Tử Vi
Sao Phi Liêm: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung
Tìm hiểu sao Phi Liêm trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.
Tổng quan về sao Phi Liêm
Phi Liêm là sao thứ bảy của vòng Bác Sĩ. Đây là một sao nhỏ thiên về điều tiếng, chủ thị phi, lời đồn, sự cô lẻ và những phiền toái từ miệng tiếng người đời.
- Ngũ hành: Hỏa
- Nhóm: Vòng Bác Sĩ
- Cách an: Theo sao Lộc Tồn
- Cai quản: thị phi, lời đồn, điều tiếng
- Tính chất: Thị phi, lời đồn
Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.
Ý nghĩa tại cung Mệnh
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Người được nhắc tên nhiều, đi đâu cũng có người biết. Nói năng nhanh nhẹn, nắm tin tức sớm, hợp những việc cần lan truyền thông tin. Tiếng tăm thường tới trước khi gặp mặt.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Dễ vướng lời bàn tán không do mình gây ra, hay bị suy diễn, một câu nói vô tình thành chuyện lớn. Cần tập thói quen nói ít lại và xác nhận lại trước khi truyền tin.
Ý nghĩa ở các cung khác
Đối chiếu ý nghĩa của Phi Liêm với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.
Cung Phụ Mẫu
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Cha mẹ có tiếng trong vùng hoặc trong nghề, quan hệ rộng, con cái được hưởng lây cái quen biết ấy.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Chuyện bậc trên là điều khó nói trong nhà, hoặc mình hay nghe lời bàn tán về cha mẹ. Nên dừng ở mức nói khuynh hướng, không phán việc.
Cung Phúc Đức
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Tâm tính hoạt, thích biết chuyện, sống có nhiều mối giao du, tuổi già không buồn tẻ.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Lòng hay xao động vì lời người khác, khó ngồi yên, vui buồn theo dư luận. Đây là chỗ nên tập buông bớt.
Cung Điền Trạch
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Nhà ở chỗ đông người qua lại, hàng xóm quen biết nhiều, thông tin trong khu tới nhanh.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Chuyện nhà đất dễ có tiếng: tranh chấp ranh giới, lời qua tiếng lại với hàng xóm, giấy tờ nên làm cho đủ.
Cung Quan Lộc
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Công việc có tính lan truyền: truyền thông, bán hàng, đối ngoại, giảng dạy, môi giới. Được cấp trên biết tên sớm.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Nơi làm nhiều lời ra tiếng vào, công trạng dễ bị nói lệch, thăng tiến vướng đàm tiếu. Nên có bằng chứng công việc bằng văn bản.
Cung Nô Bộc
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Quan hệ rộng, tin tức tới nhanh, có người dưới trung thành lại nhanh nhạy. Đây là cung Phi Liêm phát huy rõ nhất mặt hay.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Bị nói sau lưng, nhóm bạn hay có chuyện chia phe. Người mình giúp lại là người mang tiếng cho mình. Nên giữ khoảng cách vừa phải và đừng làm trọng tài.
Cung Thiên Di
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Ra ngoài được người nhắc tới, đi tới đâu cũng có người quen biết trước tên. Rất hợp nghề phải đi và phải nói.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Ra ngoài dễ vướng chuyện không đâu, bị kéo vào tranh cãi của người khác. Đi xa nên tránh bình luận việc của người bản xứ.
Cung Tật Ách
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Sức khỏe không có gì đáng nói ở riêng sao này. Phi Liêm tại Tật Ách phần nhiều chỉ nói tới trạng thái tinh thần: hay nghĩ ngợi về lời người khác.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Cái mệt do tâm trí không yên, khó ngủ vì bận lòng chuyện người nói. Đây là dấu nhỏ về giấc ngủ và thần kinh, không phải dấu về bệnh thực thể; bệnh phải đọc chính tinh và Tứ Hóa của cung.
Cung Tài Bạch
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Tiền vào qua đường thông tin và quan hệ: môi giới, giới thiệu, truyền miệng. Khách tìm tới vì nghe người khác nói.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Tiền hao ngầm, hao vì tiếng: chi cho việc giữ thể diện, chi vì nể lời, hoặc mất mối vì một lời đồn. Sổ sách nên rõ ràng từng khoản.
Cung Tử Tức
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Con cái lanh lợi, hoạt ngôn, sớm có tiếng ở trường lớp. Sản phẩm mình tạo ra dễ được nói tới.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Con cái dễ vướng chuyện bạn bè nói qua nói lại, cần dạy cách giữ lời. Việc học của con hay bị đem ra so sánh.
Cung Phu Thê
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Chuyện tình duyên được nhiều người biết và ủng hộ, hai bên gia đình cùng bàn tính, cưới hỏi có tiếng vang.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Quan hệ dễ bị người ngoài đồn đoán, hiểu lầm sinh từ lời thứ ba. Việc trong nhà nên khép cửa nói, đừng để bên thứ ba làm trọng tài.
Cung Huynh Đệ
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Anh chị em bạn bè trao đổi tin tức nhiều, có người trong nhóm rất thạo tin, giúp nhau bằng thông tin và quan hệ.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Chuyện riêng của mình bị bàn trong nhóm thân, dễ có người mang chuyện nhà ra ngoài. Vay mượn trong nhóm dễ sinh tiếng.
Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Phi Liêm không an theo chi năm, không an theo tháng, không an theo giờ. Nó an theo sao Lộc Tồn, mà Lộc Tồn thì an theo thiên can năm sinh. Đây là điều đầu tiên phải nắm, vì nó quyết định toàn bộ những gì Phi Liêm có thể gặp và không thể gặp trong suốt một đời người. Cụ thể: đặt Bác Sĩ vào đúng cung Lộc Tồn, rồi đếm tiếp mười một sao còn lại của vòng, thuận với người dương nam âm nữ, nghịch với người âm nam dương nữ. Phi Liêm là sao thứ bảy trong thứ tự ấy, tức cách Bác Sĩ đúng sáu bước.
Con số sáu ấy là chỗ Phi Liêm khác hẳn mười sao còn lại của vòng. Sáu bước trên một vòng mười hai cung thì đi thuận hay đi nghịch cũng ra cùng một cung. Nghĩa là vị trí Phi Liêm hoàn toàn không phụ thuộc vào giới tính và âm dương của tuổi: chỉ cần biết thiên can năm sinh là biết chắc chắn Phi Liêm ở đâu, không cần hỏi thêm câu nào. Trong mười hai sao vòng Bác Sĩ chỉ có hai sao có tính chất ấy: Bác Sĩ ở bước không và Phi Liêm ở bước sáu. Mười sao còn lại đều phải hỏi thuận nghịch mới an được. Bảng dưới đây liệt kê đủ mười tuổi can, cột thuận và cột nghịch giống hệt nhau, và đó không phải lỗi in.
Giáp
- Lộc Tồn tại: Dần
- Phi Liêm khi an thuận: Thân
- Phi Liêm khi an nghịch: Thân
- Kình Dương · Đà La: Mão · Sửu
Ất
- Lộc Tồn tại: Mão
- Phi Liêm khi an thuận: Dậu
- Phi Liêm khi an nghịch: Dậu
- Kình Dương · Đà La: Thìn · Dần
Bính
- Lộc Tồn tại: Tỵ
- Phi Liêm khi an thuận: Hợi
- Phi Liêm khi an nghịch: Hợi
- Kình Dương · Đà La: Ngọ · Thìn
Đinh
- Lộc Tồn tại: Ngọ
- Phi Liêm khi an thuận: Tý
- Phi Liêm khi an nghịch: Tý
- Kình Dương · Đà La: Mùi · Tỵ
Mậu
- Lộc Tồn tại: Tỵ
- Phi Liêm khi an thuận: Hợi
- Phi Liêm khi an nghịch: Hợi
- Kình Dương · Đà La: Ngọ · Thìn
Kỷ
- Lộc Tồn tại: Ngọ
- Phi Liêm khi an thuận: Tý
- Phi Liêm khi an nghịch: Tý
- Kình Dương · Đà La: Mùi · Tỵ
Canh
- Lộc Tồn tại: Thân
- Phi Liêm khi an thuận: Dần
- Phi Liêm khi an nghịch: Dần
- Kình Dương · Đà La: Dậu · Mùi
Tân
- Lộc Tồn tại: Dậu
- Phi Liêm khi an thuận: Mão
- Phi Liêm khi an nghịch: Mão
- Kình Dương · Đà La: Tuất · Thân
Nhâm
- Lộc Tồn tại: Hợi
- Phi Liêm khi an thuận: Tỵ
- Phi Liêm khi an nghịch: Tỵ
- Kình Dương · Đà La: Tý · Tuất
Quý
- Lộc Tồn tại: Tý
- Phi Liêm khi an thuận: Ngọ
- Phi Liêm khi an nghịch: Ngọ
- Kình Dương · Đà La: Sửu · Hợi
Hệ quả thứ ba đến từ chính danh sách cung mà Lộc Tồn có thể đóng. Lộc Tồn chỉ an tại tám cung Dần, Mão, Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi, Tý, không bao giờ vào Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, vì cổ nhân không đặt Lộc vào tứ mộ. Cộng thêm sáu cung thì tập hợp ấy quay về đúng chính nó. Vậy nên Phi Liêm cũng chỉ có thể đóng tám cung Dần, Mão, Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi, Tý, và không bao giờ đặt chân vào Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Ai đọc thấy dòng "Phi Liêm tại Thìn" hay "Phi Liêm tại Mùi" thì đó là lá số an sai, không phải dị bản của trường phái nào.
Bảy điều bất biến của Phi Liêm
- Vị trí chỉ phụ thuộc thiên can năm sinh. Thuận hay nghịch đều cho cùng một cung, vì sáu bước trên vòng mười hai là điểm đối xứng. Tuổi Giáp thì Phi Liêm tại Thân, Ất tại Dậu, Bính và Mậu tại Hợi, Đinh và Kỷ tại Tý, Canh tại Dần, Tân tại Mão, Nhâm tại Tỵ, Quý tại Ngọ. Mười can gom lại chỉ còn tám địa chỉ.
- Luôn xung chiếu Lộc Tồn và Bác Sĩ. Không tuổi nào khác. Cung Phi Liêm luôn là cung đối diện của cung tài lộc dành dụm, nên đọc Phi Liêm mà không nhìn sang cung Lộc Tồn là bỏ mất một nửa nghĩa.
- Không bao giờ vào tứ mộ. Thìn, Tuất, Sửu, Mùi tuyệt đối không có Phi Liêm. Người an Mệnh ở tứ mộ mà Phi Liêm rơi vào Mệnh là chuyện không thể xảy ra.
- Không bao giờ gặp Kình Dương, cũng không bao giờ gặp Đà La. Kình Dương đứng liền sau Lộc Tồn nên cách Phi Liêm bảy cung, Đà La đứng liền trước Lộc Tồn nên cách Phi Liêm năm cung. Bảy và năm đều không phải không, không phải bốn, không phải sáu, không phải tám. Nghĩa là Phi Liêm không đồng cung, không xung chiếu, cũng không tam hợp với hai sát tinh ấy trong bất kỳ lá số nào. Câu quen miệng "Phi Liêm gặp Đà La thì thị phi nặng thêm" vì thế phải sửa lại cho đúng: hai sao ấy không gặp nhau trên bản mệnh, chỉ có thể gặp qua lưu Kình lưu Đà của năm xem.
- Luôn bị Tấu Thư và Hỷ Thần giáp hai bên. Cố định ở mọi tuổi và cả hai chiều an. Đi thuận thì Tấu Thư trước Hỷ Thần sau, đi nghịch thì đảo lại, nhưng cặp giáp không đổi. Đây là thế bao vây rất đáng chú ý: một bên là sao văn thư giấy tờ, một bên là sao niềm vui.
- Tam hợp luôn là Thanh Long và Phục Binh. Cũng cố định tuyệt đối. Thanh Long chủ hỷ khí và tài lộc, Phục Binh chủ ngầm ẩn và cản trở. Ba sao ấy làm thành một tam giác bất biến trên mọi lá số.
Thầy vẫn nói với học trò rằng muốn nhớ Phi Liêm cho nhanh thì đừng nhớ tên, hãy nhớ thế đứng. Phi Liêm là sao ngồi đối diện túi tiền. Ở đâu có của cải tích được, ở đó có tiếng người bàn tán về của cải ấy. Ở đâu có chỗ đứng, ở đó có lời ra tiếng vào về chỗ đứng ấy. Cổ nhân đặt Phi Liêm vào đúng cung xung của Lộc Tồn là đã gói cả một quy luật đời sống vào một phép an sao ba dòng.
Cách An Rút Gọn Và Vị Trí Trong Lá Số
Vòng Bác Sĩ gồm mười hai sao an theo sao Lộc Tồn. Bác Sĩ luôn đứng cùng cung với Lộc Tồn, rồi lần lượt Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ được an theo chiều thuận với người dương nam âm nữ và nghịch với người âm nam dương nữ.
Trong vòng mười hai sao, Phi Liêm giữ vị trí cố định theo thứ tự. Biết Bác Sĩ (cùng cung Lộc Tồn) ở đâu và chiều an thuận hay nghịch là suy ra được vị trí Phi Liêm.
Đặc Tính Và Tượng Của Phi Liêm
Phi Liêm mang khí của lời ra tiếng vào, đồn đại. Ở cung Mệnh hay Nô Bộc, nó báo dễ vướng điều tiếng, bị nói sau lưng, hoặc quan hệ có phần cô lẻ. Người có Phi Liêm cần giữ lời và cẩn trọng trong giao tiếp.
Điều thú vị: Phi Liêm gặp Bạch Hổ tạo thế Hổ mọc cánh, lại thành vui vẻ nhanh nhẹn, lợi cho thi cử và mang may mắn tới nhanh. Là sao nhỏ, Phi Liêm gặp cát tinh thì điều tiếng nhẹ đi.
Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
Trước khi đọc hai cột dưới, cần nhớ quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Phi Liêm là mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn, còn giáp hai bên là thế bao vây, mạnh với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Với Phi Liêm còn thêm một tầng nữa: vì nó chỉ đóng tám cung và luôn cách Lộc Tồn sáu cung, có những sao về mặt cấu trúc không thể đồng cung với nó, nên dù sách chép thế nào thì trên lá số thật chúng chỉ tới được bằng đường chiếu, đường giáp, hoặc bằng bản lưu của năm xem. Danh sách dưới ghi rõ vị thế khả dĩ của từng sao.
Phi Liêm hợp khi gặp
- Bạch Hổ (đồng cung chỉ ở bốn hoa giáp Giáp Tý tại Thân, Ất Sửu tại Dậu, Canh Ngọ tại Dần, Tân Mùi tại Mão; ngoài ra là chiếu hoặc giáp): thành thế Hổ mọc cánh, nhanh nhẹn, may mắn tới nhanh, lợi cho thi cử.
- Hóa Khoa (đồng cung qua chính tinh cùng cung, hoặc chiếu tới): tiếng đồn chuyển thành tiếng lành, chuyện được nói theo hướng có lợi. Đây là hóa hợp nhất với Phi Liêm.
- Tấu Thư (luôn giáp một bên, cố định mọi tuổi): lời được ghi thành văn bản, giấy tờ rõ ràng thì tiếng đồn hết đất sống.
- Hỷ Thần (luôn giáp bên còn lại, cố định mọi tuổi): niềm vui đứng ngay cạnh, làm dịu sắc thái nặng nề của cung.
- Thanh Long (luôn tam hợp chiếu, cố định mọi tuổi): hỷ khí và tài lộc chiếu vào, tiếng nói được đón nhận.
- Bác Sĩ và Lộc Tồn (luôn xung chiếu, cố định tuyệt đối): hiểu biết và thực lực nhìn thẳng vào tin đồn. Đây là chỗ dựa cấu trúc của Phi Liêm, không phải kẻ đối địch.
Phi Liêm e ngại khi gặp
- Hóa Kỵ (đồng cung qua chính tinh cùng cung là nặng nhất, chiếu nhẹ hơn): chuyện nói qua nói lại không dứt, việc xong mà tiếng còn.
- Quan Phù và Quan Phủ (chiếu hoặc giáp tùy tuổi): điều tiếng chuyển sang chiều giấy tờ kiện tụng. Chú ý đây là hai sao khác nhau, một của vòng Thái Tuế và một của vòng Bác Sĩ.
- Phục Binh (luôn tam hợp chiếu, cố định mọi tuổi): cái ngầm ẩn chiếu vào tin đồn, chuyện có người đứng sau mà không lộ mặt.
- Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung khả dĩ ở mọi tuổi vì hai sao này đi đủ mười hai cung): lời nóng, nói xong rồi tiếc, chuyện nhỏ bùng thành chuyện lớn.
- Kình Dương và Đà La (trên bản mệnh không bao giờ đồng cung, không xung chiếu, cũng không tam hợp): chỉ gặp được qua lưu Kình lưu Đà của năm xem. Câu chép trong sách phải hiểu theo nghĩa lưu, không phải nghĩa bản mệnh.
Tóm lại, cùng một sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho kết quả khác nhau, và với Phi Liêm còn thêm một tầng nữa: cấu trúc an sao không cho phép nó đồng cung với Kình Dương hay Đà La trên bản mệnh, cũng không cho phép nó rời khỏi thế xung chiếu Lộc Tồn. Đọc hai cột trên phải đọc kèm vị thế ghi trong ngoặc, rồi nhìn sang cung đối diện trước khi kết luận.
Phi Liêm Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Mọi mục trên nói về Phi Liêm đứng yên, còn câu khách hỏi nhiều nhất lại là chuyện động. Muốn trả lời phải xét ba tầng chồng lên nhau: đại vận mười năm, lưu niên một năm, và bản lưu của chính vòng Bác Sĩ.
Phi Liêm có bản lưu niên
Đây là điểm phải nói rõ, vì bốn vòng phụ tinh không giống nhau ở chỗ này. Vòng Thái Tuế và vòng Bác Sĩ đều có bản lưu niên: vòng Thái Tuế lưu theo địa chi năm xem, vòng Bác Sĩ lưu theo thiên can năm xem. Ngược lại, vòng Tràng Sinh không có bản lưu vì nó an theo cục của lá số chứ không theo can chi năm, và các sao an theo tháng sinh hay giờ sinh như Tả Hữu, Xương Khúc, Thiên Hình, Thiên Riêu cũng không có bản lưu vì tháng sinh và giờ sinh của một người thì không đổi theo năm.
Vậy Phi Liêm có lưu Phi Liêm. Cách tính rất gọn: lấy thiên can của năm đang xem, tìm lưu Lộc Tồn của can ấy, rồi đặt lưu Phi Liêm vào cung xung chiếu của lưu Lộc Tồn. Vì bước sáu là điểm đối xứng nên lưu Phi Liêm cũng không cần hỏi thuận nghịch, giống hệt bản mệnh. Bảng dưới đây tính sẵn cho các năm lưu niên gần.
2026 Bính Ngọ
- Lưu Lộc Tồn tại: Tỵ
- Lưu Phi Liêm tại: Hợi
- Lưu Kình · lưu Đà: Ngọ · Thìn
2027 Đinh Mùi
- Lưu Lộc Tồn tại: Ngọ
- Lưu Phi Liêm tại: Tý
- Lưu Kình · lưu Đà: Mùi · Tỵ
2028 Mậu Thân
- Lưu Lộc Tồn tại: Tỵ
- Lưu Phi Liêm tại: Hợi
- Lưu Kình · lưu Đà: Ngọ · Thìn
2029 Kỷ Dậu
- Lưu Lộc Tồn tại: Ngọ
- Lưu Phi Liêm tại: Tý
- Lưu Kình · lưu Đà: Mùi · Tỵ
2030 Canh Tuất
- Lưu Lộc Tồn tại: Thân
- Lưu Phi Liêm tại: Dần
- Lưu Kình · lưu Đà: Dậu · Mùi
2031 Tân Hợi
- Lưu Lộc Tồn tại: Dậu
- Lưu Phi Liêm tại: Mão
- Lưu Kình · lưu Đà: Tuất · Thân
2032 Nhâm Tý
- Lưu Lộc Tồn tại: Hợi
- Lưu Phi Liêm tại: Tỵ
- Lưu Kình · lưu Đà: Tý · Tuất
2033 Quý Sửu
- Lưu Lộc Tồn tại: Tý
- Lưu Phi Liêm tại: Ngọ
- Lưu Kình · lưu Đà: Sửu · Hợi
2034 Giáp Dần
- Lưu Lộc Tồn tại: Dần
- Lưu Phi Liêm tại: Thân
- Lưu Kình · lưu Đà: Mão · Sửu
2035 Ất Mão
- Lưu Lộc Tồn tại: Mão
- Lưu Phi Liêm tại: Dậu
- Lưu Kình · lưu Đà: Thìn · Dần
2036 Bính Thìn
- Lưu Lộc Tồn tại: Tỵ
- Lưu Phi Liêm tại: Hợi
- Lưu Kình · lưu Đà: Ngọ · Thìn
2037 Đinh Tỵ
- Lưu Lộc Tồn tại: Ngọ
- Lưu Phi Liêm tại: Tý
- Lưu Kình · lưu Đà: Mùi · Tỵ
2038 Mậu Ngọ
- Lưu Lộc Tồn tại: Tỵ
- Lưu Phi Liêm tại: Hợi
- Lưu Kình · lưu Đà: Ngọ · Thìn
Đọc bảng này có hai cách dùng. Cách thứ nhất là tìm năm trùng phùng: năm nào lưu Phi Liêm rơi đúng cung có Phi Liêm bản mệnh thì năm ấy sắc thái lời ra tiếng vào đậm gấp đôi. Vì lưu Lộc Tồn quay theo can năm, mà can năm quay đúng một vòng mười năm, nên năm trùng phùng của một người trở lại đều đặn mười năm một lần, là những năm có thiên can trùng với thiên can năm sinh. Cách thứ hai là xem lưu Phi Liêm rơi vào cung chức nào của mình trong năm ấy: rơi vào Quan Lộc thì chuyện tiếng tăm nổi lên ở chỗ làm, rơi vào Nô Bộc thì ở nhóm bạn, rơi vào Điền Trạch thì ở chuyện nhà cửa hàng xóm.
Các lưu sao khác chạm vào cung Phi Liêm cũng nên xem cùng lúc. Lưu Kình Dương và lưu Đà La là hai sao đáng chú ý nhất, vì như đã nói ở mục cơ chế an sao, trên bản mệnh Phi Liêm không bao giờ gặp Kình Đà; chỉ có năm lưu mới đưa hai sao ấy vào cung Phi Liêm. Năm nào lưu Kình hoặc lưu Đà đóng đúng cung Phi Liêm bản mệnh thì đó là năm lời ra tiếng vào có gai, chuyện dễ đi tới va chạm thật chứ không dừng ở lời. Lưu Thái Tuế vào cung Phi Liêm thì chuyện được đưa ra trước đám đông. Lưu Tang Môn và lưu Bạch Hổ vào cung Phi Liêm thì tin tức mang sắc buồn hoặc sắc gấp. Thầy thường dặn khách một câu gọn: năm nào ba lớp cùng chạm vào một cung thì năm ấy mới đáng nói, còn một lớp chạm thì chỉ là dấu nhỏ.
Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Phi Liêm
Phi Liêm là phụ tinh nhỏ, nhưng cái tên gợi hình nên hay bị đọc quá tay. Bốn mục dưới đây nói rõ sách nói gì và không nói gì.
Một: Phi Liêm không phán được chuyện gì sẽ xảy ra
Tân Biên xếp Phi Liêm vào nhóm phụ tinh của vòng Bác Sĩ, chép rất ngắn về nó, và không lập cách cục riêng nào cho nó ngoài thế gặp Bạch Hổ. Một sao được sách chép trong vài dòng thì trọng lượng luận của nó cũng chỉ nên bằng vài dòng. Phi Liêm cho biết sắc thái của một cung, không cho biết sự việc. Nói "cung này có Phi Liêm nên năm nay bị kiện" là nói quá; nói "cung này có Phi Liêm nên chuyện dễ lan ra ngoài, cần chuẩn bị giấy tờ" mới là đọc đúng tầm của sao. Muốn phán sự việc thì phải có chính tinh, Tứ Hóa, và ít nhất hai lớp vận trùng nhau.
Hai: thị phi trong Đẩu Số không có nghĩa là bị hại
Chữ thị phi trong sách cũ mang nghĩa rộng: là chuyện phải trái, là lời bàn tán, là việc được đem ra nói. Nó không mặc định xấu và cũng không mặc định do người khác cố tình gây ra. Người làm nghề công chúng, người bán hàng, người dạy học, người đứng đầu một nhóm thì đương nhiên bị bàn tán nhiều hơn người sống lặng lẽ, và đó là cái giá kèm theo chỗ đứng chứ không phải tai họa. Thầy gặp không ít khách hoảng lên khi nghe chữ thị phi. Câu Thầy hay hỏi lại là: quý vị có làm công việc mà nhiều người biết tới không. Nếu có thì Phi Liêm chỉ đang mô tả đúng đời sống của quý vị, không dự báo tai ương gì cả.
Ba: Phi Liêm không đồng cung Kình Đà trên bản mệnh
Rất nhiều bài trên mạng chép câu "Phi Liêm gặp Đà La thì thị phi nặng thêm, Phi Liêm gặp Kình Dương thì tranh cãi tới nơi". Chạy đủ mười can và cả hai chiều an thì thấy Phi Liêm luôn cách Kình Dương bảy cung và cách Đà La năm cung. Bảy và năm không phải các khoảng cách tạo quan hệ trong Đẩu Số. Nghĩa là trên bản mệnh, Phi Liêm không đồng cung, không xung chiếu và không tam hợp với Kình Dương hay Đà La ở bất kỳ tuổi nào. Câu chép ấy chỉ đúng khi nói tới lưu Kình lưu Đà của năm xem, hoặc khi nói tới cung đại vận. Đây là chỗ nên sửa lại cho đúng, vì nó ảnh hưởng tới cách người ta đọc lá số của chính mình.
Bốn: Phi Liêm và Bạch Hổ, thế Hổ mọc cánh chỉ có ở bốn hoa giáp
Sách chép Phi Liêm gặp Bạch Hổ thì thành thế Hổ mọc cánh, hóa ra nhanh nhẹn vui vẻ, lợi cho thi cử, may mắn tới nhanh. Nhưng phải nói thêm cho đủ: Phi Liêm an theo can năm còn Bạch Hổ an theo chi năm, nên hai sao đồng cung được là chuyện hiếm. Chạy đủ sáu mươi hoa giáp thì đúng bốn hoa giáp cho hai sao ngồi chung một cung: Giáp Tý cùng tại Thân, Ất Sửu cùng tại Dậu, Canh Ngọ cùng tại Dần, Tân Mùi cùng tại Mão. Ngoài bốn tuổi ấy, hai sao chỉ có thể chiếu nhau hoặc đứng gần nhau, và thế Hổ mọc cánh khi ấy nhẹ đi nhiều. Nói cách khác, đây là một thế có thật nhưng không phổ biến, không nên đem ra hứa hẹn cho mọi người có Phi Liêm.
Lời Khuyên Khi Phi Liêm Nổi Bật
Phi Liêm không phải sao cần hóa giải theo nghĩa trừ khử. Nó mô tả một điều kiện sống: lời nói của mình và lời nói về mình đi xa hơn mức trung bình. Mọi lời khuyên dưới đây xoay quanh một chữ: quản. Không phải quản người khác nói gì, mà quản cái phần mình kiểm soát được.
Ba việc làm được ngay
Một, chuyển lời nói thành văn bản ở những chỗ quan trọng. Thỏa thuận công việc, vay mượn, hợp tác, phân chia trách nhiệm, tất cả nên có một dòng chữ để lại, kể cả với người thân. Người có Phi Liêm đậm mà làm việc bằng miệng thì mười lần có tới ba lần phải giải thích lại. Hai, đặt ra một khoảng lặng trước khi truyền tin. Nghe một chuyện thì đừng kể lại ngay; để qua một ngày, phần lớn tin đồn tự chết trong khoảng lặng ấy. Ba, đừng làm trọng tài cho mâu thuẫn của người khác. Đây là cái bẫy lớn nhất của Phi Liêm ở cung Nô Bộc và cung Huynh Đệ: mình đứng ra giảng hòa với ý tốt, rồi thành người bị cả hai bên nhắc tên.
Dùng Phi Liêm thay vì chịu đựng nó
Phong thủy bổ trợ, ghi rõ là gợi ý chung: những việc dưới đây thuộc loại điều chỉnh nếp sống và bài trí, không phải trấn yểm, không thay thế được nỗ lực của bản thân và cũng không sửa được lá số. Chỗ làm việc nên quay lưng vào tường và nhìn ra cửa, để bớt cảm giác bị nhìn sau lưng. Giữ một ngăn hồ sơ cho những giấy tờ quan trọng, để khi cần thì lấy ra được ngay thay vì phải giải thích. Bàn làm việc nên gọn, ít vật trang trí, vì Phi Liêm vốn đã nhiều tiếng động nên không gian cần bớt rối. Buổi tối nên có một quãng không xem tin tức và không trả lời tin nhắn. Về màu sắc, người có Phi Liêm đậm thường thấy dễ chịu hơn với sắc trầm và chất liệu mộc, hơn là sắc chói và mặt bóng. Đây là gợi ý chung cho mọi người; ai muốn chỉnh theo đúng lá số của mình thì nên xem cung Điền Trạch và cung Phúc Đức rồi hãy quyết.
Câu hỏi thường gặp
Phi Liêm là sao thứ bảy của vòng Bác Sĩ trong Tử Vi Đẩu Số. Đây là sao nhỏ thiên về điều tiếng, chủ thị phi, lời đồn, sự cô lẻ và những phiền toái từ miệng tiếng người đời.
Phi Liêm gặp Bạch Hổ tạo thế Hổ mọc cánh, lại hóa thành vui vẻ nhanh nhẹn, lợi cho thi cử và mang may mắn tới nhanh, ngược với tính thị phi vốn có của Phi Liêm.
Phi Liêm đứng thứ bảy trong vòng Bác Sĩ, an theo Lộc Tồn và đi theo chiều thuận hoặc nghịch tùy âm dương nam nữ.
Người có Phi Liêm nổi bật nên giữ lời, cẩn trọng trong giao tiếp, tránh dây vào tranh cãi và điều tiếng. Có cát tinh và phúc tinh cùng cung thì điều tiếng nhẹ đi nhiều.
Phi Liêm an theo Lộc Tồn, tức theo thiên can năm sinh, và đứng ở bước thứ sáu tính từ Bác Sĩ. Vì Lộc Tồn chỉ đóng tám cung ngoài tứ mộ nên Phi Liêm cũng chỉ đóng tám cung Dần, Mão, Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi, Tý, và không bao giờ vào Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Cụ thể tuổi Giáp tại Thân, Ất tại Dậu, Bính và Mậu tại Hợi, Đinh và Kỷ tại Tý, Canh tại Dần, Tân tại Mão, Nhâm tại Tỵ, Quý tại Ngọ.
Vì Phi Liêm cách Bác Sĩ đúng sáu bước, mà sáu bước trên một vòng mười hai cung thì đi thuận hay đi nghịch cũng tới cùng một cung. Trong mười hai sao vòng Bác Sĩ chỉ có Bác Sĩ ở bước không và Phi Liêm ở bước sáu có tính chất này; mười sao còn lại đều phải biết người ấy an thuận hay an nghịch mới xác định được vị trí.
Trên bản mệnh thì không. Kình Dương đứng liền sau Lộc Tồn nên cách Phi Liêm bảy cung, Đà La đứng liền trước Lộc Tồn nên cách Phi Liêm năm cung; bảy và năm đều không tạo quan hệ đồng cung, xung chiếu hay tam hợp. Hai sao ấy chỉ có thể chạm vào cung Phi Liêm qua lưu Kình lưu Đà của năm đang xem, hoặc khi xét cung đại vận.
Có. Vòng Bác Sĩ lưu theo thiên can của năm đang xem, giống như vòng Thái Tuế lưu theo địa chi năm xem; còn vòng Tràng Sinh và các sao an theo tháng sinh hay giờ sinh thì không có bản lưu. Cách tính lưu Phi Liêm rất gọn: tìm lưu Lộc Tồn theo can năm rồi đặt lưu Phi Liêm vào cung xung chiếu của nó. Vì can năm quay một vòng mười năm nên lưu Phi Liêm trở về đúng cung Phi Liêm bản mệnh đều đặn mười năm một lần.