Tử Vi

Sao Phượng Các: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung

Tìm hiểu sao Phượng Các trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.

Đạo Quán45 phút đọc

Tổng quan về sao Phượng Các

Phượng Các là sao chủ khoa giáp và vẻ đẹp, ngũ hành Mộc đới Thổ, đi cặp với Long Trì. Bộ Long Phượng là một trong những bộ cát tinh đẹp của lá số, biểu trưng cho sự đỗ đạt, sang trọng và may mắn.

  • Ngũ hành: Mộc (đới Thổ)
  • Nhóm: Phụ Tinh Khoa Giáp
  • Cách an: Phượng các an theo địa chi năm sinh, đi cặp với long trì, hợp thành bộ khoa giáp long phượng
  • Cai quản: thông minh, khoa giáp, đẹp đẽ, may mắn
  • Tính chất: Khoa giáp, đẹp đẽ

Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.

Ý nghĩa tại cung Mệnh

  • Phượng Các đắc thế, có chính tinh sáng hoặc văn tinh nâng: Dung mạo dễ coi, dáng đi đứng có nét, biết ăn mặc, biết giữ ý tứ; người khác gặp lần đầu thấy dễ chịu. Có Giải Thần cùng cung nên tính người này thường không đẩy chuyện tới chỗ căng, gặp khó hay tìm được lối ra.
  • Phượng Các thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Chuộng vẻ ngoài, nặng sĩ diện, sợ bị chê hơn sợ làm sai; hay lấy sự dễ chịu bề mặt che một mối bận bên trong mà không giải quyết.

Ý nghĩa ở các cung khác

Đối chiếu ý nghĩa của Phượng Các với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.

Cung Phụ Mẫu

  • Phượng Các đắc thế, có chính tinh sáng hoặc văn tinh nâng: Cha mẹ coi trọng nề nếp và hình thức, dạy con biết ý tứ; quan hệ với người trên nhẹ nhàng, có chuyện thì hay được bỏ qua.
  • Phượng Các thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Cha mẹ nặng thể diện, chuyện trong nhà hay giữ kín cho đẹp mặt. Mâu thuẫn với người trên được xoa chứ không được nói ra.

Cung Phúc Đức

  • Phượng Các đắc thế, có chính tinh sáng hoặc văn tinh nâng: Trong lòng ưa cái đẹp, ưa sự nhã, thích chỗ gọn gàng thoáng đãng; tinh thần dễ hồi phục sau chuyện buồn nhờ Giải Thần.
  • Phượng Các thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Sống theo con mắt người khác nhìn, ít cho phép mình xuề xòa. Nỗi buồn được xoa dịu nhanh nên không được nhìn thẳng, tích lại thành cái nặng ngầm. Nhớ rằng Thiên Khốc luôn tam hợp về đây.

Cung Điền Trạch

  • Phượng Các đắc thế, có chính tinh sáng hoặc văn tinh nâng: Tân Biên nói Long Trì Phượng Các làm cho nhà đất thêm cao đẹp rộng rãi. Nhà cửa khang trang, có thế đẹp, bày biện có mắt; chỗ ở dễ chịu, khách tới thấy thích.
  • Phượng Các thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Nhưng cũng chính Tân Biên nói cung Điền Trạch có Giải Thần thì của cải hao hụt, khó giàu lớn. Hai lời này rơi vào cùng một cung vì hai sao luôn đồng cung: nhà đẹp mà không giữ được lâu, hoặc sửa sang tốn kém, hoặc mua rồi lại bán.

Cung Quan Lộc

  • Phượng Các đắc thế, có chính tinh sáng hoặc văn tinh nâng: Hợp nghề cần hình thức và cần tên tuổi: nghệ thuật, truyền thông, thiết kế, kiến trúc, ngoại giao, dạy học, nghề phải đứng trước người khác. Việc có sự cố thì thường hạ cánh mềm.
  • Phượng Các thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Có chức danh coi được mà việc không sâu; nghề trông sang mà thu nhập mỏng. Gặp Tuần Triệt thì đường công danh hay đứt quãng rồi nối lại bằng một nghề khác.

Cung Nô Bộc

  • Phượng Các đắc thế, có chính tinh sáng hoặc văn tinh nâng: Bạn bè cấp dưới lễ độ, dễ nhìn, quan hệ êm; có va chạm thì có người đứng ra hòa giải.
  • Phượng Các thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Bạn xã giao nhiều, bạn thật ít. Mọi mâu thuẫn đều được xoa cho qua nên không ai biết ai nghĩ gì.

Cung Thiên Di

  • Phượng Các đắc thế, có chính tinh sáng hoặc văn tinh nâng: Ra ngoài được thiện cảm, dễ được mời, hợp việc đối ngoại và việc phải xuất hiện trước đám đông. Đi xa gặp trục trặc thường có người gỡ hộ.
  • Phượng Các thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Được quý vì cái vẻ chứ không vì con người thật; ra ngoài phải giữ hình ảnh nên mệt. Việc gỡ được thì gỡ mà không rút ra được bài học.

Cung Tật Ách

  • Phượng Các đắc thế, có chính tinh sáng hoặc văn tinh nâng: Đây là cung Giải Thần có ích nhất, và vì hai sao đồng cung nên cũng là chỗ Phượng Các đáng mừng nhất. Bệnh tới thường phát hiện sớm, gặp đúng thầy đúng thuốc, tai nạn có mà ít khi tới mức nặng. Sách không nói Phượng Các chủ bộ phận cơ thể nào nên bài này không gán bừa.
  • Phượng Các thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Vẻ ngoài trông tươi tắn nên chủ quan, khám muộn. Cái giải của Giải Thần chỉ đủ làm nhẹ phần ngọn, không chống nổi một cung Tật Ách nhiều sát tinh, không được lấy nó làm lý do bỏ khám định kỳ.

Cung Tài Bạch

  • Phượng Các đắc thế, có chính tinh sáng hoặc văn tinh nâng: Tiền vào theo đường coi được, hồ sơ tài chính sạch; hợp nghề bán cái đẹp như thiết kế, thời trang, trang trí, làm đẹp, nghệ thuật ứng dụng.
  • Phượng Các thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Tân Biên nói cung Tài Bạch có Giải Thần thì khó giàu lớn, của cải hay hao hụt. Vì Giải Thần luôn đồng cung Phượng Các nên lời ấy áp thẳng vào đây. Tiền coi thì đẹp mà giữ không lại, hay tiêu vào những khoản làm sang.

Cung Tử Tức

  • Phượng Các đắc thế, có chính tinh sáng hoặc văn tinh nâng: Con cái kháu khỉnh dễ nhìn, tính nết dễ chịu, ít quấy; việc sinh nở thường thuận, có trắc trở cũng qua được.
  • Phượng Các thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Con được khen mặt mũi mà cha mẹ ít để ý tới cái bên trong. Nuôi con theo lối chiều cho êm thì lớn lên thiếu sức chịu đựng.

Cung Phu Thê

  • Phượng Các đắc thế, có chính tinh sáng hoặc văn tinh nâng: Bạn đời hình thức khá, ăn nói nhẹ nhàng, nhà bên ấy nề nếp; cưới hỏi làm đủ lễ, đám cưới coi được. Vợ chồng cãi nhau rồi hay làm lành nhanh vì có Giải Thần.
  • Phượng Các thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Chọn nhau vì cái nhìn thấy được nhiều hơn vì cái hợp tính. Làm lành nhanh mà không nói tới gốc, nên cùng một chuyện lặp đi lặp lại nhiều năm.

Cung Huynh Đệ

  • Phượng Các đắc thế, có chính tinh sáng hoặc văn tinh nâng: Anh em bạn bè coi được mặt mũi, quan hệ nhã nhặn, ít to tiếng; có chuyện thì trong nhà tự dàn xếp được, ít khi để vỡ ra ngoài.
  • Phượng Các thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Giữ lễ mà nhạt, ai cũng ngại nói thẳng nên chuyện cũ cứ để đó. Cái giải của Giải Thần ở đây hóa thành thói tránh né.

Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc

Phượng Các an theo địa chi năm sinh, và đếm nghịch. Phép an chỉ có một dòng: đặt ngón tay vào cung Tuất rồi đếm ngược chiều kim đồng hồ đi số bước bằng thứ tự chi năm sinh, tính Tý là không bước, Sửu một bước, Dần hai bước, cứ thế. Người tuổi Tý thì Phượng Các đứng nguyên ở Tuất, tuổi Sửu lùi xuống Dậu, tuổi Dần xuống Thân, tuổi Mão xuống Mùi. Vì tham số chỉ là chi năm sinh nên vị trí Phượng Các cố định suốt đời, không đổi theo giới tính, không đổi theo Cục, và hai người cùng tuổi con giáp thì Phượng Các luôn đóng cùng một cung địa chi.

Long Trì đi cặp với Phượng Các nhưng đếm thuận: khởi từ cung mang tên chi năm sinh đếm xuôi thêm bốn cung. Một sao thuận, một sao nghịch, đó là ý nghĩa thật của câu Long Trì thuận, Phượng Các nghịch. Còn Giải Thần thì trên thuật toán đang chạy của trang dùng đúng công thức của Phượng Các, nên nó luôn ngồi chung cung với Phượng Các, không sót tuổi nào.

Tý

  • Long Trì: Thìn
  • Phượng Các: Tuất
  • Giải Thần: Tuất

Sửu

  • Long Trì: Tỵ
  • Phượng Các: Dậu
  • Giải Thần: Dậu

Dần

  • Long Trì: Ngọ
  • Phượng Các: Thân
  • Giải Thần: Thân

Mão

  • Long Trì: Mùi
  • Phượng Các: Mùi
  • Giải Thần: Mùi

Thìn

  • Long Trì: Thân
  • Phượng Các: Ngọ
  • Giải Thần: Ngọ

Tỵ

  • Long Trì: Dậu
  • Phượng Các: Tỵ
  • Giải Thần: Tỵ

Ngọ

  • Long Trì: Tuất
  • Phượng Các: Thìn
  • Giải Thần: Thìn

Mùi

  • Long Trì: Hợi
  • Phượng Các: Mão
  • Giải Thần: Mão

Thân

  • Long Trì: Tý
  • Phượng Các: Dần
  • Giải Thần: Dần

Dậu

  • Long Trì: Sửu
  • Phượng Các: Sửu
  • Giải Thần: Sửu

Tuất

  • Long Trì: Dần
  • Phượng Các: Tý
  • Giải Thần: Tý

Hợi

  • Long Trì: Mão
  • Phượng Các: Hợi
  • Giải Thần: Hợi

Bảy điều bất biến của Phượng Các, đã chạy đủ mười hai chi bằng máy

  • Phượng Các đi được cả mười hai cung, không kiêng cung nào. Chạy đủ mười hai chi thì Phượng Các lần lượt rơi vào Tuất, Dậu, Thân, Mùi, Ngọ, Tỵ, Thìn, Mão, Dần, Sửu, Tý, Hợi. Mười hai tuổi cho mười hai cung khác nhau, phủ kín địa bàn, nên mọi lá số đều có Phượng Các. Đây là điều phải nhớ trước tiên trước khi mừng vì có cát tinh chủ dung mạo.
  • Phượng Các luôn đồng cung với Giải Thần. Đây là quan hệ chặt nhất của sao này. Hai sao dùng chung đúng một công thức trên thuật toán đang chạy của trang, nên máy cho kết quả trùng khít mười hai trên mười hai tuổi. Hệ quả rất lớn khi luận: không có cung Phượng Các nào mà không mang thêm khí giải trừ tai ách, và ngược lại không có cung Giải Thần nào mà không mang thêm khí khoa giáp dung mạo. Hai lớp nghĩa này rất khác nhau, người luận phải tách ra chứ đừng trộn làm một.
  • Phượng Các luôn tam hợp chiếu Thiên Khốc. Cách bốn cung, đúng mười hai trên mười hai tuổi. Thiên Khốc chủ tiếng khóc, sự buồn thương, lời than. Cấu trúc đã gài sẵn một sao buồn vào tam giác của một sao đẹp, và đây là điều đáng suy ngẫm nhất về Phượng Các: cái đẹp trong khoa Tử Vi không bao giờ đứng một mình trong một tam giác toàn vui.
  • Phượng Các luôn có Thiên Hỷ ở cung liền kề. Cách đúng một cung, mười hai trên mười hai tuổi. Thiên Hỷ chủ vui mừng, sinh nở. Nhưng kề không phải là hội chiếu, nên hai sao chỉ giáp nhau chứ không bao giờ cộng lực được. Đây là một thế trêu ngươi rất đặc trưng của cấu trúc: sao vui đứng ngay bên cạnh mà không bước sang được.
  • Phượng Các có hai điểm bất động là Tỵ và Hợi. Người tuổi Tỵ thì Phượng Các đóng ngay tại Tỵ, người tuổi Hợi thì đóng ngay tại Hợi, tức trùng cung mang tên tuổi mình và trùng luôn cung Thái Tuế. Đây là hai tuổi duy nhất mà Phượng Các đồng cung Thái Tuế. Long Trì thì không có điểm bất động nào vì nó luôn lệch bốn cung.
  • Phượng Các vĩnh viễn không hội chiếu với mười sao sau đây. Sáu sao ở vị trí lẻ của vòng Thái Tuế là Thiếu Dương, Thiếu Âm, Tử Phù, Long Đức, Phúc Đức, Trực Phù, cùng bốn sao luôn an trùng cung với chúng là Thiên Không trùng Thiếu Dương, Nguyệt Đức trùng Tử Phù, Thiên Đức trùng Phúc Đức, Quán Sách trùng Trực Phù. Lý do thuần túy số học: khoảng cách giữa Phượng Các và mười sao ấy luôn là số lẻ, mà mọi thế hội chiếu đều cần khoảng cách chẵn. Ngoài ra Phượng Các cũng không bao giờ đồng cung, xung chiếu hay tam hợp với Hồng Loan, Thiên Hỷ và Đào Hoa, cũng vì lý do ấy.
  • Không có chính tinh nào bị cấm đứng cùng Phượng Các. Chạy đủ mười hai thế Tử Vi cho từng vị trí của Phượng Các thì cả mười bốn chính tinh đều có thể đồng cung, tại bất cứ cung nào, và cung ấy cũng có thể trống không. Sức của Phượng Các vì vậy phụ thuộc hẳn vào chính tinh ngồi cùng.

Khoảng cách giữa Phượng Các và Long Trì không cố định

Nhiều bài viết nói bộ Long Phượng như thể hai sao luôn đi liền nhau. Cấu trúc không cho phép nói vậy. Long Trì đếm thuận, Phượng Các đếm nghịch, nên khoảng cách giữa hai sao thay đổi theo từng tuổi. Đem hai công thức cộng lại thì ra một tổng cố định, nghĩa là hai sao luôn đối xứng nhau qua trục Sửu Mùi. Trục ấy là bản lề của cả bộ Long Phượng.

Tý

  • Phượng Các và Giải Thần tại: Tuất
  • Long Trì tại: Thìn
  • Quan hệ thật giữa hai sao: Xung chiếu, hai sao đứng hai đầu một trục

Sửu

  • Phượng Các và Giải Thần tại: Dậu
  • Long Trì tại: Tỵ
  • Quan hệ thật giữa hai sao: Tam hợp chiếu, bộ Long Phượng hội đủ

Dần

  • Phượng Các và Giải Thần tại: Thân
  • Long Trì tại: Ngọ
  • Quan hệ thật giữa hai sao: Cách đúng hai cung, không hội chiếu, chỉ giáp cung Mùi ở giữa

Mão

  • Phượng Các và Giải Thần tại: Mùi
  • Long Trì tại: Mùi
  • Quan hệ thật giữa hai sao: Đồng cung, và vì Long Trì luôn kèm Quan Phù nên cung ấy có cả Quan Phù

Thìn

  • Phượng Các và Giải Thần tại: Ngọ
  • Long Trì tại: Thân
  • Quan hệ thật giữa hai sao: Cách đúng hai cung, không hội chiếu, chỉ giáp cung Mùi ở giữa

Tỵ

  • Phượng Các và Giải Thần tại: Tỵ
  • Long Trì tại: Dậu
  • Quan hệ thật giữa hai sao: Tam hợp chiếu, bộ Long Phượng hội đủ

Ngọ

  • Phượng Các và Giải Thần tại: Thìn
  • Long Trì tại: Tuất
  • Quan hệ thật giữa hai sao: Xung chiếu, hai sao đứng hai đầu một trục

Mùi

  • Phượng Các và Giải Thần tại: Mão
  • Long Trì tại: Hợi
  • Quan hệ thật giữa hai sao: Tam hợp chiếu, bộ Long Phượng hội đủ

Thân

  • Phượng Các và Giải Thần tại: Dần
  • Long Trì tại: Tý
  • Quan hệ thật giữa hai sao: Cách đúng hai cung, không hội chiếu, chỉ giáp cung Sửu ở giữa

Dậu

  • Phượng Các và Giải Thần tại: Sửu
  • Long Trì tại: Sửu
  • Quan hệ thật giữa hai sao: Đồng cung, và vì Long Trì luôn kèm Quan Phù nên cung ấy có cả Quan Phù

Tuất

  • Phượng Các và Giải Thần tại: Tý
  • Long Trì tại: Dần
  • Quan hệ thật giữa hai sao: Cách đúng hai cung, không hội chiếu, chỉ giáp cung Sửu ở giữa

Hợi

  • Phượng Các và Giải Thần tại: Hợi
  • Long Trì tại: Mão
  • Quan hệ thật giữa hai sao: Tam hợp chiếu, bộ Long Phượng hội đủ

Bảng cho bốn nhóm rành mạch. Đồng cung ở đúng hai tuổi là Mão cùng tại Mùi và Dậu cùng tại Sửu, tức đúng hai cung nằm trên trục đối xứng; hai tuổi ấy thì một cung chứa cùng lúc Phượng Các, Giải Thần, Long Trì và Quan Phù. Xung chiếu ở đúng hai tuổi Tý và Ngọ, trên trục Thìn Tuất. Tam hợp chiếu ở bốn tuổi Sửu, Tỵ, Mùi, Hợi. Không hội chiếu được ở bốn tuổi Dần, Thìn, Thân, Tuất, vì lúc ấy hai sao cách nhau đúng hai cung, chỉ giáp lấy một cung ở giữa, và cung ấy luôn là Sửu hoặc Mùi.

Thầy nhấn mạnh con số: tám tuổi hội đủ bộ Long Phượng, bốn tuổi không. Người sinh năm Dần, Thìn, Thân, Tuất thì trên lá số của mình hai sao đứng cách nhau hai cung và không nhìn thấy nhau; với những lá số ấy câu nói bộ Long Phượng đẹp không dùng được, phải luận từng sao một tại từng cung. Đây là chỗ mà rất nhiều bản luận viết sai vì chép theo trí nhớ chứ không chạy số.

Một hệ quả nhỏ mà tiện: âm dương của ba sao

Vì Phượng Các bằng Tuất trừ chi và Long Trì bằng chi cộng bốn, cả hai phép đều giữ nguyên tính chẵn lẻ của chi năm sinh, nên Phượng Các, Giải Thần và Long Trì luôn đóng ở cung cùng âm dương với chi năm sinh. Người tuổi Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất thì cả ba sao nằm trong sáu cung dương; người tuổi Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi thì cả ba nằm trong sáu cung âm. Đây là mẹo kiểm nhanh: an tay mà thấy Phượng Các rơi vào cung khác âm dương với tuổi mình thì chắc chắn đếm nhầm.

Cách An Và Đặc Tính Cơ Bản

Phượng Các an theo địa chi năm sinh, đi cặp với Long Trì, hợp thành bộ khoa giáp Long Phượng.

Vì là phụ tinh, Phượng Các làm rõ hoặc tô đậm tính chất của chính tinh đồng cung và của cung nó tọa thủ, chứ không tự quyết định cục diện một mình.

Đặc Tính Và Mức Đắc Hãm Theo Thư Tịch

Theo Tân Biên, Phượng Các cùng Long Trì chủ sự thông minh, nhân hậu, ôn hòa, vui vẻ; liên quan cưới hỏi, sinh nở; đem nhiều may mắn, làm công danh tài lộc hưng vượng, làm cho nhà đất thêm cao đẹp rộng rãi.

Phượng Các gặp Xương Khúc, Khôi Việt, Tả Hữu kết thành bộ hiền thần phò Tử Phủ. Gặp Phi Liêm thì đem may mắn vui mừng nhanh chóng. Phượng Các cũng góp vào bộ Tứ Linh khi đi cùng Hổ, Long Trì, Hoa Cái.

Quan Hệ Cố Định Của Phượng Các Với Các Sao Cùng An Theo Chi Năm Sinh

Phượng Các không thuộc vòng sao nào. Bốn vòng lớn của Tử Vi Đẩu Số gồm vòng Thái Tuế đếm theo chi năm sinh, vòng Bác Sĩ đếm theo Lộc Tồn tức can năm sinh, vòng Tràng Sinh đếm theo Cục, và vòng thần sát tam hợp đếm theo tam hợp chi năm; Phượng Các không có tên trong bốn danh sách ấy. Nhưng nó dùng chung tham số với vòng Thái Tuế, nên quan hệ giữa nó với mười hai sao của vòng ấy tính được chắc chắn cho cả mười hai tuổi. Kết quả máy trả về chia đôi rất gọn, và cách chia ấy là điểm đặc sắc nhất của sao này.

Vòng Thái Tuế là vòng mười hai sao an theo chi năm sinh: đặt Thái Tuế vào cung mang tên chi năm sinh rồi đếm thuận lần lượt Thái Tuế, Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Phúc Đức, Điếu Khách, Trực Phù. Vòng này luôn đi thuận, không có bản nghịch, khác vòng Bác Sĩ và vòng Tràng Sinh vốn đổi chiều theo âm dương nam nữ.

Tý

  • Thái Tuế: Tý
  • Thiếu Dương: Sửu
  • Tang Môn: Dần
  • Thiếu Âm: Mão
  • Quan Phù: Thìn
  • Tử Phù: Tỵ
  • Tuế Phá: Ngọ
  • Long Đức: Mùi
  • Bạch Hổ: Thân
  • Phúc Đức: Dậu
  • Điếu Khách: Tuất
  • Trực Phù: Hợi

Sửu

  • Thái Tuế: Sửu
  • Thiếu Dương: Dần
  • Tang Môn: Mão
  • Thiếu Âm: Thìn
  • Quan Phù: Tỵ
  • Tử Phù: Ngọ
  • Tuế Phá: Mùi
  • Long Đức: Thân
  • Bạch Hổ: Dậu
  • Phúc Đức: Tuất
  • Điếu Khách: Hợi
  • Trực Phù: Tý

Dần

  • Thái Tuế: Dần
  • Thiếu Dương: Mão
  • Tang Môn: Thìn
  • Thiếu Âm: Tỵ
  • Quan Phù: Ngọ
  • Tử Phù: Mùi
  • Tuế Phá: Thân
  • Long Đức: Dậu
  • Bạch Hổ: Tuất
  • Phúc Đức: Hợi
  • Điếu Khách: Tý
  • Trực Phù: Sửu

Mão

  • Thái Tuế: Mão
  • Thiếu Dương: Thìn
  • Tang Môn: Tỵ
  • Thiếu Âm: Ngọ
  • Quan Phù: Mùi
  • Tử Phù: Thân
  • Tuế Phá: Dậu
  • Long Đức: Tuất
  • Bạch Hổ: Hợi
  • Phúc Đức: Tý
  • Điếu Khách: Sửu
  • Trực Phù: Dần

Thìn

  • Thái Tuế: Thìn
  • Thiếu Dương: Tỵ
  • Tang Môn: Ngọ
  • Thiếu Âm: Mùi
  • Quan Phù: Thân
  • Tử Phù: Dậu
  • Tuế Phá: Tuất
  • Long Đức: Hợi
  • Bạch Hổ: Tý
  • Phúc Đức: Sửu
  • Điếu Khách: Dần
  • Trực Phù: Mão

Tỵ

  • Thái Tuế: Tỵ
  • Thiếu Dương: Ngọ
  • Tang Môn: Mùi
  • Thiếu Âm: Thân
  • Quan Phù: Dậu
  • Tử Phù: Tuất
  • Tuế Phá: Hợi
  • Long Đức: Tý
  • Bạch Hổ: Sửu
  • Phúc Đức: Dần
  • Điếu Khách: Mão
  • Trực Phù: Thìn

Ngọ

  • Thái Tuế: Ngọ
  • Thiếu Dương: Mùi
  • Tang Môn: Thân
  • Thiếu Âm: Dậu
  • Quan Phù: Tuất
  • Tử Phù: Hợi
  • Tuế Phá: Tý
  • Long Đức: Sửu
  • Bạch Hổ: Dần
  • Phúc Đức: Mão
  • Điếu Khách: Thìn
  • Trực Phù: Tỵ

Mùi

  • Thái Tuế: Mùi
  • Thiếu Dương: Thân
  • Tang Môn: Dậu
  • Thiếu Âm: Tuất
  • Quan Phù: Hợi
  • Tử Phù: Tý
  • Tuế Phá: Sửu
  • Long Đức: Dần
  • Bạch Hổ: Mão
  • Phúc Đức: Thìn
  • Điếu Khách: Tỵ
  • Trực Phù: Ngọ

Thân

  • Thái Tuế: Thân
  • Thiếu Dương: Dậu
  • Tang Môn: Tuất
  • Thiếu Âm: Hợi
  • Quan Phù: Tý
  • Tử Phù: Sửu
  • Tuế Phá: Dần
  • Long Đức: Mão
  • Bạch Hổ: Thìn
  • Phúc Đức: Tỵ
  • Điếu Khách: Ngọ
  • Trực Phù: Mùi

Dậu

  • Thái Tuế: Dậu
  • Thiếu Dương: Tuất
  • Tang Môn: Hợi
  • Thiếu Âm: Tý
  • Quan Phù: Sửu
  • Tử Phù: Dần
  • Tuế Phá: Mão
  • Long Đức: Thìn
  • Bạch Hổ: Tỵ
  • Phúc Đức: Ngọ
  • Điếu Khách: Mùi
  • Trực Phù: Thân

Tuất

  • Thái Tuế: Tuất
  • Thiếu Dương: Hợi
  • Tang Môn: Tý
  • Thiếu Âm: Sửu
  • Quan Phù: Dần
  • Tử Phù: Mão
  • Tuế Phá: Thìn
  • Long Đức: Tỵ
  • Bạch Hổ: Ngọ
  • Phúc Đức: Mùi
  • Điếu Khách: Thân
  • Trực Phù: Dậu

Hợi

  • Thái Tuế: Hợi
  • Thiếu Dương: Tý
  • Tang Môn: Sửu
  • Thiếu Âm: Dần
  • Quan Phù: Mão
  • Tử Phù: Thìn
  • Tuế Phá: Tỵ
  • Long Đức: Ngọ
  • Bạch Hổ: Mùi
  • Phúc Đức: Thân
  • Điếu Khách: Dậu
  • Trực Phù: Tuất

Nửa vòng Thái Tuế vĩnh viễn ngoài tầm với của Phượng Các

Đây là kết luận riêng của bài này, và nó rất sạch. Phượng Các đếm nghịch từ Tuất, còn vòng Thái Tuế đếm thuận từ cung chi năm sinh, nên khoảng cách giữa Phượng Các và sao thứ n của vòng luôn mang cùng tính chẵn lẻ với n. Sáu sao đứng ở vị trí lẻ của vòng, tức Thiếu Dương, Thiếu Âm, Tử Phù, Long Đức, Phúc Đức và Trực Phù, vì thế luôn cách Phượng Các một số lẻ cung. Mà đồng cung là cách không, xung chiếu là cách sáu, tam hợp là cách bốn hoặc tám, toàn số chẵn. Kết luận: Phượng Các và Giải Thần vĩnh viễn không hội chiếu với sáu sao ấy bằng bất cứ đường nào, trên bất kỳ lá số nào, của bất kỳ tuổi nào. Kéo theo là bốn sao luôn ngồi chung cung với chúng cũng bị loại: Thiên Không, Nguyệt Đức, Thiên Đức, Quán Sách.

Trong danh sách bị loại ấy có một cái tên đáng chú ý là Long Đức. Long Đức và Giải Thần là hai ngôi sao được cả Tân Biên lẫn người luận đời sau coi là chủ về cứu giải rõ nhất. Mà cấu trúc lại không cho chúng gặp nhau bao giờ. Thầy nêu điều này ra vì nó đổi hẳn cách luận cứu giải: khi một cung có nạn, đừng đi tìm cho đủ hai sao giải, vì tìm không ra. Hãy xem cung ấy được sao giải nào chạm tới, rồi nhớ rằng cái giải mạnh nhất trong một lá số thường không phải hai sao nhỏ ấy mà là Hóa Khoa, vì Hóa Khoa đi theo chính tinh nên có lực thật.

Còn sáu sao đứng ở vị trí chẵn của vòng thì Phượng Các gặp được, nhưng chỉ ở những tuổi nhất định, mỗi thế đúng hai tuổi. Bảng dưới đây liệt kê đủ để quý vị tra thẳng:

Thái Tuế

  • Đồng cung ở tuổi: Tỵ, Hợi
  • Tam hợp chiếu ở tuổi: Sửu, Mão, Mùi, Dậu
  • Xung chiếu ở tuổi: Dần, Thân

Tang Môn

  • Đồng cung ở tuổi: Thìn, Tuất
  • Tam hợp chiếu ở tuổi: Tý, Dần, Ngọ, Thân
  • Xung chiếu ở tuổi: Sửu, Mùi

Quan Phù

  • Đồng cung ở tuổi: Mão, Dậu
  • Tam hợp chiếu ở tuổi: Sửu, Tỵ, Mùi, Hợi
  • Xung chiếu ở tuổi: Tý, Ngọ

Tuế Phá

  • Đồng cung ở tuổi: Dần, Thân
  • Tam hợp chiếu ở tuổi: Tý, Thìn, Ngọ, Tuất
  • Xung chiếu ở tuổi: Tỵ, Hợi

Bạch Hổ

  • Đồng cung ở tuổi: Sửu, Mùi
  • Tam hợp chiếu ở tuổi: Mão, Tỵ, Dậu, Hợi
  • Xung chiếu ở tuổi: Thìn, Tuất

Điếu Khách

  • Đồng cung ở tuổi: Tý, Ngọ
  • Tam hợp chiếu ở tuổi: Dần, Thìn, Thân, Tuất
  • Xung chiếu ở tuổi: Mão, Dậu

Đọc bảng thì thấy vài điều đáng nhớ. Phượng Các đồng cung Thái Tuế ở tuổi Tỵ và tuổi Hợi, đúng hai điểm bất động của nó, và khi ấy sao chủ dung mạo ngồi ngay trên cung tuổi. Phượng Các đồng cung Bạch Hổ ở tuổi Sửu và tuổi Mùi, hai tuổi ấy bộ Tứ Linh có hai chân chồng lên nhau. Phượng Các đồng cung Điếu Khách ở tuổi Tý và tuổi Ngọ, tức đúng hai tuổi mà nó xung chiếu Long Trì, vì Điếu Khách luôn đối xung Quan Phù mà Quan Phù thì luôn trùng Long Trì. Còn dòng Quan Phù trong bảng chính là dòng Long Trì, hai sao ấy là một chỗ.

Ba quan hệ khóa cứng ngoài vòng Thái Tuế

  • Luôn đồng cung Giải Thần. Không tuổi nào tách được. Mọi lời luận về Phượng Các đều phải đọc kèm nghĩa giải trừ, và ngược lại.
  • Luôn tam hợp Thiên Khốc. Cách bốn cung, cả mười hai tuổi. Cái đẹp và cái buồn nằm chung một tam giác, đây là cấu trúc chứ không phải điềm. Khi cung Phượng Các gặp việc, sắc thái của việc ấy thường có phần ngậm ngùi chứ ít khi hể hả.
  • Luôn kề Thiên Hỷ một cung. Kề mà không chiếu. Sao vui đứng sát bên mà không cộng vào được, nên đừng lấy Thiên Hỷ để tô cho Phượng Các; hai sao ấy chỉ tạo một thế giáp, tức một hoàn cảnh, không tạo một sự việc.
  • Không bao giờ hội chiếu Hồng Loan và Đào Hoa. Khoảng cách luôn lẻ. Điều này bác bỏ hẳn lối luận Phượng Các gặp Hồng Loan thì cưới hỏi, vì thế ấy không tồn tại trên bất kỳ lá số nào.

Phượng Các và bảng Tứ Hóa

Phượng Các không nằm trong bảng Tứ Hóa ở cả Nam phái lẫn Bắc phái. Không tuổi can nào làm nó hóa Lộc, Quyền, Khoa hay Kỵ, và nó cũng không tự phát hóa để bay sang cung khác. Nhưng nó chịu ảnh hưởng rõ từ hóa của chính tinh ngồi cùng cung, và vì Giải Thần luôn ở đó nên cách đọc phải gồm hai lớp:

  • Đồng cung với chính tinh hóa Khoa: thế hợp nhất của Phượng Các. Hóa Khoa chủ tiếng thơm, thi cử, bằng cấp; Phượng Các chủ hình thức đẹp và danh dự; Giải Thần chủ tháo gỡ. Ba lớp cùng chiều, nên chuyện học hành và chuyện danh dự của người này thường suôn, và gặp trắc trở cũng gỡ được.
  • Đồng cung với chính tinh hóa Quyền: quyền có dáng dấp, có nghi thức, coi được mắt. Phượng Các làm cho cái quyền bớt thô. Giải Thần làm cho người cầm quyền dễ hạ giọng khi cần, ít đẩy sự việc tới chỗ vỡ.
  • Đồng cung với chính tinh hóa Lộc: tiền vào theo đường coi được, hình thức chỉnh tề, nhưng bản thân Phượng Các không làm tiền nhiều thêm. Cần nhớ lời Tân Biên về Giải Thần: cung Tài Bạch hay Điền Trạch có Giải Thần thì khó giàu lớn, của cải hay hao. Vì hai sao luôn đồng cung nên lời ấy áp luôn cho Phượng Các tại hai cung ấy, đây là điểm mà bản thân trang gốc chưa nối lại với nhau.
  • Đồng cung với chính tinh hóa Kỵ: Phượng Các chỉ giữ được cái vẻ ngoài, Giải Thần chỉ làm dịu phần ngọn. Cái nút bên trong vẫn phải tự gỡ. Thầy dặn: gặp thế này thì đừng thấy có hai cát tinh mà chủ quan, hãy xử lý gốc trước rồi mới mừng.

Vì sao đọc Phượng Các phải đọc cả nhóm. Bản thân Phượng Các là cát tinh nhỏ, cái nó cho là hình thức đẹp, dung mạo, danh dự, không phải thực lực. Nhưng vị trí của nó bị cấu trúc gài chặt vào Giải Thần, vào tam giác Thiên Khốc, vào thế kề Thiên Hỷ, và bị loại vĩnh viễn khỏi nửa vòng Thái Tuế. Cho nên khi luận một cung có Phượng Các, thứ tự đúng là: xem chính tinh trước, xem hóa của chính tinh ấy, cộng lớp Phượng Các vào như một lớp phủ về hình thức, cộng tiếp lớp Giải Thần vào như một lớp giảm nhẹ, rồi mới nhìn sang tam hợp xem Thiên Khốc đang nằm ở cung chức nào.

Hội Họp Các Sao Và Bộ Cách

Phượng Các phối với các sao tạo nên bộ cách quý:

Văn Xương, Văn Khúc

  • Ý nghĩa kết hợp: Bộ văn tinh, lợi khoa giáp, học hành.

Khôi, Việt, Tả, Hữu

  • Ý nghĩa kết hợp: Bộ hiền thần phò Tử Phủ, uy quyền hiển hách.

Tử Vi, Thiên Phủ

  • Ý nghĩa kết hợp: Tăng quý khí, công danh chức vị.

Sát tinh, Tuần Triệt

  • Ý nghĩa kết hợp: Giảm cái đẹp, công danh trắc trở.

Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế

Trước khi đọc hai cột dưới đây xin nhớ quy tắc về lực, vì cùng một ngôi sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho hai kết quả khác nhau. Đồng cung mạnh nhất, hai sao ngồi chung thì tính chất trộn hẳn vào nhau. Xung chiếu mạnh nhì, cung đối diện chiếu thẳng sang. Tam hợp chiếu nhẹ hơn, có ảnh hưởng mà không quyết định. Giáp là thế bao vây, hai cung hai bên kẹp lại, thường ứng thành hoàn cảnh chứ không thành sự việc. Riêng với Phượng Các thì cấu trúc khóa sẵn nhiều thế: Giải Thần chỉ có thể đồng cung, Thiên Khốc chỉ có thể tam hợp chiếu, Thiên Hỷ chỉ có thể giáp, còn Thiếu Dương, Thiếu Âm, Tử Phù, Long Đức, Phúc Đức, Trực Phù cùng Thiên Không, Nguyệt Đức, Thiên Đức, Quán Sách, Hồng Loan, Đào Hoa thì không thể gặp bằng bất cứ đường nào. Đừng đi tìm những thế không tồn tại.

Phượng Các phát huy được khi gặp

  • Long Trì (đồng cung ở tuổi Mão và tuổi Dậu là mạnh nhất, xung chiếu ở tuổi Tý và tuổi Ngọ, tam hợp ở tuổi Sửu, Tỵ, Mùi, Hợi): trọn bộ Long Phượng, cách khoa giáp đẹp. Nhớ rằng Long Trì luôn kèm Quan Phù nên cung ấy có thêm khí giấy tờ pháp lý.
  • Văn Xương, Văn Khúc (đồng cung mạnh nhất; an theo giờ sinh nên không cố định): bộ văn tinh làm nên khoa giáp thật. Phượng Các cho cái đẹp bề ngoài, Xương Khúc cho cái tài chữ nghĩa để đỡ. Đây là cặp hợp nhất của Phượng Các.
  • Hóa Khoa (đồng cung mạnh nhất): cùng lĩnh vực tiếng thơm và bằng cấp, lại là sao giải mạnh nhất trong lá số nên cộng rất thuận với lớp Giải Thần đang có sẵn.
  • Thiên Khôi, Thiên Việt (đồng cung hoặc chiếu; an theo can năm nên không cố định): quý nhân tiến cử, làm cho cái vẻ đẹp bên ngoài có chỗ dùng thật.
  • Tả Phụ, Hữu Bật (đồng cung hoặc chiếu; an theo tháng sinh): có người đỡ tay. Bộ Xương Khúc Khôi Việt Tả Hữu hội cùng Long Phượng chính là bộ hiền thần mà Tân Biên nói tới.
  • Thai Phụ, Phong Cáo (đồng cung hoặc chiếu; an theo giờ sinh nên không cố định, hai sao ấy luôn cách nhau bốn cung nên luôn tam hợp nhau): chủ sắc phong và chức danh, cùng hướng với nghĩa danh dự của Phượng Các.
  • Tam Thai, Bát Tọa (đồng cung hoặc chiếu; an theo ngày sinh phối Tả Hữu nên không có quan hệ cố định nào với Phượng Các): chủ ngôi thứ và chỗ ngồi, hợp với nghĩa khoa giáp.
  • Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng (đồng cung): tăng quý khí và làm cho hình thức có nội dung. Đúng như sách nói bộ hiền thần phò Tử Phủ.
  • Bạch Hổ và Hoa Cái (Bạch Hổ đồng cung ở tuổi Sửu và Mùi, các tuổi khác thì tùy; Hoa Cái đồng cung ở tuổi Mão và Dậu): góp thành bộ Tứ Linh khi có đủ Long Trì. Thế này cho phong thái và sự được trọng, không cho tiền.
  • Thiên Lương (đồng cung hoặc chiếu): Tân Biên xếp Thiên Lương là sao ấm che, cùng hướng với lớp Giải Thần luôn có sẵn ở cung Phượng Các, nên hai sao cộng vào nhau làm cho sức tháo gỡ rõ hơn.
  • Phi Liêm (đồng cung hoặc chiếu; thuộc vòng Bác Sĩ, an theo can năm nên không cố định): Tân Biên nói Phượng Các gặp Phi Liêm thì đem may mắn và tin vui một cách nhanh chóng.

Phượng Các e ngại khi gặp

  • Tuần, Triệt án ngữ (đóng ngay tại cung có Phượng Các là nặng nhất): Phượng Các vốn chỉ mạnh về hình thức, mà Tuần Triệt chuyên chặn phần hình thức, nên khoa giáp dở dang, danh đến muộn, và cái đáng tiếc nhất là lớp Giải Thần cũng bị chặn theo, tức mất luôn phần tháo gỡ. Đây là thế Thầy dặn kỹ nhất.
  • Hóa Kỵ đồng cung (mạnh nhất khi đồng cung, xung chiếu cũng đáng ngại): cái vướng hóa dai. Phượng Các giữ được thể diện, Giải Thần làm dịu phần ngọn, mà cái nút vẫn nguyên. Phải xử lý gốc.
  • Kình Dương, Đà La (đồng cung nặng nhất): Kình Dương làm cho chuyện hình thức thành chuyện tranh chấp; Đà La làm mọi việc kéo dài lê thê, đúng chỗ Phượng Các yếu nhất.
  • Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung): cái đẹp bị làm cho gấp gáp, dễ có chuyện bùng lên rồi tắt; danh dự dễ tổn thương vì một lời nói lúc nóng.
  • Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung): làm rỗng phần hình thức. Người ngoài tưởng quý vị đang lên, chỉ quý vị biết là không.
  • Thiên Khốc (vĩnh viễn chỉ có thể tam hợp chiếu, không tránh được): đây là thế cố định nên không nên coi là điềm xấu, chỉ nên nhớ rằng cái đẹp của Phượng Các luôn có một sắc buồn ở trong tam giác của nó.
  • Ở cung Tài Bạch và cung Điền Trạch (do lớp Giải Thần đồng cung): sách nói rõ hai cung ấy có Giải Thần thì của cải hao hụt, khó giàu lớn. Đây là chỗ duy nhất mà bản thân vị trí, chứ không phải sao đi kèm, làm cho Phượng Các bất lợi.
  • Chính tinh hãm địa (đồng cung): Phượng Các không cứu được chính tinh hãm, nó chỉ làm cho cái hãm ấy trông dễ nhìn hơn.

Tóm lại, Phượng Các là phụ tinh: đi với chính tinh và cát tinh hợp cách thì phát huy mặt hay, gặp sát tinh và hung cách thì lộ mặt yếu. Luôn xét cả lá số.

Phượng Các Trong Đại Vận Và Lưu Niên

Mọi mục phía trên nói về Phượng Các tĩnh: nó nằm ở cung nào, đi với ai. Mục này nói về Phượng Các động, tức chuyện nó chạm vào đời quý vị lúc nào.

Đại vận đi vào cung có Phượng Các

Khi đại vận chuyển tới đúng cung có Phượng Các bản mệnh thì mười năm ấy mang một sắc thái mà Thầy hay gọi là quãng dễ nhìn. Người ta để ý tới quý vị nhiều hơn, hình ảnh và tên tuổi được chú ý, chuyện ăn mặc chỗ ở cách sống được nâng lên một bậc. Thầy thấy quãng này hay ứng vào bốn loại việc: sửa sang hoặc đổi chỗ ở cho khang trang hơn, đổi sang một nghề cần xuất hiện trước người khác, có một sự kiện đông người trong nhà như cưới hỏi hoặc mừng thọ, và một chuyện dây dưa cũ được tháo gỡ nhờ lớp Giải Thần đi kèm.

Bốn điều phải xét thêm ngay khi đại vận chạm cung Phượng Các. Thứ nhất, cung ấy luôn có Giải Thần, nên mười năm đó là quãng dễ gỡ chuyện cũ; ai đang có việc treo lâu năm thì nên dùng đúng quãng này để dứt điểm. Thứ hai, tam phương luôn có Thiên Khốc, nên quãng ấy hay có một chuyện buồn xen vào giữa những chuyện vui; đừng ngạc nhiên và cũng đừng coi là điềm. Thứ ba, phải xem đại vận đem Tứ Hóa gì vào cung: Hóa Khoa tới thì đúng là mười năm khoa giáp và tháo gỡ; Hóa Kỵ tới thì Phượng Các chỉ giữ được thể diện. Thứ tư, phải xem Long Trì có chiếu tới không, vì với bốn tuổi Dần, Thìn, Thân, Tuất thì không, bộ Long Phượng không thành.

Mặt trái phải nói cho rõ. Đại vận vào cung Phượng Các mà lá số thiếu thực lực thì mười năm ấy dễ thành mười năm đẹp mã: nhà sửa xong, hình ảnh chỉnh tề, ai nhìn cũng khen, mà tài sản thật và nghề thật thì không dày thêm. Lớp Giải Thần lại làm cho mọi trục trặc đều được xoa dịu kịp thời nên người ta không thấy đau đủ để thay đổi. Thầy gặp thế này nhiều nhất ở những người làm nghề bề nổi. Cách xử là dùng chính mười năm ấy để đổi cái vẻ thành cái nền: học một nghề sâu, dựng một sản phẩm có thật, tích một khoản không đụng tới.

2026 Bính Ngọ

  • Lưu Thái Tuế: Ngọ
  • Cung Phượng Các và Giải Thần của năm: Thìn
  • Cung Long Trì của năm: Tuất
  • Lưu Thiên Khốc: Tý
  • Lưu Thiên Hỷ: Mão

2027 Đinh Mùi

  • Lưu Thái Tuế: Mùi
  • Cung Phượng Các và Giải Thần của năm: Mão
  • Cung Long Trì của năm: Hợi
  • Lưu Thiên Khốc: Hợi
  • Lưu Thiên Hỷ: Dần

2028 Mậu Thân

  • Lưu Thái Tuế: Thân
  • Cung Phượng Các và Giải Thần của năm: Dần
  • Cung Long Trì của năm: Tý
  • Lưu Thiên Khốc: Tuất
  • Lưu Thiên Hỷ: Sửu

2029 Kỷ Dậu

  • Lưu Thái Tuế: Dậu
  • Cung Phượng Các và Giải Thần của năm: Sửu
  • Cung Long Trì của năm: Sửu
  • Lưu Thiên Khốc: Dậu
  • Lưu Thiên Hỷ: Tý

2030 Canh Tuất

  • Lưu Thái Tuế: Tuất
  • Cung Phượng Các và Giải Thần của năm: Tý
  • Cung Long Trì của năm: Dần
  • Lưu Thiên Khốc: Thân
  • Lưu Thiên Hỷ: Hợi

2031 Tân Hợi

  • Lưu Thái Tuế: Hợi
  • Cung Phượng Các và Giải Thần của năm: Hợi
  • Cung Long Trì của năm: Mão
  • Lưu Thiên Khốc: Mùi
  • Lưu Thiên Hỷ: Tuất

2032 Nhâm Tý

  • Lưu Thái Tuế: Tý
  • Cung Phượng Các và Giải Thần của năm: Tuất
  • Cung Long Trì của năm: Thìn
  • Lưu Thiên Khốc: Ngọ
  • Lưu Thiên Hỷ: Dậu

2033 Quý Sửu

  • Lưu Thái Tuế: Sửu
  • Cung Phượng Các và Giải Thần của năm: Dậu
  • Cung Long Trì của năm: Tỵ
  • Lưu Thiên Khốc: Tỵ
  • Lưu Thiên Hỷ: Thân

2034 Giáp Dần

  • Lưu Thái Tuế: Dần
  • Cung Phượng Các và Giải Thần của năm: Thân
  • Cung Long Trì của năm: Ngọ
  • Lưu Thiên Khốc: Thìn
  • Lưu Thiên Hỷ: Mùi

2035 Ất Mão

  • Lưu Thái Tuế: Mão
  • Cung Phượng Các và Giải Thần của năm: Mùi
  • Cung Long Trì của năm: Mùi
  • Lưu Thiên Khốc: Mão
  • Lưu Thiên Hỷ: Ngọ

2036 Bính Thìn

  • Lưu Thái Tuế: Thìn
  • Cung Phượng Các và Giải Thần của năm: Ngọ
  • Cung Long Trì của năm: Thân
  • Lưu Thiên Khốc: Dần
  • Lưu Thiên Hỷ: Tỵ

2037 Đinh Tỵ

  • Lưu Thái Tuế: Tỵ
  • Cung Phượng Các và Giải Thần của năm: Tỵ
  • Cung Long Trì của năm: Dậu
  • Lưu Thiên Khốc: Sửu
  • Lưu Thiên Hỷ: Thìn

Bảng này dùng được theo ba cách. Cách một, tra xem cung Phượng Các của năm rơi vào cung chức nào trên lá số gốc; đó là lĩnh vực mà năm ấy chuyện hình thức, chuyện xuất hiện và chuyện tháo gỡ nổi lên. Cách hai, xem cung ấy có trùng cung Phượng Các bản mệnh không; trùng thì đó là năm mà chi của năm trùng chi năm sinh, tức năm tuổi, ứng vào các tuổi mười hai, hai mươi bốn, ba mươi sáu, bốn mươi tám, sáu mươi. Năm ấy hai lớp Phượng Các và hai lớp Giải Thần chồng lên nhau, nhưng lưu Thái Tuế cũng đè lên cung tuổi nên phải xét cả hai chiều. Cách ba, và đây là cách Thầy dùng nhiều nhất khi khách gặp năm xấu: tra xem cung Giải Thần của năm đang ở đâu, vì đó là chỗ mềm nhất của năm ấy, việc gì nhờ được vào lĩnh vực của cung ấy thì nên nhờ.

Các lưu sao chạm vào cung Phượng Các

Ngoài hai cung trên, có bốn nhóm lưu sao đáng xét khi cung có Phượng Các bị chạm trong một năm cụ thể:

  • Lưu Thái Tuế và cả vòng lưu Thái Tuế. Năm nào lưu Tang Môn hoặc lưu Bạch Hổ rơi đúng cung Phượng Các bản mệnh thì cái đẹp và cái buồn dồn vào một chỗ; lớp Giải Thần có làm nhẹ nhưng không xóa, phải xem thêm cung Phụ Mẫu và cung Tật Ách.
  • Lưu Thiên Khốc và lưu Thiên Hư. Hai sao này an theo chi năm xem. Vì Phượng Các bản mệnh vốn đã luôn tam hợp Thiên Khốc bản mệnh, nên năm nào lưu Khốc lại chồng thêm vào cung ấy thì sắc buồn rõ hơn hẳn; đó thường là năm có chuyện chia ly hoặc chuyện trong họ.
  • Lưu Kình Dương và lưu Đà La, an theo can của năm xem qua lưu Lộc Tồn. Rơi vào cung Phượng Các thì việc gỡ bị kéo dài, hoặc chuyện hình thức thành chuyện tranh chấp.
  • Lưu Văn Xương, lưu Văn Khúc, lưu Khôi Việt, an theo can năm xem. Đây là nhóm lưu sao đáng mừng nhất với Phượng Các vì cùng lĩnh vực chữ nghĩa và tiến cử; năm nào chúng chiếu vào cung Phượng Các thì việc học, việc thi, việc được mời gọi thuận hơn hẳn.

Một câu dặn cuối. Phượng Các là sao nhỏ, đừng bao giờ lấy riêng nó để quyết một năm tốt hay xấu. Thứ tự đúng khi luận hạn là: xem cung đại vận và cung lưu niên trước, xem chính tinh và Tứ Hóa của hai cung ấy, xem sát tinh và Tuần Triệt, rồi mới cộng các sao nhỏ như Phượng Các, Giải Thần, Long Trì vào để chỉnh sắc thái. Ai làm ngược thứ tự này thì luận đâu sai đó.

Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Phượng Các

Phượng Các mang cái tên rất đẹp là gác phượng. Tên đẹp thì dễ bị thổi, và bốn hiểu lầm dưới đây Thầy gặp gần như hàng tuần.

Hiểu lầm một: có Phượng Các là đẹp người

Không. Vì Phượng Các an theo chi năm sinh nên mọi lá số đều có Phượng Các, mười hai tuổi phủ kín mười hai cung, không sót ai. Nếu chỉ cần có Phượng Các là đẹp thì cả nước đã đẹp hết. Điều sách nói là Phượng Các chủ cái đẹp và cái nhã, tức nó thuộc về lĩnh vực hình thức và dung mạo, chứ không bảo đảm kết quả trong lĩnh vực ấy. Tướng mạo do chính tinh thủ Mệnh và cung Tật Ách quyết định trước, Phượng Các chỉ thêm phần có nét và biết chăm chút. Người có Phượng Các ở Mệnh mà chính tinh hãm, lại thêm sát tinh, thì cái Phượng Các ấy hay ứng thành sự chú ý tới vẻ ngoài chứ không ứng thành vẻ ngoài đẹp.

Hiểu lầm hai: bộ Long Phượng lúc nào cũng có

Sai, và đây là hiểu lầm dẫn tới luận bừa nhiều nhất. Máy chạy đủ mười hai chi cho kết quả rõ: bộ Long Phượng chỉ hội đủ trong tam phương tứ chính ở tám tuổi, còn bốn tuổi Dần, Thìn, Thân, Tuất thì hai sao cách nhau đúng hai cung và vĩnh viễn không nhìn thấy nhau. Với bốn tuổi ấy người luận phải nói thẳng là bộ Long Phượng không thành trên lá số này, rồi luận từng sao tại từng cung, chứ không được mượn tiếng của bộ đôi để tô cho một sao lẻ.

Hiểu lầm ba: Phượng Các gặp Hồng Loan là cưới hỏi

Tân Biên có nói bộ Long Phượng liên quan tới việc cưới hỏi và sinh nở, điều ấy đúng và bài này không phủ nhận. Nhưng cái liên quan ấy là liên quan về nghĩa chứ không phải về cấu trúc, và nhiều người đã đẩy nó thành câu Phượng Các gặp Hồng Loan thì cưới. Máy nói rõ điều ngược lại: khoảng cách giữa Phượng Các với Hồng Loan, với Thiên Hỷ và với Đào Hoa luôn là số lẻ ở cả mười hai tuổi, mà mọi thế hội chiếu đều cần khoảng cách chẵn, nên ba thế ấy không tồn tại trên bất kỳ lá số nào. Riêng Thiên Hỷ thì luôn đứng ngay cung liền kề, gần tới mức tưởng như chạm được, mà kề thì không phải chiếu. Ai luận cho quý vị bằng thế Phượng Các hội Hồng Loan là người chưa từng chạy số.

Hiểu lầm bốn: Phượng Các là sao giải hạn

Đây là hiểu lầm sinh ra từ một sự thật. Sự thật là Phượng Các luôn đồng cung Giải Thần, nên cung nào có Phượng Các cũng có khí giải trừ. Nhưng cái giải ấy là của Giải Thần chứ không phải của Phượng Các, và người luận phải tách hai lớp ra. Phượng Các chủ hình thức, dung mạo, danh dự; Giải Thần chủ tháo gỡ tai ách. Trộn hai thứ làm một thì sinh ra câu nói sai là có Phượng Các thì tai qua nạn khỏi. Cách nói đúng phải là: cung có Phượng Các thì đồng thời có một lớp giải nhẹ, và cái giải ấy chỉ đủ làm dịu phần ngọn.

Lời Khuyên Và Cách Dùng Phượng Các Cho Đúng

Với một cát tinh nhỏ thì lời khuyên không phải là cách hóa giải cái xấu, mà là cách biến cái vẻ đẹp thành cái nền thật, và cách không để lớp Giải Thần đi kèm biến thành thói tránh né. Thầy chia làm ba nhóm.

Dùng đúng cái mà Phượng Các cho

  • Cái nó cho là ấn tượng đầu tiên, không phải kết quả cuối cùng. Phượng Các làm cho người khác thấy dễ chịu khi mới gặp, làm cho hồ sơ và chỗ ở của quý vị coi được, làm cho quý vị được mời. Còn giữ được người ta ở lại hay không thì do thực lực. Đã có ấn tượng tốt thì phải có cái thật để tiếp nối.
  • Dùng cái duyên hình thức vào đúng nghề. Thầy thấy người có Phượng Các đẹp mà chọn nghề hoàn toàn không cần xuất hiện thì hay thấy mình bị phí, còn chọn nghề có phần trình bày, phần tiếp xúc, phần thẩm mỹ thì làm nhẹ nhàng hơn người khác. Đây là gợi ý chọn hướng chứ không phải lời phán.
  • Đừng lạm dụng lớp Giải Thần. Vì Giải Thần luôn ngồi cùng cung, người có Phượng Các thường quen với việc chuyện gì rồi cũng có cách xoa dịu. Cái quen ấy tiện mà nguy: xoa dịu không phải là giải quyết. Mỗi khi thấy một việc lại được cho qua lần nữa, hãy tự hỏi việc ấy đã xong thật chưa.

Nếu Phượng Các của quý vị bị lấn át

  • Đếm sát tinh trước khi mừng. Cung có Phượng Các mà từ hai sát tinh trở lên thì coi như không có cát tinh, phải luận và phòng bị theo lối bình thường.
  • Gặp Tuần Triệt án ngữ thì mất cả hai lớp. Đây là thế Thầy dặn kỹ nhất, vì Tuần Triệt chặn cả phần hình thức lẫn phần tháo gỡ. Người có thế này nên làm mọi việc theo lối chuẩn bị kỹ, giấy tờ đủ, phương án dự phòng sẵn, chứ đừng trông vào việc rồi sẽ có cách.
  • Ở Tài Bạch và Điền Trạch thì đọc kỹ phần hao. Sách nói rõ hai cung ấy có Giải Thần thì khó giàu lớn, của cải hay hao. Người có Phượng Các ở hai cung này nên tách bạch khoản để dành với khoản chi cho hình thức, và nên có một khoản không đụng tới.
  • Tuổi Dần, Thìn, Thân, Tuất thì đừng đi tìm bộ Long Phượng. Cấu trúc không cho, tìm cũng không ra. Hãy trông vào Văn Xương Văn Khúc, Hóa Khoa, Thai Phụ Phong Cáo và Tam Thai Bát Tọa để bù phần khoa giáp.

Điều Thầy muốn nói thẳng

Không có phép nào đổi được vị trí của Phượng Các, vì nó do chi năm sinh định ra và cố định suốt đời. Cái đổi được là cách quý vị hành xử trong lĩnh vực mà nó chỉ tới, tức lĩnh vực hình thức, danh dự và sự tháo gỡ. Ai bán cho quý vị một món đồ nói là kích được Phượng Các, làm đẹp được lá số, thì người ấy đang bán niềm tin chứ không bán mệnh lý. Thầy không làm việc ấy và cũng khuyên quý vị đừng mua.

Còn một điều nữa phải nói, vì nó hay xảy ra đúng với những người có Phượng Các đẹp. Cái nguy của sao này không nằm ở tai họa mà nằm ở thói sống cho vừa mắt người khác. Được khen dễ nhìn, được khen biết cư xử, thì rất dễ quen với việc chọn cái coi được thay vì chọn cái đúng. Thêm lớp Giải Thần luôn xoa dịu, người ta lại càng ít khi phải trả giá đủ để tỉnh ra. Thầy khuyên mỗi vài năm nên tự hỏi một câu thô: nếu không ai nhìn thì mình có chọn như thế này không. Trả lời được câu ấy thì Phượng Các mới thành của mình.

Phong thủy bổ trợ, ghi rõ đây là gợi ý chung: những cách dưới đây thuộc về nếp sống và bài trí, không phải phép thuật, và không thay đổi được lá số. Người có Phượng Các nên giữ nhà cửa gọn và sáng, vì tinh thần của họ chịu ảnh hưởng của chỗ ở nhiều hơn người khác, và một chỗ ở bừa bộn làm họ mệt mà không biết vì sao. Chi cho hình thức nên có hạn mức rõ ràng đặt trước, đây là việc thực dụng để đối trị phần hao mà sách đã nhắc ở cung Tài và cung Điền. Việc chăm sóc bản thân nên nghiêng về sức khỏe hơn là vẻ ngoài: ngủ đủ, đi bộ đều, khám định kỳ, vì cái đẹp bền nào cũng bắt đầu từ đó. Mỗi năm nên dứt điểm một việc treo, coi như dùng đúng lớp Giải Thần mà lá số đã cho. Ngoài chừng ấy, đừng trông đợi hơn.

Câu hỏi thường gặp

Phượng Các là sao chủ khoa giáp và vẻ đẹp trong Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Mộc đới Thổ, đi cặp với Long Trì. Bộ Long Phượng chủ thông minh, đỗ đạt, cưới hỏi và làm nhà cửa cao đẹp, công danh hưng vượng.

Hai sao cùng bộ khoa giáp, ý nghĩa gần như nhau, chỉ khác chiều an (Long Trì thuận, Phượng Các nghịch). Khi hội đủ thành bộ Long Phượng thì cách càng đẹp.

Phượng Các ở Điền Trạch làm cho nhà đất thêm cao đẹp, rộng rãi, lợi cho việc nhà cửa, nhất là khi đi cùng Long Trì và cát tinh.

Phượng Các an theo địa chi năm sinh, đi cặp với Long Trì trong lá số.

Có. Long Trì an tại cung mang chi năm sinh đếm thuận thêm bốn cung, mà Quan Phù là sao thứ năm của vòng Thái Tuế nên cũng cách cung chi năm sinh đúng bốn cung đếm thuận. Hai công thức trùng khít, máy chạy đủ mười hai chi cho kết quả đồng cung mười hai trên mười hai lần. Điều này quan trọng với người đọc bài Phượng Các, vì nó có nghĩa là mỗi khi Long Trì chiếu tới hoặc ngồi cùng Phượng Các thì Quan Phù cũng có mặt ở đó, tức khí giấy tờ pháp lý luôn đi kèm bộ Long Phượng. Xin phân biệt Quan Phù của vòng Thái Tuế với Quan Phủ của vòng Bác Sĩ.

Đồng cung ở đúng hai tuổi: tuổi Mão thì cả hai cùng đóng tại Mùi, tuổi Dậu thì cả hai cùng đóng tại Sửu. Xung chiếu ở đúng hai tuổi: tuổi Tý thì Phượng Các tại Tuất và Long Trì tại Thìn, tuổi Ngọ thì đảo lại. Tam hợp chiếu ở bốn tuổi Sửu, Tỵ, Mùi, Hợi. Bốn tuổi còn lại là Dần, Thìn, Thân, Tuất thì hai sao cách nhau đúng hai cung nên không hội chiếu được, chúng chỉ giáp lấy một cung ở giữa và cung ấy luôn là Sửu hoặc Mùi. Nguyên nhân là Long Trì đếm thuận còn Phượng Các đếm nghịch, nên hai sao luôn đối xứng nhau qua trục Sửu Mùi.

Vì khoảng cách giữa Phượng Các và sáu sao ở vị trí lẻ của vòng Thái Tuế luôn là số lẻ, mà mọi thế hội chiếu đều cần khoảng cách chẵn. Sáu sao ấy là Thiếu Dương, Thiếu Âm, Tử Phù, Long Đức, Phúc Đức và Trực Phù. Kéo theo là bốn sao luôn an trùng cung với chúng: Thiên Không trùng Thiếu Dương, Nguyệt Đức trùng Tử Phù, Thiên Đức trùng Phúc Đức, Quán Sách trùng Trực Phù. Vậy Phượng Các và Giải Thần vĩnh viễn không đồng cung, không xung chiếu, không tam hợp với cả mười sao ấy. Đáng chú ý nhất là Long Đức, vì hai ngôi sao được coi là chủ giải trừ rõ nhất của khoa Tử Vi lại vĩnh viễn không cộng lực được với nhau.