Tử Vi
Sao Nguyệt Đức: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung
Tìm hiểu sao Nguyệt Đức trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.
Tổng quan về sao Nguyệt Đức
Nguyệt Đức là sao phúc đức, ngũ hành Hỏa, đi cùng Thiên Đức. Đây là cát tinh có tính giải cứu, biểu trưng cho đức hạnh, sự đoan chính và khả năng hóa giải điều không may, tương tự Thiên Đức.
- Ngũ hành: Hỏa
- Nhóm: Phụ Tinh Phúc Đức
- Cách an: Nguyệt đức an theo địa chi năm sinh, đi cùng thiên đức, hợp thành bộ phúc đức giải cứu
- Cai quản: đức độ, đoan chính, giải tai ách
- Tính chất: Phúc đức, đoan chính
Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.
Ý nghĩa tại cung Mệnh
- Khi Nguyệt Đức gặp chính tinh sáng, phúc tinh, cát tinh: Người đoan chính, kín đáo, giữ nếp; hiền mà chín chắn hơn tuổi. Nói ít mà đáng tin, gặp việc khó thường có người lặng lẽ giúp.
- Khi Nguyệt Đức gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Cái đoan chính thành cứng nhắc và hay tự trách; dễ ưu tư không rõ nguyên do vì Tử Phù đồng cung. Đức tinh giữ cho người ta khỏi đi lệch, không đổi được tính cách.
Ý nghĩa ở các cung khác
Đối chiếu ý nghĩa của Nguyệt Đức với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.
Cung Phụ Mẫu
- Khi Nguyệt Đức gặp chính tinh sáng, phúc tinh, cát tinh: Cha mẹ nề nếp, gia phong tử tế, dạy con bằng lối làm gương chứ không bằng lời.
- Khi Nguyệt Đức gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Bậc trên điềm đạm mà xa cách, hoặc đau yếu nên con cái phải lo. Đây là lời nhắc thăm hỏi đều, không phải lời báo trước điều gì.
Cung Phúc Đức
- Khi Nguyệt Đức gặp chính tinh sáng, phúc tinh, cát tinh: Cung Nguyệt Đức nói được nhiều nhất. Tâm tính lành và sâu, biết nghĩ tới người khác, hợp việc thiện nguyện, việc chăm sóc, việc tĩnh tâm.
- Khi Nguyệt Đức gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Hay có những đợt trầm không tên, nghĩ nhiều về chuyện cũ, khó buông. Có Thiên Không ở đỉnh tam hợp thì thêm cảm giác làm nhiều mà thấy trống. Nên giữ nếp sinh hoạt đều và có người để nói chuyện.
Cung Điền Trạch
- Khi Nguyệt Đức gặp chính tinh sáng, phúc tinh, cát tinh: Nhà cũ mà bền, xóm giềng hiền hòa, giấy tờ ít rắc rối; sửa sang từ từ theo lối chắc chắn.
- Khi Nguyệt Đức gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Nhà thiếu sáng, cần thông thoáng; tài sản hao dần vì những khoản nhỏ không tên hoặc đồ cũ giữ mãi không dùng.
Cung Quan Lộc
- Khi Nguyệt Đức gặp chính tinh sáng, phúc tinh, cát tinh: Hợp nghề lấy cái đức và sự bền làm vốn: y tế, điều dưỡng, giáo dục, luật, công tác xã hội, tôn giáo, lưu trữ, nghiên cứu. Tiến chậm mà không lùi.
- Khi Nguyệt Đức gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Việc hay trì trệ, dự án kéo dài, nhiệt tình nguội giữa chừng. Nên chia việc thành chặng ngắn có mốc kết thúc rõ.
Cung Nô Bộc
- Khi Nguyệt Đức gặp chính tinh sáng, phúc tinh, cát tinh: Bạn ít mà sâu, có người bạn cũ đi cùng nhiều năm; lúc ngặt thì có người giúp mà không đòi trả.
- Khi Nguyệt Đức gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Quan hệ nhạt dần rồi mất liên lạc mà không vì mâu thuẫn gì; người tốt thì có mà không đủ lực.
Cung Thiên Di
- Khi Nguyệt Đức gặp chính tinh sáng, phúc tinh, cát tinh: Ra ngoài kín tiếng, không phô trương, được người trọng vì cách cư xử; đi xa thường có mục đích rõ.
- Khi Nguyệt Đức gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Ra ngoài dễ mệt, thấy lạc lõng nơi đông người, hoặc gặp người tốt mà việc vẫn không xong.
Cung Tật Ách
- Khi Nguyệt Đức gặp chính tinh sáng, phúc tinh, cát tinh: Cung có kinh văn rõ nhất: Tân Biên chép Thiên Nguyệt Đức giải trừ được những bệnh tật nhỏ. Thường ốm vặt rồi tự khỏi, chịu kiêng khem, hồi phục chậm mà chắc.
- Khi Nguyệt Đức gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Sách chỉ nói bệnh nhỏ. Chỗ đáng lưu tâm là sức khỏe tinh thần và các chứng mạn tính kéo dài. Với bệnh nặng, Nguyệt Đức không có tư cách nói thay thầy thuốc; có sao này vẫn phải khám đúng lịch.
Cung Tài Bạch
- Khi Nguyệt Đức gặp chính tinh sáng, phúc tinh, cát tinh: Tiền vào bằng đường sạch, chậm mà đều, biết tiết kiệm; lúc kẹt thường có người cho mượn không lãi.
- Khi Nguyệt Đức gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Hao hụt dần vì nhiều khoản nhỏ, hoặc tiền nằm chết trong những thứ không sinh lợi. Nguyệt Đức không phải tài tinh, giàu nghèo xem Vũ Khúc, Lộc Tồn, Thiên Phủ và Hóa Lộc.
Cung Tử Tức
- Khi Nguyệt Đức gặp chính tinh sáng, phúc tinh, cát tinh: Con cái trầm tính, hiền, biết nghĩ, ít làm cha mẹ phải xấu hổ; hai bên ít va chạm.
- Khi Nguyệt Đức gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Con kín tiếng, ít chia sẻ, hoặc việc con cái tới muộn hơn mong đợi.
Cung Phu Thê
- Khi Nguyệt Đức gặp chính tinh sáng, phúc tinh, cát tinh: Bạn đời điềm đạm, biết điều, có thể hơn tuổi hoặc từng trải; hôn nhân bền theo lối lặng lẽ.
- Khi Nguyệt Đức gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Tình cảm nguội dần vì thiếu vun đắp chứ không vì mâu thuẫn; hai bên cùng im lặng nên khoảng cách lớn dần. Cung này phải xét đủ chính tinh và tam phương, một đức tinh không quyết định được hôn nhân.
Cung Huynh Đệ
- Khi Nguyệt Đức gặp chính tinh sáng, phúc tinh, cát tinh: Anh em ít nhưng gắn bó, gặp việc thì có mặt; cộng sự giữ chữ tín.
- Khi Nguyệt Đức gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Anh em xa cách dần, mỗi người một nơi, ít qua lại; thường không thành chuyện lớn.
Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Nguyệt Đức an theo địa chi của năm sinh, không dính tới thiên can, tháng, giờ hay Cục. Phép an gọn trong một câu: đặt ngón tay vào cung mang đúng tên chi năm sinh, đếm thuận chiều kim đồng hồ năm cung, cung thứ năm ấy là Nguyệt Đức. Tuổi Tý thì Nguyệt Đức ở Tỵ, tuổi Sửu ở Ngọ, tuổi Dần ở Mùi. Không phân nam nữ, không phân âm dương can, không ngoại lệ. Vị trí ấy cố định trọn đời; cái đổi theo từng năm là lưu Nguyệt Đức, tính theo chi của năm đang xem.
Nguyệt Đức đi thành cặp với Thiên Đức, mà Thiên Đức cũng an theo chi năm sinh nhưng cộng chín cung. Bảng dưới đặt hai sao cạnh nhau cho đủ mười hai tuổi chi, sinh thẳng từ thuật toán an sao của trang, để quý vị tự đối chiếu chứ không phải tin lời.
Tý
- Nguyệt Đức: Tỵ
- Thiên Đức: Dậu
Sửu
- Nguyệt Đức: Ngọ
- Thiên Đức: Tuất
Dần
- Nguyệt Đức: Mùi
- Thiên Đức: Hợi
Mão
- Nguyệt Đức: Thân
- Thiên Đức: Tý
Thìn
- Nguyệt Đức: Dậu
- Thiên Đức: Sửu
Tỵ
- Nguyệt Đức: Tuất
- Thiên Đức: Dần
Ngọ
- Nguyệt Đức: Hợi
- Thiên Đức: Mão
Mùi
- Nguyệt Đức: Tý
- Thiên Đức: Thìn
Thân
- Nguyệt Đức: Sửu
- Thiên Đức: Tỵ
Dậu
- Nguyệt Đức: Dần
- Thiên Đức: Ngọ
Tuất
- Nguyệt Đức: Mão
- Thiên Đức: Mùi
Hợi
- Nguyệt Đức: Thìn
- Thiên Đức: Thân
Những điều bất biến của Nguyệt Đức
- Nguyệt Đức đi đủ mười hai cung. Mười hai tuổi chi cho đúng mười hai địa chi khác nhau, không cung nào bị bỏ. Chạy đủ mười hai thế Tử Vi thì cả mười bốn chính tinh đều có thể ngồi cùng cung với nó ở bất cứ địa chi nào.
- Luôn đồng cung với Tử Phù. Đây là điều lạ nhất và cũng đáng nhớ nhất của cả bài. Tử Phù đứng thứ sáu trong vòng Thái Tuế, tức cách Thái Tuế đúng năm cung, mà Nguyệt Đức cũng cộng năm cung. Hai phép an cho cùng một con số nên hai sao trùng nhau ở cả mười hai tuổi, không lệch một lần. Nghĩa là cát tinh phúc đức này bị cấu trúc buộc phải ngồi trọn đời cùng một bại tinh mang chữ Tử trong tên. Không lá số nào của bất kỳ ai tách được hai sao ấy ra.
- Luôn tam hợp với Thiên Đức, khoảng cách bất biến bốn cung. Thiên Đức cộng chín, Nguyệt Đức cộng năm, hiệu số là bốn ở mọi tuổi, mà bốn cung chính là quan hệ tam hợp. Vậy cặp Thiên Nguyệt Đức không bao giờ đồng cung và cũng không bao giờ xung chiếu. Ai vẽ hai sao ấy chung một cung thì đã an sai.
- Chân thứ ba của tam hợp ấy luôn là Thiếu Dương, mà Thiếu Dương luôn kéo theo Thiên Không. Thiếu Dương cách chi năm sinh một cung, tức cách Nguyệt Đức bốn cung. Ba sao lập một tam giác cứng, và phải nói thật rằng chân thứ ba mang theo Thiên Không, sao chủ hư hao và trống rỗng. Tam hợp của hai đức tinh không phải một tam hợp toàn cát.
- Luôn xung chiếu Trực Phù, và Trực Phù luôn có Quán Sách ngồi cùng. Trực Phù đứng cuối vòng Thái Tuế, cách Nguyệt Đức đúng sáu cung nên vĩnh viễn ở cung đối diện. Đây là chi tiết đáng chú ý vì Tân Biên chép Tử Phù và Trực Phù chung một mục: hai sao được sách gộp làm một lại luôn đứng hai đầu một trục, và Nguyệt Đức đứng cùng một đầu với Tử Phù.
- Luôn bị hai cặp sao giáp hai bên. Cung liền trước là Quan Phù cùng Long Trì, cung liền sau là Tuế Phá cùng Thiên Hư. Bốn quan hệ ấy đúng ở mọi tuổi, nên chúng không dùng để phân biệt lá số này với lá số kia.
- Vĩnh viễn không gặp Thái Tuế, Tang Môn, Thiếu Âm, Long Đức, Bạch Hổ và Điếu Khách. Sáu sao ấy cách Nguyệt Đức lần lượt năm, ba, hai, mười, chín và bảy cung. Không con số nào tạo ra quan hệ đồng cung, giáp, tam hợp hay xung chiếu. Câu quen thuộc rằng Nguyệt Đức gặp Long Đức thì phúc chồng phúc là không thể xảy ra trên bản mệnh.
- Vĩnh viễn không gặp Giải Thần, Phượng Các và Thiên Khốc, kể cả chiếu. Ba sao ấy cũng an theo chi năm sinh nhưng đếm ngược, nên khoảng cách với Nguyệt Đức luôn là số lẻ, mà số lẻ nghĩa là không đồng cung, không tam hợp, không xung chiếu. Bộ giải cứu Nguyệt Đức cộng Giải Thần mà nhiều tài liệu nhắc tới là bất khả thi trên bản mệnh, đây là chỗ Thầy đính chính lại chính bản cũ của trang này.
- Luôn ở cùng tam hợp với Đào Hoa, đồng cung với Đào Hoa ở bốn tuổi tứ mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Khoảng cách giữa Nguyệt Đức và Đào Hoa chỉ nhận ba giá trị là không, bốn và tám cung. Riêng tuổi Tỵ và Hợi còn có Hồng Loan nhập cùng cung, tuổi Dần và Thân thì Thiên Hỷ nhập cùng cung.
Thầy muốn quý vị mang theo đúng một điều từ mục này: cung Nguyệt Đức luôn là một cung pha. Ở đó có một cát tinh phúc đức và một bại tinh cùng ngồi, hai bên là Quan Phù và Tuế Phá kèm, đối diện là Trực Phù, mà tam hợp lại có Thiên Đức chiếu về. Cấu trúc ấy đúng với mọi người, nên không ai được phép nói cung Nguyệt Đức là cung toàn lành, và cũng không ai được phép nói cung Tử Phù là cung toàn dữ. Cái phân biệt lá số này với lá số kia là cung ấy là cung chức gì, có chính tinh nào, sáng hay hãm, có sát tinh hay Hóa Kỵ hay Tuần Triệt chặn không.
Đặc Tính Và Sức Mạnh Yếu Của Nguyệt Đức
Theo Tân Biên, Nguyệt Đức cùng Thiên Đức chủ sự có đức độ, đoan chính, nhân hậu; giải trừ được những bệnh tật nhỏ; và chế được tính hoa nguyệt dâm đãng của Đào, Hồng. Hai sao Thiên Nguyệt Đức là cặp phúc đức làm lành cung tọa thủ.
Nguyệt Đức quý ở khả năng giải ách và giữ phẩm hạnh. Đi cùng phúc tinh và chính tinh sáng thì đức độ, phúc khí càng rõ; có Nguyệt Đức thì việc dữ dễ hóa lành.
Nguyệt Đức Hội Họp Với Các Sao Khác
Nguyệt Đức phối với các sao cho kết quả tốt lành:
Thiên Đức
- Ý nghĩa kết hợp: Cặp Thiên Nguyệt Đức, tăng phúc đức, giải ách.
Thiên Quan, Thiên Phúc, Giải Thần
- Ý nghĩa kết hợp: Bộ giải cứu, hóa giải tai họa.
Đào Hoa, Hồng Loan
- Ý nghĩa kết hợp: Chế tính hoa nguyệt, giữ đoan chính.
Sát tinh
- Ý nghĩa kết hợp: Làm dịu phần hung, hóa dữ thành lành.
Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
Trước khi đọc hai cột dưới, xin nhớ quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Nguyệt Đức là mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn, còn giáp hai bên là thế bao vây, mạnh với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Với Nguyệt Đức phải nhớ thêm một tầng quan trọng hơn: phần lớn vị thế đã bị cấu trúc khóa cứng. Tử Phù mãi mãi đồng cung, Thiên Đức và Thiếu Dương mãi mãi tam hợp, Trực Phù mãi mãi xung chiếu, Quan Phù cùng Long Trì và Tuế Phá cùng Thiên Hư mãi mãi chỉ giáp, còn Giải Thần, Phượng Các, Thiên Khốc, Long Đức, Bạch Hổ và Thái Tuế thì vĩnh viễn không tới được.
Nguyệt Đức hợp khi gặp
- Thiên Đức (luôn luôn tam hợp, cách bốn cung, không bao giờ đồng cung): đủ cặp Thiên Nguyệt Đức, và cung Thiên Đức ấy cũng là cung sao Phúc Đức. Xin nói rõ để khỏi đi tìm: cấu trúc không cho hai đức tinh ngồi chung một cung.
- Hóa Khoa (đồng cung mạnh nhất, tới qua chính tinh cùng cung): hóa hợp nhất với đức tinh, làm cái mỏi của Tử Phù chuyển thành chiều sâu.
- Chính tinh miếu vượng (đồng cung, mọi chính tinh đều có thể): chính tinh đủ sáng thì bại khí nhỏ gần như không thấy và cái đức có chỗ biểu hiện. Hợp nhất là Thiên Lương, Thiên Đồng, Thiên Phủ, Thái Âm miếu.
- Thiên Khôi, Thiên Việt (đồng cung ở một số tuổi can, thường là chiếu): quý nhân đưa tay đúng lúc người ta đang chùng.
- Long Trì (luôn ở cung liền trước, thế giáp): cát tinh chủ khoa giáp và danh vị, kèm một bên ở mọi lá số.
- Thiên Quan, Thiên Phúc, Thiên Trù (đồng cung hoặc chiếu, tùy thiên can): ba sao an theo can nên vị thế không cố định; hợp thành nhóm phúc ấm khi trùng cung.
Nguyệt Đức e ngại khi gặp
- Hóa Kỵ (đồng cung là nặng nhất, tới qua chính tinh cùng cung): đây là tổ hợp đáng lưu tâm nhất, vì Kỵ cộng hưởng với Tử Phù vốn đã ngồi sẵn trong cung. Việc kéo dài, người dễ nản giữa chừng.
- Tuần, Triệt án ngữ ngay cung Nguyệt Đức (chặn cả cung): chặn cả sao, nên chặn luôn đức tinh. Với một cung pha thì phải xem cung ấy đang mang gì rồi mới kết luận là mừng hay tiếc.
- Đà La (đồng cung ở tám cung tứ sinh tứ mộ, ngoài ra chiếu hoặc giáp): kéo dài sự dây dưa, đúng chiều với cái chậm của Tử Phù cùng cung.
- Kình Dương, Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung, đều đi đủ mười hai cung): sát khí gay gắt lấn khí ôn hòa, buồn chuyển thành bực.
- Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung theo giờ sinh, giáp xấu hơn chiếu): cộng hưởng cái hao, công sức đổ ra mà không đọng lại.
- Tuế Phá cùng Thiên Hư (luôn luôn giáp một bên): thế giáp mặc định mang khí phá tán và trống rỗng, có ở mọi lá số nên không dùng để phán đoán.
- Giải Thần, Phượng Các, Thiên Khốc, Long Đức, Bạch Hổ, Thái Tuế, Tang Môn, Thiếu Âm, Điếu Khách (vĩnh viễn không đồng cung, không giáp, không tam hợp, không xung chiếu): chín sao này Nguyệt Đức không bao giờ gặp trên bản mệnh, chỉ gặp qua đường lưu niên.
Tóm lại, cùng một sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho kết quả khác nhau, và với Nguyệt Đức còn thêm một tầng nữa: phần lớn vị thế đã bị cấu trúc khóa cứng từ trước, trong đó có thế đồng cung bất biến với Tử Phù, thế tam hợp bất biến với Thiên Đức, và thế vĩnh viễn không gặp Giải Thần, Phượng Các hay Thiên Khốc trên bản mệnh. Đọc hai cột trên phải đọc kèm vị thế ghi trong ngoặc, và luôn xét cả lá số.
Nguyệt Đức Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Mọi mục trên nói về Nguyệt Đức đứng yên. Mục này nói chuyện động, tức ba tầng thời gian chồng lên nhau: đại vận mười năm, lưu niên một năm, và bản lưu của chính sao này.
Khi đại vận đi vào cung có Nguyệt Đức
Mười năm ấy thường mang một chất chung: chậm, lắng, mà có người đỡ. Không phải mười năm phát đạt, cũng không phải mười năm hoạn nạn; đúng hơn là mười năm mà việc gì cũng lâu hơn dự tính, nhiệt tình xuống thấp, nhưng những việc dữ đến rồi đi mà không để lại vết sâu. Nếu cung ấy có chính tinh sáng, có Hóa Khoa hay Khôi Việt thì cái chậm lại thành cái lợi: đây là vận hợp để học sâu một nghề, viết một công trình, chăm sóc gia đình, phục hồi sức khỏe, làm những việc phải nhiều năm mới thấy quả.
Nếu cung ấy có Hóa Kỵ, Kình Đà hay Không Kiếp thì đừng trông vào chữ Đức, và nên giữ đúng một nguyên tắc: đừng bỏ dở. Thầy thấy điểm chung của những vận Nguyệt Đức nặng không phải là biến cố, mà là chuỗi việc bắt đầu rồi bỏ giữa chừng. Mười năm sau nhìn lại thì cái hao lớn nhất chính là những cái dở dang ấy, và đức tinh chỉ làm được một việc là lần nào cũng có người giúp để mình đứng dậy đi tiếp.
Nguyệt Đức có bản lưu niên, và đây là điểm phải nói rõ
Không phải sao nào cũng có bản lưu. Sao an theo can hoặc chi năm sinh thì có, vì chỉ cần thay can chi năm sinh bằng can chi năm đang xem: vòng Thái Tuế theo chi và vòng Bác Sĩ theo Lộc Tồn đều có bản lưu. Ngược lại vòng Tràng Sinh không có bản lưu vì an theo Cục mà Cục cố định trọn đời; các sao an theo tháng sinh như Tả Hữu, Thiên Hình, Thiên Riêu và các sao an theo giờ sinh như Xương Khúc, Không Kiếp cũng không có bản lưu.
Nguyệt Đức an theo chi năm sinh nên có lưu Nguyệt Đức: lấy chi của năm đang xem, cộng năm cung theo chiều thuận. Chi năm chạy đủ mười hai giá trị nên lưu Nguyệt Đức quay trọn một vòng mười hai năm, dời đúng một cung mỗi năm, và cứ mười hai năm lại về đúng cung Nguyệt Đức bản mệnh một lần, tức vào năm tuổi. Vì lưu Tử Phù cũng cộng năm cung, lưu Nguyệt Đức và lưu Tử Phù cũng luôn trùng nhau, y như trên bản mệnh.
2024
- Can chi năm: Giáp Thìn
- Lưu Thái Tuế tại: Thìn
- Lưu Nguyệt Đức tại: Dậu
- Lưu Thiên Đức tại: Sửu
2025
- Can chi năm: Ất Tỵ
- Lưu Thái Tuế tại: Tỵ
- Lưu Nguyệt Đức tại: Tuất
- Lưu Thiên Đức tại: Dần
2026
- Can chi năm: Bính Ngọ
- Lưu Thái Tuế tại: Ngọ
- Lưu Nguyệt Đức tại: Hợi
- Lưu Thiên Đức tại: Mão
2027
- Can chi năm: Đinh Mùi
- Lưu Thái Tuế tại: Mùi
- Lưu Nguyệt Đức tại: Tý
- Lưu Thiên Đức tại: Thìn
2028
- Can chi năm: Mậu Thân
- Lưu Thái Tuế tại: Thân
- Lưu Nguyệt Đức tại: Sửu
- Lưu Thiên Đức tại: Tỵ
2029
- Can chi năm: Kỷ Dậu
- Lưu Thái Tuế tại: Dậu
- Lưu Nguyệt Đức tại: Dần
- Lưu Thiên Đức tại: Ngọ
2030
- Can chi năm: Canh Tuất
- Lưu Thái Tuế tại: Tuất
- Lưu Nguyệt Đức tại: Mão
- Lưu Thiên Đức tại: Mùi
2031
- Can chi năm: Tân Hợi
- Lưu Thái Tuế tại: Hợi
- Lưu Nguyệt Đức tại: Thìn
- Lưu Thiên Đức tại: Thân
2032
- Can chi năm: Nhâm Tý
- Lưu Thái Tuế tại: Tý
- Lưu Nguyệt Đức tại: Tỵ
- Lưu Thiên Đức tại: Dậu
2033
- Can chi năm: Quý Sửu
- Lưu Thái Tuế tại: Sửu
- Lưu Nguyệt Đức tại: Ngọ
- Lưu Thiên Đức tại: Tuất
Lưu Nguyệt Đức của một năm là sao của năm ấy, đúng cho mọi người; cái riêng nằm ở chỗ nó rơi vào cung chức nào trên lá số từng người. Năm 2026 Bính Ngọ lưu Nguyệt Đức đều ở Hợi, kèm lưu Tử Phù cũng ở Hợi. Với người có cung Tật Ách tại Hợi thì đó là năm thuận cho việc chữa dứt một chứng vặt kéo dài, còn với người có cung Tài Bạch tại Hợi thì là năm nên soát lại các khoản chi nhỏ.
Các lưu sao khác chạm vào cung Nguyệt Đức
Bốn nhóm đáng xem. Lưu Thái Tuế đóng đúng cung Nguyệt Đức bản mệnh: năm cái đức được đem ra dùng, thường phải đứng ra nhận trách nhiệm, hòa giải, hoặc giải quyết cho xong một chuyện tồn đọng. Lưu Kình Dương và lưu Đà La ghé vào: cái chậm thành cái vướng, nhưng thường dừng trước khi đi xa. Lưu Tang Môn và lưu Bạch Hổ: trên bản mệnh hai sao ấy vĩnh viễn không tới được cung Nguyệt Đức, nhưng bản lưu của chúng thì vào được; khi trùng như vậy cũng chỉ nên đọc là một năm nhiều việc buồn nhỏ, nên thăm hỏi người trên. Lưu Khôi Việt và lưu Xương Khúc ghé vào: năm có người đỡ, hợp việc học, việc viết, việc chữa dứt điểm một chuyện dở dang.
Thầy nói thêm một câu nghiêm. Vì tên sao đẹp nên Nguyệt Đức hay bị dùng để dỗ người, y như Tử Phù cùng cung với nó hay bị dùng để dọa người. Cả hai cách dùng đều sai một kiểu. Một mình lưu Nguyệt Đức không đủ tư cách bảo đảm một năm bình an, cũng như một mình Tử Phù không đủ tư cách báo một điều dữ. Khoa Đẩu Số xét hạn bằng cung đại vận, cung lưu niên, chính tinh và Tứ Hóa của hai cung ấy, bộ sát tinh, Tuần Triệt và cung Tật Ách, chứ không xét bằng một phụ tinh nhỏ.
Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Nguyệt Đức
Với sao mang tên dữ thì mục ranh giới dùng để gỡ nỗi sợ; với Nguyệt Đức thì dùng để gỡ sự trông cậy quá mức. Một cái tên đẹp cũng gây hại được, khi nó khiến người ta yên tâm ở chỗ đáng lẽ phải cẩn thận.
Nguyệt Đức không phải bùa hộ mệnh, và sách chưa bao giờ nói thế
Tân Biên chép nghĩa của cặp Thiên Nguyệt Đức rất gọn: chủ sự có đức độ, đoan chính, nhân hậu; giải trừ được những bệnh tật nhỏ; chế được tính hoa nguyệt dâm đãng của Đào, Hồng. Sách dừng đúng ở đó, không có câu nào nói sao này giải được đại hạn, tránh được tai nạn, hóa giải được Kình Đà Không Kiếp hay bảo đảm thọ mệnh. Thầy đã gặp nhiều lần người nghe hai chữ Nguyệt Đức rồi bỏ luôn lịch khám bệnh hoặc coi nhẹ một điều cần cẩn thận trong năm hạn. Đó là cách hiểu sai gây hại nhiều hơn cả những lời dọa.
Ai cũng có Nguyệt Đức, nên có Nguyệt Đức không phải điều đặc biệt
Nguyệt Đức an theo chi năm sinh, mà ai cũng có một chi năm sinh, nên mọi lá số đều có đúng một Nguyệt Đức, kèm một Thiên Đức và một Phúc Đức. Không ai thiếu, không ai có hai. Vậy câu quảng cáo rằng lá số này quý vì có Nguyệt Đức là câu vô nghĩa. Điều đáng nói là Nguyệt Đức của quý vị rơi vào cung chức nào, đứng cùng chính tinh gì, và có bị chặn hay bị sát tinh vây không.
Nguyệt Đức đồng cung Tử Phù không phải điềm gở, và cũng không phải phép trừ khử
Đây là hiểu lầm riêng của sao này, và nó chạy theo hai hướng ngược nhau. Hướng thứ nhất: có người nhìn thấy chữ Tử Phù ngồi cùng đức tinh rồi bảo đó là dấu hiệu phúc bị hao. Không phải, đó chỉ là hệ quả của việc hai phép an cùng cộng năm cung, đúng với mọi lá số của mọi người. Hướng thứ hai: có người bảo Nguyệt Đức giải hết Tử Phù nên chữ Tử ấy vô nghĩa. Cũng không phải. Cấu trúc chỉ nói rằng hai khí ấy luôn ở cùng một chỗ, không nói khí nào thắng. Cái quyết định nghiêng về bên nào là chính tinh cùng cung, Tứ Hóa và sát tinh, chứ không phải hai sao nhỏ tự phân thắng bại với nhau.
Nguyệt Đức của Tử Vi khác Nguyệt Đức quý nhân của Bát Tự
Bát Tự Tứ Trụ cũng có thần sát mang tên Nguyệt Đức quý nhân, nhưng tra theo tháng sinh rồi đối chiếu với can chi các trụ, chứ không an theo chi năm và không đặt lên địa bàn mười hai cung. Hai hệ khác tham số, khác cách dùng, không được lấy kết luận của hệ này áp sang hệ kia. Muốn xem bên ấy thì dùng công cụ lập tứ trụ, không phải bài này.
Lời Khuyên Và Cách Giữ Cái Đức
Với Nguyệt Đức, lời khuyên không phải hóa giải mà là giữ. Nó không cần trừ khử, không cần lễ lạt, và cũng không tự nhiên dày lên. Nhưng vì nó ngồi trọn đời cùng Tử Phù, nên lời khuyên có thêm một vế nữa: giữ cái đức, đồng thời chặn cái mỏi.
Giữ chữ tín, vì đó là chỗ đức tinh biến thành việc thật
Người có Nguyệt Đức đóng cung tốt thường được giúp đúng lúc ngặt, mà người giúp lại là người cũ, người mình từng tử tế nhiều năm trước. Vậy cách bồi đắp cụ thể nhất không phải cúng bái mà là giữ lời và giữ liên lạc. Đã hứa thì làm, không làm được thì nói sớm; người từng giúp mình thì nhớ hỏi thăm cả khi không cần gì.
Chặn cái mỏi, vì Tử Phù luôn ngồi cùng
Cái nguy hiểm nhất của cung Nguyệt Đức không phải biến cố, là sự bỏ dở. Cách gỡ rất đời thường: chia việc thành chặng ngắn có mốc kết thúc rõ, mỗi chặng xong thì đánh dấu, và tìm một người cùng chịu trách nhiệm để mình không tự cho phép bỏ. Với tiền bạc thì rà lại các khoản trả định kỳ và thanh lý những thứ nằm chết, vì cái hao ở đây là dòng rỉ chứ không phải cú vỡ.
Giữ sức, vì sách chỉ hứa giải bệnh nhỏ
Với người có Nguyệt Đức ở Tật Ách hoặc ở Mệnh, việc nên làm ngược hẳn với cảm giác yên tâm mà cái tên đem lại: khám định kỳ đều đặn. Sức mạnh của đức tinh là làm cho bệnh được phát hiện sớm và chữa suôn sẻ, mà muốn phát hiện sớm thì phải đi khám. Nếu tình trạng trầm uất kéo dài nhiều tháng và ảnh hưởng tới ăn ngủ, làm việc, thì việc nên làm là gặp thầy thuốc, không phải gặp thầy bói. Đó cũng là ranh giới nghề nghiệp mà Thầy giữ.
Phong thủy bổ trợ, ghi rõ là gợi ý chung: những việc dưới đây thuộc loại điều chỉnh nếp sống và bài trí, không phải trấn yểm, không thay thế được nỗ lực của bản thân và cũng không sửa được lá số. Vì cung Nguyệt Đức đã sẵn một nét trầm, chỗ ở nên sáng và thoáng, mở cửa lấy nắng buổi sáng, hạn chế phòng ẩm và thiếu ánh sáng tự nhiên. Bỏ bớt đồ cũ không dùng là việc hợp nhất với sao này, vừa dọn nhà vừa dọn lòng. Việc thiện nguyện làm đều đặn và vừa sức có ích hơn một lần làm lớn rồi bỏ. Về màu sắc, sắc ấm và sáng vừa phải thường dễ chịu hơn sắc lạnh và sắc tối. Ai muốn chỉnh theo đúng lá số của mình thì nên xem cung Điền Trạch và cung Phúc Đức rồi hãy quyết. Xin nói rõ một lần nữa: khoa Đẩu Số không có nghi lễ nào để tăng thêm Nguyệt Đức, và ai bán lễ như thế thì đó là chuyện của người bán.
Lời cuối của mục này: một cái tên lành không làm thay được việc lành. Sao chỉ cho biết mình có gì trong tay; dùng nó thế nào thì vẫn là chuyện của người cầm.
Câu hỏi thường gặp
Nguyệt Đức là sao phúc đức trong Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Hỏa, đi cùng Thiên Đức. Đây là cát tinh có tính giải cứu, chủ đức độ, đoan chính, nhân hậu và giải trừ bệnh tật nhỏ.
Hai sao đi cặp, ý nghĩa gần như nhau là phúc đức, đoan chính và giải ách. Khi hội đủ thành bộ Thiên Nguyệt Đức thì khả năng che chở, hóa giải càng rõ.
Nguyệt Đức là cát tinh phúc đức, quý ở khả năng giải trừ bệnh tật nhỏ, làm dịu sát tinh và giữ phẩm hạnh đoan chính, giúp việc dữ hóa lành.
Nguyệt Đức an theo địa chi năm sinh, đi cùng Thiên Đức trong lá số.
Luôn cách nhau đúng bốn cung, tức luôn tam hợp nhau, và vì thế không bao giờ đồng cung cũng không bao giờ xung chiếu. Nguyệt Đức cộng năm cung từ chi năm sinh, Thiên Đức cộng chín cung, hiệu số là bốn ở mọi tuổi. Chân thứ ba của tam hợp ấy luôn là Thiếu Dương, mà Thiếu Dương lại luôn đi cùng Thiên Không, nên tam giác đức tinh có một chân mang khí hư hao. Ai gặp lá số vẽ hai đức tinh chung một cung thì nên xem lại phần mềm an sao.
Không. Tân Biên chỉ chép rằng Nguyệt Đức cùng Thiên Đức chủ sự có đức độ, đoan chính, nhân hậu, giải trừ được những bệnh tật nhỏ, và chế được tính hoa nguyệt của Đào Hồng. Sách dừng đúng ở chữ nhỏ ấy. Với sát tinh nặng và Hóa Kỵ, Nguyệt Đức chỉ làm cho hậu quả nhẹ hơn dự tính và thường có người đỡ, chứ không ngăn được sự việc, nhất là khi Hóa Kỵ đồng cung lại cộng hưởng với Tử Phù vốn đã ngồi sẵn trong cung ấy. Có sao này vẫn phải đi khám sức khỏe đúng lịch.
Trên bản mệnh, Nguyệt Đức không bao giờ đồng cung, giáp, tam hợp hay xung chiếu với Thái Tuế, Tang Môn, Thiếu Âm, Long Đức, Bạch Hổ và Điếu Khách của vòng Thái Tuế, vì khoảng cách với chúng lần lượt là năm, ba, hai, mười, chín và bảy cung, những con số không tạo ra quan hệ nào. Ngoài vòng còn có Giải Thần, Phượng Các và Thiên Khốc: ba sao ấy an ngược chiều theo chi năm sinh nên khoảng cách với Nguyệt Đức luôn lẻ, tức vĩnh viễn không gặp. Chúng chỉ gặp nhau qua đường lưu niên.