Tử Vi
Sao Long Trì: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung
Tìm hiểu sao Long Trì trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.
Tổng quan về sao Long Trì
Long Trì là sao chủ khoa giáp và may mắn, ngũ hành Thủy, đi cặp với Phượng Các. Hai sao Long Phượng hợp thành một bộ cát tinh quan trọng, biểu trưng cho sự đỗ đạt, hanh thông và những việc tốt lành.
- Ngũ hành: Thủy
- Nhóm: Phụ Tinh Khoa Giáp
- Cách an: Long trì an theo địa chi năm sinh, đi cặp với phượng các (long trì thuận, phượng các nghịch), hợp thành bộ khoa giáp
- Cai quản: thông minh, khoa giáp, cưới hỏi, may mắn
- Tính chất: Khoa giáp, may mắn
Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.
Ý nghĩa tại cung Mệnh
- Long Trì đắc thế, có chính tinh sáng hoặc văn tinh nâng: Dáng người chỉnh tề, mặt mũi sáng sủa dễ nhìn, ăn nói có chừng mực, biết giữ thể diện cho mình và cho người. Đường học hành thi cử thuận, hay có bằng cấp hoặc chứng chỉ làm vốn. Người khác gặp lần đầu thường có thiện cảm.
- Long Trì thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Coi trọng hình thức tới mức nặng sĩ diện, sợ mất mặt hơn sợ làm sai. Bằng cấp có mà nghề không sâu. Gặp Tuần Triệt thì việc thi cử hay dở dang, thi lại, đổi ngành giữa chừng.
Ý nghĩa ở các cung khác
Đối chiếu ý nghĩa của Long Trì với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.
Cung Phụ Mẫu
- Long Trì đắc thế, có chính tinh sáng hoặc văn tinh nâng: Cha mẹ có học hoặc coi trọng việc học, nề nếp gia phong tốt, dạy con biết giữ lễ. Quan hệ với cấp trên và với thầy cũng thuận, dễ được người trên đứng tên bảo lãnh.
- Long Trì thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Cha mẹ nặng về thể diện, đặt kỳ vọng bằng cấp lên con. Có Quan Phù ở đây nên chuyện thừa kế, giấy tờ nhà cửa của cha mẹ nên làm sớm và làm rõ.
Cung Phúc Đức
- Long Trì đắc thế, có chính tinh sáng hoặc văn tinh nâng: Trong lòng chuộng cái đẹp, cái nề nếp; thích chữ nghĩa, thích chỗ trang nhã. Phúc phần của dòng họ hay dính tới việc học, có người trong họ làm nghề chữ nghĩa.
- Long Trì thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Hay tự ràng mình vào khuôn phép, sống theo mắt người khác nhìn, ít khi cho phép mình xuề xòa. Đây là cái mệt lặng mà người ngoài không thấy.
Cung Điền Trạch
- Long Trì đắc thế, có chính tinh sáng hoặc văn tinh nâng: Tân Biên nói Long Trì Phượng Các làm cho nhà đất thêm cao đẹp rộng rãi. Nhà cửa khang trang, mặt tiền coi được, chỗ ở có thế đẹp; giấy tờ nhà đất đầy đủ, sổ sách rõ ràng.
- Long Trì thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Nhà đẹp mã mà công năng kém, hoặc mua nhà vì thích cái vẻ chứ không vì tiện sống. Gặp sát tinh thì nhà đất hay vướng thủ tục, tranh chấp ranh giới, giấy tờ chậm.
Cung Quan Lộc
- Long Trì đắc thế, có chính tinh sáng hoặc văn tinh nâng: Đây là cung Long Trì nói rõ nhất. Hợp nghề cần bằng cấp và danh phận: dạy học, nghiên cứu, luật, y, hành chính, ngoại giao, nghề có chứng chỉ hành nghề. Thăng tiến hay đi kèm một tờ quyết định. Thi tuyển, thi nâng ngạch, xét học hàm học vị đều thuận.
- Long Trì thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Có chức danh mà thiếu thực quyền; ngồi chỗ coi được mà việc không nhiều. Gặp Hóa Kỵ cùng Quan Phù thì công việc dễ vướng thanh tra, kiểm tra hồ sơ, hoặc chuyện bằng cấp bị đem ra xét.
Cung Nô Bộc
- Long Trì đắc thế, có chính tinh sáng hoặc văn tinh nâng: Bạn bè có người học rộng, cấp dưới lễ độ; quan hệ giữ đúng khuôn phép nên ít sinh chuyện. Hay được bạn giới thiệu cho cơ hội chính thức.
- Long Trì thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Bạn nhiều mà toàn quan hệ xã giao. Có Quan Phù nên chuyện với bạn bè hoặc nhân viên dễ đi tới chỗ phải nói bằng văn bản; nên làm rõ mọi thỏa thuận từ đầu.
Cung Thiên Di
- Long Trì đắc thế, có chính tinh sáng hoặc văn tinh nâng: Ra ngoài được nể trọng, dễ được giới thiệu, hợp với việc đại diện, đối ngoại, giao tiếp có nghi thức. Đi xa vì việc học hoặc việc chuyên môn thì thuận.
- Long Trì thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Ra ngoài phải giữ hình ảnh nên mệt; bị nhìn nhận theo cái mác chứ không theo con người thật. Điếu Khách lúc này chiếu về Mệnh, dễ bị người ngoài bàn tán.
Cung Tật Ách
- Long Trì đắc thế, có chính tinh sáng hoặc văn tinh nâng: Sách không nói Long Trì chủ bộ phận cơ thể nào, nên bài này không gán bừa. Điều suy ra được từ cấu trúc là cung Tật Ách có Long Trì thì đi kèm Quan Phù, nên chuyện bệnh của người này hay dính tới hồ sơ y tế, giám định, bảo hiểm; và cung đối diện có Điếu Khách nên tin tức bệnh tật thường do người ngoài nói ra trước.
- Long Trì thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Vẻ ngoài trông khỏe mạnh tươm tất nên chủ quan, khám muộn. Đây là chỗ Long Trì dễ đánh lừa nhất: hình thức đẹp không phải là sức khỏe tốt.
Cung Tài Bạch
- Long Trì đắc thế, có chính tinh sáng hoặc văn tinh nâng: Tiền vào theo đường chính danh: lương, thù lao chuyên môn, tiền công dạy học, tiền bản quyền, hợp đồng có ký kết. Hồ sơ tài chính sạch, ít khuất tất, dễ vay được vốn vì giấy tờ đẹp.
- Long Trì thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Long Trì không làm ra tiền, nó chỉ làm cho đường tiền coi được. Vỏ chỉnh tề mà ruột mỏng, hay tiêu vào những khoản giữ thể diện. Gặp sát tinh thì tiền dễ vướng vào chuyện hợp đồng, thuế, thủ tục.
Cung Tử Tức
- Long Trì đắc thế, có chính tinh sáng hoặc văn tinh nâng: Con cái sáng dạ, học được, dễ nuôi, hình thức khá; cha mẹ đầu tư việc học cho con thường thấy kết quả. Chuyện khai sinh nhập học của con trôi chảy.
- Long Trì thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Con học theo lối lấy điểm lấy bằng, thiếu đam mê thật. Cha mẹ đặt kỳ vọng vào thành tích của con nhiều hơn vào con.
Cung Phu Thê
- Long Trì đắc thế, có chính tinh sáng hoặc văn tinh nâng: Bạn đời có học, có nghề nghiệp đàng hoàng, dáng dấp coi được, gia đình bên ấy nề nếp. Cưới hỏi làm đủ lễ, hôn thú giấy tờ rõ ràng, hai bên coi trọng danh dự của nhau.
- Long Trì thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Cưới nhau vì môn đăng hộ đối hơn vì hợp tính; chuộng cái vỏ nề nếp mà thiếu chuyện trò thật. Gặp Hóa Kỵ thì chuyện hôn nhân hay vướng thủ tục, đăng ký muộn, hoặc phải nhờ tới giấy tờ để phân định.
Cung Huynh Đệ
- Long Trì đắc thế, có chính tinh sáng hoặc văn tinh nâng: Anh em hoặc bạn đồng môn có người ăn học, có danh phận; quan hệ giữ được lễ, ít lời qua tiếng lại. Việc chung trong họ hay có người đứng ra làm giấy tờ đâu ra đấy.
- Long Trì thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Giữ lễ ngoài mặt mà xa cách bên trong. Có Quan Phù ở đây nên chuyện chia chác trong họ dễ phải đưa nhau ra giấy tờ, thậm chí ra pháp lý, dù hai bên đều không muốn.
Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Long Trì an theo địa chi năm sinh. Không theo can, không theo tháng, không theo giờ, không theo Cục. Phép an chỉ có một dòng: đặt ngón tay vào cung mang tên chi năm sinh rồi đếm thuận chiều kim đồng hồ thêm bốn cung, dừng ở đâu thì Long Trì đóng ở đó. Người tuổi Tý khởi từ Tý đếm bốn cung được Thìn, người tuổi Mão khởi từ Mão được Mùi, người tuổi Dậu khởi từ Dậu được Sửu. Vì tham số chỉ là chi năm sinh nên vị trí Long Trì cố định suốt đời, không đổi theo giới tính, không đổi theo âm dương nam nữ, không đổi theo Cục, và hai người cùng tuổi con giáp thì Long Trì luôn đóng cùng một cung địa chi.
Phượng Các đi cặp với Long Trì nhưng đếm ngược: khởi từ cung Tuất đếm nghịch chiều kim đồng hồ đi số bước bằng chỉ số chi năm sinh, tức lấy Tuất trừ đi chi. Người tuổi Tý thì Phượng Các ở ngay Tuất, tuổi Sửu lùi một cung xuống Dậu, tuổi Dần xuống Thân, cứ thế. Một sao đếm thuận, một sao đếm nghịch, đó là ý nghĩa thật của câu Long Trì thuận, Phượng Các nghịch mà sách hay nói. Còn Giải Thần thì trên thuật toán đang chạy của trang dùng đúng công thức của Phượng Các, nên nó luôn ngồi chung cung với Phượng Các, không sót tuổi nào.
Tý
- Long Trì: Thìn
- Phượng Các: Tuất
- Giải Thần: Tuất
Sửu
- Long Trì: Tỵ
- Phượng Các: Dậu
- Giải Thần: Dậu
Dần
- Long Trì: Ngọ
- Phượng Các: Thân
- Giải Thần: Thân
Mão
- Long Trì: Mùi
- Phượng Các: Mùi
- Giải Thần: Mùi
Thìn
- Long Trì: Thân
- Phượng Các: Ngọ
- Giải Thần: Ngọ
Tỵ
- Long Trì: Dậu
- Phượng Các: Tỵ
- Giải Thần: Tỵ
Ngọ
- Long Trì: Tuất
- Phượng Các: Thìn
- Giải Thần: Thìn
Mùi
- Long Trì: Hợi
- Phượng Các: Mão
- Giải Thần: Mão
Thân
- Long Trì: Tý
- Phượng Các: Dần
- Giải Thần: Dần
Dậu
- Long Trì: Sửu
- Phượng Các: Sửu
- Giải Thần: Sửu
Tuất
- Long Trì: Dần
- Phượng Các: Tý
- Giải Thần: Tý
Hợi
- Long Trì: Mão
- Phượng Các: Hợi
- Giải Thần: Hợi
Bảy điều bất biến của Long Trì, đã chạy đủ mười hai chi bằng máy
- Long Trì đi được cả mười hai cung, không kiêng cung nào. Chạy đủ mười hai chi thì Long Trì lần lượt rơi vào Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý, Sửu, Dần, Mão. Mười hai tuổi cho mười hai cung khác nhau, phủ kín địa bàn. Không có cung nào Long Trì không tới được và cũng không có cung nào nó ưu ái. Vì thế mọi lá số đều có Long Trì, đây là điều phải nhớ trước tiên trước khi mừng vì có cát tinh khoa giáp.
- Long Trì luôn đồng cung với Quan Phù của vòng Thái Tuế. Đây là quan hệ chặt nhất của sao này và cũng là điều ít trang nào nói tới. Quan Phù đứng thứ năm trong vòng Thái Tuế, tức cách cung chi năm sinh đúng bốn cung đếm thuận, trùng khít công thức của Long Trì. Máy chạy đủ mười hai tuổi cho kết quả mười hai trên mười hai lần đồng cung. Hễ có Long Trì là có Quan Phù, không có ngoại lệ. Xin phân biệt Quan Phù của vòng Thái Tuế với Quan Phủ của vòng Bác Sĩ: hai sao khác nhau, tên gần giống nhau, an theo hai tham số khác hẳn.
- Long Trì luôn nằm trong tam hợp cục của chi năm sinh. Cách chi năm sinh bốn cung nghĩa là đứng đúng một chân của tam giác chi năm sinh. Hệ quả là Long Trì luôn tam hợp chiếu với Thái Tuế và luôn tam hợp chiếu với Bạch Hổ, cả mười hai tuổi. Ba sao Thái Tuế, Quan Phù, Bạch Hổ chính là bộ mà người xưa gọi là Tuế Hổ Phù; Long Trì ngồi ngay vào chân Quan Phù của bộ ấy. Một cát tinh khoa giáp được cấu trúc gài sẵn vào tam giác danh phận và pháp lý, đó là chỗ đáng suy ngẫm nhất của sao này.
- Long Trì luôn xung chiếu Điếu Khách. Điếu Khách đứng thứ mười một của vòng Thái Tuế, cách Long Trì đúng sáu cung ở cả mười hai tuổi. Nghĩa là cung đối diện cung Long Trì bao giờ cũng có sao chủ lời ra tiếng vào, khách khứa, tin tức từ ngoài đưa tới. Đây là thế cố định, không lá số nào thoát.
- Long Trì luôn bị giáp giữa Thiếu Âm và Tử Phù. Cung liền trước Long Trì theo chiều thuận là Thiếu Âm, cung liền sau là Tử Phù, và vì Nguyệt Đức luôn an trùng cung Tử Phù nên cung liền sau ấy cũng luôn có Nguyệt Đức. Một bên là cát tinh khí âm nhu, một bên là bại tinh nhỏ đi kèm một phúc tinh nhỏ. Thế giáp này cố định trên mọi lá số.
- Long Trì vĩnh viễn không hội chiếu với ba sao hỷ sự. Chạy đủ mười hai tuổi thì khoảng cách giữa Long Trì với Hồng Loan, với Thiên Hỷ và với Đào Hoa luôn là số lẻ. Mà mọi thế hội chiếu đều cần khoảng cách chẵn: đồng cung là không, xung chiếu là sáu, tam hợp là bốn hoặc tám. Kết luận: Long Trì không bao giờ đồng cung, không bao giờ xung chiếu, không bao giờ tam hợp với Hồng Loan, Thiên Hỷ hay Đào Hoa. Long Trì cũng không bao giờ đồng cung với Thiên Mã, với Cô Thần, với Quả Tú, với Thiên Hư, với Thiên Đức và với Nguyệt Đức.
- Không có chính tinh nào bị cấm đứng cùng Long Trì. Chạy đủ mười hai thế Tử Vi cho từng vị trí của Long Trì thì cả mười bốn chính tinh đều có thể đồng cung, tại bất cứ cung nào trong mười hai cung, và cung ấy cũng có thể trống không. Sức của Long Trì vì vậy phụ thuộc hẳn vào chính tinh ngồi cùng chứ nó không kén chính tinh.
Khoảng cách giữa Long Trì và Phượng Các không cố định, và đó là điều quan trọng nhất
Nhiều bài viết nói bộ Long Phượng như thể hai sao luôn đi liền nhau. Cấu trúc không cho phép nói vậy. Long Trì đếm thuận, Phượng Các đếm nghịch, nên khoảng cách giữa hai sao thay đổi theo từng tuổi. Đem hai công thức cộng lại thì thấy ngay quy luật: vị trí Long Trì cộng vị trí Phượng Các luôn ra một tổng cố định, nghĩa là hai sao luôn đối xứng nhau qua trục Sửu Mùi. Trục ấy là bản lề của cả bộ Long Phượng, và mọi hệ quả dưới đây đều sinh ra từ nó.
Tý
- Long Trì tại: Thìn
- Phượng Các và Giải Thần tại: Tuất
- Quan hệ thật giữa hai sao: Xung chiếu, bộ Long Phượng đứng hai đầu một trục
Sửu
- Long Trì tại: Tỵ
- Phượng Các và Giải Thần tại: Dậu
- Quan hệ thật giữa hai sao: Tam hợp chiếu, bộ Long Phượng hội đủ
Dần
- Long Trì tại: Ngọ
- Phượng Các và Giải Thần tại: Thân
- Quan hệ thật giữa hai sao: Cách đúng hai cung, không hội chiếu, chỉ giáp cung Mùi ở giữa
Mão
- Long Trì tại: Mùi
- Phượng Các và Giải Thần tại: Mùi
- Quan hệ thật giữa hai sao: Đồng cung, bộ Long Phượng dính liền
Thìn
- Long Trì tại: Thân
- Phượng Các và Giải Thần tại: Ngọ
- Quan hệ thật giữa hai sao: Cách đúng hai cung, không hội chiếu, chỉ giáp cung Mùi ở giữa
Tỵ
- Long Trì tại: Dậu
- Phượng Các và Giải Thần tại: Tỵ
- Quan hệ thật giữa hai sao: Tam hợp chiếu, bộ Long Phượng hội đủ
Ngọ
- Long Trì tại: Tuất
- Phượng Các và Giải Thần tại: Thìn
- Quan hệ thật giữa hai sao: Xung chiếu, bộ Long Phượng đứng hai đầu một trục
Mùi
- Long Trì tại: Hợi
- Phượng Các và Giải Thần tại: Mão
- Quan hệ thật giữa hai sao: Tam hợp chiếu, bộ Long Phượng hội đủ
Thân
- Long Trì tại: Tý
- Phượng Các và Giải Thần tại: Dần
- Quan hệ thật giữa hai sao: Cách đúng hai cung, không hội chiếu, chỉ giáp cung Sửu ở giữa
Dậu
- Long Trì tại: Sửu
- Phượng Các và Giải Thần tại: Sửu
- Quan hệ thật giữa hai sao: Đồng cung, bộ Long Phượng dính liền
Tuất
- Long Trì tại: Dần
- Phượng Các và Giải Thần tại: Tý
- Quan hệ thật giữa hai sao: Cách đúng hai cung, không hội chiếu, chỉ giáp cung Sửu ở giữa
Hợi
- Long Trì tại: Mão
- Phượng Các và Giải Thần tại: Hợi
- Quan hệ thật giữa hai sao: Tam hợp chiếu, bộ Long Phượng hội đủ
Đọc bảng thì thấy bốn nhóm rành mạch. Đồng cung ở đúng hai tuổi, là tuổi Mão cùng đóng tại Mùi và tuổi Dậu cùng đóng tại Sửu, tức đúng hai cung nằm trên trục đối xứng. Xung chiếu ở đúng hai tuổi, là tuổi Tý với Long Trì tại Thìn Phượng Các tại Tuất, và tuổi Ngọ thì đảo lại. Tam hợp chiếu ở bốn tuổi Sửu, Tỵ, Mùi, Hợi. Không hội chiếu được ở bốn tuổi Dần, Thìn, Thân, Tuất, vì lúc ấy hai sao cách nhau đúng hai cung, mà cách hai cung thì không phải đồng cung, không phải xung, không phải tam hợp; chúng chỉ giáp lấy một cung ở giữa, và cung ở giữa ấy luôn là Sửu hoặc Mùi.
Thầy nhấn mạnh con số: tám tuổi hội đủ bộ Long Phượng, bốn tuổi không. Người sinh năm Dần, Thìn, Thân, Tuất thì trên lá số của mình, Long Trì và Phượng Các đứng cách nhau hai cung và không nhìn thấy nhau. Với những lá số ấy, câu nói bộ Long Phượng đẹp không dùng được, phải luận từng sao một tại từng cung. Đây là chỗ mà rất nhiều bản luận viết sai vì chép theo trí nhớ chứ không chạy số.
Một hệ quả nhỏ mà tiện: âm dương của ba sao
Còn một điều máy chỉ ra mà sách không nói. Vì Long Trì bằng chi cộng bốn và Phượng Các bằng Tuất trừ chi, cả hai phép đều giữ nguyên tính chẵn lẻ của chi năm sinh, nên Long Trì, Phượng Các và Giải Thần luôn đóng ở cung cùng âm dương với chi năm sinh. Người tuổi chi dương là Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất thì cả ba sao đều nằm trong sáu cung dương; người tuổi chi âm là Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi thì cả ba đều nằm trong sáu cung âm. Điều này dùng để kiểm nhanh: nếu quý vị an tay mà thấy Long Trì rơi vào cung khác âm dương với tuổi mình thì chắc chắn đếm nhầm, khỏi cần tra lại bảng.
Cách An Và Đặc Tính Cơ Bản
Long Trì an theo địa chi năm sinh, đi cặp với Phượng Các (Long Trì thuận, Phượng Các nghịch), hợp thành bộ khoa giáp.
Vì là phụ tinh, Long Trì làm rõ hoặc tô đậm tính chất của chính tinh đồng cung và của cung nó tọa thủ, chứ không tự quyết định cục diện một mình.
Đặc Tính Và Mức Đắc Hãm Theo Thư Tịch
Theo Tân Biên, Long Trì cùng Phượng Các chủ sự thông minh, nhân hậu, ôn hòa, vui vẻ. Hai sao liên quan tới việc cưới hỏi, sinh nở, đem lại nhiều may mắn, làm cho công danh tài lộc hưng vượng, làm cho nhà đất thêm cao đẹp rộng rãi.
Long Trì gặp Xương Khúc, Khôi Việt, Tả Hữu kết thành bộ hiền thần chuyên phò tá Tử, Phủ, khiến uy quyền của Tử, Phủ thêm hiển hách. Gặp Phi Liêm, Long Trì đem lại may mắn, vui mừng một cách nhanh chóng.
Quan Hệ Cố Định Của Long Trì Với Các Sao Cùng An Theo Chi Năm Sinh
Long Trì không thuộc vòng sao nào. Bốn vòng lớn của Tử Vi Đẩu Số gồm vòng Thái Tuế đếm theo chi năm sinh, vòng Bác Sĩ đếm theo Lộc Tồn tức can năm sinh, vòng Tràng Sinh đếm theo Cục, và vòng thần sát tam hợp đếm theo tam hợp chi năm; Long Trì không có tên trong bốn danh sách ấy. Nhưng nó lại dùng chung tham số với vòng Thái Tuế, và chính điều đó tạo ra một loạt quan hệ khóa cứng mà quý vị tính được chắc chắn, không cần biết ngày sinh giờ sinh của ai.
Vòng Thái Tuế là vòng mười hai sao an theo chi năm sinh: đặt Thái Tuế vào cung mang tên chi năm sinh rồi đếm thuận lần lượt Thái Tuế, Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Phúc Đức, Điếu Khách, Trực Phù. Vòng này luôn đi thuận, không có bản nghịch, khác vòng Bác Sĩ và vòng Tràng Sinh vốn đổi chiều theo âm dương nam nữ. Vì vậy mọi khoảng cách trong vòng đều tính được chắc chắn cho cả mười hai tuổi.
Tý
- Thái Tuế: Tý
- Thiếu Dương: Sửu
- Tang Môn: Dần
- Thiếu Âm: Mão
- Quan Phù: Thìn
- Tử Phù: Tỵ
- Tuế Phá: Ngọ
- Long Đức: Mùi
- Bạch Hổ: Thân
- Phúc Đức: Dậu
- Điếu Khách: Tuất
- Trực Phù: Hợi
Sửu
- Thái Tuế: Sửu
- Thiếu Dương: Dần
- Tang Môn: Mão
- Thiếu Âm: Thìn
- Quan Phù: Tỵ
- Tử Phù: Ngọ
- Tuế Phá: Mùi
- Long Đức: Thân
- Bạch Hổ: Dậu
- Phúc Đức: Tuất
- Điếu Khách: Hợi
- Trực Phù: Tý
Dần
- Thái Tuế: Dần
- Thiếu Dương: Mão
- Tang Môn: Thìn
- Thiếu Âm: Tỵ
- Quan Phù: Ngọ
- Tử Phù: Mùi
- Tuế Phá: Thân
- Long Đức: Dậu
- Bạch Hổ: Tuất
- Phúc Đức: Hợi
- Điếu Khách: Tý
- Trực Phù: Sửu
Mão
- Thái Tuế: Mão
- Thiếu Dương: Thìn
- Tang Môn: Tỵ
- Thiếu Âm: Ngọ
- Quan Phù: Mùi
- Tử Phù: Thân
- Tuế Phá: Dậu
- Long Đức: Tuất
- Bạch Hổ: Hợi
- Phúc Đức: Tý
- Điếu Khách: Sửu
- Trực Phù: Dần
Thìn
- Thái Tuế: Thìn
- Thiếu Dương: Tỵ
- Tang Môn: Ngọ
- Thiếu Âm: Mùi
- Quan Phù: Thân
- Tử Phù: Dậu
- Tuế Phá: Tuất
- Long Đức: Hợi
- Bạch Hổ: Tý
- Phúc Đức: Sửu
- Điếu Khách: Dần
- Trực Phù: Mão
Tỵ
- Thái Tuế: Tỵ
- Thiếu Dương: Ngọ
- Tang Môn: Mùi
- Thiếu Âm: Thân
- Quan Phù: Dậu
- Tử Phù: Tuất
- Tuế Phá: Hợi
- Long Đức: Tý
- Bạch Hổ: Sửu
- Phúc Đức: Dần
- Điếu Khách: Mão
- Trực Phù: Thìn
Ngọ
- Thái Tuế: Ngọ
- Thiếu Dương: Mùi
- Tang Môn: Thân
- Thiếu Âm: Dậu
- Quan Phù: Tuất
- Tử Phù: Hợi
- Tuế Phá: Tý
- Long Đức: Sửu
- Bạch Hổ: Dần
- Phúc Đức: Mão
- Điếu Khách: Thìn
- Trực Phù: Tỵ
Mùi
- Thái Tuế: Mùi
- Thiếu Dương: Thân
- Tang Môn: Dậu
- Thiếu Âm: Tuất
- Quan Phù: Hợi
- Tử Phù: Tý
- Tuế Phá: Sửu
- Long Đức: Dần
- Bạch Hổ: Mão
- Phúc Đức: Thìn
- Điếu Khách: Tỵ
- Trực Phù: Ngọ
Thân
- Thái Tuế: Thân
- Thiếu Dương: Dậu
- Tang Môn: Tuất
- Thiếu Âm: Hợi
- Quan Phù: Tý
- Tử Phù: Sửu
- Tuế Phá: Dần
- Long Đức: Mão
- Bạch Hổ: Thìn
- Phúc Đức: Tỵ
- Điếu Khách: Ngọ
- Trực Phù: Mùi
Dậu
- Thái Tuế: Dậu
- Thiếu Dương: Tuất
- Tang Môn: Hợi
- Thiếu Âm: Tý
- Quan Phù: Sửu
- Tử Phù: Dần
- Tuế Phá: Mão
- Long Đức: Thìn
- Bạch Hổ: Tỵ
- Phúc Đức: Ngọ
- Điếu Khách: Mùi
- Trực Phù: Thân
Tuất
- Thái Tuế: Tuất
- Thiếu Dương: Hợi
- Tang Môn: Tý
- Thiếu Âm: Sửu
- Quan Phù: Dần
- Tử Phù: Mão
- Tuế Phá: Thìn
- Long Đức: Tỵ
- Bạch Hổ: Ngọ
- Phúc Đức: Mùi
- Điếu Khách: Thân
- Trực Phù: Dậu
Hợi
- Thái Tuế: Hợi
- Thiếu Dương: Tý
- Tang Môn: Sửu
- Thiếu Âm: Dần
- Quan Phù: Mão
- Tử Phù: Thìn
- Tuế Phá: Tỵ
- Long Đức: Ngọ
- Bạch Hổ: Mùi
- Phúc Đức: Thân
- Điếu Khách: Dậu
- Trực Phù: Tuất
Long Trì trùng khít cung Quan Phù, cả mười hai tuổi
Đây là kết luận quan trọng nhất của cả bài. Long Trì cách cung chi năm sinh bốn cung đếm thuận. Quan Phù là sao thứ năm của vòng, tức cũng cách cung chi năm sinh bốn cung đếm thuận. Hai công thức là một. Máy chạy đủ mười hai chi cho kết quả trùng khít mười hai trên mười hai lần: tuổi Tý cả hai ở Thìn, tuổi Sửu ở Tỵ, tuổi Dần ở Ngọ, tuổi Mão ở Mùi, tuổi Thìn ở Thân, tuổi Tỵ ở Dậu, tuổi Ngọ ở Tuất, tuổi Mùi ở Hợi, tuổi Thân ở Tý, tuổi Dậu ở Sửu, tuổi Tuất ở Dần, tuổi Hợi ở Mão. Quý vị đối chiếu cột Quan Phù của bảng vòng bên trên với cột Long Trì của bảng ba sao ở mục trước sẽ thấy hai cột giống nhau từng dòng.
Hệ quả thực dụng thì lớn. Không bao giờ được luận Long Trì một mình. Cung nào có Long Trì thì cung ấy đồng thời mang khí Quan Phù, tức khí của giấy tờ, công văn, pháp lý, tiếng nói của bên có thẩm quyền. Hai nghĩa này không chống nhau, ngược lại chúng bổ cho nhau rất đẹp khi cung tốt: khoa giáp là thi cử và bằng cấp, Quan Phù là con dấu và tờ giấy chứng nhận. Người có Long Trì đóng ở Quan Lộc mà chính tinh sáng thì việc thăng tiến hay đi kèm một tờ quyết định, một chứng chỉ, một giấy phép hành nghề. Nhưng khi cung ấy xấu thì hai nghĩa cũng cộng vào nhau theo chiều xấu: chuyện giấy tờ hóa rắc rối, việc thi cử hóa kiện tụng, danh dự bị đem ra bàn ở chỗ công quyền.
Bốn quan hệ khóa cứng khác, tính bằng máy
- Luôn tam hợp Thái Tuế. Cách bốn cung, cả mười hai tuổi. Thái Tuế chủ danh phận, tiếng nói, năm tuổi. Long Trì đứng trong tam giác của Thái Tuế nghĩa là cái khoa giáp của nó luôn dính vào chuyện danh, chứ không bao giờ là chuyện thuần túy tiền bạc.
- Luôn tam hợp Bạch Hổ. Cách tám cung, cả mười hai tuổi. Ba sao Thái Tuế, Quan Phù cùng Long Trì, Bạch Hổ khép thành một tam giác cố định. Bạch Hổ là hung tinh chủ uy mãnh, tang thương, cũng chủ oai quyền. Điều này nói rằng cát tinh khoa giáp của quý vị không bao giờ ở trong một tam giác toàn cát.
- Luôn xung chiếu Điếu Khách. Cách sáu cung, cả mười hai tuổi. Cung đối diện Long Trì luôn có sao chủ lời bàn từ bên ngoài. Danh dự và tiếng bàn ra tán vào là hai đầu của cùng một trục, cấu trúc đã nói thẳng điều ấy.
- Luôn giáp Thiếu Âm phía trước và Tử Phù cùng Nguyệt Đức phía sau. Cách một cung mỗi bên, cả mười hai tuổi. Thiếu Âm là cát tinh khí âm, chủ việc lành đến chậm và kín; Tử Phù là bại tinh nhỏ chủ hao và sự lụi; Nguyệt Đức là phúc tinh nhỏ chủ ơn che.
- Luôn cách hai cung với Tang Môn và với Tuế Phá, tức hai hung tinh nặng nhất của vòng không bao giờ hội chiếu được với Long Trì. Đây là một điểm lành thật của cấu trúc, và là một trong số ít điểm lành cố định mà sao này có.
Bộ Tứ Linh: sách gọi là bộ, máy nói bộ ấy thiếu ở bốn tuổi
Người luận quen gọi Long Trì, Phượng Các, Bạch Hổ và Hoa Cái là bộ Tứ Linh, lấy tượng bốn con vật thiêng là rồng, phượng, hổ và tán che. Bộ này được coi là cách quý hiển, chủ người có phong thái, có danh vọng, được trọng.
Kiểm bằng thuật toán thì thấy ba trong bốn sao ấy khóa cứng vào nhau: Long Trì luôn tam hợp Bạch Hổ như đã nói, và Long Trì với Hoa Cái thì khoảng cách luôn là không, bốn hoặc tám cung, nghĩa là Long Trì và Hoa Cái luôn đồng cung hoặc luôn tam hợp, không bao giờ lệch ra ngoài tam giác. Ba sao Long Trì, Bạch Hổ, Hoa Cái vì thế lúc nào cũng chung một tam hợp cục. Cái duy nhất không chắc là Phượng Các.
Tý
- Long Trì: Thìn
- Phượng Các: Tuất
- Bạch Hổ: Thân
- Hoa Cái: Thìn
- Bộ Tứ Linh có hội đủ không: Hội đủ trong tam phương tứ chính của Long Trì
Sửu
- Long Trì: Tỵ
- Phượng Các: Dậu
- Bạch Hổ: Dậu
- Hoa Cái: Sửu
- Bộ Tứ Linh có hội đủ không: Hội đủ trong tam phương tứ chính của Long Trì
Dần
- Long Trì: Ngọ
- Phượng Các: Thân
- Bạch Hổ: Tuất
- Hoa Cái: Tuất
- Bộ Tứ Linh có hội đủ không: Thiếu Phượng Các, vì Phượng Các cách Long Trì đúng hai cung
Mão
- Long Trì: Mùi
- Phượng Các: Mùi
- Bạch Hổ: Hợi
- Hoa Cái: Mùi
- Bộ Tứ Linh có hội đủ không: Hội đủ trong tam phương tứ chính của Long Trì
Thìn
- Long Trì: Thân
- Phượng Các: Ngọ
- Bạch Hổ: Tý
- Hoa Cái: Thìn
- Bộ Tứ Linh có hội đủ không: Thiếu Phượng Các, vì Phượng Các cách Long Trì đúng hai cung
Tỵ
- Long Trì: Dậu
- Phượng Các: Tỵ
- Bạch Hổ: Sửu
- Hoa Cái: Sửu
- Bộ Tứ Linh có hội đủ không: Hội đủ trong tam phương tứ chính của Long Trì
Ngọ
- Long Trì: Tuất
- Phượng Các: Thìn
- Bạch Hổ: Dần
- Hoa Cái: Tuất
- Bộ Tứ Linh có hội đủ không: Hội đủ trong tam phương tứ chính của Long Trì
Mùi
- Long Trì: Hợi
- Phượng Các: Mão
- Bạch Hổ: Mão
- Hoa Cái: Mùi
- Bộ Tứ Linh có hội đủ không: Hội đủ trong tam phương tứ chính của Long Trì
Thân
- Long Trì: Tý
- Phượng Các: Dần
- Bạch Hổ: Thìn
- Hoa Cái: Thìn
- Bộ Tứ Linh có hội đủ không: Thiếu Phượng Các, vì Phượng Các cách Long Trì đúng hai cung
Dậu
- Long Trì: Sửu
- Phượng Các: Sửu
- Bạch Hổ: Tỵ
- Hoa Cái: Sửu
- Bộ Tứ Linh có hội đủ không: Hội đủ trong tam phương tứ chính của Long Trì
Tuất
- Long Trì: Dần
- Phượng Các: Tý
- Bạch Hổ: Ngọ
- Hoa Cái: Tuất
- Bộ Tứ Linh có hội đủ không: Thiếu Phượng Các, vì Phượng Các cách Long Trì đúng hai cung
Hợi
- Long Trì: Mão
- Phượng Các: Hợi
- Bạch Hổ: Mùi
- Hoa Cái: Mùi
- Bộ Tứ Linh có hội đủ không: Hội đủ trong tam phương tứ chính của Long Trì
Vậy câu trả lời dứt khoát cho một câu hỏi rất hay bị nói mò: bộ Tứ Linh hội đủ trong tam phương tứ chính của Long Trì ở tám tuổi là Tý, Sửu, Mão, Tỵ, Ngọ, Mùi, Dậu, Hợi, và không hội đủ ở bốn tuổi Dần, Thìn, Thân, Tuất, vì ở bốn tuổi ấy Phượng Các đứng cách Long Trì đúng hai cung. Người tuổi Dần, Thìn, Thân, Tuất mà nghe ai nói lá số mình có Tứ Linh thì nên hỏi lại xem bốn sao ấy đang đứng ở đâu.
Long Trì và bảng Tứ Hóa
Long Trì không nằm trong bảng Tứ Hóa ở cả Nam phái lẫn Bắc phái. Không có tuổi can nào làm cho Long Trì hóa Lộc, hóa Quyền, hóa Khoa hay hóa Kỵ. Nó cũng không tự phát ra hóa để bay đi cung khác. Nhưng nó chịu ảnh hưởng rất rõ từ hóa của chính tinh ngồi cùng cung, và đây là cách đọc:
- Đồng cung với chính tinh hóa Khoa: đây là thế hợp nhất của Long Trì trong cả lá số. Hóa Khoa chủ tiếng thơm, thi cử, bằng cấp, danh dự, đúng lĩnh vực của Long Trì. Hai lớp khoa giáp chồng lên nhau, lại thêm Quan Phù đồng cung lo phần giấy tờ, nên chuyện học hành và chứng chỉ của người này thường trôi chảy hơn người khác.
- Đồng cung với chính tinh hóa Quyền: danh đi liền với quyền. Long Trì làm cho cái quyền ấy có hình thức đẹp, có danh nghĩa chính đáng, đỡ phần thô. Kèm Quan Phù thì quyền ấy hay là quyền có giấy tờ chống lưng chứ không phải quyền do vị thế cá nhân.
- Đồng cung với chính tinh hóa Lộc: Long Trì không giỏi về tiền, nó chỉ làm cho đường tiền có vẻ ngoài chỉnh tề và hợp lệ. Tiền vào theo lối chính danh, hợp đồng rõ, ít khuất tất, nhưng bản thân Long Trì không làm tiền nhiều thêm.
- Đồng cung với chính tinh hóa Kỵ: đây là thế phải cẩn thận nhất, vì Quan Phù cũng ở đó. Hóa Kỵ chủ vướng mắc, dây dưa, mất mát; cộng khí giấy tờ pháp lý của Quan Phù thì cái vướng ấy hay ứng thành chuyện hồ sơ, hợp đồng, thủ tục, hoặc chuyện danh dự bị đem ra nói. Long Trì lúc này chỉ giữ được cái thể diện bề ngoài, không gỡ được cái nút bên trong. Thầy dặn: gặp thế này thì làm giấy tờ cho kỹ, đọc kỹ hợp đồng, lưu bản cứng, đừng tin vào việc mình là người tử tế thì mọi chuyện sẽ ổn.
Vì sao đọc Long Trì phải đọc cả nhóm. Long Trì tự nó là một cát tinh nhỏ, cái nó cho là hình thức đẹp và danh dự, không phải thực lực. Thực lực nằm ở chính tinh, ở Tứ Hóa, ở Lộc Tồn. Nhưng vị trí của nó lại bị cấu trúc gài vào đúng tam giác Tuế Hổ Phù, dính cứng với Quan Phù, đối mặt Điếu Khách, kề Thiếu Âm và Tử Phù. Cho nên khi luận một cung có Long Trì, thứ tự đúng là: xem chính tinh trước, xem hóa của chính tinh ấy, rồi mới cộng Long Trì vào như một lớp phủ về danh dự và hình thức, và cuối cùng phải nhìn sang cung đối diện xem Điếu Khách đang gặp gì.
Hội Họp Các Sao Và Bộ Cách
Long Trì phối với các sao tạo nên các bộ cách quý:
Văn Xương, Văn Khúc
- Ý nghĩa kết hợp: Bộ văn tinh, lợi khoa giáp, học hành.
Khôi, Việt, Tả, Hữu
- Ý nghĩa kết hợp: Bộ hiền thần phò Tử Phủ, uy quyền hiển hách.
Tử Vi, Thiên Phủ
- Ý nghĩa kết hợp: Tăng quý khí, công danh chức vị.
Sát tinh, Tuần Triệt
- Ý nghĩa kết hợp: Giảm cái đẹp, công danh trắc trở.
Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
Trước khi đọc hai cột dưới đây xin nhớ quy tắc về lực, vì cùng một ngôi sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho hai kết quả khác nhau. Đồng cung mạnh nhất, hai sao ngồi chung thì tính chất trộn hẳn vào nhau. Xung chiếu mạnh nhì, cung đối diện chiếu thẳng sang, thấy rõ mà không trộn. Tam hợp chiếu nhẹ hơn, có ảnh hưởng mà không quyết định. Giáp là thế bao vây, hai cung hai bên kẹp lại, thường ứng thành hoàn cảnh chứ không thành sự việc. Riêng với Long Trì thì cấu trúc đã khóa sẵn nhiều thế và không đổi được: Quan Phù chỉ có thể đồng cung, Thái Tuế và Bạch Hổ chỉ có thể tam hợp chiếu, Điếu Khách chỉ có thể xung chiếu, Thiếu Âm và Tử Phù chỉ có thể giáp, còn Hồng Loan, Thiên Hỷ, Đào Hoa, Thiên Mã, Cô Thần, Quả Tú, Thiên Hư, Thiên Đức, Nguyệt Đức thì không thể đồng cung bằng bất cứ đường nào. Đừng đi tìm những thế không tồn tại.
Long Trì phát huy được khi gặp
- Phượng Các (đồng cung ở tuổi Mão và tuổi Dậu là mạnh nhất, xung chiếu ở tuổi Tý và tuổi Ngọ, tam hợp ở tuổi Sửu, Tỵ, Mùi, Hợi): trọn bộ Long Phượng, cách khoa giáp đẹp. Đồng cung thì kéo theo cả Giải Thần nên cung ấy vừa có danh vừa có phần giải trừ.
- Văn Xương, Văn Khúc (đồng cung mạnh nhất, tam hợp và xung chiếu vẫn có tác dụng; an theo giờ sinh nên không cố định): bộ văn tinh thật sự làm nên khoa giáp. Long Trì cho cái danh, Xương Khúc cho cái tài chữ nghĩa để đỡ cái danh ấy. Đây là cặp hợp nhất của Long Trì.
- Hóa Khoa (đồng cung mạnh nhất): cùng lĩnh vực thi cử, bằng cấp, tiếng thơm. Hai lớp chồng nhau, lại có Quan Phù lo phần giấy tờ nên rất thuận cho việc học lên và việc xin chứng chỉ.
- Thiên Khôi, Thiên Việt (đồng cung hoặc chiếu; an theo can năm nên không cố định): quý nhân đứng ra tiến cử. Long Trì chủ cái danh xứng đáng, Khôi Việt chỉ ra ai là người đưa cái danh ấy tới.
- Tả Phụ, Hữu Bật (đồng cung hoặc chiếu; an theo tháng sinh): có người đỡ tay, việc chính thức hóa được. Bộ Xương Khúc Khôi Việt Tả Hữu hội cùng Long Phượng chính là bộ hiền thần mà Tân Biên nói tới.
- Thai Phụ, Phong Cáo (đồng cung hoặc chiếu; an theo giờ sinh nên không cố định, hai sao này luôn cách nhau bốn cung nên chúng luôn tam hợp nhau): bộ sao chủ sắc phong, chức danh, giấy khen. Cùng hướng với Long Trì và với Quan Phù, ba lớp danh dự cộng lại.
- Tam Thai, Bát Tọa (đồng cung hoặc chiếu; an theo ngày sinh phối Tả Hữu nên không có quan hệ cố định nào với Long Trì): chủ ngôi thứ, chỗ ngồi, thứ bậc. Hợp với nghĩa khoa giáp của Long Trì.
- Tử Vi, Thiên Phủ (đồng cung): tăng quý khí, đúng như sách nói bộ hiền thần phò Tử Phủ. Long Trì làm cho cái sang của Tử Phủ có thêm phần nề nếp.
- Bạch Hổ và Hoa Cái (Bạch Hổ luôn tam hợp, Hoa Cái luôn đồng cung hoặc tam hợp): góp thành bộ Tứ Linh khi có đủ Phượng Các. Thế này cho phong thái và sự được trọng, không cho tiền.
- Phi Liêm (đồng cung hoặc chiếu; thuộc vòng Bác Sĩ, an theo can năm nên không cố định): Tân Biên nói Long Trì gặp Phi Liêm thì đem may mắn và tin vui một cách nhanh chóng.
Long Trì e ngại khi gặp
- Tuần, Triệt án ngữ (đóng ngay tại cung có Long Trì là nặng nhất): đây là thế Thầy dặn kỹ nhất. Long Trì vốn chỉ mạnh về hình thức, mà Tuần Triệt lại chuyên chặn phần hình thức, nên việc thi cử dở dang, bằng cấp chậm, danh đến muộn hoặc đến rồi lại mất. Người có thế này nên làm nghề bằng thực chất, đừng trông vào cái mác.
- Hóa Kỵ đồng cung (mạnh nhất khi đồng cung, xung chiếu cũng đáng ngại): cộng với Quan Phù vốn luôn ở đó thì cái vướng hay ứng vào giấy tờ, hợp đồng, hồ sơ, hoặc chuyện danh dự bị đem ra bàn. Phải xử lý gốc chứ Long Trì không gỡ được.
- Kình Dương, Đà La (đồng cung nặng nhất): Kình Dương làm cho việc tranh danh thành tranh chấp thật; Đà La làm cho mọi thủ tục kéo dài lê thê. Cả hai đều đánh thẳng vào chỗ Long Trì yếu.
- Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung): cái đẹp bị làm cho gấp gáp và nóng nảy, hay có chuyện bùng lên rồi tắt. Danh dự dễ tổn thương vì một lời nói lúc nóng.
- Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung): làm rỗng phần hình thức, nghĩa là cái danh có mà không đem lại gì thật. Người ngoài tưởng quý vị đang lên, chỉ quý vị biết là không.
- Điếu Khách (vĩnh viễn chỉ có thể xung chiếu, không tránh được): bản thân thế này là cố định nên không nên coi là điềm xấu. Chỉ cần nhớ rằng cung đối diện luôn có sao chủ lời bàn, nên chuyện của cung có Long Trì hay bị người ngoài biết và bàn.
- Thiên Hình đồng cung (an theo tháng sinh nên không cố định): cộng với Quan Phù thành thế nặng về pháp lý. Không có nghĩa là sẽ kiện tụng, nhưng có nghĩa là việc gì cũng nên làm cho đúng luật và đủ giấy.
- Chính tinh hãm địa (đồng cung): Long Trì không cứu được chính tinh hãm, nó chỉ làm cho cái hãm ấy trông chỉnh tề hơn. Đây là chỗ dễ đọc nhầm nhất, xin xem kỹ mục ranh giới.
Tóm lại, Long Trì là phụ tinh: đi với chính tinh và cát tinh hợp cách thì phát huy mặt hay, gặp sát tinh và hung cách thì lộ mặt yếu. Luôn xét cả lá số.
Long Trì Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Mọi mục phía trên nói về Long Trì tĩnh: nó nằm ở cung nào, đi với ai. Mục này nói về Long Trì động, tức chuyện nó chạm vào đời quý vị lúc nào.
Đại vận đi vào cung có Long Trì
Đại vận là quãng mười năm. Khi đại vận chuyển tới đúng cung có Long Trì bản mệnh thì mười năm ấy mang một sắc thái chung mà Thầy hay gọi là quãng được nhìn thấy. Không nhất thiết là quãng giàu, cũng không nhất thiết là quãng sướng, nhưng là quãng mà tên tuổi, chức danh, bằng cấp, vị trí xã hội của người ấy được xác lập hoặc được nâng lên. Thầy thấy quãng này hay ứng vào bốn loại việc: học lên một bậc, lấy được một chứng chỉ hoặc giấy phép hành nghề, được cất nhắc vào một vị trí có chức danh, và làm xong một bộ giấy tờ lớn như nhà đất, hôn thú, đăng ký doanh nghiệp.
Bốn điều phải xét thêm ngay khi đại vận chạm cung Long Trì. Thứ nhất, cung ấy luôn có Quan Phù, nên mười năm đó chuyện giấy tờ và pháp lý nhiều hơn bình thường; đây là điều trung tính, nó thành tốt hay xấu là do chính tinh và do hóa. Thứ hai, cung đối diện luôn có Điếu Khách, nên quãng ấy quý vị được bàn tới nhiều, khen có chê có; người làm nghề công chúng thì đây là lợi, người ưa yên thì đây là phiền. Thứ ba, phải xem đại vận ấy mang Tứ Hóa gì vào cung: đại vận đem Hóa Khoa tới thì mười năm ấy đúng là mười năm khoa giáp; đại vận đem Hóa Kỵ tới thì Long Trì chỉ giữ được thể diện bề ngoài. Thứ tư, phải xem Phượng Các có chiếu tới cung ấy không, vì với bốn tuổi Dần, Thìn, Thân, Tuất thì Phượng Các đứng cách hai cung và không chiếu tới, bộ Long Phượng không thành, nghĩa khoa giáp phải trông vào Xương Khúc và Hóa Khoa.
Thầy cũng phải nói mặt trái để quý vị khỏi mừng hụt. Đại vận vào cung Long Trì mà lá số vốn thiếu thực lực, tức chính tinh hãm, không Hóa Quyền, không Lộc Tồn, thì mười năm ấy dễ thành mười năm có tiếng mà không có miếng: chức danh có, lời khen có, mà thu nhập và quyền quyết định thì không. Thầy gặp thế này nhiều nhất ở những người làm nghề chữ nghĩa và nghề công. Cách xử là dùng chính mười năm ấy để đổi cái danh thành cái nền: lấy bằng, lấy chứng chỉ, dựng hồ sơ nghề nghiệp, tạo mối quan hệ chính thức, để tới đại vận sau có cái mà tiêu.
Long Trì có bản lưu niên không
Lý do thứ nhất là tham số. Long Trì an theo chi năm sinh, mà mỗi năm lại có một chi mới, nên về nguyên tắc cứ thay chi năm sinh bằng chi của năm đang xem là ra ngay cung Long Trì của năm ấy. Đây khác hẳn vòng Tràng Sinh vốn an theo Cục, mà Cục là con số cố định của một lá số nên không có bản lưu; cũng khác Tả Phụ Hữu Bật an theo tháng sinh và Văn Xương Văn Khúc an theo giờ sinh, hai tham số ấy cố định suốt đời nên cũng không có bản lưu. Lý do thứ hai là Long Trì trùng khít cung Quan Phù, mà vòng Thái Tuế thì chắc chắn có bản lưu niên, nên cung lưu Quan Phù của một năm chính là cung Long Trì của năm ấy. Hai cách tính cho cùng một kết quả, và bảng dưới đây tính sẵn mười hai năm tới.
2026 Bính Ngọ
- Lưu Thái Tuế: Ngọ
- Cung Long Trì của năm, trùng lưu Quan Phù: Tuất
- Cung Phượng Các và Giải Thần của năm: Thìn
- Lưu Tang Môn: Thân
- Lưu Bạch Hổ: Dần
2027 Đinh Mùi
- Lưu Thái Tuế: Mùi
- Cung Long Trì của năm, trùng lưu Quan Phù: Hợi
- Cung Phượng Các và Giải Thần của năm: Mão
- Lưu Tang Môn: Dậu
- Lưu Bạch Hổ: Mão
2028 Mậu Thân
- Lưu Thái Tuế: Thân
- Cung Long Trì của năm, trùng lưu Quan Phù: Tý
- Cung Phượng Các và Giải Thần của năm: Dần
- Lưu Tang Môn: Tuất
- Lưu Bạch Hổ: Thìn
2029 Kỷ Dậu
- Lưu Thái Tuế: Dậu
- Cung Long Trì của năm, trùng lưu Quan Phù: Sửu
- Cung Phượng Các và Giải Thần của năm: Sửu
- Lưu Tang Môn: Hợi
- Lưu Bạch Hổ: Tỵ
2030 Canh Tuất
- Lưu Thái Tuế: Tuất
- Cung Long Trì của năm, trùng lưu Quan Phù: Dần
- Cung Phượng Các và Giải Thần của năm: Tý
- Lưu Tang Môn: Tý
- Lưu Bạch Hổ: Ngọ
2031 Tân Hợi
- Lưu Thái Tuế: Hợi
- Cung Long Trì của năm, trùng lưu Quan Phù: Mão
- Cung Phượng Các và Giải Thần của năm: Hợi
- Lưu Tang Môn: Sửu
- Lưu Bạch Hổ: Mùi
2032 Nhâm Tý
- Lưu Thái Tuế: Tý
- Cung Long Trì của năm, trùng lưu Quan Phù: Thìn
- Cung Phượng Các và Giải Thần của năm: Tuất
- Lưu Tang Môn: Dần
- Lưu Bạch Hổ: Thân
2033 Quý Sửu
- Lưu Thái Tuế: Sửu
- Cung Long Trì của năm, trùng lưu Quan Phù: Tỵ
- Cung Phượng Các và Giải Thần của năm: Dậu
- Lưu Tang Môn: Mão
- Lưu Bạch Hổ: Dậu
2034 Giáp Dần
- Lưu Thái Tuế: Dần
- Cung Long Trì của năm, trùng lưu Quan Phù: Ngọ
- Cung Phượng Các và Giải Thần của năm: Thân
- Lưu Tang Môn: Thìn
- Lưu Bạch Hổ: Tuất
2035 Ất Mão
- Lưu Thái Tuế: Mão
- Cung Long Trì của năm, trùng lưu Quan Phù: Mùi
- Cung Phượng Các và Giải Thần của năm: Mùi
- Lưu Tang Môn: Tỵ
- Lưu Bạch Hổ: Hợi
2036 Bính Thìn
- Lưu Thái Tuế: Thìn
- Cung Long Trì của năm, trùng lưu Quan Phù: Thân
- Cung Phượng Các và Giải Thần của năm: Ngọ
- Lưu Tang Môn: Ngọ
- Lưu Bạch Hổ: Tý
2037 Đinh Tỵ
- Lưu Thái Tuế: Tỵ
- Cung Long Trì của năm, trùng lưu Quan Phù: Dậu
- Cung Phượng Các và Giải Thần của năm: Tỵ
- Lưu Tang Môn: Mùi
- Lưu Bạch Hổ: Sửu
Bảng này dùng được ngay theo ba cách. Cách một, tra xem cung Long Trì của năm rơi vào cung chức nào trên lá số gốc; đó là lĩnh vực mà năm ấy chuyện danh dự, giấy tờ và bằng cấp nổi lên. Cách hai, xem cung ấy có trùng cung Long Trì bản mệnh không; trùng thì đó là năm mà chi của năm trùng chi năm sinh, tức năm tuổi, ứng vào các tuổi mười hai, hai mươi bốn, ba mươi sáu, bốn mươi tám, sáu mươi. Năm ấy hai lớp Long Trì chồng lên nhau, chuyện danh phận nổi rõ, mà lưu Thái Tuế cũng đè lên cung tuổi nên phải xét cả hai. Cách ba, và đây là cách Thầy dùng nhiều nhất khi khách hỏi về thi cử: xem cung Long Trì và cung Phượng Các của năm có chiếu vào cung Quan Lộc hoặc cung Mệnh trên lá số gốc không, rồi mới cộng thêm lưu Xương Khúc và lưu Khôi Việt để kết luận.
Các lưu sao chạm vào cung Long Trì
Ngoài hai cung trên, có bốn nhóm lưu sao đáng xét khi cung có Long Trì bị chạm trong một năm cụ thể:
- Lưu Thái Tuế và cả vòng lưu Thái Tuế. Năm nào lưu Thái Tuế rơi đúng cung Long Trì bản mệnh thì năm ấy khoảng cách giữa hai sao là bốn cung theo chiều ngược, tức cung Long Trì bản mệnh trở thành cung lưu Thái Tuế và chuyện danh phận đưa ra mặt tiền. Năm nào lưu Tang Môn hoặc lưu Bạch Hổ rơi vào đó thì cái danh ấy dễ dính chuyện buồn hoặc chuyện tang, phải xét cả cung Phụ Mẫu.
- Lưu Kình Dương và lưu Đà La, an theo can của năm xem qua lưu Lộc Tồn. Hai sao này rơi vào cung Long Trì thì việc tranh danh dễ thành tranh chấp, hoặc thủ tục bị kéo dài.
- Lưu Văn Xương và lưu Văn Khúc, an theo can năm xem. Đây là cặp lưu sao đáng mừng nhất với Long Trì vì cùng lĩnh vực chữ nghĩa; năm nào lưu Xương hoặc lưu Khúc chiếu vào cung Long Trì thì việc học, việc thi, việc viết lách thuận hơn hẳn.
- Lưu Khôi Việt, an theo can năm xem. Chiếu vào cung Long Trì thì năm ấy hay có người tiến cử, có cơ hội được đề bạt hoặc được mời vào một vị trí có danh.
Một câu dặn cuối cho mục này. Long Trì là sao nhỏ, nên đừng bao giờ lấy riêng nó để quyết một năm tốt hay xấu. Thứ tự đúng khi luận hạn là: xem cung đại vận và cung lưu niên trước, xem chính tinh và Tứ Hóa của hai cung ấy, xem sát tinh và Tuần Triệt, rồi mới cộng các sao nhỏ như Long Trì, Phượng Các, Giải Thần vào để chỉnh sắc thái. Ai làm ngược thứ tự này thì luận đâu sai đó.
Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Long Trì
Long Trì là một cát tinh nhỏ mang cái tên rất đẹp là ao rồng. Tên đẹp thì dễ bị thổi, và bốn hiểu lầm dưới đây Thầy gặp gần như hàng tuần.
Hiểu lầm một: có Long Trì là chắc chắn đỗ đạt
Không. Vì Long Trì an theo chi năm sinh nên mọi lá số đều có Long Trì, mười hai tuổi phủ kín mười hai cung, không sót ai. Nếu chỉ cần có Long Trì là đỗ đạt thì cả nước đã đỗ hết. Điều sách nói là Long Trì chủ khoa giáp, tức nó thuộc về lĩnh vực thi cử và bằng cấp, chứ không phải nó bảo đảm kết quả trong lĩnh vực ấy. Kết quả do chính tinh, do Tứ Hóa, do bộ văn tinh Xương Khúc, do Hóa Khoa quyết định; Long Trì chỉ nói rằng chuyện học hành thi cử là một mạch đáng chú ý của đời người này.
Hiểu lầm hai: bộ Long Phượng lúc nào cũng có, chỉ cần tìm là thấy
Sai, và đây là hiểu lầm tai hại nhất vì nó dẫn tới việc luận bừa. Máy chạy đủ mười hai chi cho kết quả rõ ràng: bộ Long Phượng chỉ hội đủ trong tam phương tứ chính ở tám tuổi, còn bốn tuổi Dần, Thìn, Thân, Tuất thì hai sao cách nhau đúng hai cung và vĩnh viễn không nhìn thấy nhau. Với bốn tuổi ấy, người luận phải nói thẳng là bộ Long Phượng không thành trên lá số này, rồi luận từng sao tại từng cung, chứ không được mượn cái tiếng của bộ đôi để tô cho một sao lẻ.
Hiểu lầm ba: Long Trì chủ cưới hỏi nên gặp Hồng Loan là song hỷ
Tân Biên có nói bộ Long Phượng liên quan tới việc cưới hỏi và sinh nở, điều ấy đúng, bài này không phủ nhận. Nhưng cái liên quan ấy là liên quan về nghĩa, không phải liên quan về cấu trúc, và nhiều người đã đẩy nó đi quá xa thành câu Long Trì gặp Hồng Loan thì cưới. Máy nói rõ điều ngược lại: khoảng cách giữa Long Trì với Hồng Loan, với Thiên Hỷ và với Đào Hoa luôn là số lẻ ở cả mười hai tuổi, mà mọi thế hội chiếu đều cần khoảng cách chẵn, nên Long Trì không bao giờ đồng cung, không bao giờ xung chiếu, không bao giờ tam hợp với ba sao hỷ sự ấy. Phượng Các và Giải Thần cũng vậy. Nghĩa là cái cách gọi là Long Trì gặp Hồng Loan thì hoàn toàn không tồn tại trên bất kỳ lá số nào. Ai luận cho quý vị bằng thế ấy là người chưa từng chạy số.
Hiểu lầm bốn: có Long Trì thì không sợ Quan Phù
Ngược lại hẳn. Long Trì luôn ngồi chung cung với Quan Phù, mười hai trên mười hai tuổi, nên không có chuyện Long Trì hóa giải được Quan Phù; hai sao là một chỗ. Cách đọc đúng là coi cung ấy có hai lớp nghĩa cùng chảy: lớp danh dự và lớp giấy tờ pháp lý. Cung tốt thì hai lớp bổ nhau, thành ra người có danh chính ngôn thuận, có bằng có dấu. Cung xấu thì hai lớp cũng cộng lại, thành ra chuyện danh dự bị đưa vào hồ sơ. Muốn nhẹ phần Quan Phù thì phải trông vào Hóa Khoa, vào Thiên Lương, vào Thiên Đức Nguyệt Đức, chứ không trông vào Long Trì.
Một ranh giới nữa về chữ nghĩa
Cần phân biệt Quan Phù của vòng Thái Tuế, an theo chi năm sinh, với Quan Phủ của vòng Bác Sĩ, an theo Lộc Tồn tức can năm sinh. Hai sao khác nhau, tên đọc gần giống nhau, và nhiều bài viết trên mạng nhập chung làm một. Long Trì chỉ dính cứng với Quan Phù của vòng Thái Tuế; với Quan Phủ của vòng Bác Sĩ thì không có quan hệ cố định nào, vì hai sao an theo hai tham số khác nhau.
Lời Khuyên Và Cách Dùng Long Trì Cho Đúng
Với một cát tinh nhỏ thì lời khuyên không phải là cách hóa giải cái xấu, mà là cách biến cái hình thức đẹp thành cái nền thật. Thầy chia làm ba nhóm.
Dùng đúng cái mà Long Trì cho
- Cái nó cho là cánh cửa, không phải căn phòng. Long Trì làm cho người khác có thiện cảm ban đầu, làm cho hồ sơ của quý vị coi được, làm cho quý vị được mời vào bàn. Còn ngồi được ở bàn ấy bao lâu thì do thực lực. Vậy nên đã có cửa mở thì phải bước vào và học cho tới nơi.
- Đầu tư vào bằng cấp và chứng chỉ, vì đó đúng là mạch của quý vị. Thầy thấy người có Long Trì đẹp mà không chịu học tiếp thì tới tuổi bốn mươi hay tiếc, vì cái duyên với chuyện thi cử của họ mạnh hơn người thường, bỏ phí thì uổng.
- Giữ giấy tờ cho gọn. Vì Quan Phù luôn ngồi cùng cung, nên nếp giữ hồ sơ, hợp đồng, bằng cấp, giấy tờ nhà đất một cách ngăn nắp là việc thực dụng nhất mà người có Long Trì nên làm. Một tủ hồ sơ gọn gàng đáng giá hơn mọi vật phẩm phong thủy.
Nếu Long Trì của quý vị bị lấn át
- Đếm sát tinh trước khi mừng. Cung có Long Trì mà từ hai sát tinh trở lên thì coi như không có cát tinh, phải luận cung ấy theo lối bình thường và phòng bị theo lối bình thường.
- Gặp Tuần Triệt án ngữ thì đừng trông vào cái mác. Đây là thế Thầy dặn kỹ nhất. Người có Long Trì bị Tuần Triệt nên chọn nghề trả công theo kết quả chứ đừng chọn nghề trả công theo danh phận, vì cái danh của họ đến muộn và hay dở dang.
- Gặp Hóa Kỵ đồng cung thì vẫn phải xử lý gốc. Long Trì làm cho cái vướng trông đỡ khó coi, không làm cho nó biến mất. Hồ sơ vẫn phải làm lại, hợp đồng vẫn phải sửa, lời hứa vẫn phải thực hiện.
- Tuổi Dần, Thìn, Thân, Tuất thì đừng đi tìm bộ Long Phượng. Cấu trúc không cho, tìm cũng không ra. Hãy trông vào Văn Xương Văn Khúc, vào Hóa Khoa, vào Thai Phụ Phong Cáo và Tam Thai Bát Tọa để bù phần khoa giáp.
Điều Thầy muốn nói thẳng
Không có phép nào đổi được vị trí của Long Trì, vì nó do chi năm sinh định ra và cố định suốt đời. Cái đổi được là cách quý vị hành xử trong lĩnh vực mà nó chỉ tới, tức lĩnh vực học hành, danh dự và giấy tờ. Ai bán cho quý vị một món đồ nói là kích được Long Trì, mở được khoa giáp, thì người ấy đang bán niềm tin chứ không bán mệnh lý. Thầy không làm việc ấy và cũng khuyên quý vị đừng mua.
Còn một điều nữa phải nói, vì nó hay xảy ra đúng với những người có bộ Long Phượng đẹp. Cái nguy của sao này không nằm ở tai họa mà nằm ở thói sống bằng hình thức. Người được khen dáng dấp coi được, ăn nói có chừng, hồ sơ đẹp, thì rất dễ quen với việc được đánh giá cao hơn thực lực, và tới lúc phải làm việc thật thì hụt. Thầy khuyên mỗi vài năm nên tự hỏi một câu thô: nếu bỏ hết chức danh và bằng cấp đi thì mình còn làm được cái gì bằng tay. Trả lời được câu ấy thì Long Trì mới thành của mình.
Phong thủy bổ trợ, ghi rõ đây là gợi ý chung: những cách dưới đây thuộc về nếp sống và bài trí, không phải phép thuật, và không thay đổi được lá số. Người có Long Trì nên có một góc làm việc sáng sủa, bàn rộng, đủ chỗ bày sách vở và hồ sơ, vì nếp làm việc gọn gàng hợp với mạch chữ nghĩa của sao này. Bằng cấp và giấy khen nếu treo thì treo ở chỗ làm việc chứ đừng treo ở phòng khách, để nó nhắc mình chứ không phải để khoe khách. Hồ sơ quan trọng nên có bản cứng lưu một chỗ cố định và bản mềm sao lưu, đây là việc thực dụng chứ không cần tin gì thêm. Giữ nếp học một thứ mới mỗi năm, dù nhỏ, cũng nên coi là cách bồi cho mạch khoa giáp của thời nay. Ngoài chừng ấy, đừng trông đợi hơn.
Câu hỏi thường gặp
Long Trì là sao chủ khoa giáp và may mắn trong Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Thủy, đi cặp với Phượng Các. Bộ Long Phượng chủ thông minh, đỗ đạt, cưới hỏi, sinh nở và làm công danh tài lộc hưng vượng.
Long Trì và Phượng Các giáp hoặc hội chiếu nhau tạo thành bộ Long Phượng đầy đủ, là cách khoa giáp đẹp, báo đỗ đạt, công danh và những việc tốt lành như cưới hỏi.
Long Trì là cát tinh, chủ may mắn, thông minh, nhân hậu. Gặp Xương Khúc, Khôi Việt, Tả Hữu thì thành bộ hiền thần phò Tử Phủ; chỉ khi gặp sát tinh hay Tuần Triệt mới giảm tốt.
Long Trì an theo địa chi năm sinh, đi cặp với Phượng Các trong lá số.
Có, và đây là điều bất biến tuyệt đối. Long Trì an tại cung mang chi năm sinh đếm thuận thêm bốn cung. Quan Phù là sao thứ năm của vòng Thái Tuế, tức cũng cách cung chi năm sinh đúng bốn cung đếm thuận. Hai công thức trùng khít nhau, nên chạy đủ mười hai địa chi bằng thuật toán an sao thì Long Trì và Quan Phù ngồi chung một cung ở cả mười hai trường hợp, không sót tuổi nào. Hệ quả là mọi lời luận về Long Trì đều phải đọc kèm Quan Phù: một sao chủ khoa giáp danh dự, một sao chủ giấy tờ pháp lý và tiếng nói công quyền. Xin phân biệt Quan Phù của vòng Thái Tuế với Quan Phủ của vòng Bác Sĩ, hai sao khác nhau, an theo hai tham số khác nhau.
Chạy đủ mười hai chi bằng máy thì kết quả cố định như sau. Đồng cung ở đúng hai tuổi: tuổi Mão thì cả hai cùng đóng tại Mùi, tuổi Dậu thì cả hai cùng đóng tại Sửu. Xung chiếu ở đúng hai tuổi: tuổi Tý thì Long Trì tại Thìn và Phượng Các tại Tuất, tuổi Ngọ thì Long Trì tại Tuất và Phượng Các tại Thìn. Tam hợp chiếu ở bốn tuổi Sửu, Tỵ, Mùi, Hợi. Còn bốn tuổi Dần, Thìn, Thân, Tuất thì hai sao cách nhau đúng hai cung, tức không hội chiếu được, chỉ giáp lấy một cung ở giữa, và cung ở giữa ấy luôn là Sửu hoặc Mùi. Vậy bộ Long Phượng hội đủ trong tam phương tứ chính ở tám tuổi và không hội được ở bốn tuổi.
Vì khoảng cách giữa chúng luôn là số lẻ, mà mọi thế hội chiếu trong Tử Vi đều cần khoảng cách chẵn: đồng cung là không, xung chiếu là sáu, tam hợp là bốn hoặc tám. Kiểm bằng thuật toán trên cả mười hai tuổi thì Long Trì cách Hồng Loan, cách Thiên Hỷ và cách Đào Hoa luôn một số lẻ cung, Phượng Các cũng vậy. Kết quả là Long Trì, Phượng Các và Giải Thần vĩnh viễn không đồng cung, không xung chiếu và không tam hợp với ba sao hỷ sự ấy trên bất kỳ lá số nào. Đây là điều cần nhớ khi đọc câu sách nói bộ Long Phượng liên quan tới cưới hỏi và sinh nở: cái liên quan ấy là liên quan về nghĩa, không phải liên quan về cấu trúc.