thuận về tiền bạc và cũng là năm hợp để chốt những việc lớn về tài sản. Nhưng phải nhớ lưu Kình lưu Đà cũng chồng lên Kình Đà bản mệnh, nên hai cung kề nặng gấp đôi; năm ấy chuyện với anh em hoặc cha mẹ dễ căng.
  • Lưu Lộc Tồn rơi vào Tài Bạch hoặc Điền Trạch: năm có khoản vào, hợp mua tích sản, hợp lập quỹ dự phòng.
  • Lưu Kình Dương hoặc lưu Đà La rơi đúng cung Lộc Tồn bản mệnh: đây là năm cần cẩn thận nhất với sao này, vì kho bản mệnh bị dao lưu chạm thẳng. Thường ứng vào tranh chấp tiền bạc, giấy tờ, hoặc phải chi một khoản ngoài dự tính. Không phải năm xấu toàn diện, nhưng là năm nên rạch ròi hợp đồng và đừng đứng tên hộ ai.
  • Lưu Lộc Tồn rơi vào cung Tật Ách: sách nói Lộc Tồn giải bệnh giải tai, nên năm ấy nếu có bệnh thì thường gặp thầy gặp thuốc, và có tiền để chữa.

Các lưu sao khác chạm vào cung Lộc Tồn

  • Lưu Thiên Mã đến cung Lộc Tồn bản mệnh: thành Lộc Mã giao trì của riêng năm ấy. Đây là con đường để những tuổi vốn không bao giờ có Lộc Mã trong lá số gốc vẫn được hưởng thế này theo năm. Năm ấy hợp chuyển công tác, mở chi nhánh, làm ăn với đối tác xa.
  • Lưu Thái Tuế đến cung Lộc Tồn: việc tiền bạc gắn với giấy tờ, công quyền, thuế, sổ sách. Có chính tinh sáng thì là năm hợp thức hóa được tài sản; hãm thì là năm bị soi.
  • Lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ đến cung có Lộc Tồn cùng Hóa Kỵ: tổ hợp Thầy luôn dặn khách chú ý, vì hay ứng vào chuyện của cải liên quan tới người lớn trong nhà, thừa kế, hoặc chi phí y tế. Không kết luận điều gì nặng nề, chỉ là năm nên chuẩn bị trước.
  • Lưu Xương, lưu Khúc, lưu Khôi, lưu Việt đến cung Lộc Tồn: năm thuận cho thi cử, chứng chỉ chuyên môn, và cho việc nhờ được người có vai vế đứng ra giúp chuyện tài chính.
  • Tứ Hóa lưu niên: mỗi năm bốn sao lại đổi áo theo can năm. Hóa Lộc lưu bay vào cung Lộc Tồn bản mệnh là năm Song Lộc theo lưu, rất đáng chú ý. Hóa Kỵ lưu bay vào đó thì ngược lại, là năm kho bị vướng, nên hoãn những khoản đầu tư lớn.

Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Lộc Tồn

Lộc Tồn là sao được khen nhiều nhất trong nhóm phụ tinh, mà càng được khen thì càng bị gán thêm nhiều thứ không có trong sách. Mục này nói rõ Lộc Tồn không chủ về gì, để quý vị khỏi mừng hụt cũng khỏi lo oan.

Có Lộc Tồn không đồng nghĩa với giàu

Sách Tân Biên xếp Lộc Tồn là quý tinh chủ tước lộc, tài lộc, phúc thọ; sách không nói ai có Lộc Tồn thì giàu. Lộc Tồn là cái kho, mà kho thì phải có người bỏ của vào mới đầy. Cái đổ vào ấy là chính tinh đồng cung, là Hóa Lộc, là Vũ Khúc Thiên Phủ ở tam phương, là cung Tài Bạch và Điền Trạch. Thầy gặp nhiều lá Lộc Tồn thủ Mệnh mà đời sống chỉ đủ ăn, vì chính tinh đồng cung hãm và tam phương không có sao tài nào. Điều họ có thật là không bao giờ túng quẫn và biết giữ những gì đã có, chứ không phải phú quý. Đọc "có Lộc Tồn là giàu" là lỗi phổ biến nhất về sao này.

Lộc Tồn không phải là Hóa Lộc, và cũng không thay được Hóa Lộc

Hai sao cùng chữ Lộc nên rất hay bị lẫn, nhưng khác nhau tận gốc. Hóa Lộc là một trong Tứ Hóa, nó không có cung cố định mà bám vào một chính tinh theo can năm sinh, chính tinh ấy ở đâu thì Hóa Lộc ở đó. Lộc Tồn có bảng vị trí riêng theo can năm sinh, độc lập hoàn toàn với chính tinh. Hóa Lộc là dòng chảy, Lộc Tồn là cái kho. Người chỉ có Hóa Lộc mà không có Lộc Tồn hội về thì tiền qua tay nhiều mà đọng lại ít; người chỉ có Lộc Tồn mà không gặp Hóa Lộc thì giữ rất giỏi nhưng phải chờ có cái để giữ. Chính vì hai cái khác nhau nên gặp nhau mới quý, và mới có tên riêng là Song Lộc.

Kình Đà giáp Lộc Tồn không phải là điềm dữ riêng của ai

Nhiều người xem lá số thấy dòng "Mệnh bị Kình Đà giáp" liền hoảng, tưởng mình gặp thế xấu hiếm gặp. Thật ra đây là điều kiện mặc định của mọi lá số có Lộc Tồn: hễ Lộc Tồn ở đâu thì Kình Đà kẹp ở đó, không tuổi nào thoát, không giờ sinh nào thoát. Nếu Lộc Tồn của quý vị tình cờ rơi vào cung Mệnh thì Mệnh bị giáp, nếu rơi vào Tài Bạch thì Tài Bạch bị giáp, chỉ vậy thôi. Cái đáng xem không phải là "có bị giáp hay không" mà là hai cung kề ấy còn có sao gì: Kình Dương đơn thuần khác hẳn Kình Dương cộng Hỏa Tinh, Đà La ở cung trống khác hẳn Đà La cùng Hóa Kỵ. Đọc đúng chỗ ấy mới là luận, còn đọc chung chung "bị giáp sát" thì chưa nói được gì.

Lộc Tồn "giải tai giải bệnh" không có nghĩa là miễn nhiễm

Tân Biên có ghi Lộc Tồn giải trừ được bệnh tật và tai họa. Câu ấy đúng, nhưng phải hiểu cho đúng chữ giải: là làm nhẹ đi, là gặp được đường thoát, là có thầy có thuốc, chứ không phải là không xảy ra. Trên lá số thật, Thầy thấy Lộc Tồn ở Tật Ách thường ứng thành người có bệnh nhưng phát hiện sớm, chữa được, và có điều kiện chữa; hoặc gặp chuyện rủi mà thiệt hại dừng ở mức chịu được. Còn nói có Lộc Tồn thì không bệnh không nạn là sai với sách và sai với thực tế. Chuyện sức khỏe phải đọc ở cung Tật Ách với chính tinh và các sát tinh tại đó, không đọc từ mỗi Lộc Tồn.

Lộc Tồn không "trấn" được Đào Hồng, nó chỉ làm nhạt đi

Sách ghi Lộc Tồn triệt tiêu tính dâm đãng hoa nguyệt của Đào Hoa, Hồng Loan. Câu này hay bị đọc thành "có Lộc Tồn thì hết đào hoa", rồi từ đó suy ra những kết luận rất nặng về đời sống tình cảm của người ta. Cách hiểu đúng theo nguyên lý: Lộc Tồn thuộc Dương Thổ, tính nghiêm cẩn, thủ giữ, hướng vào trong; Đào Hồng thuộc khí Thủy Mộc, tính lan tỏa, hướng ra ngoài. Thổ chế Thủy nên khí phóng túng bị ghìm lại, người ấy thành ra kín đáo và chừng mực trong chuyện tình cảm, chứ duyên vẫn có và tình cảm vẫn có. Ngoài ra chữ trong sách chỉ áp cho phần "hoa nguyệt", tức phần buông thả, không áp cho toàn bộ nhân duyên. Luận hôn nhân phải đọc ở cung Phu Thê, không kết luận từ một sao.

Lộc Tồn trong Tử Vi không phải "lộc" trong bói lộc đầu năm

Chữ "lộc" ở dân gian, kiểu xin lộc đầu năm hay hái lộc, thuộc về tập tục, không phải một sao trong lá số. Lộc Tồn của Tử Vi Đẩu Số là một phụ tinh có bảng an cố định theo can năm sinh, nằm yên một chỗ suốt đời, và có cả một vòng mười hai sao khởi từ nó. Hai chuyện không liên quan nhau, xin đừng lấy cái này giải thích cái kia.

Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải

Với Lộc Tồn, việc cần làm là phát huy khả năng giữ của và bảo vệ cái kho ấy khỏi Không Kiếp, đồng thời tránh để khí cô độc làm xa cách người thân.

  • Phát huy tài tích lũy. Lộc Tồn hợp tiết kiệm, đầu tư an toàn, quản tài chặt; đó là sở trường của sao này.
  • Bảo vệ kho khỏi hao kiếp. Tránh đầu tư mạo hiểm, đề phòng khi Lộc Tồn gặp Không Kiếp Hỏa Linh.
  • Tìm Hóa Lộc và Thiên Mã. Trong lá số, Lộc Tồn cạnh Hóa Lộc hoặc Thiên Mã thì phú quý càng rõ.
  • Giữ ấm tình thân. Hóa giải khí cô độc bằng cách chủ động vun đắp quan hệ gia đình, bạn bè.
  • Xem cả lá số. Lộc Tồn quý tới đâu còn tùy chính tinh đi cùng và thế Kình Đà giáp mạnh hay yếu.

Gợi ý: người có Lộc Tồn đẹp nên lập kế hoạch tích lũy dài hạn và một quỹ dự phòng vững; chính kỷ luật tài chính giúp cái kho của sao này luôn đầy và an toàn.

Câu hỏi thường gặp

Lộc Tồn là một quý tinh của Tử Vi Đẩu Số, thuộc Bắc Đẩu, ngũ hành Dương Thổ, chủ tài lộc, phúc thọ và sự ổn định của cải. Nếu Hóa Lộc là dòng lộc tới thì Lộc Tồn là cái kho giữ lộc, làm cho của cải bền vững.

Giáp ở Dần, Ất ở Mão, Bính ở Tỵ, Đinh ở Ngọ, Mậu ở Tỵ, Kỷ ở Ngọ, Canh ở Thân, Tân ở Dậu, Nhâm ở Hợi, Quý ở Tý. Lộc Tồn không bao giờ ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.

Vì cách an quy định Kình Dương đứng ở cung kế sau Lộc Tồn theo chiều thuận của địa chi và Đà La đứng ở cung liền trước. Do đó nơi nào có Lộc Tồn thì nơi đó luôn có thế giáp của hai sát tinh, vừa có lộc vừa có sát.

Song Lộc là Lộc Tồn cùng Hóa Lộc hội Mệnh, chủ phú quý của cải vững. Lộc Mã giao trì là Lộc Tồn gặp Thiên Mã, chủ tài lộc tới từ phương xa, làm ăn xuất ngoại hanh thông. Cả hai đều là cách tài lộc quý.

Lộc Tồn kỵ Địa Không, Địa Kiếp, Hỏa Tinh, Linh Tinh và Tuần Triệt, vì khi đó cái kho bị phá, lộc tới mà không giữ được. Lộc Tồn cùng Hóa Lộc gặp Không Kiếp còn thành thế Lưỡng trùng Hoa Cái đáng tiếc.

Không. Lộc Tồn không nằm trong Tứ Hóa và không hóa Lộc, Quyền, Khoa hay Kỵ với bất kỳ tuổi nào. Bảng Tứ Hóa mười can chỉ gọi tên mười bốn chính tinh cùng Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật. Lộc Tồn là cái lộc cố định an theo can năm sinh, còn Hóa Lộc là dòng lộc đậu vào một chính tinh; hai cái gặp nhau mới thành cách Song Lộc.

Kiểm đủ sáu mươi hoa giáp thì Lộc Mã đồng cung chỉ xảy ra với tuổi Giáp tại Dần và tuổi Canh tại Thân. Tuổi Ất và tuổi Tân được thế tam hợp. Tuổi Giáp và Canh với chi năm khác thì được thế xung chiếu. Sáu tuổi Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Nhâm, Quý không bao giờ có Lộc Mã dưới bất kỳ dạng nào, vì Lộc Tồn của họ ở Tỵ, Ngọ, Hợi hoặc Tý mà Thiên Mã của họ chỉ có thể ở Dần, Thân, Tỵ hoặc Hợi không hợp không xung với các cung ấy.

Vòng Bác Sĩ khởi từ chính cung an Lộc Tồn: Bác Sĩ luôn đồng cung với Lộc Tồn, rồi Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ nối nhau đủ mười hai cung, an thuận với dương nam âm nữ và nghịch với âm nam dương nữ. Nghĩa là định được Lộc Tồn là định luôn cả một vòng mười hai sao, trong đó có hai sao hao là Đại Hao và Tiểu Hao rất đáng xem khi luận tiền bạc.