Tử Vi
Sao Mộ: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung
Tìm hiểu sao Mộ trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.
Tổng quan về sao Mộ
Mộ là chặng thứ chín của vòng Trường Sinh, còn gọi là Khố, tức kho chứa. Khác với cái tên gợi mồ mả, ý nghĩa cốt lõi của Mộ là sự thu tàng, tích trữ, cất giữ. Đây là chặng của kho tàng và sự bền chặt, có tính giữ của.
- Ngũ hành/Chặng: Chặng Thu Tàng
- Nhóm: Vòng Trường Sinh
- Cách an: Theo Cục của lá số
- Cai quản: thu tàng, tích trữ, giữ của
- Tính chất: Kho tàng, tích trữ
Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.
Ý nghĩa tại cung Mệnh
- Khi gặp chính tinh miếu vượng, cát tinh: Người kín đáo, biết thu vén, tích lũy giỏi, nói ít mà giữ được nhiều; càng lớn tuổi càng dày vốn cả về của lẫn về hiểu biết. Mẫu người đáng tin để gửi gắm.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ, chính tinh hãm: Bảo thủ, ôm giữ quá mức, khó chia sẻ và khó thay đổi; dễ tiếc cái cũ tới mức bỏ lỡ cái mới. Cần tập nói ra và tập buông.
Ý nghĩa ở các cung khác
Đối chiếu ý nghĩa của Mộ với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.
Cung Phụ Mẫu
- Khi gặp chính tinh miếu vượng, cát tinh: Gia đình có nền, có nếp, có thứ để lại; bậc trên kỹ tính và biết dành dụm cho con cháu.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ, chính tinh hãm: Chuyện của cha mẹ hay giữ kín không nói, dễ thành hiểu lầm; nên chủ động hỏi về việc nhà và giấy tờ khi còn kịp.
Cung Phúc Đức
- Khi gặp chính tinh miếu vượng, cát tinh: Phúc dày và bền, tâm tính điềm đạm, biết đủ; hưởng phúc muộn nhưng hưởng lâu, hay hướng về cội nguồn và gia tộc.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ, chính tinh hãm: Hay giữ tâm sự trong lòng, nghĩ nhiều mà không nói ra, dồn lâu thành nặng. Cần người để trò chuyện và cần cho phép mình buông bớt.
Cung Điền Trạch
- Khi gặp chính tinh miếu vượng, cát tinh: Đây là chỗ hợp nhất của chặng Mộ. Có nhà đất bền, tích lũy được bất động sản, giữ được của hương hỏa; nhà thường rộng chỗ chứa và có kho.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ, chính tinh hãm: Nhà chất nhiều đồ không dùng, tài sản nằm im không sinh lợi, giấy tờ nhà đất còn vướng. Nên dọn bớt và làm rõ giấy tờ, đó là cách mở kho.
Cung Quan Lộc
- Khi gặp chính tinh miếu vượng, cát tinh: Hợp nghề tích lũy và lưu giữ: kho vận, tài chính, lưu trữ, bảo tàng, nông sản, xây dựng, bất động sản, nghiên cứu lâu dài. Càng làm lâu càng có giá.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ, chính tinh hãm: Công việc đọng lại, công sức bỏ ra chưa quy đổi được thành kết quả thấy được. Nên tổng kết và công bố cái mình đã làm, đừng để nằm im.
Cung Nô Bộc
- Khi gặp chính tinh miếu vượng, cát tinh: Bạn ít mà bền, giữ được mối quan hệ lâu năm; người quen cũ chính là vốn của mình.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ, chính tinh hãm: Giữ quan hệ trong lòng mà không liên lạc, lâu ngày thành xa. Nên chủ động hỏi thăm, quan hệ cũng là thứ cần lấy ra khỏi kho.
Cung Thiên Di
- Khi gặp chính tinh miếu vượng, cát tinh: Ra ngoài để gom về, hợp việc mua bán tích trữ và việc đi lấy hàng; đi ít mà mỗi lần đi đều mang được cái gì đó về.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ, chính tinh hãm: Ngại ra ngoài, quanh quẩn chỗ quen nên bỏ lỡ cơ hội. Nên chủ động mở rộng vòng quen biết dù chỉ từng bước nhỏ.
Cung Tật Ách
- Khi gặp chính tinh miếu vượng, cát tinh: Sức khỏe kiểu tích trữ tốt, sức bền cao, ít khi ốm nặng nếu giữ nếp điều độ.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ, chính tinh hãm: Cần chú ý các chứng do tích tụ và ứ đọng, chuyển hóa chậm, cùng những căng thẳng dồn nén lâu ngày. Đây là lời nhắc khám định kỳ và điều chỉnh nếp sinh hoạt, tuyệt đối không phải lời phán bệnh.
Cung Tài Bạch
- Khi gặp chính tinh miếu vượng, cát tinh: Rất hợp: biết giữ của, tích lũy đều, có khoản dành dụm bền; tiền vào thì ở lại chứ không trôi đi.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ, chính tinh hãm: Tiền nằm chết trong thứ khó bán, thiếu tiền mặt xoay xở dù tổng tài sản không nhỏ. Nên cơ cấu lại cho có phần linh hoạt.
Cung Tử Tức
- Khi gặp chính tinh miếu vượng, cát tinh: Con cái tính kín, chắc chắn, biết dành dụm; việc mình gây dựng đã tới độ có nền, hợp giữ chất hơn tăng lượng.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ, chính tinh hãm: Con cái ít bộc lộ, cha mẹ phải chủ động lắng nghe; việc mình gây dựng nằm im, cần một lần làm mới để mở ra.
Cung Phu Thê
- Khi gặp chính tinh miếu vượng, cát tinh: Bạn đời kiểu biết vun vén, giữ nhà giữ của; tình cảm bền theo kiểu tích lũy từng ngày chứ không rực rỡ.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ, chính tinh hãm: Hai bên đều giữ trong lòng, ít nói ra, lâu ngày thành khoảng cách. Nên tập nói thẳng những điều nhỏ trước khi thành chuyện lớn.
Cung Huynh Đệ
- Khi gặp chính tinh miếu vượng, cát tinh: Anh chị em gắn bó qua việc chung của gia đình, giữ được của hương hỏa và nếp nhà.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ, chính tinh hãm: Việc chung để lâu không bàn, nhất là chuyện tài sản thừa kế. Nên bàn sớm và ghi rõ ràng, tránh để lâu thành khúc mắc.
Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Mộ an theo Cục, tức theo Thủy Nhị Cục, Mộc Tam Cục, Kim Tứ Cục, Thổ Ngũ Cục hay Hỏa Lục Cục. Cục rút từ nạp âm của can chi cung Mệnh, mà can chi ấy sinh ra từ tháng sinh, giờ sinh và can năm hợp lại. Điều này cần nắm trước tiên: Mộ không phải một sao gán từ năm sinh vào lá số như Tang Môn hay Bạch Hổ, nó mọc lên từ chính bộ khung của lá số và chỉ đo nhịp của khí, không mang lực họa phúc riêng.
Phép an gồm hai bước. Bước một, đặt Tràng Sinh vào cung khởi theo Cục: Thủy Nhị Cục khởi tại Thân, Mộc Tam Cục khởi tại Hợi, Kim Tứ Cục khởi tại Tỵ, Thổ Ngũ Cục khởi tại Thân, Hỏa Lục Cục khởi tại Dần. Bước hai, từ cung ấy an tiếp theo thứ tự Tràng Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng; đi thuận với dương nam và âm nữ, đi nghịch với âm nam và dương nữ. Mộ đứng ở ô thứ chín, tức cách cung Tràng Sinh đúng tám cung.
Con số tám ấy là con số đẹp nhất của cả vòng, và cả trang này xoay quanh nó. Tám cung tính từ cung khởi thì bằng đúng hai lần bốn cung, mà bốn cung là khoảng cách của thế tam hợp. Cho nên Mộ luôn nằm trong tam hợp với Tràng Sinh, và cũng luôn nằm trong tam hợp với Đế Vượng, bởi Đế Vượng đứng ở ô thứ năm tức cách cung khởi đúng bốn cung. Ba chặng ấy chia đều một vòng địa bàn thành ba phần, đứng thành một bộ tam hợp hoàn chỉnh, với mọi Cục và cả hai chiều an, không có ngoại lệ. Đây chính là thế Sinh Vượng Mộ mà mệnh lý Đông phương gọi tên, và nó sẽ được nói kỹ ở mục vòng phía dưới.
Hệ quả thứ hai. Bốn cung khởi Dần, Thân, Tỵ, Hợi là Tứ Sinh; cộng tám cung theo chiều thuận thì rơi vào Tuất, Thìn, Sửu, Mùi tức bốn cung Tứ Mộ; trừ tám cung theo chiều nghịch thì rơi vào Ngọ, Tý, Dậu, Mão tức bốn cung Tứ Chính. Nói gọn: người đi vòng thuận có Mộ ở Tứ Mộ, người đi vòng nghịch có Mộ ở Tứ Chính, và không ai có Mộ ở Tứ Sinh. Xin quý vị để ý điều đầu tiên cho kỹ: sao Mộ đi vòng thuận rơi đúng vào bốn cung mà bản thân địa bàn cũng gọi là Tứ Mộ, tức bốn cung kho. Tên gọi trùng nhau không phải ngẫu nhiên, cả hai đều lấy từ một nghĩa gốc là chỗ thu chứa. Bảng dưới là kết quả chạy đủ mười trường hợp.
Thủy Nhị Cục
- Tràng Sinh khởi tại: Thân
- Mộ khi vòng đi thuận: Thìn
- Mộ khi vòng đi nghịch: Tý
Mộc Tam Cục
- Tràng Sinh khởi tại: Hợi
- Mộ khi vòng đi thuận: Mùi
- Mộ khi vòng đi nghịch: Mão
Kim Tứ Cục
- Tràng Sinh khởi tại: Tỵ
- Mộ khi vòng đi thuận: Sửu
- Mộ khi vòng đi nghịch: Dậu
Thổ Ngũ Cục
- Tràng Sinh khởi tại: Thân
- Mộ khi vòng đi thuận: Thìn
- Mộ khi vòng đi nghịch: Tý
Hỏa Lục Cục
- Tràng Sinh khởi tại: Dần
- Mộ khi vòng đi thuận: Tuất
- Mộ khi vòng đi nghịch: Ngọ
Sáu điều bất biến của Mộ, đã kiểm bằng máy
- Chỉ đóng tám cung, không bao giờ tới Tứ Sinh. Mộ có thể ở Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất; nó không bao giờ ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi, vì bốn cung ấy luôn thuộc về Tràng Sinh, Lâm Quan, Bệnh và Tuyệt.
- Tam hợp vĩnh viễn là Tràng Sinh và Đế Vượng. Đây là điều quan trọng nhất của cả trang. Cung giữ Mộ luôn được chặng mở đầu và chặng đỉnh của vòng chiếu về, không có Cục nào và chiều nào phá được quy luật này.
- Xung chiếu vĩnh viễn là Quan Đới. Cung đối diện Mộ luôn giữ chặng đội mũ áo bước vào đời, chặng của sự trưởng thành và ra mắt. Cái cất vào kho luôn nhìn thẳng vào cái đang bày ra.
- Hai cung kề luôn là Tử và Tuyệt. Một bên là chặng vừa khép lại, một bên là chặng khí cạn hẳn. Mộ nằm giữa hai chặng ấy đúng như cái kho nằm giữa lúc gặt xong và lúc đồng trống.
- Không bao giờ đồng cung và không bao giờ xung chiếu với Thiên Mã, Kiếp Sát hay Cô Thần. Ba sao ấy chỉ đóng bốn cung Tứ Sinh mà Mộ không bao giờ tới đó. Riêng chi tiết Thiên Mã đáng nhớ: sao của di chuyển và chặng của cất giữ không bao giờ ngồi chung một cung, cấu trúc không cho phép, và điều ấy rất hợp với nghĩa của hai sao.
- Bộ Lộc Tồn Kình Đà gặp Mộ theo hai kiểu tùy chiều an. Vòng đi thuận, Mộ ở Tứ Mộ: có thể đồng cung với Kình Dương và với Đà La, nhưng không bao giờ đồng cung với Lộc Tồn, vì Lộc Tồn không hề có mặt ở Tứ Mộ. Vòng đi nghịch, Mộ ở Tứ Chính: có thể đồng cung với Lộc Tồn và với Kình Dương, nhưng không bao giờ đồng cung với Đà La. Đào Hoa chỉ gặp Mộ của người đi vòng nghịch; Quả Tú và Hoa Cái chỉ gặp Mộ của người đi vòng thuận.
Điều thứ sáu có ích ngay khi luận, và với sao Mộ thì nó đặc biệt đáng nói. Người đi vòng nghịch có Mộ ở Tứ Chính và có thể trùng Lộc Tồn, thành thế kho có của: cái kho ấy thật sự có thứ để chứa, đây là thế đẹp nhất mà chặng Mộ có được. Người đi vòng thuận có Mộ ở Tứ Mộ, tức kho nằm đúng cung kho, nhưng vĩnh viễn không có Lộc Tồn ngồi cùng, mà lại có thể có Đà La, thành thế kho đóng: chứa được nhiều nhưng lấy ra thì chậm, phải có sao khai mở. Hai kiểu ấy cho hai lời khuyên khác hẳn nhau, mà nếu không xét chiều an thì luận sai ngay từ đầu.
Về chính tinh đồng cung, chạy đủ mười hai thế Tử Vi tại tám cung khả dĩ cho thấy cả mười bốn chính tinh đều có thể đứng chung cung với Mộ, không sao nào bị loại. Đây là chỗ sách nói kỹ nhất về chặng này: cổ nhân bảo chính tinh tốt nhập Mộ thì như của quý cất trong kho, chờ đúng lúc mở ra lại càng quý. Bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi vốn là chỗ đứng của Vũ Khúc độc tọa, của bộ Nhật Nguyệt cùng cung, của Tử Vi đi cặp với Phá Quân hoặc Thiên Tướng; bốn cung Tý, Ngọ, Mão, Dậu là chỗ Tử Vi độc tọa và Thái Dương miếu địa. Nghĩa là một cung có Mộ vẫn có thể là cung dày nhất lá số.
Mười Hai Chặng Của Vòng Và Cách An Theo Cục
Vòng Trường Sinh gồm mười hai sao ứng với mười hai chặng của một đời sống: Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng. Vòng này an theo Cục của lá số. Tùy Thủy nhị cục, Mộc tam cục, Kim tứ cục, Thổ ngũ cục hay Hỏa lục cục mà sao Trường Sinh khởi ở một cung Tứ Sinh là Dần, Thân, Tỵ hoặc Hợi, rồi mười hai sao lần lượt an theo chiều thuận hay nghịch tùy âm dương của tuổi và giới tính.
Trong vòng mười hai chặng, Mộ giữ vị trí của mình theo thứ tự cố định. Biết sao Trường Sinh khởi ở đâu là suy ra được vị trí Mộ.
Đặc Tính Và Ý Nghĩa Của Chặng Mộ
Mộ mang khí của sự cất giữ và tích lũy. Ở cung Tài, Điền, nó có thể mang ý nghĩa kho tàng, biết tích trữ, giữ của bền; ở cung Mệnh, người có Mộ thường kín đáo, biết thu vén, đôi khi hơi bảo thủ. Mộ còn gắn với mộ phần, gia tộc, nền tảng tổ tiên.
Mộ là chặng đặc biệt: chính tinh tốt nhập Mộ thì như của quý cất kho, gặp thời mở ra lại quý; nhưng cũng có khi nhập Mộ là bị giam, cần Tuần Triệt hay sao khai mở. Đây là chỗ cần luận kỹ theo chính tinh.
Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
Trước khi đọc hai cột dưới, xin nhớ quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Mộ là mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn, còn giáp hai bên là thế bao vây, nặng với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Với Mộ còn một tầng riêng: vì nó bị khóa ngoài bốn cung Tứ Sinh và đổi chỗ theo chiều an vòng, có những sao chỉ gặp được nó ở một trong hai chiều, có sao thì cấu trúc không cho gặp bao giờ. Mỗi dòng dưới đây ghi rõ vị thế khả dĩ, đã kiểm bằng thuật toán an sao.
Mộ hợp khi gặp
- Chính tinh miếu vượng (đồng cung; cả mười bốn chính tinh đều có thể tới): đây là điều kiện quan trọng nhất, và với chặng Mộ thì nó quyết định tất cả. Chính tinh sáng nhập Mộ là của quý cất trong kho, chờ thời mở ra lại càng quý.
- Lộc Tồn (đồng cung chỉ khi vòng đi nghịch, tức Mộ ở Tứ Chính; đi thuận thì chỉ chiếu được): kho có của, đây là thế đẹp nhất mà chặng Mộ đạt tới.
- Hóa Lộc (đồng cung qua chính tinh cùng cung, hoặc chiếu): thứ cất vào là thứ đáng cất, lĩnh vực ấy tích được thật chứ không tích hình thức.
- Tuần và Triệt (án ngữ ngay cung Mộ): đây là chỗ khác hẳn mọi sao khác. Với chặng Mộ, Tuần Triệt được cổ nhân coi là sao khai mộ, tức mở kho, làm lộ ra cái quý đang cất bên trong. Cùng một Tuần Triệt mà ở cung khác là trở ngại, ở cung Mộ lại thành lợi, và đây là điều đáng nhớ nhất trong hai cột này.
- Tràng Sinh và Đế Vượng (luôn tam hợp chiếu): thế Sinh Vượng Mộ. Kho này có nguồn để đầy và có sức để giữ, đây là quan hệ có sẵn của cấu trúc chứ không phải điều may rủi.
- Hóa Quyền (đồng cung qua chính tinh, hoặc chiếu): kho có người trông, giữ được cái mình đã tích và không dễ bị lấy mất.
- Hóa Khoa (đồng cung qua chính tinh, hoặc chiếu): cái cất vào là danh tiếng, chữ nghĩa và uy tín nghề, thứ càng để lâu càng có giá.
- Thiên Phủ, Thái Âm (đồng cung được ở nhiều vị trí): hai sao vốn chủ kho tàng và chủ điền sản, gặp chặng Mộ là gặp đúng nghĩa của mình, thường ứng vào người có của chìm.
- Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Đức, Nguyệt Đức (đồng cung được hoặc chiếu): có người đỡ và có sao giải thì kho vừa đầy vừa dễ mở.
Mộ e ngại khi gặp
- Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung được vì hai sao đi đủ mười hai cung; giáp hai bên còn nặng hơn chiếu): kho bị phá, đây là tổ hợp đáng ngại nhất của chặng Mộ vì nó đánh thẳng vào cái mà Mộ chủ, tức của tích được.
- Hóa Kỵ (đồng cung qua chính tinh cùng cung là nặng nhất): kho bị khóa, của có mà lấy ra không được. Cách xử là tìm cách mở chứ không phải sợ.
- Đà La (đồng cung chỉ khi vòng đi thuận, tức Mộ ở Tứ Mộ; đi nghịch thì không thể ngồi chung): kho đóng chặt, cất vào thì dễ mà lấy ra thì dây dưa kéo dài.
- Kình Dương (đồng cung được ở cả hai chiều an): có người tranh phần trong kho, thường ứng vào chuyện chia chác tài sản hoặc thừa kế không thuận.
- Đại Hao, Tiểu Hao (đồng cung hoặc chiếu): kho rò rỉ, cất vào bao nhiêu hao đi bấy nhiêu; nên rà lại các khoản chi cố định.
- Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung được): nóng ruột mà bán tháo cái đáng giữ, hoặc gom vội cái không đáng gom.
- Chính tinh hãm địa (đồng cung): kho rỗng, cất mãi mà không có gì để cất. Đây là trường hợp cung Mộ thật sự cần chú ý, và cũng phải nói cho đúng: cần gây dựng chứ không phải cần lo sợ.
- Tuyệt cùng vòng (luôn ở cung kề): chặng ngay sau Mộ là chặng khí cạn, nhắc rằng của trong kho là để dùng cho quãng trống phía sau, không phải để cất mãi.
- Thiên Mã: xin ghi vào đây một dòng ngược lại, cho quý vị khỏi bị dọa. Thiên Mã không bao giờ đồng cung và cũng không bao giờ xung chiếu với Mộ, vì nó chỉ đóng bốn cung Tứ Sinh. Ai luận "Mộ gặp Mã nên của cải chạy mất" là đã an sai lá số.
Mộ là một chặng của vòng khí. Đi cùng chính tinh sáng và cát tinh thì phát huy mặt hay; gặp sát tinh thì mặt yếu lộ ra. Phải xem cả cục diện mới luận đúng.
Mộ Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Cái chuyển động là đại vận và tiểu hạn đi qua chỗ Mộ đứng. Giáp vận nào trùng cung Mộ thì mười năm ấy được đọc thêm một lớp nghĩa: đây là quãng của tích lũy và bảo toàn, hợp gom về hơn hợp bung ra. Và vì Mộ luôn kề Tử và Tuyệt, giáp vận Mộ luôn nằm giữa quãng khép lại và quãng khí cạn, nghĩa là nó là quãng dành dụm cho đoạn sau. Biết trước trật tự ấy là biết lúc nào nên tích, đây là công dụng thực tế lớn nhất của sao này.
Đại vận vào cung Mộ mà chính tinh miếu vượng, lại có Hóa Lộc hoặc Lộc Tồn, thì mười năm ấy thường là quãng người ta mua được nhà, gom được vốn, hoặc gây dựng được cái để lại. Thầy gặp nhiều lá số mà đây chính là giáp vận người ta chuyển từ làm công sang có tài sản riêng. Ngược lại, đại vận vào cung Mộ mà chính tinh hãm, có Không Kiếp hoặc Hóa Kỵ, thì đây là mười năm phải cẩn thận với thứ mình đang giữ: đừng dồn hết vào một chỗ khó bán, đừng đứng tên hộ, và nên giữ một phần linh hoạt. Nói vậy là nói việc cần làm, không phải nói tai họa sẽ tới.
Còn các lưu sao chạm vào cung Mộ thì có thật và phải xét. Mỗi năm, lưu Thái Tuế đóng tại cung của chi năm ấy; lưu Lộc Tồn theo can năm, kéo lưu Kình Dương và lưu Đà La kẹp hai bên; lưu Tang Hổ, lưu Khốc Hư, lưu Khôi Việt cũng an lại theo năm. Lưu Lộc Tồn về cung Mộ thì năm ấy kho được thêm của, rất hợp cho việc mua sắm tài sản lâu dài. Lưu Kình Đà hay lưu Khốc Hư về cung Mộ thì năm ấy nên cẩn thận với chuyện chia chác và giấy tờ tài sản.
Ba năm gần đây tiện đối chiếu: lưu niên 2026 là năm Bính Ngọ với lưu Thái Tuế tại Ngọ và lưu Lộc Tồn tại Tỵ; lưu niên 2027 là năm Đinh Mùi với lưu Thái Tuế tại Mùi và lưu Lộc Tồn tại Ngọ; lưu niên 2028 là năm Mậu Thân với lưu Thái Tuế tại Thân và lưu Lộc Tồn tại Tỵ. Vì Mộ không bao giờ ở Tứ Sinh, người có Mộ chắc chắn không gặp lưu Thái Tuế về đúng cung ấy trong lưu niên 2028; còn người có Mộ tại Ngọ, tức người đi vòng nghịch với Hỏa Lục Cục, thì lưu niên 2027 có lưu Lộc Tồn về đúng cung kho của mình.
Một lưu ý cuối. Mộ đứng yên còn vận thì chạy, nên nó là địa hình chứ không phải thời tiết: trên đường có một cái kho, biết chỗ thì gửi đồ vào, không biết thì đi qua tay không.
Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Mộ
Đây là mục quan trọng nhất của trang này. Chữ Mộ trong tiếng Việt gợi ngay tới mồ mả, và chỉ vì một chữ ấy mà một trong những chặng lành nhất của vòng Tràng Sinh bị đọc thành điềm gở. Bốn mục dưới đây tách cho thật rõ chỗ sách có nói và chỗ sách không nói.
Một: tên sao không phải là điều sẽ xảy ra
Mộ là tên một chặng khí trong vòng mười hai chặng, đặt theo lối ẩn dụ, cùng lối với Mộc Dục mượn hình ảnh tắm gội và Quan Đới mượn hình ảnh đội mũ áo. Sách gọi chặng này bằng hai tên: Mộ và Khố, mà Khố nghĩa là kho. Nghĩa gốc của nó là "khí thu về và cất lại", giống như cuối mùa nhựa rút hết về gốc cây, như thóc gặt xong thì vào bồ. Không sách nào nói rằng người có Mộ thủ Mệnh thì gặp chuyện tang tóc hay liên quan mồ mả. Chữ mộ trong nghĩa chôn giữ là chôn của cải xuống đất cho yên, không phải chôn người. Đây là phụ tinh nhỏ, không ai được phép phán họa từ một chặng.
Thầy xin nói thẳng: trong mười hai chặng, Mộ là chặng duy nhất mang nghĩa có được và giữ lấy. Trang gốc của bộ 121 sao đã ghi đúng ý này ngay từ dòng đầu, và Thầy nhắc lại cho rõ hơn: đọc Mộ là đọc về kho tàng, tích chứa, thu về, giữ của, nền tảng. Ai đọc chữ Mộ thành tang sự là đọc theo âm chữ tiếng Việt chứ không đọc theo nghĩa mệnh lý, và làm vậy là bỏ mất chính cái hay của sao này.
Hai: Mộ nằm ở giữa một bộ tam hợp rất mạnh, không nằm một mình
Đây là lập luận từ cấu trúc, đã kiểm bằng máy đủ mười trường hợp. Cung giữ Mộ luôn luôn được cung giữ Tràng Sinh và cung giữ Đế Vượng chiếu về, vì ba chặng ấy cách nhau đúng bốn cung. Nói cách khác, chặng cất giữ luôn có chặng mở đầu và chặng đỉnh của cả vòng làm hai chân còn lại của thế tam hợp. So cho rõ: cung Suy có Mộc Dục và Tuyệt trong tam hợp, cung Tuyệt có Mộc Dục và Suy; còn cung Mộ thì có hai chặng mạnh nhất của vòng. Xét riêng về vòng, đây là cung được đỡ tốt nhất trong cả mười hai chặng. Cấu trúc nói vậy, và cấu trúc thì không nói theo cảm giác về chữ nghĩa.
Ba: nhập Mộ không phải là bị chôn, mà là được cất
Cổ nhân có nói tới chuyện chính tinh nhập Mộ, và đây là chỗ hay bị hiểu lệch nhất trong giới học Đẩu Số. Ý của sách là: một chính tinh sáng đứng ở cung có chặng Mộ thì giống như của quý cất trong kho, chưa lộ ra ngoài, nên người ấy phát muộn và kín tiếng; nhưng khi kho được mở, thí dụ Tuần Triệt án ngữ, hoặc Hóa Lộc về, hoặc đại vận đi tới, thì cái quý ấy hiện ra và thường rất đáng kể. Đó là lời nói về thời điểm phát, không phải lời nói về mất mát. Đọc "nhập Mộ" thành "bị chôn vùi, hết đường" là đọc sai hẳn ý sách.
Cũng vì lẽ ấy mà Tuần Triệt ở cung Mộ được cổ nhân gọi là khai mộ, tức mở kho, và đây là trường hợp hiếm hoi mà Tuần Triệt đóng vai có lợi. Thầy nhắc điều này vì rất nhiều người vừa thấy Tuần hoặc Triệt là lo, mà không biết rằng ở đúng cung này nó lại là chìa khóa.
Bốn: Mộ của Đẩu Số không phải mộ phần phong thủy, cũng không phải Mộ trong Bát Tự
Ba thứ hay bị trộn làm một. Thứ nhất, mộ phần và phong thủy âm trạch là một khoa riêng, bàn về nơi chôn cất của người đã khuất và ảnh hưởng tới con cháu; nó không liên quan gì tới chặng Mộ của vòng Tràng Sinh, và không ai xem được mồ mả từ một phụ tinh trên lá số. Thứ hai, Bát Tự Tứ Trụ cũng có chặng cùng tên trong vòng mười hai trường sinh, nhưng ở đó nó tính theo thiên can Nhật Chủ đối chiếu địa chi từng trụ để đo cường nhược, còn trong Tử Vi thì an theo Cục và trải trên mười hai cung để đọc nhịp của từng cung chức. Thứ ba, bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi của địa bàn cũng được gọi là Tứ Mộ; đó là tên của cung, còn Mộ ở đây là tên của sao. Hai thứ trùng tên và có lúc trùng chỗ khi vòng đi thuận, nhưng vẫn là hai khái niệm khác nhau.
Và một lời cuối cho mục này. Không có vật phẩm nào, lễ nào "giải" được sao Mộ, bởi vì không có gì để giải, và cũng chẳng ai muốn giải bỏ cái kho của chính mình. Việc cần làm với chặng này chỉ có một: biết mình đang cất cái gì, ở lĩnh vực nào, và mở nó ra đúng lúc.
Lời Khuyên Khi Lá Số Có Mộ
Mộ không cần hóa giải, nó cần được dùng đúng. Điều thứ nhất: xác định cho được cung chức nào giữ Mộ, rồi coi lĩnh vực ấy là kho của đời mình và đối xử với nó cho xứng. Nghĩa là dồn phần tích lũy vào đúng lĩnh vực ấy, đừng rải đều, vì đó là chỗ mình giữ được lâu nhất. Mộ ở Điền Trạch thì tích vào nhà đất, Mộ ở Phúc Đức thì tích vào phúc phần và sự an trong lòng, Mộ ở Quan Lộc thì tích vào nghề và uy tín nghề.
Điều thứ hai: nhớ rằng kho nào cũng phải có lúc mở. Chặng Mộ chỉ ra chỗ cất, và cái bẫy duy nhất của nó là cất mãi mà không lấy ra dùng. Hãy tự hỏi mỗi năm một lần: trong lĩnh vực này, mình đang giữ cái gì mà lẽ ra nên đem ra dùng. Đó có thể là một khoản tiền nằm im, một kinh nghiệm chưa truyền lại, một lời chưa nói với người thân, một thứ đã học mà chưa bao giờ đem ra làm.
Điều thứ ba: nhìn hai cung tam hợp giữ Tràng Sinh và Đế Vượng, vì đó là nguồn và là sức làm đầy cái kho. Nếu kho đang vơi thì đừng chỉ nhìn vào kho, hãy nhìn hai chỗ kia. Thí dụ Mộ ở Tài Bạch mà Đế Vượng ở Quan Lộc thì muốn tiền vào kho phải mạnh tay đầu tư cho nghề, chứ không phải ngồi tiết kiệm thêm. Thế Sinh Vượng Mộ đọc như vậy mới ra lời khuyên.
Điều thứ tư. Nếu quý vị vừa đọc thấy chữ Mộ trên lá số mình và thấy lo vì cái tên, xin dừng lại và đọc lại mục ranh giới phía trên. Đây là một phụ tinh nhỏ trong bộ 121 sao, nó không phán được điều gì cả, và tên của nó nghĩa là kho chứ không phải mồ mả. Trong cả vòng, đây lại là chặng lành nhất về mặt cấu trúc, vì nó luôn được Tràng Sinh và Đế Vượng chiếu về. Xin đừng để một cái tên làm hỏng cách đọc cả lá số, và xin đừng mua bất cứ vật phẩm nào để "giải sao Mộ".
Phong thủy bổ trợ, chỉ là gợi ý chung
Những gợi ý dưới đây không phải phép trấn yểm và cũng không đổi được lá số, chúng chỉ là cách sắp xếp đời sống cho hợp với một nhịp thu tàng: giữ trong nhà một chỗ cất đồ gọn gàng và biết trong đó có gì, vì kho lộn xộn thì cất bao nhiêu cũng như không; mỗi năm dọn bỏ một lần những thứ đã hết vai trò để chỗ cho cái đáng giữ; lập một khoản dành dụm cố định và đừng động tới, đó là cái kho thật của mình; ghi lại những gì mình học được thay vì để trong đầu, vì tri thức không ghi thì không tích được; và giữ giấy tờ nhà đất, thừa kế cho rõ ràng từ sớm, đây là việc rất hợp với chặng này và tránh được nhiều phiền phức về sau.
Câu hỏi thường gặp
Mộ là chặng thứ chín của vòng Trường Sinh trong Tử Vi Đẩu Số, còn gọi là Khố tức kho chứa. Ý nghĩa cốt lõi là sự thu tàng, tích trữ, cất giữ, mang tính kho tàng và bền chặt, có tính giữ của.
Tùy trường hợp. Chính tinh tốt nhập Mộ như của quý cất trong kho, gặp thời khai mở lại rất quý; nhưng cũng có khi nhập Mộ là bị giam, cần Tuần Triệt hay sao khai mở. Đây là chỗ phải luận kỹ theo từng chính tinh.
Mộ an theo Cục, đứng liền sau Tử trong vòng mười hai chặng. Biết Trường Sinh khởi ở đâu là suy ra vị trí Mộ.
Mộ ở Tài Bạch hay Điền Trạch mang ý nghĩa kho tàng, biết tích trữ, giữ của bền, lợi tích lũy nhà đất. Gặp Lộc Tồn, Hóa Lộc thì kho đầy; gặp Không Kiếp thì kho bị phá.
Không. Chữ Mộ ở đây là chữ Khố, nghĩa là kho chứa. Đây là tên chặng thứ chín của vòng Tràng Sinh, chỉ trạng thái khí thu về và cất lại, giống như cuối mùa nhựa rút hết về gốc cây hay như thóc gặt xong thì vào bồ. Nghĩa cốt lõi của nó là tích chứa, thu tàng, giữ của, chứ không phải mồ mả. Đây là phụ tinh nhỏ, không ai được phép phán họa từ một chặng, và tên sao không phải là điều sẽ xảy ra.
Là quan hệ cố định giữa ba chặng Tràng Sinh, Đế Vượng và Mộ: chúng luôn cách nhau đúng bốn cung nên luôn đứng thành một bộ tam hợp trên địa bàn, với mọi Cục và cả hai chiều an. Đây chính là bộ tam hợp cục quen thuộc của mệnh lý Đông phương, thí dụ vòng khởi tại Tỵ thì ba chặng ấy rơi đúng vào Tỵ, Dậu, Sửu. Nghĩa của bộ ba là một mạch khép kín: sinh ra, lên tới đỉnh, rồi thu vào kho.
Không. Chạy đủ năm Cục và cả hai chiều an, Mộ chỉ rơi vào tám cung Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất. Vòng đi thuận thì Mộ rơi đúng vào bốn cung Tứ Mộ là Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, tức bốn cung mà chính địa bàn cũng gọi là kho; vòng đi nghịch thì Mộ rơi vào bốn cung Tứ Chính.
Không có. Vòng Tràng Sinh an theo Cục của lá số gốc, mà Cục cả đời không đổi, nên Mộ nằm nguyên một chỗ suốt đời. Không có Mộ lưu niên. Cái chạy qua nó là cung đại vận, cung tiểu hạn và các lưu sao của từng năm.