Tử Vi
Sao Mộc Dục: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung
Tìm hiểu sao Mộc Dục trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.
Tổng quan về sao Mộc Dục
Mộc Dục là chặng thứ hai trong vòng Trường Sinh, ví như đứa trẻ vừa sinh được tắm gội. Vì còn non nớt và liên quan tới việc tắm gội, sao này gắn với đào hoa, tình cảm, sự bất ổn của tuổi mới lớn, nên còn được gọi là sao Đào Hoa của vòng Trường Sinh.
- Ngũ hành/Chặng: Chặng Đào Hoa
- Nhóm: Vòng Trường Sinh
- Cách an: Theo Cục của lá số
- Cai quản: non trẻ, đào hoa, dễ sa đà
- Tính chất: Đào hoa, non trẻ
Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.
Ý nghĩa tại cung Mệnh
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Người có duyên, dáng tươi, ưa sạch sẽ và ưa cái đẹp, trẻ lâu hơn tuổi. Nhạy cảm, học cái mới nhanh, hợp nghề cần thẩm mỹ.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ, sao đào hoa: Tính chưa định, thích rồi chán, hay đổi ý và đổi hướng. Dễ nể người, dễ bị lời khen dẫn đi.
Ý nghĩa ở các cung khác
Đối chiếu ý nghĩa của Mộc Dục với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.
Cung Phụ Mẫu
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Cha mẹ trẻ trung trong nết, gần gũi với con, nhà cửa không khắt khe.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ, sao đào hoa: Bậc trên có chuyện tình cảm khó nói, hoặc cha mẹ còn trẻ khi sinh mình nên đoạn đầu nuôi con còn vụng.
Cung Phúc Đức
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Tâm hồn trẻ, biết hưởng, có gu, sống nhẹ, ít chấp nê chuyện cũ.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ, sao đào hoa: Lòng hay xao động, khó ngồi yên, vui buồn theo người ngoài, thích hưởng thụ hơn thích tích lũy.
Cung Điền Trạch
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Nhà đẹp, chú trọng trang trí, gần nước hoặc gần chỗ đông vui, phòng tắm và bếp là chỗ được đầu tư.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ, sao đào hoa: Nhà cửa thay đổi nhiều, ở chưa lâu đã muốn dời. Chi cho sửa sang trang trí quá tay so với thu nhập.
Cung Quan Lộc
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ, sao đào hoa: Nghề nghiệp chưa định, đổi việc nhiều, hứng thì làm hết sức chán thì buông. Dễ vướng chuyện tình cảm nơi làm việc.
Cung Nô Bộc
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Bạn bè và nhân viên trẻ, khí thế, dễ gần, không khí làm việc vui.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ, sao đào hoa: Người quanh mình thay đổi liên tục, quan hệ công việc lẫn với tình riêng, dễ sinh điều tiếng trong nhóm.
Cung Thiên Di
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Ra ngoài được quý mến, dễ làm quen, hợp việc gặp gỡ và tiếp khách. Đi xa thì gặp người tốt.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ, sao đào hoa: Ra ngoài dễ vướng chuyện tình cảm, dễ nghe lời người lạ. Nơi đông vui thì mất tiền mất thời gian.
Cung Tật Ách
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Cơ thể nhạy, hồi nhanh, ít bệnh nặng. Sách gắn chặng này với nước nên ứng vào da, thận, đường tiết niệu và nội tiết.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ, sao đào hoa: Da dễ dị ứng, chứng liên quan nội tiết và tiết niệu, cảm nắng cảm lạnh vặt. Trẻ nhỏ thì hay ốm sau khi tắm gội, gió máy.
Cung Tài Bạch
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Tiền đến từ nghề liên quan cái đẹp, tới đám đông, tới cảm xúc: làm đẹp, thời trang, ăn uống, giải trí, nội dung.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ, sao đào hoa: Tiêu theo cảm hứng, tiền vào rồi ra ngay, hay chi cho vẻ ngoài và cho quan hệ. Không hợp giữ quỹ chung.
Cung Tử Tức
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Con cái xinh xắn, có duyên, nghệ thuật khá. Cung này cũng ứng vào chuyện sinh nở, tắm gội, chăm trẻ.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ, sao đào hoa: Con cái ham chơi, khó vào nếp, dậy thì sớm nên cần theo sát. Chuyện sinh nở thì đoạn đầu nhiều lo lắng.
Cung Phu Thê
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Bạn đời ưa nhìn, biết chăm chút, đời sống vợ chồng có phần lãng mạn. Duyên thường đến sớm và đến dễ.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ, sao đào hoa: Đây là cung Mộc Dục đáng lưu ý nhất. Tình cảm nồng ở đoạn đầu rồi phai, dễ có chuyện ngoài, hoặc cưới khi cả hai còn chưa đủ chín. Cần thời gian tìm hiểu dài hơn người khác.
Cung Huynh Đệ
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Anh em bạn bè trẻ trung, vui vẻ, quan hệ nhẹ nhàng, gặp nhau là cười được.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ, sao đào hoa: Bạn bè đông mà nông, thân nhanh nhạt cũng nhanh, dễ có chuyện tình cảm lẫn vào chỗ bạn bè.
Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Mộc Dục không an theo can năm, không an theo chi năm, không an theo tháng, cũng không an theo giờ. Nó an theo Cục của lá số, cùng với mười một sao khác trong vòng Trường Sinh. Cục là ngũ hành của cung Mệnh lấy theo nạp âm can chi cung Mệnh, chia làm năm bậc Thủy Nhị, Mộc Tam, Kim Tứ, Thổ Ngũ, Hỏa Lục. Vì Cục sinh ra từ cung Mệnh, mà cung Mệnh sinh ra từ tháng sinh và giờ sinh, nên vòng này mọc lên từ chính bộ khung của lá số chứ không mọc từ lịch pháp của năm sinh.
Cách an gồm hai bước. Bước một, tìm cung khởi của sao Trường Sinh theo Cục: Hỏa Lục Cục khởi tại Dần, Kim Tứ Cục khởi tại Tỵ, Thủy Nhị Cục và Thổ Ngũ Cục cùng khởi tại Thân, Mộc Tam Cục khởi tại Hợi. Bước hai, từ đó đếm tiếp một cung để đặt Mộc Dục, đếm thuận với dương nam và âm nữ, đếm nghịch với âm nam và dương nữ. Mộc Dục đứng ở bước thứ nhất, tức luôn kề ngay Trường Sinh.
Một cung đếm thôi mà đổi hẳn nhóm cung
Chỗ đáng chú ý nhất của sao này nằm ngay ở bước đếm ấy. Trường Sinh khóa cứng ở bốn cung Tứ Sinh là Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Cộng thêm một cung theo chiều thuận thì rơi vào Mão, Dậu, Ngọ, Tý, tức bốn cung Tứ Chính. Trừ đi một cung theo chiều nghịch thì rơi vào Sửu, Mùi, Tỵ trừ một là Thìn, Hợi trừ một là Tuất, tức bốn cung Tứ Mộ. Không có trường hợp nào khác.
Thủy Nhị Cục
- Trường Sinh khởi tại: Thân
- Mộc Dục khi đếm thuận (dương nam, âm nữ): Dậu
- Mộc Dục khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ): Mùi
Mộc Tam Cục
- Trường Sinh khởi tại: Hợi
- Mộc Dục khi đếm thuận (dương nam, âm nữ): Tý
- Mộc Dục khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ): Tuất
Kim Tứ Cục
- Trường Sinh khởi tại: Tỵ
- Mộc Dục khi đếm thuận (dương nam, âm nữ): Ngọ
- Mộc Dục khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ): Thìn
Thổ Ngũ Cục
- Trường Sinh khởi tại: Thân
- Mộc Dục khi đếm thuận (dương nam, âm nữ): Dậu
- Mộc Dục khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ): Mùi
Hỏa Lục Cục
- Trường Sinh khởi tại: Dần
- Mộc Dục khi đếm thuận (dương nam, âm nữ): Mão
- Mộc Dục khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ): Sửu
Vậy vị trí của Mộc Dục nói cho ta biết hai điều cùng lúc, một điều về Cục và một điều về âm dương nam nữ. Thấy Mộc Dục ở Tứ Chính là biết ngay lá số ấy của dương nam hoặc âm nữ. Thấy Mộc Dục ở Tứ Mộ là biết ngay của âm nam hoặc dương nữ. Đây là một trong rất ít sao trên lá số tự khai ra chiều đếm của cả vòng, và cũng vì thế nó là sao Thầy dùng để kiểm nhanh xem học trò an vòng đúng chiều hay chưa.
Hệ quả thực dụng của điều này lớn hơn người ta tưởng. Cái tiếng đào hoa của Mộc Dục phần lớn đến từ chỗ nó rơi vào Tứ Chính, mà Tứ Chính Tý Ngọ Mão Dậu chính là bốn cung mà sao Đào Hoa thật cũng bị khóa vào. Nói cách khác, chỉ một nửa số lá số mới có khả năng cho Mộc Dục ngồi chung cung với Đào Hoa, còn nửa kia thì vĩnh viễn không. Người luận không phân biệt điều này sẽ gán tiếng đào hoa cho cả những lá số mà cấu trúc không cho phép.
Những điều bất biến của Mộc Dục
- Chỉ đóng tám cung: Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất. Chia làm hai nhóm rạch ròi: bốn cung Tứ Chính khi đếm thuận, bốn cung Tứ Mộ khi đếm nghịch.
- Không bao giờ đóng bốn cung: Dần, Tỵ, Thân, Hợi. Đây là bốn cung Tứ Sinh, chỗ dành riêng cho Trường Sinh và Bệnh. Ai thấy Mộc Dục của mình ở một trong bốn cung ấy thì chắc chắn đã an nhầm.
- Luôn kề ngay Trường Sinh, cách đúng một cung, không có ngoại lệ nào trong năm Cục và hai chiều.
- Luôn bị Trường Sinh và Quan Đới giáp hai bên. Hai cung kề Mộc Dục vĩnh viễn là hai sao ấy, chỉ hoán trái phải khi đổi chiều. Đây là thế giáp rất êm, không sao dữ nào của vòng chen vào được.
- Luôn bị Tử xung chiếu. Tử cách Mộc Dục đúng sáu cung nên cung đối diện Mộc Dục vĩnh viễn là chặng Tử.
- Luôn tam hợp với Suy và Tuyệt. Suy cách bốn cung, Tuyệt cách tám cung, đổi chiều thì hai sao hoán vị nhưng bộ ba cung vẫn nguyên.
- Vĩnh viễn không thể đồng cung với Thiên Mã, Cô Thần và Kiếp Sát, vì cả ba sao ấy khóa ở Tứ Sinh, chỗ Mộc Dục không bao giờ tới. Chúng chỉ chiếu hoặc giáp.
- Đồng cung với Đào Hoa chỉ có thể xảy ra khi vòng đếm thuận, tức với dương nam và âm nữ, và còn phải đúng tuổi chi nữa. Với âm nam và dương nữ thì hai sao này không đời nào gặp nhau trong cùng một cung.
- Đồng cung với Hoa Cái, Quả Tú, Phan An chỉ có thể xảy ra khi vòng đếm nghịch, vì ba sao ấy khóa ở Tứ Mộ.
- Với Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La: khi Mộc Dục ở Tứ Chính thì nó gặp được Lộc Tồn của năm tuổi can âm và Kình Dương của năm tuổi can dương, nhưng vĩnh viễn không gặp Đà La. Khi Mộc Dục ở Tứ Mộ thì ngược lại, nó gặp được Kình Dương của can âm và Đà La của can dương, nhưng vĩnh viễn không gặp Lộc Tồn.
Dòng cuối của khung trên đáng để nhắc lại thành lời, vì nó phá một câu quen tai. Nhiều người dạy rằng Mộc Dục gặp Lộc Tồn thì chế bớt được nét phóng túng. Câu ấy chỉ áp dụng được cho một nửa số lá số, cụ thể là những lá số đếm thuận có Mộc Dục ở Tứ Chính và người ấy sinh năm can âm. Nửa còn lại, Mộc Dục nằm ở Tứ Mộ, mà Lộc Tồn thì không năm nào vào Tứ Mộ, nên cái phanh ấy đơn giản là không tồn tại. Muốn chế thì phải tìm sao khác.
Cách an và vị trí trong lá số
Vòng Trường Sinh gồm mười hai sao ứng với mười hai chặng của một đời sống: Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng. Vòng này an theo Cục của lá số. Tùy Thủy nhị cục, Mộc tam cục, Kim tứ cục, Thổ ngũ cục hay Hỏa lục cục mà sao Trường Sinh khởi ở một cung Tứ Sinh là Dần, Thân, Tỵ hoặc Hợi, rồi mười hai sao lần lượt an theo chiều thuận hay nghịch tùy âm dương của tuổi và giới tính.
Trong vòng mười hai chặng, Mộc Dục giữ vị trí của mình theo thứ tự cố định. Biết sao Trường Sinh khởi ở đâu là suy ra được vị trí Mộc Dục.
Đặc tính và ý nghĩa
Mộc Dục mang khí non trẻ, chưa vững, dễ thay đổi. Ở cung Mệnh hay Phu Thê, nó tăng nét đào hoa, tình cảm phong phú nhưng cũng dễ sa đà, thiếu kiên định. Người có Mộc Dục thường có duyên, ưa cái đẹp, song cần giữ mình trong chuyện tình cảm.
Là chặng chưa trưởng thành, Mộc Dục cần chính tinh vững và cát tinh để cái đào hoa thành duyên lành; gặp Đào Hồng Riêu và sát tinh thì dễ thành phóng túng.
Vị Trí Của Mộc Dục Trong Vòng Trường Sinh
Đẩu Số có bốn vòng sao lớn. Vòng Thái Tuế mười hai sao đếm theo chi năm sinh, vòng Bác Sĩ mười hai sao đếm theo Lộc Tồn tức theo can năm sinh, vòng Thần Sát mười hai sao đếm theo tam hợp chi năm sinh, và vòng Trường Sinh mười hai sao đếm theo Cục. Ba vòng đầu buộc vào can chi năm sinh. Vòng Trường Sinh là vòng duy nhất buộc vào Cục, tức buộc vào chính cấu trúc bên trong của lá số, nên nó đo nhịp sinh trưởng của riêng lá số ấy chứ không đo thời thế của năm sinh.
Thứ tự mười hai chặng là Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng. Mộc Dục giữ vị trí thứ hai, cách điểm khởi đúng một cung. Tượng của nó là đứa trẻ vừa lọt lòng được đem tắm gội, nước còn ấm, thân còn mềm, chưa định hình gì cả. Sách cổ vì thế còn gọi chặng này là Bại, không phải theo nghĩa thua trận mà theo nghĩa chưa vững, dễ hỏng.
Sao đứng trước, sao đứng sau, sao chiếu tới
Đứng trước Mộc Dục là Trường Sinh, mầm vừa nảy. Đứng sau là Quan Đới, người thanh niên đội mũ mặc áo bước vào đời. Trên địa bàn, hai cung kề Mộc Dục vĩnh viễn là hai sao ấy. Nhìn theo tượng thì rất gọn: Mộc Dục là quãng giữa cái vừa sinh và cái đã thành người lớn, tức đúng quãng tuổi mới lớn, quãng dễ đẹp nhất mà cũng dễ hỏng nhất của một đời khí.
Xung chiếu của Mộc Dục cố định là chặng Tử. Đây là cặp đối rất đáng suy nghĩ: đối diện cái non tơ vừa được tắm gội là chỗ khí đã tắt. Cổ nhân đặt vòng như vậy để nhắc rằng cái đẹp của chặng này ngắn, không giữ được lâu. Tam hợp của Mộc Dục cố định là Suy và Tuyệt, hai chặng đi xuống. Cho nên tam phương tứ chính của Mộc Dục toàn là chặng yếu: Suy, Tuyệt, Tử. Trong cả vòng, đây là sao có bộ tam phương kém sức nhất, và đó là lý do cấu trúc khiến sách xếp Mộc Dục vào hàng sao cần dè chừng chứ không xếp vào hàng sao lành như Trường Sinh hay Quan Đới.
Thủy Nhị Cục
- Tràng Sinh: Thân
- Mộc Dục: Dậu
- Quan Đới: Tuất
- Lâm Quan: Hợi
- Đế Vượng: Tý
- Suy: Sửu
- Bệnh: Dần
- Tử: Mão
- Mộ: Thìn
- Tuyệt: Tỵ
- Thai: Ngọ
- Dưỡng: Mùi
Mộc Tam Cục
- Tràng Sinh: Hợi
- Mộc Dục: Tý
- Quan Đới: Sửu
- Lâm Quan: Dần
- Đế Vượng: Mão
- Suy: Thìn
- Bệnh: Tỵ
- Tử: Ngọ
- Mộ: Mùi
- Tuyệt: Thân
- Thai: Dậu
- Dưỡng: Tuất
Kim Tứ Cục
- Tràng Sinh: Tỵ
- Mộc Dục: Ngọ
- Quan Đới: Mùi
- Lâm Quan: Thân
- Đế Vượng: Dậu
- Suy: Tuất
- Bệnh: Hợi
- Tử: Tý
- Mộ: Sửu
- Tuyệt: Dần
- Thai: Mão
- Dưỡng: Thìn
Thổ Ngũ Cục
- Tràng Sinh: Thân
- Mộc Dục: Dậu
- Quan Đới: Tuất
- Lâm Quan: Hợi
- Đế Vượng: Tý
- Suy: Sửu
- Bệnh: Dần
- Tử: Mão
- Mộ: Thìn
- Tuyệt: Tỵ
- Thai: Ngọ
- Dưỡng: Mùi
Hỏa Lục Cục
- Tràng Sinh: Dần
- Mộc Dục: Mão
- Quan Đới: Thìn
- Lâm Quan: Tỵ
- Đế Vượng: Ngọ
- Suy: Mùi
- Bệnh: Thân
- Tử: Dậu
- Mộ: Tuất
- Tuyệt: Hợi
- Thai: Tý
- Dưỡng: Sửu
Bảng trên tính theo chiều thuận, tức cho dương nam và âm nữ. Với âm nam và dương nữ thì cột Trường Sinh và cột Bệnh giữ nguyên, mười cột còn lại lật gương qua trục Trường Sinh, và cột Mộc Dục sẽ dời từ Tứ Chính sang Tứ Mộ. Bảng do máy sinh nên viết theo lối chữ Hán Việt Tràng Sinh, còn thân bài dùng lối viết Trường Sinh quen thuộc hơn với người Việt; hai cách viết cùng chỉ một sao.
Mộc Dục và Tứ Hóa
Mộc Dục không nằm trong bảng Tứ Hóa. Bảng Tứ Hóa của mười thiên can chỉ gọi tên mười bốn chính tinh cùng bốn phụ tinh Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật. Không sao nào của vòng Trường Sinh được gọi tên, nên Mộc Dục vĩnh viễn không hóa Lộc, Quyền, Khoa hay Kỵ.
Nó chỉ dự phần gián tiếp, bằng cách đứng chung cung với chính tinh đang hóa. Chính tinh đồng cung hóa Lộc thì Mộc Dục nói nguồn lộc ấy đến từ chỗ đông người và từ cái đẹp, hợp nghề giao tiếp, hàng tiêu dùng, làm đẹp, giải trí, nhưng lộc ấy chưa định hình, năm nay có năm sau đổi. Chính tinh hóa Quyền thì Mộc Dục làm cái quyền ấy mềm đi, người có quyền mà không muốn ra oai, dễ nể mặt. Chính tinh hóa Khoa thì hợp, vì Khoa chủ tiếng thơm và dáng vẻ, gặp chặng tắm gội thành ra người có phong thái sạch sẽ, ưa nhìn, được cảm tình ngay lần đầu gặp.
Trường hợp đáng chú ý nhất là chính tinh đồng cung hóa Kỵ. Mộc Dục vốn đã chủ chuyện chưa định hình, gặp Kỵ là chuyện chưa định hình mà lại dính, tức là vướng vào cái mình còn chưa hiểu rõ. Đặt ở cung Phu Thê thì Thầy đọc là quan hệ bắt đầu quá sớm, hoặc bắt đầu khi mình chưa đủ chín để chọn. Đặt ở cung Tài Bạch thì đọc là tiêu tiền theo cảm hứng rồi mắc nợ. Xin nhấn mạnh đây là khuynh hướng, không phải phán quyết, và một sao nhỏ trong vòng không đủ sức định đoạt một cung.
Vì sao đọc Mộc Dục phải đọc cả vòng
Mộc Dục tách khỏi vòng thì gần như không nói được gì. Cùng là Mộc Dục ở Phu Thê, nhưng lá số này có Đế Vượng rơi vào Quan Lộc còn lá số kia có Đế Vượng rơi vào Nô Bộc thì hai đời sống hôn nhân khác hẳn nhau: người thứ nhất mạnh ở nghề nên chuyện tình cảm chỉ là một góc, người thứ hai mạnh ở đám đông nên chuyện tình cảm bị đám đông kéo đi. Thầy dạy học trò chấm đủ mười hai chặng lên mười hai cung trước, đọc một lượt xem cung nào đang lên cung nào đang xuống, rồi mới quay lại luận riêng cung có Mộc Dục.
Sao hợp và sao kỵ
Trước khi đọc hai cột dưới, xin nhớ quy tắc về lực. Đồng cung với Mộc Dục thì mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn một bậc, giáp hai bên là thế bao vây, rõ với sát tinh mà mờ với cát tinh. Với Mộc Dục còn thêm một tầng nữa: nó chỉ đóng Tứ Chính hoặc Tứ Mộ tùy chiều đếm, nên nhiều sao chỉ đồng cung được với một nửa số lá số, còn nửa kia thì vĩnh viễn không. Vị thế khả dĩ đã ghi rõ trong ngoặc.
Mộc Dục hợp khi gặp
- Chính tinh miếu vượng và có nền nếp như Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng, Thiên Lương (đồng cung): cái duyên có chỗ đứng, đào hoa thành phong thái. Đây là điều Mộc Dục cần nhất vì tam phương của nó vốn yếu.
- Hóa Khoa (đồng cung qua chính tinh cùng cung, hoặc chiếu): hóa hợp nhất với Mộc Dục, biến cái ưa nhìn thành cái danh, hợp nghề đứng trước người.
- Long Trì, Phượng Các (đồng cung được, hai sao này đi khắp mười hai cung): duyên đẹp, có hỷ sự cưới hỏi, làm nét đào hoa thành nét quý.
- Thiên Đức, Nguyệt Đức (đồng cung hoặc chiếu): làm nhẹ phần phóng túng, hợp nhất khi cung ấy đã có Riêu hoặc Kỵ.
- Thiên Hình (đồng cung được, vì an theo tháng nên đi khắp mười hai cung): đây là sao chế Mộc Dục tốt nhất mà lại ít người dùng. Hình chủ kỷ luật và hàng rào, đặt lên chặng tắm gội thì thành người đẹp mà nghiêm, ai cũng quý mà không ai dám suồng sã.
- Lộc Tồn (đồng cung chỉ khi Mộc Dục ở Tứ Chính và tuổi can âm, tức Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý; khi Mộc Dục ở Tứ Mộ thì vĩnh viễn không gặp): biết giữ, biết chừng mực, chi tiêu có phanh.
- Tả Phụ, Hữu Bật (đồng cung được): có người bên cạnh giữ hộ, chặng chưa vững thì rất cần.
Mộc Dục e ngại khi gặp
- Thiên Riêu (đồng cung được, vì an theo tháng): sao đáng ngại nhất của Mộc Dục. Riêu chủ mê đắm và chuyện thầm kín, cộng với chặng chưa định hình thì thành sa đà, và đây là tổ hợp mà sách nhắc rõ nhất.
- Đào Hoa (đồng cung chỉ khi Mộc Dục ở Tứ Chính, tức chỉ với dương nam và âm nữ; ngoài ra chỉ chiếu hoặc giáp): hai sao đào hoa chồng lên nhau, sức hút mạnh mà tính giữ thì yếu.
- Hồng Loan (đồng cung được, vì đi khắp mười hai cung): duyên đến sớm và đến dễ. Với người đã có gia thất thì đây là chỗ phải giữ.
- Tham Lang (đồng cung được): chính tinh vốn đã mang tiếng đa dục, đặt lên chặng tắm gội thì đam mê tửu sắc lộ rõ, nhất là khi thêm Riêu hoặc Đà La.
- Hóa Kỵ (đồng cung qua chính tinh cùng cung, hoặc chiếu): chuyện chưa định hình mà lại dính, vướng vào cái mình chưa hiểu rõ, gỡ lâu.
- Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung được, vì an theo giờ): tiêu tán, thích rồi bỏ, mua rồi chán, công sức đổ vào chỗ không thành.
- Kình Dương (đồng cung được ở cả hai nhóm cung, can dương thì gặp ở Tứ Chính, can âm thì gặp ở Tứ Mộ): chặng non gặp dao sắc, chuyện tình cảm dễ có cắt đứt dứt khoát và có tổn thương.
- Đà La (đồng cung chỉ khi Mộc Dục ở Tứ Mộ và tuổi can dương; khi Mộc Dục ở Tứ Chính thì vĩnh viễn không gặp): dây dưa kéo dài, chuyện cũ chưa dứt đã sang chuyện mới.
- Thiên Mã, Cô Thần, Kiếp Sát (vĩnh viễn không đồng cung, chỉ chiếu hoặc giáp): ba sao này khóa ở Tứ Sinh. Ai luận thấy chúng ngồi chung Mộc Dục thì chắc chắn có chỗ an nhầm.
Mộc Dục là một chặng của vòng khí. Đi cùng chính tinh sáng và cát tinh thì phát huy mặt hay; gặp sát tinh thì mặt yếu lộ ra. Phải xem cả cục diện mới luận đúng.
Mộc Dục Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Vòng Trường Sinh an một lần trên bản mệnh rồi nằm yên suốt đời. Khi đại vận mười năm đi vào cung có Mộc Dục, không sao nào được thêm vào cả, chỉ là mười năm ấy được đọc trên nền một cung đang ở chặng tắm gội. Đó là mười năm của thử và đổi: học nghề mới, chuyển hướng, mở rộng quan hệ, làm quen với những thứ mình chưa từng biết. Rất hợp để tìm đường, rất không hợp để chốt những quyết định không thể quay lại.
Trên lá số thật, Thầy thấy đại vận Mộc Dục có một nét đều: đời sống tình cảm và giao tế nở ra, còn tài sản thì đứng yên hoặc hao nhẹ. Người trong vận này quen nhiều người, được để ý, được mời gọi, tinh thần vui, nhưng tổng kết mười năm lại thấy chưa cắm được cái rễ nào. Với người trẻ thì đây là vận đẹp, vì tuổi ấy vốn nên thử. Với người đã đứng tuổi mà rơi vào vận này thì phải cẩn thận hơn, vì cái muốn thử lại đến đúng lúc đáng lẽ phải giữ.
Đại vận Mộc Dục rơi vào cung Phu Thê là trường hợp cần nói riêng. Không được đọc thành hôn nhân tan vỡ, sách không nói thế và Thầy cũng không thấy như thế. Cách đọc đúng là mười năm ấy quan hệ vợ chồng ở trạng thái chưa định hình lại: dễ có thay đổi trong nếp sống chung, dễ có người thứ ba xuất hiện trong đời sống giao tế, và cũng dễ hâm nóng lại nếu hai người chịu để tâm. Kết quả tùy người, không tùy sao.
Vòng Trường Sinh không có bản lưu niên
Chỗ này phải nói rõ vì rất nhiều người nhầm. Vòng Thái Tuế có bản lưu, mỗi năm lấy chi của năm xem mà an lại đủ mười hai sao, nên mới có lưu Thái Tuế, lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ. Vòng Bác Sĩ cũng có bản lưu, lấy can của năm xem mà an lại theo lưu Lộc Tồn. Vòng Trường Sinh thì không. Cục là con số cố định từ lúc chào đời, không có Cục của năm, nên không tồn tại lưu Mộc Dục. Cũng vì thế, mọi bảng vận niên nào ghi mục lưu Mộc Dục đều là tự đặt ra.
Trong một năm cụ thể, Mộc Dục tham gia bằng cách đứng yên chờ các lưu sao đi qua. Cung có Mộc Dục vẫn nhận đủ lưu Thái Tuế, lưu Tang Hổ, lưu Lộc Tồn, lưu Kình Đà, lưu Khôi Việt, lưu Xương Khúc, lưu Đào Hoa, lưu Hồng Loan cùng bộ lưu Tứ Hóa theo can năm. Cách đọc là lấy chặng tắm gội làm nền rồi xem năm ấy ai tới.
Có hai điều tính được chắc chắn. Thứ nhất, lưu Thiên Mã vĩnh viễn không tới được cung có Mộc Dục, vì lưu Thiên Mã năm nào cũng đứng ở một trong bốn cung Tứ Sinh, mà Mộc Dục thì không bao giờ ở đó. Cho nên với sao này không có chuyện năm nay có Mã động mà phải đi. Thứ hai, lưu Đào Hoa chỉ có thể trùng cung Mộc Dục khi Mộc Dục nằm ở Tứ Chính, tức chỉ với lá số đếm thuận; lá số đếm nghịch thì lưu Đào Hoa chỉ tam hợp hoặc giáp tới, đọc nhẹ hơn hẳn một bậc.
Những năm đáng chú ý nhất với người có Mộc Dục ở cung quan trọng là năm lưu Đào Hoa hoặc lưu Hồng Loan về đúng cung ấy, hoặc năm lưu Kỵ bay vào. Năm lưu Đào Hoa về thì quan hệ mở rộng, việc gì cần gặp người thì thuận. Năm lưu Kỵ vào thì chuyện tình cảm hoặc chuyện tiêu tiền dễ thành vướng mắc phải mất công gỡ. Cả hai đều là chuyện của một năm, không kéo dài, và đều không phải điềm họa.
Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Mộc Dục
Một, Mộc Dục không phải bằng chứng của ngoại tình
Đây là hiểu lầm nặng nhất và cũng gây hại nhất. Sách chép Mộc Dục là chặng tắm gội, chủ sự non trẻ, chưa vững, dễ thay đổi, và từ đó mới suy ra nét đào hoa. Sách không hề nói người có Mộc Dục thì phản bội, cũng không nói cung Phu Thê có Mộc Dục thì hôn nhân đổ. Nghĩa gốc của sao này là chưa định hình, không phải là bất trung.
Thầy nói thẳng vì đã gặp nhiều người mang lá số đi hỏi rồi về nghi ngờ vợ chồng mình chỉ vì một sao nhỏ. Mộc Dục là phụ tinh, đứng một mình không đủ sức định đoạt gì cả. Muốn luận chuyện tình cảm phải xem chính tinh cung Phu Thê, xem Tứ Hóa, xem sát tinh, xem cả cung Phúc Đức, rồi mới thêm Mộc Dục vào như một nét. Ai chỉ nhìn một sao mà phán chuyện gia đình người khác thì đó là làm hại chứ không phải luận mệnh.
Hai, Mộc Dục không phải sao đào hoa chính danh
Bộ sao đào hoa được sách gọi tên gồm Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỷ, Thiên Riêu, cùng chính tinh Tham Lang. Mộc Dục được gọi là sao đào hoa của vòng Trường Sinh, chữ của vòng ấy quan trọng: nó là một chặng khí mang màu đào hoa, không phải một sao đào hoa độc lập. Trên thực tế, phân nửa số lá số có Mộc Dục nằm ở Tứ Mộ, chỗ mà sao Đào Hoa thật vĩnh viễn không tới được, và ở những lá số ấy màu đào hoa của Mộc Dục nhạt hơn hẳn. Đây là điều tính được bằng cấu trúc chứ không phải cảm nhận.
Ba, chữ Bại không có nghĩa là thất bại
Một số bản chép gọi Mộc Dục là Bại tinh, khiến người đọc tưởng đây là sao chủ thua lỗ, hỏng việc. Chữ Bại trong thuyết mười hai chặng chỉ trạng thái khí chưa vững, dễ tan, đúng như thân đứa trẻ vừa tắm xong còn mềm. Nó nói về độ bền, không nói về kết quả. Cung có Mộc Dục mà chính tinh miếu vượng, lại có Lộc Quyền Khoa, thì vẫn là cung mạnh, chỉ là cái mạnh ấy cần thời gian để đứng vững.
Bốn, Mộc Dục trong Đẩu Số khác Mộc Dục trong Bát Tự
Bên Tứ Trụ Bát Tự cũng có bảng mười hai chặng, và Mộc Dục bên ấy tính theo Nhật Can gặp địa chi của từng trụ. Bên Đẩu Số thì tính theo Cục của lá số. Hai bảng dùng chung tên gọi và chung nguyên lý ngũ hành nhưng tham số đầu vào khác hẳn, nên kết quả không việc gì phải trùng nhau. Lấy Mộc Dục bên Bát Tự để chứng minh cho Mộc Dục bên Đẩu Số là lập luận vòng tròn, không có giá trị kiểm chứng.
Lời Khuyên Khi Lá Số Có Mộc Dục
Mộc Dục không phải sao cần trấn yểm, và cũng không phải sao đáng sợ. Nó là chặng chưa định hình, mà chưa định hình thì có thể nắn được. Việc của người có nó là biết mình đang ở đoạn nào rồi cư xử cho hợp. Thầy tóm vào bốn lời khuyên thực tế.
Một, đặt thêm thời gian vào lĩnh vực của cung có Mộc Dục. Cung nào mang sao này thì lĩnh vực ấy cần thời gian dài hơn người khác mới chốt được. Mộc Dục ở Phu Thê thì kéo dài giai đoạn tìm hiểu, đừng cưới vội. Ở Quan Lộc thì thử nghề trước khi cam kết dài hạn. Ở Tài Bạch thì đặt quy tắc chờ vài ngày trước mỗi khoản chi lớn. Chỉ riêng việc kéo dài thời gian đã hóa giải được phần lớn cái yếu của chặng này.
Hai, tìm cái phanh trong chính lá số. Vì Lộc Tồn chỉ tới được Mộc Dục ở một nửa số lá số, nên phải tìm sao giữ khác: Thiên Hình chủ kỷ luật, Thiên Đức và Nguyệt Đức chủ nết lành, Thiên Lương chủ nguyên tắc, Hóa Khoa chủ danh dự. Có sao nào trong số ấy ở cung hoặc chiếu tới thì nét đào hoa thành phong thái. Không có sao nào cả thì cái phanh phải do người ấy tự đặt bằng nếp sống, không trông vào lá số.
Ba, dùng mặt hay của nó thay vì chỉ đề phòng mặt dở. Mộc Dục cho cảm quan thẩm mỹ, cho sự nhạy với cái đẹp và với cảm xúc người khác, cho khả năng làm người ta thấy dễ chịu. Đó là vốn liếng thật, dùng được trong nghề làm đẹp, thiết kế, tiếp khách, chăm sóc, dạy trẻ, nghệ thuật. Người có Mộc Dục mà chọn nghề khô cứng thì phí mất cái sao này cho.
Bốn, giữ ranh giới bằng thói quen chứ không bằng ý chí. Chặng chưa vững thì ý chí cũng chưa vững. Thay vì hứa với mình sẽ giữ, hãy đặt ranh giới thành thói quen: không nhắn tin riêng khuya, không giữ quỹ chung một mình, không ký hợp đồng trong buổi gặp đầu tiên. Thói quen giữ người tốt hơn quyết tâm.
Về phong thủy bổ trợ. Những gợi ý dưới đây là gợi ý chung theo tượng của sao, không phải phép trấn yểm, không thay được việc phải làm trong đời thật, và không cần mua bán vật phẩm gì. Mộc Dục mang tượng nước và sự tắm gội, nên nếp sống hợp với nó là giữ chỗ ngủ và chỗ tắm sạch sẽ khô ráo, không để nước đọng, không bày quá nhiều gương trong phòng ngủ. Ai có Mộc Dục ở Tật Ách thì việc bổ trợ đúng nhất là ngủ đủ giấc và uống đủ nước, vì chặng này ứng vào da và đường tiết niệu. Ngoài chừng ấy, sách không nói gì thêm về phép hóa giải cho sao này.
Câu hỏi thường gặp
Mộc Dục là chặng thứ hai trong vòng Trường Sinh của Tử Vi Đẩu Số, ví như đứa trẻ được tắm gội. Sao này gắn với đào hoa, tình cảm và sự non trẻ chưa vững, nên còn gọi là sao Đào Hoa của vòng Trường Sinh.
Đúng, Mộc Dục được xem là một sao đào hoa, chủ duyên tình, sự ưa cái đẹp, nhưng cũng dễ sa đà nếu gặp Đào Hồng Riêu và sát tinh. Có chính tinh vững thì đào hoa thành duyên lành.
Mộc Dục an theo Cục, đứng liền sau Trường Sinh trong vòng mười hai chặng. Biết Trường Sinh khởi ở đâu là suy ra vị trí Mộc Dục.
Mộc Dục ở Phu Thê làm tăng nét đào hoa và tình cảm trong hôn nhân, đời sống tình cảm phong phú nhưng cần giữ sự kiên định và chung thủy, nhất là khi gặp thêm sao đào hoa.
Vì Mộc Dục đứng liền sau Trường Sinh đúng một cung, mà Trường Sinh thì khóa cứng ở bốn cung Tứ Sinh là Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Cộng một cung theo chiều thuận thì rơi vào Tý, Ngọ, Mão, Dậu tức Tứ Chính; trừ một cung theo chiều nghịch thì rơi vào Sửu, Thìn, Mùi, Tuất tức Tứ Mộ. Không có cách nào để Mộc Dục quay lại bốn cung Tứ Sinh, nên thấy nó ở đó là lá số đã an nhầm.
Có, và đây là mẹo kiểm nhanh nhất. Mộc Dục nằm ở một trong bốn cung Tý, Ngọ, Mão, Dậu thì lá số ấy đếm thuận, tức của dương nam hoặc âm nữ. Nằm ở một trong bốn cung Sửu, Thìn, Mùi, Tuất thì đếm nghịch, tức của âm nam hoặc dương nữ. Trường Sinh và Bệnh không dùng để kiểm được vì hai sao ấy đứng nguyên chỗ dù đổi chiều.
Không. Sách chép Mộc Dục là chặng tắm gội, chủ sự non trẻ chưa vững và dễ thay đổi, rồi từ đó mới suy ra nét đào hoa; sách không nói nó là điềm phản bội. Ở cung Phu Thê, nghĩa đúng là đời sống tình cảm phong phú và quan hệ cần thời gian mới định hình, nên lời khuyên là kéo dài giai đoạn tìm hiểu. Muốn luận chuyện hôn nhân phải xem chính tinh cung Phu Thê, Tứ Hóa, sát tinh và cung Phúc Đức, chứ một phụ tinh nhỏ không đủ sức phán.
Không có. Vòng Thái Tuế và vòng Bác Sĩ có bản lưu vì chúng an theo can chi của năm xem, còn vòng Trường Sinh an theo Cục, mà Cục là con số cố định của lá số từ lúc sinh, không có Cục của năm. Trong một năm cụ thể, cung có Mộc Dục vẫn nhận lưu Đào Hoa, lưu Hồng Loan, lưu Lộc Tồn, lưu Kình Đà và lưu Tứ Hóa, nhưng bản thân sao Mộc Dục thì đứng yên suốt đời.