Tử Vi

Sao Lực Sĩ: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung

Tìm hiểu sao Lực Sĩ trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.

Đạo Quán33 phút đọc

Tổng quan về sao Lực Sĩ

Lực Sĩ là sao thứ hai của vòng Bác Sĩ, mang khí dương mạnh. Đây là một sao nhỏ chủ về sức lực, quyền thế, khả năng gánh vác và uy lực, gắn với sự cứng cỏi và chí tiến thủ.

  • Ngũ hành: Hỏa
  • Nhóm: Vòng Bác Sĩ
  • Cách an: Theo sao Lộc Tồn
  • Cai quản: sức lực, quyền thế, gánh vác
  • Tính chất: Sức lực, quyền thế

Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.

Ý nghĩa tại cung Mệnh

  • Lực Sĩ gặp cát, chính tinh sáng: Người cứng cỏi, chịu được áp lực, dám nhận việc khó và làm tới nơi; có uy tự nhiên, nói ít mà người khác nghe. Thân thể thường khỏe, sức bền hơn người.
  • Lực Sĩ gặp hung, chính tinh hãm: Cương quá hóa bướng, hay dùng sức thay vì dùng lời; ôm việc rồi tự làm mình kiệt. Có Kình Dương cùng ô thì nóng và bộc, có Đà La thì lì và dai dẳng.

Ý nghĩa ở các cung khác

Đối chiếu ý nghĩa của Lực Sĩ với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.

Cung Phụ Mẫu

  • Lực Sĩ gặp cát, chính tinh sáng: Cha mẹ nghiêm mà có sức, là chỗ dựa thật; được rèn từ nhỏ nên vào đời cứng cáp.
  • Lực Sĩ gặp hung, chính tinh hãm: Cha mẹ nghiêm quá thành áp lực, ít lời khen; quan hệ trên dưới trong nhà nặng về mệnh lệnh.

Cung Phúc Đức

  • Lực Sĩ gặp cát, chính tinh sáng: Ý chí mạnh, không dễ gục, gặp việc lớn vẫn giữ được mình; đây là mặt hay nhất của Lực Sĩ.
  • Lực Sĩ gặp hung, chính tinh hãm: Tâm không nghỉ, lúc nào cũng thấy phải gồng; khó buông, khó cho phép mình dừng lại.

Cung Điền Trạch

  • Lực Sĩ gặp cát, chính tinh sáng: Nhà cửa chắc chắn, có chỗ để đồ nặng, có sân có xưởng; tự tay sửa sang được.
  • Lực Sĩ gặp hung, chính tinh hãm: Nhà hay phải sửa chữa, đập đi làm lại; tranh chấp ranh giới hoặc chuyện xây cất với hàng xóm.

Cung Quan Lộc

  • Lực Sĩ gặp cát, chính tinh sáng: Hợp nghề cần sức, cần kỷ luật, cần chịu áp lực: quân đội, công an, thể thao, kỹ thuật, xây dựng, vận hành, y tế cấp cứu, quản lý sản xuất. Có thực quyền trong phần việc của mình.
  • Lực Sĩ gặp hung, chính tinh hãm: Việc nặng mà công không tương xứng; hay phải gánh phần của người khác. Dễ va chạm với cấp trên vì thẳng quá.

Cung Nô Bộc

  • Lực Sĩ gặp cát, chính tinh sáng: Có người dưới đắc lực, sai được việc nặng; bạn bè là người thực làm chứ không nói suông.
  • Lực Sĩ gặp hung, chính tinh hãm: Cấp dưới cứng đầu, khó bảo; bạn bè hay nhờ việc nặng rồi quên ơn.

Cung Thiên Di

  • Lực Sĩ gặp cát, chính tinh sáng: Ra ngoài có uy, được người nể; hợp việc phải đi lại, phải hiện diện, phải đứng ra thay mặt.
  • Lực Sĩ gặp hung, chính tinh hãm: Ra ngoài dễ va chạm, dễ bị kéo vào việc của người khác; đi đường nên cẩn thận, nhất là năm có lưu sát tới.

Cung Tật Ách

  • Lực Sĩ gặp cát, chính tinh sáng: Sức đề kháng tốt, ốm rồi hồi nhanh; hợp rèn luyện thân thể đều đặn để giữ nền.
  • Lực Sĩ gặp hung, chính tinh hãm: Hay gặp chuyện thuộc gân cốt, cơ khớp, răng, va đập và thương tích do vận động hoặc do lao lực. Kình Dương cùng ô thì thiên về chấn thương cấp, Đà La thì thiên về đau mạn tính.

Cung Tài Bạch

  • Lực Sĩ gặp cát, chính tinh sáng: Tiền kiếm được bằng sức và bằng bản lĩnh, làm nhiều hưởng nhiều; hợp việc trả công theo kết quả hơn là theo giờ.
  • Lực Sĩ gặp hung, chính tinh hãm: Kiếm cực mà tiêu cũng nhanh, vì Đại Hao luôn tam hợp chiếu về. Đừng vay để làm lớn khi cung này còn thêm Hóa Kỵ.

Cung Tử Tức

  • Lực Sĩ gặp cát, chính tinh sáng: Con khỏe mạnh, hiếu động, có sức và có chí; hợp cho con theo thể thao hoặc nghề cần rèn.
  • Lực Sĩ gặp hung, chính tinh hãm: Con ngang bướng, khó bảo bằng lời, dạy bằng roi thì hỏng; nuôi con vất, hay phải theo sát.

Cung Phu Thê

  • Lực Sĩ gặp cát, chính tinh sáng: Bạn đời có bản lĩnh, gánh vác được, là chỗ dựa lúc khó; hai người hợp nhau theo kiểu cùng chịu khó.
  • Lực Sĩ gặp hung, chính tinh hãm: Hai bên đều cứng, ai cũng muốn giữ phần đúng; dễ to tiếng. Lực Sĩ ở đây không chủ ly biệt, chỉ chủ va.

Cung Huynh Đệ

  • Lực Sĩ gặp cát, chính tinh sáng: Anh chị em có người mạnh mẽ, làm trụ cột, gánh việc nhà; bạn bè thân là người dám xắn tay giúp việc thật.
  • Lực Sĩ gặp hung, chính tinh hãm: Trong nhà có người tính nóng, hay va chạm; việc chung dễ thành tranh cãi ai làm nhiều ai làm ít.

Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc

Lực Sĩ không có công thức an riêng. Sách chỉ ghi rằng vòng mười hai sao khởi từ cung có Lộc Tồn, Bác Sĩ đứng ngay ô ấy, rồi Lực Sĩ là sao kế tiếp, cách Bác Sĩ đúng một cung. Chiều đếm theo âm dương của can năm và giới tính: dương nam âm nữ đếm thuận, âm nam dương nữ đếm nghịch. Mà Lộc Tồn thì an theo thiên can năm sinh, không dính tới tháng, giờ, ngày hay cục. Vậy Lực Sĩ chỉ cần hai dữ kiện là xác định được: can năm sinh và chiều đếm.

Từ hai câu ngắn ấy rút ra kết luận đáng giá nhất của cả bài, đã chạy máy kiểm đủ mười can cả hai chiều. Kình Dương an tại cung liền sau Lộc Tồn, Đà La an tại cung liền trước, đó là quy tắc cứng của bộ Lộc Kình Đà. Lực Sĩ cũng đứng cách Lộc Tồn đúng một cung. Hai điều ấy chồng lên nhau cho ra: khi đếm thuận, Lực Sĩ rơi đúng cung Kình Dương; khi đếm nghịch, Lực Sĩ rơi đúng cung Đà La. Mười trên mười, không có ngoại lệ. Nói cách khác, Lực Sĩ không bao giờ đứng một mình mà không có sát tinh bên cạnh, nó luôn ngồi chung ô với một trong hai sao ấy. Đây là điều Thầy muốn quý vị nhớ trước tiên, vì nó giải thích vì sao sách gán cho Lực Sĩ chữ sức lực và chữ uy: cái sức ấy vốn dĩ đã có sẵn một lưỡi dao hoặc một khối đá đi kèm.

Bảng dưới đây đặt ba sao cùng an theo can năm cạnh nhau, làm gốc để tra. Bảng thứ hai ở mục sau sẽ ghép thẳng cột Lực Sĩ vào để quý vị thấy sự trùng khớp.

Giáp

  • Lộc Tồn: Dần
  • Kình Dương: Mão
  • Đà La: Sửu

Ất

  • Lộc Tồn: Mão
  • Kình Dương: Thìn
  • Đà La: Dần

Bính

  • Lộc Tồn: Tỵ
  • Kình Dương: Ngọ
  • Đà La: Thìn

Đinh

  • Lộc Tồn: Ngọ
  • Kình Dương: Mùi
  • Đà La: Tỵ

Mậu

  • Lộc Tồn: Tỵ
  • Kình Dương: Ngọ
  • Đà La: Thìn

Kỷ

  • Lộc Tồn: Ngọ
  • Kình Dương: Mùi
  • Đà La: Tỵ

Canh

  • Lộc Tồn: Thân
  • Kình Dương: Dậu
  • Đà La: Mùi

Tân

  • Lộc Tồn: Dậu
  • Kình Dương: Tuất
  • Đà La: Thân

Nhâm

  • Lộc Tồn: Hợi
  • Kình Dương: Tý
  • Đà La: Tuất

Quý

  • Lộc Tồn: Tý
  • Kình Dương: Sửu
  • Đà La: Hợi

Năm điều bất biến của Lực Sĩ

  • Luôn đồng cung với một sát tinh. Đếm thuận thì trùng Kình Dương, đếm nghịch thì trùng Đà La. Không có lá số nào Lực Sĩ đứng riêng khỏi cả hai sao ấy.
  • Không bao giờ đồng cung Lộc Tồn và Bác Sĩ, nhưng luôn kề bên. Khoảng cách vĩnh viễn là một cung, mà một cung thì không nằm trong tam phương tứ chính. Nghĩa là Lực Sĩ cũng không bao giờ xung chiếu hay tam hợp với Lộc Tồn; nó chỉ có thể giáp, và luôn giáp.
  • Luôn nằm giữa Bác Sĩ và Thanh Long. Ba sao đầu vòng đi liền ba cung, nên hai cung kề Lực Sĩ chắc chắn là một bên Bác Sĩ cùng Lộc Tồn, một bên Thanh Long.
  • Người đếm thuận thì Lực Sĩ không bao giờ ở tứ sinh. Kình Dương chỉ đóng tại Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất, nên bốn cung Dần, Tỵ, Thân, Hợi vĩnh viễn không có Lực Sĩ. Người đếm nghịch thì ngược lại: Đà La chỉ đóng tại Sửu, Dần, Thìn, Tỵ, Mùi, Thân, Tuất, Hợi, nên bốn cung Tý, Mão, Ngọ, Dậu vĩnh viễn không có Lực Sĩ. Bốn cung tứ mộ Thìn Tuất Sửu Mùi thì chiều nào cũng có thể.
  • Không liên quan gì tới vòng Tử Vi. Vị trí Tử Vi tính từ cục và ngày sinh, vị trí Lực Sĩ tính từ can năm. Chạy đủ mười hai thế Tử Vi cho từng cung, kết quả đều ra đủ mười bốn chính tinh, nghĩa là bất kỳ chính tinh nào cũng có thể đứng chung cung với Lực Sĩ, và cũng có thể là cung trống.

Một điều bảng không nói ra được. Vì Lực Sĩ dính chặt một sát tinh, nên khi luận thực tế, Lực Sĩ không phải nguồn của cái mạnh, nó là cách gọi tên cái mạnh ấy. Lực thật nằm ở Kình Dương hoặc Đà La, hai sao có sức nặng riêng và được sách bàn kỹ. Lực Sĩ thêm vào một lớp nghĩa: cái sát ấy được dùng như sức, như việc phải gánh, như trách nhiệm, chứ không thuần là tai họa. Thầy vẫn nói với học trò rằng Lực Sĩ là chỗ khoa Tử Vi nhìn sát tinh bằng con mắt công việc, và đó là cách nhìn tử tế nhất về Kình Đà mà cổ nhân để lại.

Nhắc Lại Gọn Cách An Cho Người Mới

Vòng Bác Sĩ gồm mười hai sao an theo sao Lộc Tồn. Bác Sĩ luôn đứng cùng cung với Lộc Tồn, rồi lần lượt Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ được an theo chiều thuận với người dương nam âm nữ và nghịch với người âm nam dương nữ.

Với Lực Sĩ, câu ấy có một kết quả rất gọn mà nhiều người chưa để ý: đếm một cung từ Lộc Tồn theo chiều thuận thì gặp Kình Dương, đếm một cung theo chiều nghịch thì gặp Đà La. Vậy nên Lực Sĩ không bao giờ đứng một mình, nó luôn rơi đúng vào ô của một trong hai sát tinh ấy. Chi tiết và bằng chứng máy chạy đủ mười can nằm ở mục hai và mục năm.

Đặc Tính Của Lực Sĩ Theo Tân Biên

Lực Sĩ mang khí của sức mạnh và quyền lực. Ở cung Mệnh hay Quan, nó tăng sự cứng cỏi, có uy, dám gánh vác và chịu được áp lực. Người có Lực Sĩ thường có chí, thích nắm việc, hợp môi trường cần sức và bản lĩnh.

Là sao nhỏ, Lực Sĩ phát huy khi đi cùng chính tinh sáng và sao quyền; gặp sát tinh thì cái mạnh dễ thành cương bạo.

Vị Trí Của Lực Sĩ Trong Vòng Mười Hai Sao

Tử Vi Đẩu Số có bốn vòng phụ tinh, mỗi vòng đúng mười hai sao chạy liền nhau theo thứ tự cố định: vòng Thái Tuế khởi từ cung có chi năm sinh, vòng Tràng Sinh khởi theo cục, vòng Thần Sát khởi từ Kiếp Sát theo tam hợp chi năm, và vòng Bác Sĩ khởi từ cung có Lộc Tồn, tức khởi theo thiên can năm sinh. Lực Sĩ thuộc vòng thứ tư ấy.

Thứ tự mười hai sao, đếm từ Bác Sĩ đi: Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ. Can dương là Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm; can âm là Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý. Dương nam và âm nữ đếm thuận, âm nam và dương nữ đếm nghịch, đúng quy tắc quyết định chiều đi của đại vận. Ai đại vận đi thuận thì vòng Bác Sĩ của người ấy cũng đi thuận.

Lực Sĩ giữ vị trí số một, tức sao đầu tiên sau điểm khởi. Sao đứng trước nó là Bác Sĩ, luôn cùng ô với Lộc Tồn; sao đứng sau nó là Thanh Long. Vì cả ba đi liền ba cung nên Lực Sĩ vĩnh viễn bị kẹp giữa hai sao ấy, và cũng vì thế nó vĩnh viễn giáp Lộc Tồn. Đây là điểm rất đáng nói: Lực Sĩ là sao duy nhất trong vòng vừa mang một sát tinh trong ô của mình, vừa được Lộc Tồn kề ngay bên cạnh. Một bên là sức, một bên là nguồn nuôi.

Bốn quan hệ cứng giữa Lực Sĩ và bộ Lộc Kình Đà

  • Đếm thuận: Lực Sĩ trùng đúng cung Kình Dương, mười trên mười. Cùng lúc ấy Quan Phủ trùng cung Đà La.
  • Đếm nghịch: Lực Sĩ trùng đúng cung Đà La, mười trên mười. Cùng lúc ấy Quan Phủ trùng cung Kình Dương.
  • Lực Sĩ không bao giờ đồng cung, xung chiếu hay tam hợp với Lộc Tồn và Bác Sĩ, vì khoảng cách luôn đúng một cung. Nó chỉ giáp, và luôn giáp.
  • Sao còn lại trong bộ ba luôn ở phía đối diện: người đếm thuận thì Lực Sĩ ngồi với Kình Dương và Đà La nằm cách hai cung ở phía bên kia Lộc Tồn; người đếm nghịch thì đổi vai. Muốn biết cái sát nào đang ở cùng ô với sức lực của mình, chỉ cần hỏi chiều đếm.

Giáp

  • Lộc Tồn và Bác Sĩ: Dần
  • Lực Sĩ khi thuận: Mão
  • Kình Dương: Mão
  • Lực Sĩ khi nghịch: Sửu
  • Đà La: Sửu

Ất

  • Lộc Tồn và Bác Sĩ: Mão
  • Lực Sĩ khi thuận: Thìn
  • Kình Dương: Thìn
  • Lực Sĩ khi nghịch: Dần
  • Đà La: Dần

Bính

  • Lộc Tồn và Bác Sĩ: Tỵ
  • Lực Sĩ khi thuận: Ngọ
  • Kình Dương: Ngọ
  • Lực Sĩ khi nghịch: Thìn
  • Đà La: Thìn

Đinh

  • Lộc Tồn và Bác Sĩ: Ngọ
  • Lực Sĩ khi thuận: Mùi
  • Kình Dương: Mùi
  • Lực Sĩ khi nghịch: Tỵ
  • Đà La: Tỵ

Mậu

  • Lộc Tồn và Bác Sĩ: Tỵ
  • Lực Sĩ khi thuận: Ngọ
  • Kình Dương: Ngọ
  • Lực Sĩ khi nghịch: Thìn
  • Đà La: Thìn

Kỷ

  • Lộc Tồn và Bác Sĩ: Ngọ
  • Lực Sĩ khi thuận: Mùi
  • Kình Dương: Mùi
  • Lực Sĩ khi nghịch: Tỵ
  • Đà La: Tỵ

Canh

  • Lộc Tồn và Bác Sĩ: Thân
  • Lực Sĩ khi thuận: Dậu
  • Kình Dương: Dậu
  • Lực Sĩ khi nghịch: Mùi
  • Đà La: Mùi

Tân

  • Lộc Tồn và Bác Sĩ: Dậu
  • Lực Sĩ khi thuận: Tuất
  • Kình Dương: Tuất
  • Lực Sĩ khi nghịch: Thân
  • Đà La: Thân

Nhâm

  • Lộc Tồn và Bác Sĩ: Hợi
  • Lực Sĩ khi thuận: Tý
  • Kình Dương: Tý
  • Lực Sĩ khi nghịch: Tuất
  • Đà La: Tuất

Quý

  • Lộc Tồn và Bác Sĩ: Tý
  • Lực Sĩ khi thuận: Sửu
  • Kình Dương: Sửu
  • Lực Sĩ khi nghịch: Hợi
  • Đà La: Hợi

Khoảng cách trong vòng cố định, nên quan hệ tam hợp và xung chiếu giữa các sao cùng vòng cũng cố định, không đổi theo can và không đổi theo chiều. Với Lực Sĩ ở vị trí số một: sao xung chiếu luôn là Hỷ Thần, hai chân tam hợp luôn là Tấu Thư và Đại Hao. Ba sao ấy có mặt trong tam phương tứ chính của Lực Sĩ ở mọi lá số. Chi tiết này đáng suy nghĩ: cái sức lực luôn có Tấu Thư chiếu về, tức luôn có phần trình bày và giấy tờ đi kèm; và luôn có Đại Hao chiếu về, tức ra sức thì đi liền với hao lớn, không tách được. Bù lại, Hỷ Thần ở thế xung chiếu cho một mạch vui đối diện, nhắc rằng gánh nặng và tin mừng vốn là hai mặt của một cung.

Bảng dưới đây in đủ mười hai sao của vòng theo cả mười can, trường hợp đếm thuận. Người đếm nghịch lấy Bác Sĩ làm gốc rồi soi gương lại thứ tự.

Giáp

  • Bác Sĩ: Dần
  • Lực Sĩ: Mão
  • Thanh Long: Thìn
  • Tiểu Hao: Tỵ
  • Tướng Quân: Ngọ
  • Tấu Thư: Mùi
  • Phi Liêm: Thân
  • Hỷ Thần: Dậu
  • Bệnh Phù: Tuất
  • Đại Hao: Hợi
  • Phục Binh: Tý
  • Quan Phủ: Sửu

Ất

  • Bác Sĩ: Mão
  • Lực Sĩ: Thìn
  • Thanh Long: Tỵ
  • Tiểu Hao: Ngọ
  • Tướng Quân: Mùi
  • Tấu Thư: Thân
  • Phi Liêm: Dậu
  • Hỷ Thần: Tuất
  • Bệnh Phù: Hợi
  • Đại Hao: Tý
  • Phục Binh: Sửu
  • Quan Phủ: Dần

Bính

  • Bác Sĩ: Tỵ
  • Lực Sĩ: Ngọ
  • Thanh Long: Mùi
  • Tiểu Hao: Thân
  • Tướng Quân: Dậu
  • Tấu Thư: Tuất
  • Phi Liêm: Hợi
  • Hỷ Thần: Tý
  • Bệnh Phù: Sửu
  • Đại Hao: Dần
  • Phục Binh: Mão
  • Quan Phủ: Thìn

Đinh

  • Bác Sĩ: Ngọ
  • Lực Sĩ: Mùi
  • Thanh Long: Thân
  • Tiểu Hao: Dậu
  • Tướng Quân: Tuất
  • Tấu Thư: Hợi
  • Phi Liêm: Tý
  • Hỷ Thần: Sửu
  • Bệnh Phù: Dần
  • Đại Hao: Mão
  • Phục Binh: Thìn
  • Quan Phủ: Tỵ

Mậu

  • Bác Sĩ: Tỵ
  • Lực Sĩ: Ngọ
  • Thanh Long: Mùi
  • Tiểu Hao: Thân
  • Tướng Quân: Dậu
  • Tấu Thư: Tuất
  • Phi Liêm: Hợi
  • Hỷ Thần: Tý
  • Bệnh Phù: Sửu
  • Đại Hao: Dần
  • Phục Binh: Mão
  • Quan Phủ: Thìn

Kỷ

  • Bác Sĩ: Ngọ
  • Lực Sĩ: Mùi
  • Thanh Long: Thân
  • Tiểu Hao: Dậu
  • Tướng Quân: Tuất
  • Tấu Thư: Hợi
  • Phi Liêm: Tý
  • Hỷ Thần: Sửu
  • Bệnh Phù: Dần
  • Đại Hao: Mão
  • Phục Binh: Thìn
  • Quan Phủ: Tỵ

Canh

  • Bác Sĩ: Thân
  • Lực Sĩ: Dậu
  • Thanh Long: Tuất
  • Tiểu Hao: Hợi
  • Tướng Quân: Tý
  • Tấu Thư: Sửu
  • Phi Liêm: Dần
  • Hỷ Thần: Mão
  • Bệnh Phù: Thìn
  • Đại Hao: Tỵ
  • Phục Binh: Ngọ
  • Quan Phủ: Mùi

Tân

  • Bác Sĩ: Dậu
  • Lực Sĩ: Tuất
  • Thanh Long: Hợi
  • Tiểu Hao: Tý
  • Tướng Quân: Sửu
  • Tấu Thư: Dần
  • Phi Liêm: Mão
  • Hỷ Thần: Thìn
  • Bệnh Phù: Tỵ
  • Đại Hao: Ngọ
  • Phục Binh: Mùi
  • Quan Phủ: Thân

Nhâm

  • Bác Sĩ: Hợi
  • Lực Sĩ: Tý
  • Thanh Long: Sửu
  • Tiểu Hao: Dần
  • Tướng Quân: Mão
  • Tấu Thư: Thìn
  • Phi Liêm: Tỵ
  • Hỷ Thần: Ngọ
  • Bệnh Phù: Mùi
  • Đại Hao: Thân
  • Phục Binh: Dậu
  • Quan Phủ: Tuất

Quý

  • Bác Sĩ: Tý
  • Lực Sĩ: Sửu
  • Thanh Long: Dần
  • Tiểu Hao: Mão
  • Tướng Quân: Thìn
  • Tấu Thư: Tỵ
  • Phi Liêm: Ngọ
  • Hỷ Thần: Mùi
  • Bệnh Phù: Thân
  • Đại Hao: Dậu
  • Phục Binh: Tuất
  • Quan Phủ: Hợi

Lực Sĩ không có Tứ Hóa, nhưng ở chung cung với chính tinh đang hóa

Bảng Tứ Hóa theo can năm chỉ gọi tên mười bốn chính tinh cùng Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, và tùy phái mà thêm Thiên Phủ hoặc Thái Âm. Lực Sĩ không nằm trong bảng ấy, không tuổi nào làm nó hóa Lộc, Quyền, Khoa hay Kỵ. Sách không lập mục Tứ Hóa cho sao này, và Thầy cũng không bịa thêm.

Nhưng chính tinh đứng chung cung với Lực Sĩ vẫn hóa như thường, và vì trong ô ấy đã sẵn một sát tinh nên cái hóa đọc nặng hơn ở các sao khác. Hóa Quyền: đây là chỗ Lực Sĩ hợp nhất, quyền có sức để thi hành, người ấy nói được làm được, nhưng dễ nặng tay. Hóa Lộc: sức lực đổi được ra của, hợp nghề phải bỏ công thật; có Kình Dương cùng ô thì kiếm nhanh, có Đà La thì kiếm chậm mà bền. Hóa Khoa: làm mềm bớt phần thô, cho cái uy có khuôn phép và có tiếng, đây là cách hay nhất để dùng Lực Sĩ. Hóa Kỵ: sát tinh cùng ô cộng với Kỵ là tổ hợp phải cẩn thận, thường ứng vào tranh chấp, thương tích, hoặc gánh việc mà mang tiếng; lúc này đừng đọc Lực Sĩ là sức mạnh nữa, hãy đọc nó là việc nặng phải nhận.

Vì sao đọc Lực Sĩ phải đọc cả vòng. Bởi mười hai sao ấy không phải mười hai mảnh rời mà là một guồng quay có thứ tự, giống mười hai chặng của một đời làm việc: khởi bằng Bác Sĩ là học và biết, sang Lực Sĩ là ra sức, sang Thanh Long là gặp vận vui, rồi hao, rồi cầm quân, rồi trình bày, rồi tiếng dữ, tin mừng, mỏi mệt, hao lớn, ẩn phục, và khép lại ở Quan Phủ là kiện tụng. Lực Sĩ đứng ở chặng thứ hai, tức chặng vừa biết xong thì phải bắt tay làm, và nó nằm ngay sau nguồn nuôi mà trước niềm vui. Thực dụng hơn: đã xác định được cung Lộc Tồn và biết chiều đếm, quý vị có toàn bộ mười hai sao của vòng ngay lập tức, không phải tra bảng lần nào nữa.

Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế

Trước khi đọc hai cột dưới đây, xin nhớ quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Lực Sĩ là mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn, còn giáp hai bên là thế bao vây. Riêng với Lực Sĩ thì ba vị thế đã bị khóa cứng: một sát tinh vĩnh viễn ở thế đồng cung, Lộc Tồn và Bác Sĩ vĩnh viễn ở thế giáp, còn Đại Hao vĩnh viễn ở thế tam hợp chiếu. Ba điều ấy không lá số nào đổi được, nên đừng tìm chúng trong hai cột dưới đây.

Lực Sĩ rất thích gặp

  • Hóa Quyền của chính tinh đồng cung (đồng cung là đắc nhất): sức có danh nghĩa để thi hành, uy lực thành chính đáng. Đây là tổ hợp hợp nhất với Lực Sĩ.
  • Tử Vi, Thiên Phủ, Vũ Khúc, Thất Sát miếu vượng (đồng cung): bốn chính tinh có sức chịu, đứng chung thì cái mạnh có khuôn. Vũ Khúc và Thất Sát lại cùng hướng dứt khoát với Lực Sĩ.
  • Thiên Tướng, Hóa Khoa (đồng cung hoặc tam hợp): làm mềm phần thô, cho cái uy có lễ và có tiếng, giữ được người dưới lâu dài.
  • Tướng Quân cùng vòng (luôn cách ba cung, tức không vào tam phương): tuy không chiếu tới được, nhưng khi đại vận đi vào cung Tướng Quân thì mạch uy võ nối được với nhau.
  • Lộc Tồn (vĩnh viễn ở thế giáp): không cần tra, luôn có. Nhớ dùng nó: cái sức phải có nguồn nuôi mới bền, mà nguồn ấy nằm ngay cung bên cạnh.
  • Thiên Hình đắc địa (đồng cung hoặc tam hợp): cho kỷ luật và khuôn phép, đưa sức vào ngành cần quy củ như quân đội, luật, kiểm định.

Lực Sĩ e ngại khi gặp

  • Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung nặng nhất): sát tinh sẵn có trong ô nay thêm hỏa, cái mạnh thành cương bạo, dễ ra tay trước khi nghĩ. Đây là tổ hợp Thầy dặn kỹ nhất.
  • Hóa Kỵ của chính tinh đồng cung (đồng cung): gánh việc mà mang tiếng, làm nhiều mà bị trách; thêm tranh chấp và thương tích. Năm nào lưu Kỵ vào đây thì bớt nhận việc thay người khác.
  • Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung nặng nhất, xung chiếu kế): ra sức mà không đọng lại gì, làm xong thì hỏng giữa chừng. Nên chọn việc có kết quả rõ và có nghiệm thu.
  • Đại Hao và Tiểu Hao (Đại Hao vĩnh viễn tam hợp, Tiểu Hao cách hai cung nên không chiếu): cái hao gắn liền với cái sức là chuyện cấu trúc. Đừng vay lớn để làm lớn, hãy làm tới đâu chắc tới đó.
  • Tuần và Triệt án ngữ (án ngay cung có Lực Sĩ là nặng nhất): sức bị chặn, làm mãi không thông, phải qua một chặng chờ. Tuần Triệt không xóa cái mạnh, chỉ dời nó ra sau.
  • Chính tinh hãm địa đồng cung (đồng cung): Lực Sĩ không nâng nổi một chính tinh đã hãm, lúc ấy nó chỉ còn giữ được vế chịu đựng, còn vế thành đạt phải trông vào tam phương.

Tóm lại một câu cho dễ nhớ: với Lực Sĩ, câu hỏi đầu tiên không phải nó hợp sao nào, mà là nó đang ngồi chung ô với Kình Dương hay với Đà La. Kình Dương là cái sắc, nhanh và bộc, hợp việc phải quyết; Đà La là cái nặng, chậm và dai, hợp việc phải bền. Cùng một Lực Sĩ mà hai nền ấy cho hai kiểu người khác hẳn nhau. Trả lời xong câu ấy rồi hãy tra hai cột trên, và nhớ ghi rõ vị thế của từng sao chứ đừng chỉ ghi tên.

Lực Sĩ Trong Đại Vận Và Lưu Niên

Đại vận đi vào cung có Lực Sĩ nghĩa là đại vận ấy đi vào cung có Kình Dương hoặc cung có Đà La của lá số gốc, tùy chiều đếm. Đây thường là mười năm phải ra sức: việc nhiều, trách nhiệm nặng, có chỗ để chứng tỏ mình nhưng phải trả bằng công. Người có nền tốt thì đây là mười năm dựng nghiệp; người nền mỏng thì đây là mười năm mài mòn. Cách phân biệt không nằm ở Lực Sĩ mà nằm ở chính tinh và ở việc cung ấy có Hóa Quyền hay Hóa Kỵ.

Có một điểm tựa mà đại vận nào vào cung Lực Sĩ cũng sẵn có: đại vận liền kề chắc chắn là cung Lộc Tồn và Bác Sĩ, vì ba sao đi liền ba cung. Nghĩa là mười năm ra sức ấy đứng ngay cạnh mười năm có nguồn nuôi, một bên trước một bên sau tùy chiều đại vận. Biết được điều này thì biết cách chia sức: nếu chặng Lộc Tồn đã qua thì phải dùng vốn đã tích, nếu chặng Lộc Tồn còn ở phía trước thì chặng này là chặng gieo.

Lực Sĩ có bản lưu niên, và bản lưu ấy đổi chỗ mỗi năm

Đây là điểm phân biệt quan trọng giữa bốn vòng phụ tinh. Vòng Tràng Sinh an theo cục, mà cục cả đời không đổi, nên vòng Tràng Sinh không có bản lưu niên. Các sao an theo tháng sinh như Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Hình, hay theo giờ sinh như Xương Khúc, Không Kiếp, cũng vậy. Ngược lại, vòng Thái Tuế có bản lưu vì khởi từ chi năm, và vòng Bác Sĩ có bản lưu vì khởi từ Lộc Tồn mà Lộc Tồn tính theo thiên can. Mỗi năm can đổi một lần thì lưu Lộc Tồn dời cung, lưu Bác Sĩ dời theo, và lưu Lực Sĩ dời theo nữa, vẫn giữ đúng luật trùng cung với lưu Kình Dương hoặc lưu Đà La.

Bảng dưới đây tính sẵn cho mười ba năm tới. Hai cột cuối là hai khả năng của lưu Lực Sĩ, quý vị chọn cột theo chiều đếm của mình.

2026 Bính Ngọ

  • Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ: Tỵ
  • Lưu Lực Sĩ nếu đếm thuận, cũng là lưu Kình Dương: Ngọ
  • Lưu Lực Sĩ nếu đếm nghịch, cũng là lưu Đà La: Thìn

2027 Đinh Mùi

  • Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ: Ngọ
  • Lưu Lực Sĩ nếu đếm thuận, cũng là lưu Kình Dương: Mùi
  • Lưu Lực Sĩ nếu đếm nghịch, cũng là lưu Đà La: Tỵ

2028 Mậu Thân

  • Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ: Tỵ
  • Lưu Lực Sĩ nếu đếm thuận, cũng là lưu Kình Dương: Ngọ
  • Lưu Lực Sĩ nếu đếm nghịch, cũng là lưu Đà La: Thìn

2029 Kỷ Dậu

  • Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ: Ngọ
  • Lưu Lực Sĩ nếu đếm thuận, cũng là lưu Kình Dương: Mùi
  • Lưu Lực Sĩ nếu đếm nghịch, cũng là lưu Đà La: Tỵ

2030 Canh Tuất

  • Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ: Thân
  • Lưu Lực Sĩ nếu đếm thuận, cũng là lưu Kình Dương: Dậu
  • Lưu Lực Sĩ nếu đếm nghịch, cũng là lưu Đà La: Mùi

2031 Tân Hợi

  • Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ: Dậu
  • Lưu Lực Sĩ nếu đếm thuận, cũng là lưu Kình Dương: Tuất
  • Lưu Lực Sĩ nếu đếm nghịch, cũng là lưu Đà La: Thân

2032 Nhâm Tý

  • Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ: Hợi
  • Lưu Lực Sĩ nếu đếm thuận, cũng là lưu Kình Dương: Tý
  • Lưu Lực Sĩ nếu đếm nghịch, cũng là lưu Đà La: Tuất

2033 Quý Sửu

  • Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ: Tý
  • Lưu Lực Sĩ nếu đếm thuận, cũng là lưu Kình Dương: Sửu
  • Lưu Lực Sĩ nếu đếm nghịch, cũng là lưu Đà La: Hợi

2034 Giáp Dần

  • Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ: Dần
  • Lưu Lực Sĩ nếu đếm thuận, cũng là lưu Kình Dương: Mão
  • Lưu Lực Sĩ nếu đếm nghịch, cũng là lưu Đà La: Sửu

2035 Ất Mão

  • Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ: Mão
  • Lưu Lực Sĩ nếu đếm thuận, cũng là lưu Kình Dương: Thìn
  • Lưu Lực Sĩ nếu đếm nghịch, cũng là lưu Đà La: Dần

2036 Bính Thìn

  • Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ: Tỵ
  • Lưu Lực Sĩ nếu đếm thuận, cũng là lưu Kình Dương: Ngọ
  • Lưu Lực Sĩ nếu đếm nghịch, cũng là lưu Đà La: Thìn

2037 Đinh Tỵ

  • Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ: Ngọ
  • Lưu Lực Sĩ nếu đếm thuận, cũng là lưu Kình Dương: Mùi
  • Lưu Lực Sĩ nếu đếm nghịch, cũng là lưu Đà La: Tỵ

2038 Mậu Ngọ

  • Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ: Tỵ
  • Lưu Lực Sĩ nếu đếm thuận, cũng là lưu Kình Dương: Ngọ
  • Lưu Lực Sĩ nếu đếm nghịch, cũng là lưu Đà La: Thìn

Cách dùng bảng rất gọn. Lưu Lực Sĩ rơi vào cung Mệnh hoặc Quan Lộc thì năm ấy là năm gánh việc: nhận thêm trách nhiệm, được giao phần khó, làm nhiều hơn hẳn năm trước. Rơi vào Tật Ách thì đó là năm phải giữ gân cốt, cẩn thận khi vận động mạnh và khi đi đường. Rơi vào Tài Bạch thì tiền vào bằng công sức chứ không bằng cơ hội, và vì Đại Hao luôn tam hợp nên năm ấy nên giữ khoản dự phòng. Nhớ kèm một câu: cột ấy cũng chính là cột lưu Kình Dương hoặc lưu Đà La, nên đừng đọc nó như một sao lành đơn thuần.

Về chiều đếm của vòng lưu, sách không nói rõ và các phái không thống nhất: phần lớn thầy Việt giữ nguyên chiều của bản mệnh, một số phái đếm thuận cho mọi trường hợp. Với Lực Sĩ thì tranh cãi này có ảnh hưởng thật, vì hai chiều cho hai cung khác nhau. Cách Thầy vẫn làm là giữ nguyên chiều của bản mệnh cho thống nhất với đại vận, và khi luận thì nói rõ cả hai khả năng nếu chúng dẫn tới hai kết luận khác nhau.

Ngoài bản lưu của chính nó, cung có Lực Sĩ còn bị các lưu sao khác đi qua. Lưu Thái Tuế tới thì năm ấy phải ra mặt, phải đứng tên, phải nhận trách nhiệm trước người khác. Lưu Kình Dương hoặc lưu Đà La chồng đúng lên ô đã có sát tinh bản mệnh là trường hợp nặng nhất trong mọi tổ hợp của sao này: nên giảm việc nặng, giảm tốc độ, và không tranh chấp. Lưu Tang Môn Bạch Hổ tới thì để ý xương khớp và tai nạn giao thông. Lưu Khôi Việt tới thì có người đỡ, gánh nặng được san bớt.

Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Lực Sĩ

Lực Sĩ không phải sao báo sức khỏe tốt

Nghe tên là nghĩ tới người lực lưỡng, rồi suy ra thân thể cường tráng. Sách không nói vậy. Tân Biên xếp Lực Sĩ vào nhóm sao chủ sức lực và quyền thế theo nghĩa khả năng gánh vác và uy lực, tức nói về việc phải làm chứ không nói về thể trạng. Xét sức khỏe phải nhìn cung Tật Ách với chính tinh của nó, nhìn Tuần Triệt, nhìn sát tinh và Hóa Kỵ. Đáng chú ý hơn: vì Lực Sĩ luôn đồng cung Kình Dương hoặc Đà La, nên nếu nó rơi vào cung Tật Ách thì đó là cung có sát tinh, phải đọc cẩn thận hơn chứ không phải yên tâm hơn.

Lực Sĩ không tự nó cho quyền chức

Lực Sĩ là phụ tinh nhỏ, loại sao gieo sắc thái chứ không quyết định. Nó không làm nên chức vị nếu cung Quan Lộc không có chính tinh đủ sức và không có Hóa Quyền hay Khôi Việt trợ. Thầy đã xem nhiều lá số Lực Sĩ thủ Mệnh mà cả đời làm công việc chân tay nặng nhọc, đúng nghĩa ra sức nhưng không có phần uy. Cái Lực Sĩ nói tới là khả năng chịu và khả năng gánh; còn gánh cho ai, gánh để lên hay gánh để mòn, thì cả lá số mới trả lời được.

Đồng cung Kình Đà không có nghĩa là số khổ

Nhiều người nghe tới việc Lực Sĩ luôn ngồi chung ô với một sát tinh thì hoảng. Xin nói rõ: đó là chuyện cấu trúc, đúng với mọi lá số trên đời, nên tự nó không phân biệt được ai hơn ai. Điều làm nên khác biệt là cung ấy là cung chức nào, chính tinh nào đóng, có hóa gì. Cùng một Lực Sĩ đồng cung Kình Dương, đặt ở Quan Lộc với Vũ Khúc hóa Quyền thì thành người cầm việc, đặt ở Phu Thê với chính tinh hãm và Hóa Kỵ thì thành cảnh hay va chạm trong nhà. Sát tinh trong Tử Vi là năng lượng chưa được đặt tên, và chính chữ Lực Sĩ là một cách cổ nhân đặt tên tử tế cho nó.

Lực Sĩ trong vòng Bác Sĩ khác các sao tên gần giống

Trong bộ 121 sao có nhiều tên dễ lẫn. Lực Sĩ của vòng Bác Sĩ không phải Tướng Quân cùng vòng, cũng không phải Thanh Long đứng ngay sau nó, và càng không phải các sao võ nghiệp của vòng Thái Tuế như Bạch Hổ. Cách nhận ra Lực Sĩ chắc chắn nhất là tìm Lộc Tồn rồi đếm một cung theo chiều của mình. Nếu một bảng an sao nào đặt Lực Sĩ cách Lộc Tồn hơn một cung thì bảng ấy sai, không phải phái khác.

Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải

Lực Sĩ không phải sao cần trấn, cần yểm, cần cúng. Nó nói về sức mà quý vị vốn có, và về cái sát nằm sẵn trong cùng ô với sức ấy. Việc phải làm là đặt sức vào đúng chỗ trước khi nó tự tìm chỗ. Dưới đây là những điều Thầy vẫn dặn khách có Lực Sĩ nổi bật trong lá số.

Chọn một nơi để dùng hết sức, đừng để nó tràn ra chỗ khác

Sức không dùng thì không mất đi, nó chảy sang chỗ gần nhất, thường là sang lời nói và sang người thân. Người có Lực Sĩ nên có một việc đủ nặng để đổ sức vào: một nghề đòi hỏi thật, một môn thể thao đều đặn, một trách nhiệm cụ thể. Thầy để ý những khách có Lực Sĩ mà rèn thân thể đều thì tính khí nhẹ hẳn, còn người ngồi yên lâu ngày thì hay nóng vô cớ.

Biết mình đang ngồi với Kình hay với Đà, rồi phòng đúng kiểu

Đếm thuận, Lực Sĩ ở cùng Kình Dương, thì cái phải giữ là tốc độ và lời nói lúc nóng: đếm tới ba trước khi trả lời, không ký, không hứa, không lái xe khi đang giận. Đếm nghịch, Lực Sĩ ở cùng Đà La, thì cái phải giữ là sự dây dưa: đặt hạn cho mỗi việc, không để một chuyện kéo dài quá lâu, và chịu khó dứt điểm dù kết quả chưa vừa ý. Hai kiểu phòng ấy khác hẳn nhau, làm nhầm thì tốn công vô ích.

Giữ gân cốt, giữ răng, giữ giấc ngủ

Cả Kình Dương lẫn Đà La đều được sách gắn với thương tích, gân cốt và răng, mà Lực Sĩ thì luôn ở cùng ô với một trong hai. Cho nên ba việc rất đời thường lại là hóa giải thiết thực nhất: khởi động trước khi vận động mạnh, khám răng và khám xương khớp định kỳ, và ngủ đủ. Nhất là trong những năm lưu Kình hoặc lưu Đà chồng lên đúng ô có Lực Sĩ.

Nhận việc theo sức, và nhớ rằng Đại Hao luôn chiếu về

Người có Lực Sĩ hay nhận việc quá phần mình, vì nhận được thật. Nhưng Đại Hao vĩnh viễn tam hợp chiếu tới, nghĩa là làm nhiều thì hao nhiều, cả sức lẫn của. Thầy khuyên hai điều rất cụ thể: giữ một khoản dự phòng bằng ít nhất sáu tháng chi tiêu, và tập nói câu từ chối sớm thay vì nhận rồi gồng.

Phong thủy bổ trợ, chỉ là gợi ý chung

Thầy gợi ý những việc rất đời thường: dành một góc trong nhà để tập luyện, dù chỉ vài mét vuông; sắp xếp chỗ làm việc sao cho không phải với, không phải cúi, không phải khiêng sai tư thế; và giữ một khoảng thời gian cố định trong ngày không nhận việc mới. Đây là gợi ý chung cho người hay phải gắng sức, không phải phép thuật gắn với sao Lực Sĩ, và không thay được việc rèn thật, nghỉ thật, khám sức khỏe thật.

Câu hỏi thường gặp

Lực Sĩ là sao thứ hai của vòng Bác Sĩ trong Tử Vi Đẩu Số, chủ sức lực, quyền thế, khả năng gánh vác và uy lực, gắn với sự cứng cỏi và chí tiến thủ.

Lực Sĩ đứng liền sau Bác Sĩ trong vòng Bác Sĩ, an theo Lộc Tồn và đi theo chiều thuận hoặc nghịch tùy âm dương nam nữ.

Lực Sĩ là sao nhỏ thiên về sức mạnh và quyền. Đi cùng chính tinh sáng và sao quyền thì thành uy lực chính đáng, hợp gánh vác; gặp sát tinh thì cái mạnh dễ thành cương bạo.

Lực Sĩ ở Quan Lộc hợp công việc cần sức và quyền, cho người có uy, dám gánh vác và chịu áp lực tốt, nhất là khi đi cùng chính tinh sáng và Hóa Quyền.

Không bao giờ. Lộc Tồn là điểm khởi của vòng và Lực Sĩ đứng cách đúng một cung, nên hai sao vĩnh viễn kề nhau chứ không chồng nhau. Một cung cũng không nằm trong tam phương tứ chính, vậy Lực Sĩ cũng không xung chiếu và không tam hợp với Lộc Tồn. Sao đồng cung Lộc Tồn là Bác Sĩ, và điều đó đúng ở cả mười can lẫn cả hai chiều đếm.

Có. Vòng Bác Sĩ khởi từ Lộc Tồn mà Lộc Tồn an theo thiên can, nên mỗi năm can đổi thì lưu Lộc Tồn dời cung và lưu Lực Sĩ dời theo, vẫn trùng lưu Kình Dương nếu đếm thuận hoặc lưu Đà La nếu đếm nghịch. Đây là điểm khác với vòng Tràng Sinh vốn an theo cục nên cả đời không đổi, và khác với các sao an theo tháng sinh hay giờ sinh vốn cũng không có bản lưu.

Không nên hiểu là sức khỏe tốt. Lực Sĩ luôn đồng cung Kình Dương hoặc Đà La, nên Lực Sĩ tại Tật Ách nghĩa là cung Tật Ách của quý vị có sát tinh, phải đọc cẩn thận hơn chứ không phải yên tâm hơn. Hướng thường gặp là chuyện gân cốt, cơ khớp, răng, va đập và thương tích do lao lực hoặc vận động; đi với Kình Dương thì thiên về chấn thương cấp, đi với Đà La thì thiên về đau kéo dài. Đây là lời nhắc giữ gìn, không phải lời phán bệnh.