Tử Vi
Sao Quả Tú: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung
Tìm hiểu sao Quả Tú trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.
Tổng quan về sao Quả Tú
Quả Tú là sao chủ sự cô độc, ngũ hành Thổ, đi cặp với Cô Thần. Trong luận giải, Quả Tú thường ứng nhiều cho nữ mệnh, chỉ sự lẻ loi, quạnh quẽ, thiếu gắn kết trong tình duyên và gia đạo.
- Ngũ hành: Thổ
- Nhóm: Phụ Tinh Cô Quả
- Cách an: Quả tú an theo địa chi năm sinh, đi cặp với cô thần
- Cai quản: cô độc, lẻ loi, khó gần
- Tính chất: Cô quả, lẻ loi
Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.
Ý nghĩa tại cung Mệnh
- Khi Quả Tú gặp chính tinh sáng, đức tinh, cát tinh: Người trầm, kín, tự lo được, ít nói mà làm; giữ được của và giữ được lời hứa. Ưa chỗ quen, ngại xáo trộn, nên thường bền nghề bền chỗ. Nhiều người làm nghề tích lũy lâu năm mang nét này.
- Khi Quả Tú gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Cái kín thành cái khép: giữ hết trong lòng, ngại nhờ vả tới mức chịu thiệt, và hay ôm việc cũ không buông. Đây là chỗ nên tập nói ra và tập bỏ bớt, không phải chỗ nên chịu đựng.
Ý nghĩa ở các cung khác
Đối chiếu ý nghĩa của Quả Tú với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.
Cung Phụ Mẫu
- Khi Quả Tú gặp chính tinh sáng, đức tinh, cát tinh: Cha mẹ tính điềm đạm, sống nền nếp, để lại cho con cái nếp nhà hơn là của cải phô trương; con thừa hưởng tính cần kiệm.
- Khi Quả Tú gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Cha mẹ ít bày tỏ, con cái lớn lên thấy xa cách dù không có mâu thuẫn gì. Hoặc phải sống xa cha mẹ về sau. Việc nên làm rất giản dị: chủ động về thăm và chủ động hỏi han.
Cung Phúc Đức
- Khi Quả Tú gặp chính tinh sáng, đức tinh, cát tinh: Cung mà Quả Tú nói được sâu nhất. Tâm ưa tĩnh, chịu được sự một mình rất lâu mà không bứt rứt, hợp thiền định, tu học, việc chùa chiền, việc nghiên cứu dài hơi. Người có nội tâm dày và biết đủ.
- Khi Quả Tú gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Nỗi quạnh có tính tinh thần: hay nghĩ về những gì đã qua, tiếc chuyện cũ, thấy mình lạc thời. Cần nếp sinh hoạt đều, cần việc để tay chân bận, và cần ít nhất một người để nói chuyện thật.
Cung Điền Trạch
- Khi Quả Tú gặp chính tinh sáng, đức tinh, cát tinh: Nhà bền, ở lâu một chỗ, ít bán đi mua lại; hợp nhà có sân có kho, hợp chỗ yên. Giữ được đất đai của cha ông. Đây là cung ứng đúng nhất với mặt lợi mà sách nêu.
- Khi Quả Tú gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Nhà vắng, ít tiếng người, hoặc nhà cũ mà ngại sửa. Đồ đạc chất đầy không nỡ bỏ. Nên dọn bớt, mở cửa lấy sáng, và mời người tới chơi cho có sinh khí.
Cung Quan Lộc
- Khi Quả Tú gặp chính tinh sáng, đức tinh, cát tinh: Hợp nghề làm một mình và nghề cần ngồi lâu: nghiên cứu, kế toán, kiểm toán, lưu trữ, thủ kho, thủ quỹ, kỹ thuật, thủ công, nông lâm, tu hành. Làm bền, ít nhảy việc, càng lâu càng vững.
- Khi Quả Tú gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Khó làm nhóm, hay bị giao phần việc không ai muốn nhận rồi lặng lẽ gánh. Dễ ở lại một chỗ quá lâu mà không được ghi nhận. Nên chủ động nói ra phần đóng góp của mình.
Cung Nô Bộc
- Khi Quả Tú gặp chính tinh sáng, đức tinh, cát tinh: Bạn ít mà bền, thường là bạn cũ từ thuở nhỏ; không tốn thời gian vào xã giao. Cấp dưới thật thà, gắn bó lâu.
- Khi Quả Tú gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Bạn cũ rơi rụng dần mà không vì mâu thuẫn, chỉ vì không ai chủ động. Người quanh mình đông mà không ai thân. Với tuổi tứ chính còn có Điếu Khách cùng cung nên dễ vướng chuyện thăm hỏi hiếu hỉ mà lòng thấy trống.
Cung Thiên Di
- Khi Quả Tú gặp chính tinh sáng, đức tinh, cát tinh: Ra ngoài điềm tĩnh, không tranh, được người kính nể vì sự chín chắn. Hợp đi làm xa rồi định cư luôn ở nơi mới chứ không hợp đi lại nhiều.
- Khi Quả Tú gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Ra ngoài thấy lạc lõng, khó bắt chuyện, ngại chỗ đông. Xin nhớ Quả Tú không bao giờ đồng cung Thiên Mã, nên cung Thiên Di có Quả Tú là cung ưa yên chứ không phải cung xê dịch.
Cung Tật Ách
- Khi Quả Tú gặp chính tinh sáng, đức tinh, cát tinh: Sách chép Quả Tú chủ tính khí và cảnh sống, không lập nghĩa bệnh lý cụ thể. Điều nói được là người này chịu kiêng khem, ăn ở điều độ, tự chăm được mình.
- Khi Quả Tú gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Chỗ đáng lưu tâm là sức khỏe tinh thần và thói quen giấu bệnh vì ngại phiền người, cùng các chứng do ngồi lâu ít vận động. Đây là chỉ dấu để đi khám và để có người biết mình đang khám, tuyệt đối không phải chỉ dấu về thọ yểu.
Cung Tài Bạch
- Khi Quả Tú gặp chính tinh sáng, đức tinh, cát tinh: Cung ứng rõ mặt lợi của sao. Tiền vào từ từ mà giữ được, không tiêu phá, có của để dành; hợp tích sản lâu dài hơn là buôn nhanh. Tân Biên nói mặt lợi của bộ Cô Quả là giữ gìn của cải bền vững, và Quả Tú đứng ở cung mộ khố nên ứng nghĩa ấy đậm hơn Cô Thần.
- Khi Quả Tú gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Giữ quá hóa bó: tiếc tiền tới mức không dám đầu tư, tiền nằm im mất giá. Không hợp chung vốn. Nên tách bạch tài chính với người thân từ đầu và nên có một phần nhỏ để lưu động.
Cung Tử Tức
- Khi Quả Tú gặp chính tinh sáng, đức tinh, cát tinh: Con ít mà nuôi kỹ, con tính điềm đạm tự lập; cha mẹ con cái giữ được nếp lâu dài.
- Khi Quả Tú gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Con cái tới muộn, hoặc lớn lên đi xa nên ít gần gũi. Cung này phải xét đủ chính tinh và tam phương, một phụ tinh nhỏ không kết luận được chuyện con cái.
Cung Phu Thê
- Khi Quả Tú gặp chính tinh sáng, đức tinh, cát tinh: Bạn đời tính trầm, sống nền nếp, ít nói mà bền; hai người hợp lối sống yên. Kết hôn có thể muộn mà chắc, và thường bền hơn những cặp ồn ào.
- Khi Quả Tú gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Đây là cung bị nói quá nhiều nhất, xin đọc kỹ: Quả Tú ở Phu Thê chỉ là một dấu nhỏ nhắc rằng hai người dễ nguội dần vì cả hai đều ngại bày tỏ, hoặc duyên tới muộn. Nó không phải án cô quả và càng không phải điềm ly hôn. Muốn luận hôn nhân thì phải đọc chính tinh của cung này trước đã, xem mục ranh giới bên dưới.
Cung Huynh Đệ
- Khi Quả Tú gặp chính tinh sáng, đức tinh, cát tinh: Anh em ít, mỗi người tự lo được, gặp việc lớn thì vẫn có mặt; không ai phiền ai.
- Khi Quả Tú gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Anh em mỗi người một nơi, ít qua lại, hoặc là con một. Thường không thành chuyện lớn, nhưng nếu có Hóa Kỵ đồng cung thì nên tránh chung vốn với anh em.
Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Quả Tú an theo địa chi của năm sinh, nhưng không đếm cung theo chi như Thái Tuế hay Hồng Loan. Nó tra theo nhóm mùa mà chi năm sinh thuộc về. Bốn nhóm mùa là Hợi Tý Sửu tức mùa đông, Dần Mão Thìn tức mùa xuân, Tỵ Ngọ Mùi tức mùa hạ, Thân Dậu Tuất tức mùa thu. Luật an gói trong một câu: Quả Tú đóng ở cung cuối của mùa vừa đi qua. Tuổi thuộc mùa đông thì Quả Tú tại Tuất, tuổi mùa xuân tại Sửu, tuổi mùa hạ tại Thìn, tuổi mùa thu tại Mùi. Cô Thần thì ngược lại, đóng ở cung đầu của mùa kế tiếp: mùa đông tại Dần, mùa xuân tại Tỵ, mùa hạ tại Thân, mùa thu tại Hợi.
Chỗ đáng ngẫm của phép an này nằm ở chữ cuối mùa. Bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi gọi là tứ mộ, tức bốn cái kho đứng cuối mỗi mùa để thu lại những gì mùa ấy đã sinh ra. Quả Tú luôn đứng đúng vào cái kho ấy, chỗ mùa đã tàn mà mùa mới chưa tới. Tượng của sao hiện ra ngay từ chỗ nó đứng: không phải cái cô của người vừa lên đường, mà cái quạnh của người ở lại sau khi mọi việc đã xong. Cô Thần đầu mùa nên tượng là ra đi, Quả Tú cuối mùa nên tượng là còn lại; đó là hệ quả trực tiếp của bảng an sao, không phải lời văn hoa.
Bảng dưới đặt hai sao cạnh nhau cho đủ mười hai tuổi chi, sinh thẳng từ thuật toán an sao của trang, để quý vị tự đối chiếu chứ không phải tin lời.
Tý
- Quả Tú: Tuất
- Cô Thần: Dần
Sửu
- Quả Tú: Tuất
- Cô Thần: Dần
Dần
- Quả Tú: Sửu
- Cô Thần: Tỵ
Mão
- Quả Tú: Sửu
- Cô Thần: Tỵ
Thìn
- Quả Tú: Sửu
- Cô Thần: Tỵ
Tỵ
- Quả Tú: Thìn
- Cô Thần: Thân
Ngọ
- Quả Tú: Thìn
- Cô Thần: Thân
Mùi
- Quả Tú: Thìn
- Cô Thần: Thân
Thân
- Quả Tú: Mùi
- Cô Thần: Hợi
Dậu
- Quả Tú: Mùi
- Cô Thần: Hợi
Tuất
- Quả Tú: Mùi
- Cô Thần: Hợi
Hợi
- Quả Tú: Tuất
- Cô Thần: Dần
Những điều bất biến của Quả Tú
- Quả Tú chỉ đóng được bốn cung, và vĩnh viễn không tới tám cung còn lại. Đây là điều quan trọng nhất của cả bài. Chạy đủ mười hai tuổi chi thì Quả Tú chỉ rơi vào Sửu, Thìn, Mùi, Tuất, tức bốn cung tứ mộ. Nó không bao giờ đóng ở Tý, Dần, Mão, Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi. Ba tuổi cùng một mùa thì chung một vị trí, nên mười hai tuổi chỉ cho bốn chỗ đứng.
- Cô Thần chia nhau phần còn lại, và chỉ đóng bốn cung tứ sinh Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Hai sao chia nhau tám cung, mỗi sao bốn cung, và không bao giờ giẫm lên nhau.
- Hệ quả rất mạnh: bốn cung tứ chính Tý, Ngọ, Mão, Dậu vĩnh viễn không có Quả Tú, cũng vĩnh viễn không có Cô Thần. Ai an Mệnh tại một trong bốn cung ấy thì cung Mệnh của người đó không thể mang Quả Tú, dù sinh năm nào. Cung Phu Thê, cung Tử Tức hay bất cứ cung chức nào rơi vào Tý, Ngọ, Mão, Dậu cũng vậy. Xin nhớ điều này trước khi lo.
- Quả Tú luôn cách Cô Thần đúng bốn cung, tức luôn tam hợp nhau, và không bao giờ đồng cung. Quả Tú Tuất thì Cô Thần Dần, cùng tam hợp Dần Ngọ Tuất; Quả Tú Sửu thì Cô Thần Tỵ; Quả Tú Thìn thì Cô Thần Thân; Quả Tú Mùi thì Cô Thần Hợi. Không lệch một tuổi nào. Vậy câu quen tai rằng lá số nào có Cô Quả đồng cung thì cô độc gấp bội là câu không thể xảy ra. Cái có thật là bộ Cô Quả luôn nằm trong cùng một tam hợp, ở lá số của mọi người, nên nó không dùng để phân biệt lá số này với lá số kia.
- Quả Tú vĩnh viễn không đồng cung với Thiên Mã, và đây là chỗ khác Cô Thần rõ nhất. Thiên Mã chỉ an tại bốn cung tứ sinh, tức đúng bốn cung của Cô Thần, nên Cô Thần có thể đi cùng Mã còn Quả Tú thì không bao giờ. Cô Thần có ngựa nên cái cô của nó là cái cô của người lên đường; Quả Tú không có ngựa nên cái quạnh của nó là cái quạnh của người ngồi lại.
- Quả Tú vĩnh viễn không đồng cung với Thái Tuế. Chạy đủ mười hai tuổi thì cung Thái Tuế, tức cung mang chi của năm sinh, không bao giờ trùng với cung Quả Tú. Trong cả vòng Thái Tuế mười hai sao, Quả Tú chỉ ngồi chung được với Phúc Đức, Điếu Khách và Trực Phù, tức ba sao cuối vòng, và luôn luôn phải ngồi chung với một trong ba sao ấy, không có khả năng thứ tư.
- Quả Tú có thể ngồi cùng Thiên Đức, còn Cô Thần thì không bao giờ. Với tuổi tứ mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì Thiên Đức đóng đúng cung Quả Tú. Đây là một chi tiết ít người để ý mà lại quan trọng: cái tiếng cô quả của sao này có một cửa hóa giải ngay trong cấu trúc, và cửa ấy chỉ mở cho người tuổi tứ mộ.
- Quả Tú vĩnh viễn không đồng cung với Đào Hoa, Long Trì, Hoa Cái, Thiên Khốc, Thiên Hư, Nguyệt Đức, Kiếp Sát, Vong Thần, Tướng Tinh, Tang Môn, Bạch Hổ, Tuế Phá và Thiên Không. Bù lại, nó có thể đồng cung với Hồng Loan ở tuổi Dần và Thân, với Thiên Hỷ ở tuổi Tỵ và Hợi, với Phượng Các và Giải Thần ở tuổi Tý và Ngọ. Nghĩa là cảnh Quả Tú ngồi cùng sao hỷ khánh là cảnh có thật, chỉ là không phải tuổi nào cũng gặp.
- Chính tinh nào cũng có thể đứng cùng Quả Tú. Chạy đủ mười hai thế Tử Vi cho từng cung trong bốn cung tứ mộ thì cả mười bốn chính tinh đều xuất hiện được, không sao nào bị loại. Vậy không có chuyện Quả Tú kén chính tinh; cái quyết định là chính tinh ấy sáng hay hãm, chứ không phải nó là sao nào.
Thầy muốn quý vị mang theo ba điều từ mục này. Một, Quả Tú chỉ đóng bốn cung trong mười hai, và với bốn cung tứ chính thì xác suất bằng không. Hai, nó không bao giờ ngồi chung với Cô Thần, nên bộ Cô Quả trên thực tế là một bộ tam hợp mà ai cũng có, chứ không phải một dấu hiệu riêng của người kém may. Ba, nó luôn đứng ở cung mộ khố, tức chỗ tích chứa, nên mặt lợi mà Tân Biên gọi là giữ gìn của cải bền vững không phải lời an ủi cho đẹp, mà là điều hợp với chỗ đứng của nó.
Đặc Tính Và Mặt Mạnh Mặt Yếu Của Quả Tú
Theo Tân Biên, Quả Tú cùng Cô Thần chủ sự cô độc, lạnh lùng, khó tính, khắc nghiệt, không thích giao thiệp. Mặt lợi là giữ gìn của cải bền vững; mặt hại là bất lợi cho việc cưới hỏi, cho sự đoàn tụ chung sống của vợ chồng và sự tiếp nối dòng dõi.
Quả Tú ở Mệnh, Phu Thê làm nổi nét cô lẻ. Với nữ mệnh, Quả Tú nhắc về sự muộn màng hoặc trắc trở trong hôn nhân. Gặp cát tinh thì hóa thành sự tự lập, kín đáo; gặp sát tinh thì cô quả rõ.
Quả Tú Hội Họp Với Các Sao Khác
Quả Tú phối với các sao cho kết quả khác nhau:
Cô Thần
- Ý nghĩa kết hợp: Cặp Cô Quả, tăng nét cô độc, lẻ loi.
Cát tinh, chính tinh sáng
- Ý nghĩa kết hợp: Hóa thành tự lập, kín đáo, đảm đang.
Đào Hoa, Hồng Loan, Hỷ
- Ý nghĩa kết hợp: Giảm cô lẻ, có duyên hơn.
Sát tinh, Tang Hổ
- Ý nghĩa kết hợp: Cô quả, hiu quạnh, hôn nhân trắc trở.
Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
Trước khi đọc hai cột dưới, xin nhớ quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Quả Tú là mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn, còn giáp hai bên là thế bao vây, mạnh với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Với Quả Tú phải nhớ thêm một tầng quan trọng hơn hẳn: vì nó chỉ đóng bốn cung tứ mộ nên rất nhiều thế đã bị cấu trúc loại bỏ từ trước. Cô Thần mãi mãi tam hợp và không bao giờ đồng cung; Thiên Mã, Đào Hoa, Thái Tuế, Tang Môn, Bạch Hổ, Tuế Phá, Khốc Hư, Long Trì, Hoa Cái và Nguyệt Đức thì vĩnh viễn không ngồi chung cung với nó.
Quả Tú hợp khi gặp
- Thiên Đức (đồng cung, chỉ với bốn tuổi tứ mộ Thìn Tuất Sửu Mùi): đức tinh ngồi ngay cùng cung, cái quạnh chuyển thành cái tĩnh có phúc đỡ. Đây là thế đẹp nhất của sao này và là chỗ nó hơn hẳn Cô Thần, vì Cô Thần vĩnh viễn không có được thế ấy.
- Phúc Đức của vòng Thái Tuế (đồng cung, cũng chỉ với tuổi tứ mộ): cát tinh chủ phúc ấm, làm dịu nét cô lẻ ngay tại chỗ. Đi cùng Thiên Đức thành một cặp che chở khá vững.
- Hóa Khoa (đồng cung mạnh nhất, tới qua chính tinh cùng cung): hóa hợp nhất với sao này, biến cái lẻ loi thành sự chuyên tâm. Hợp người nghiên cứu, người dạy học, người làm nghề bằng chuyên môn tích lũy.
- Hóa Lộc và Lộc Tồn (đồng cung): người làm một mình mà giữ được của. Quả Tú vốn đứng ở cung mộ khố nên gặp Lộc là gặp đúng chỗ chứa, đây đúng là mặt lợi mà Tân Biên gọi là giữ gìn của cải bền vững.
- Chính tinh miếu vượng (đồng cung, mọi chính tinh đều có thể): chính tinh đủ sáng thì nét quạnh chuyển hẳn sang nét trầm ổn. Hợp nhất là Thiên Phủ, Thái Âm miếu, Thiên Lương, Thiên Đồng, Vũ Khúc, những sao vốn ưa giữ và ưa yên.
- Hồng Loan, Thiên Hỷ, Phượng Các, Giải Thần (đồng cung nhưng chỉ ở vài tuổi nhất định: Hồng Loan với tuổi Dần Thân, Thiên Hỷ với tuổi Tỵ Hợi, Phượng Các và Giải Thần với tuổi Tý Ngọ): sao hỷ khánh ngồi cùng thì cái quạnh nhạt hẳn. Ai thuộc những tuổi ấy thì bớt phải lo về hai chữ Quả Tú.
Quả Tú e ngại khi gặp
- Hóa Kỵ (đồng cung là nặng nhất, tới qua chính tinh cùng cung): cái quạnh thành cái đọng, giữ trong lòng không nói, ôm việc cũ không buông. Với một sao vốn đứng ở cung tích chứa thì Hóa Kỵ là tổ hợp đáng lưu tâm nhất.
- Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung): sát khí cộng với cái lạnh thành ra khắc nghiệt, khó gần, dễ va chạm rồi tự tách ra. Hỏa Linh đi đủ mười hai cung nên tuổi nào cũng có thể gặp; còn Kình Đà an theo Lộc Tồn nên chỉ năm trong mười tuổi can đưa được chúng vào cung tứ mộ để ngồi cùng Quả Tú, cụ thể là Kình Dương với tuổi Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý và Đà La với tuổi Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm.
- Thiên Sát, Trực Phù, Quán Sách (đồng cung, mặc định với bốn tuổi tứ sinh Dần Thân Tỵ Hợi): bộ giấy tờ và trách nhiệm, một mình gánh phần văn tự. Vì bất biến theo nhóm tuổi nên không dùng để phân biệt lá số này với lá số kia trong cùng nhóm.
- Nguyệt Sát và Điếu Khách (đồng cung, mặc định với bốn tuổi tứ chính Tý Ngọ Mão Dậu): hao ngầm cộng tiếng ra tiếng vào. Cũng là thế mặc định, không phải điềm riêng.
- Cô Thần (luôn luôn tam hợp, cách bốn cung, vĩnh viễn không đồng cung): ghi vào đây để quý vị khỏi đi tìm. Bộ Cô Quả có thật, nhưng nó là một bộ tam hợp mà lá số của ai cũng có, chứ không phải một bộ đồng cung của riêng người kém may.
- Tuần, Triệt án ngữ ngay cung Quả Tú (chặn cả cung): với một phụ tinh nhỏ thì bị chặn thường là điều mừng, nhưng Tuần Triệt chặn cả cung chứ không chọn sao, nên chặn luôn chính tinh và cát tinh ở đó. Phải xem cung ấy đang mang gì rồi mới kết luận.
Tóm lại, cùng một sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho kết quả khác nhau, và với Quả Tú còn thêm một tầng nữa: vì nó chỉ đóng bốn cung tứ mộ nên rất nhiều thế đã bị cấu trúc loại bỏ từ trước, trong đó có thế đồng cung với Cô Thần, với Thiên Mã, với Đào Hoa và với cả Tang Môn Bạch Hổ, những thế vĩnh viễn không xảy ra. Đọc hai cột trên phải đọc kèm vị thế ghi trong ngoặc, và luôn xét cả lá số.
Quả Tú Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Mọi mục trên nói về Quả Tú đứng yên. Mục này nói chuyện động, tức ba tầng thời gian chồng lên nhau: đại vận mười năm, lưu niên một năm, và câu hỏi Quả Tú có bản lưu hay không.
Khi đại vận đi vào cung có Quả Tú
Mười năm ấy thường mang một chất chung: thu vào nhiều hơn mở ra. Người ta ít giao thiệp hơn các vận khác, sống gọn lại, giữ những gì đã có thay vì đi tìm cái mới. Nếu cung ấy có chính tinh sáng, Thiên Đức, Hóa Lộc, Hóa Khoa hay Lộc Tồn thì cái thu vào ấy chính là điều kiện tốt: vận hợp để tích sản, mua đất giữ nhà, học sâu một nghề, hoàn thành một công trình dài hơi, hoặc để tu dưỡng.
Nếu cung ấy có Hóa Kỵ, Kình Đà hay Không Kiếp thì mười năm ấy nên giữ hai nguyên tắc. Thứ nhất là đừng ôm: điểm chung của những vận Quả Tú nặng không phải biến cố lớn, mà là người ta giữ lại quá nhiều thứ đáng lẽ nên buông. Thứ hai là đừng im: sao này khiến người ta không cãi nhau với ai, chỉ lặng lẽ không nói, rồi mọi thứ nguội dần. Cách gỡ: mỗi năm rà lại một lần xem đang giữ những gì, và giữ vài mối thân bằng cách chủ động hẹn gặp theo lịch.
Quả Tú có bản lưu niên, và đây là điểm phải nói rõ
Không phải sao nào cũng có bản lưu. Sao an theo can hoặc chi năm sinh thì có, vì chỉ cần thay can chi năm sinh bằng can chi năm đang xem: vòng Thái Tuế theo chi và vòng Bác Sĩ theo Lộc Tồn đều có bản lưu, nên mới có lưu Thái Tuế, lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ, lưu Kình Đà. Ngược lại vòng Tràng Sinh không có bản lưu vì an theo Cục mà Cục cố định trọn đời; các sao an theo tháng sinh như Tả Hữu, Thiên Hình, Thiên Riêu và các sao an theo giờ sinh như Xương Khúc, Không Kiếp, Thai Phụ, Phong Cáo cũng không có bản lưu, vì tháng sinh và giờ sinh không đổi theo năm.
Quả Tú an theo chi năm sinh nên có lưu Quả Tú: tra nhóm mùa của chi năm đang xem rồi lấy cung cuối của mùa vừa qua. Nhưng vì luật an theo nhóm mùa nên lưu Quả Tú không dời từng cung mỗi năm như các sao khác: nó đứng yên ba năm liền rồi nhảy sang cung kế, chỉ nhận bốn giá trị Sửu, Thìn, Mùi, Tuất và quay hết một vòng mất mười hai năm. Bảng dưới cho thấy rõ chỗ nhảy ấy.
2026
- Can chi năm: Bính Ngọ
- Nhóm mùa của chi năm: hạ (Tỵ Ngọ Mùi)
- Lưu Quả Tú tại: Thìn
- Lưu Cô Thần tại: Thân
2027
- Can chi năm: Đinh Mùi
- Nhóm mùa của chi năm: hạ (Tỵ Ngọ Mùi)
- Lưu Quả Tú tại: Thìn
- Lưu Cô Thần tại: Thân
2028
- Can chi năm: Mậu Thân
- Nhóm mùa của chi năm: thu (Thân Dậu Tuất)
- Lưu Quả Tú tại: Mùi
- Lưu Cô Thần tại: Hợi
2029
- Can chi năm: Kỷ Dậu
- Nhóm mùa của chi năm: thu (Thân Dậu Tuất)
- Lưu Quả Tú tại: Mùi
- Lưu Cô Thần tại: Hợi
2030
- Can chi năm: Canh Tuất
- Nhóm mùa của chi năm: thu (Thân Dậu Tuất)
- Lưu Quả Tú tại: Mùi
- Lưu Cô Thần tại: Hợi
2031
- Can chi năm: Tân Hợi
- Nhóm mùa của chi năm: đông (Hợi Tý Sửu)
- Lưu Quả Tú tại: Tuất
- Lưu Cô Thần tại: Dần
2032
- Can chi năm: Nhâm Tý
- Nhóm mùa của chi năm: đông (Hợi Tý Sửu)
- Lưu Quả Tú tại: Tuất
- Lưu Cô Thần tại: Dần
2033
- Can chi năm: Quý Sửu
- Nhóm mùa của chi năm: đông (Hợi Tý Sửu)
- Lưu Quả Tú tại: Tuất
- Lưu Cô Thần tại: Dần
2034
- Can chi năm: Giáp Dần
- Nhóm mùa của chi năm: xuân (Dần Mão Thìn)
- Lưu Quả Tú tại: Sửu
- Lưu Cô Thần tại: Tỵ
2035
- Can chi năm: Ất Mão
- Nhóm mùa của chi năm: xuân (Dần Mão Thìn)
- Lưu Quả Tú tại: Sửu
- Lưu Cô Thần tại: Tỵ
2036
- Can chi năm: Bính Thìn
- Nhóm mùa của chi năm: xuân (Dần Mão Thìn)
- Lưu Quả Tú tại: Sửu
- Lưu Cô Thần tại: Tỵ
2037
- Can chi năm: Đinh Tỵ
- Nhóm mùa của chi năm: hạ (Tỵ Ngọ Mùi)
- Lưu Quả Tú tại: Thìn
- Lưu Cô Thần tại: Thân
Cách dùng bảng này rất giản dị và cũng rất giới hạn. Lưu Quả Tú trùng cung Quả Tú bản mệnh thì năm ấy chất quạnh đậm hơn thường lệ, thường ứng vào việc phải tự lo một mình mà không nhờ được ai; theo bảng thì cứ mười hai năm mới có một cụm ba năm như thế. Lưu Quả Tú vào cung Phu Thê hay cung Nô Bộc thì năm ấy quan hệ dễ nguội, nên chủ động hẹn gặp là đủ. Lưu Quả Tú vào cung Tài Bạch hay Điền Trạch thì lại là năm hợp giữ và hợp tích, không phải năm xấu.
Các lưu sao khác chạm vào cung Quả Tú
Lưu Thái Tuế đóng đúng cung Quả Tú bản mệnh: năm phải đứng ra chịu trách nhiệm một việc mà không có ai đỡ, thường là việc của gia đình hoặc việc giấy tờ. Lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ, lưu Kình Đà ghé vào: cái quạnh chuyển thành cái nặng, đây là lúc nên ở gần người nhà chứ không phải lúc rút vào. Lưu Hồng Loan, lưu Đào Hoa, lưu Khôi Việt, lưu Xương Khúc ghé vào: năm có duyên mới, có người đỡ; với người có Quả Tú ở Phu Thê thì đây là những năm đáng chú ý về đường tình duyên. Lưu Lộc Tồn ghé vào cung Quả Tú ở Tài Bạch hay Điền Trạch là năm hợp tích sản.
Thầy nói thêm một câu nghiêm về cách dùng bảng lưu với riêng sao này. Vì tên sao nghe đã lạnh nên Quả Tú bị dùng để dọa người rất nhiều, nhất là với khách nữ chưa lập gia đình. Một mình lưu Quả Tú, hay cả Quả Tú bản mệnh cộng lưu Quả Tú, đều không đủ tư cách nói bất cứ điều gì về hôn nhân của một người. Khoa Đẩu Số xét hôn nhân bằng chính tinh cung Phu Thê, Tứ Hóa bay vào cung ấy, cung Phúc Đức, cung Mệnh Thân và cả bộ sao đào hoa, chứ không xét bằng một phụ tinh nhỏ chỉ có bốn chỗ đứng và ba năm mới nhúc nhích một lần.
Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Quả Tú
Đây là mục quan trọng nhất của cả bài. Quả Tú là một trong vài sao mà cái tên gây hại nhiều hơn bản thân sao, và phần lớn nỗi sợ quanh nó đến từ hai chữ chứ không đến từ sách.
Quả Tú không phải án cô quả, nó chỉ là một dấu nhỏ
Tân Biên chép nghĩa của bộ Cô Quả rất gọn: chủ sự cô độc, lạnh lùng, khó tính, khắc nghiệt, không thích giao thiệp; mặt lợi là giữ gìn của cải bền vững; mặt hại là bất lợi cho việc cưới hỏi, cho sự đoàn tụ chung sống của vợ chồng và sự tiếp nối dòng dõi. Xin đọc cho kỹ hai chữ bất lợi. Bất lợi nghĩa là một điều kiện kém thuận, không phải một kết quả đã định. Sách không nói không lấy được chồng vợ, không nói phải ly hôn, không nói không có con. Thầy phải nói thẳng vì đã gặp quá nhiều lần: có người nghe hai chữ Quả Tú rồi về nhà buồn suốt một năm, có người còn từ chối một mối tốt vì sợ. Quả Tú là một phụ tinh nhỏ, và trong khoa Đẩu Số không được phán họa từ một sao. Đó là luật nghề, không phải lời an ủi.
Chữ quả trong tên sao không có nghĩa là góa
Đây là hiểu lầm nặng nhất và cũng dễ gỡ nhất. Chữ quả trong Quả Tú là chữ chỉ sự ít, lẻ, một mình, cùng chữ với quả nhân mà vua chúa tự xưng, nghĩa là người ít đức, người đứng một mình. Nó không phải chữ chỉ người mất chồng. Tân Biên đặt Cô Thần và Quả Tú thành một cặp với nghĩa chung là cô độc lẻ loi, và không có một dòng nào trong Tân Biên hay Toàn Thư nói Quả Tú chủ sự góa bụa. Việc gán chữ quả thành chữ góa là lối hiểu dân gian truyền miệng. Ai nghe lời đoán rằng có Quả Tú thì sẽ góa, xin hỏi lại người đoán rằng câu ấy chép ở sách nào.
Quả Tú và Cô Thần không bao giờ đóng chung một cung
Người ta nói bộ Cô Quả, nghe như hai sao đi liền nhau, rồi suy ra rằng lá số nào có hai sao ấy đồng cung thì cô độc gấp bội. Chạy đủ mười hai tuổi chi thì Quả Tú chỉ đóng bốn cung tứ mộ, Cô Thần chỉ đóng bốn cung tứ sinh, và khoảng cách giữa chúng là hằng số bốn cung, tức tam hợp. Nghĩa là không lá số nào của bất kỳ ai có Quả Tú và Cô Thần đồng cung. Vì lá số nào cũng có đủ hai sao ấy trong cùng một tam hợp nên nó không phải dấu hiệu riêng của ai cả. Ai gặp lá số vẽ hai sao chung một cung thì nên xem lại phần mềm an sao.
Quả Tú không ứng riêng cho nữ mệnh theo nghĩa nặng hơn
Lối luận cũ có nói Quả Tú thiên về nữ mệnh còn Cô Thần thiên về nam mệnh, và trang này trước đây cũng chép theo. Cần nói cho rõ ranh giới của câu ấy. Phép an sao không phân biệt nam nữ: cùng một chi năm sinh thì Quả Tú đóng cùng một cung, không có một dòng nào trong thuật toán rẽ theo giới tính. Câu thiên về nữ mệnh là quy ước luận giải của thời cũ, sinh ra trong bối cảnh mà người phụ nữ lẻ bóng chịu thiệt thòi hơn nay, chứ không phải khác biệt về cấu trúc. Thầy dùng câu ấy theo nghĩa duy nhất còn giá trị: nó nhắc người luận phải hỏi kỹ hoàn cảnh sống chứ không phải phán nặng tay hơn với khách nữ. Ai dùng câu ấy để nói với một cô gái rằng số cô cô quả thì đó là lỗi của người luận, không phải nghĩa của sao.
Lời Khuyên Và Cách Sống Cùng Quả Tú
Quả Tú không cần hóa giải theo nghĩa trừ khử, và càng không cần lễ lạt. Nó chủ một trạng thái rất cụ thể là còn lại một mình sau khi việc đã xong, mà trạng thái ấy nằm trong tầm tay người ta. Mọi lời khuyên dưới đây xoay quanh hai chữ: giữ và buông. Biết giữ đúng thứ đáng giữ thì Quả Tú là vốn; giữ cả thứ nên buông thì nó thành gánh.
Chọn nghề tích lũy, đó là chỗ Quả Tú trở thành vốn
Đây là lời khuyên có ích nhất Thầy có thể đưa cho người có Quả Tú đậm. Đừng ép mình vào nghề ăn nhanh, nghề chạy theo trào lưu, nghề sống bằng quan hệ rộng, rồi tự trách mình chậm. Có những nghề càng lâu càng có giá, và người ưa giữ thắng ở đó: nghiên cứu, dạy học, kế toán, kiểm toán, lưu trữ, thủ quỹ, nghề thủ công, nghề chăm cây chăm đất, sưu tầm, bảo tồn, y học chuyên sâu, và cả đường tu học. Người có Quả Tú ở Quan Lộc, Tài Bạch hoặc Điền Trạch mà chọn đúng nghề như thế thì cái người khác gọi là quạnh chính là điều kiện làm việc tốt nhất của họ.
Mỗi năm rà lại một lần xem mình đang giữ những gì
Cái nguy của Quả Tú không phải mất, mà là giữ quá lâu những thứ đã hết dùng: một công việc đã hết chỗ tiến, một mối quan hệ chỉ còn thói quen, một căn nhà không hợp nữa, một nỗi buồn cũ. Vì sao này đứng ở cung mộ khố nên tính tích chứa là bản năng, mà bản năng ấy không tự biết dừng. Cách gỡ: mỗi năm một lần ngồi liệt kê ba việc lớn mình đang giữ và hỏi thẳng vì sao còn giữ; cái nào giữ vì còn cần thì giữ tiếp, cái nào giữ vì ngại thay đổi thì buông.
Giữ vài mối thân bằng lịch chứ không bằng cảm hứng
Phong thủy bổ trợ, ghi rõ là gợi ý chung: những việc dưới đây thuộc loại điều chỉnh nếp sống và bài trí, không phải trấn yểm, không thay thế được nỗ lực của bản thân và cũng không sửa được lá số. Người có Quả Tú đậm thường ở lâu một chỗ nên nhà dễ đầy và dễ tối: nên dọn bớt đồ không dùng mỗi năm một lần, mở cửa lấy nắng, tránh chất đồ ở lối đi, và giữ một chỗ trong nhà đủ rộng để mời người tới ngồi chơi. Trồng cây hoặc nuôi một con vật nhỏ là việc hợp với sao này vì nó tạo ra sự chăm sóc hằng ngày và tạo ra tiếng động của sự sống. Về màu sắc, sắc ấm dễ chịu hơn sắc lạnh và sắc tối. Ai muốn chỉnh theo đúng lá số của mình thì nên xem cung Điền Trạch và cung Phúc Đức rồi hãy quyết. Xin nói rõ một lần nữa: khoa Đẩu Số không có nghi lễ giải hạn nào dành riêng cho sao Quả Tú, và ai bán lễ cắt duyên âm hay giải cô quả thì đó là chuyện của người bán.
Lời cuối của mục này, cũng là câu Thầy hay nói khi tiễn khách vừa nghe hai chữ Quả Tú mà mặt còn tái: ở lại không phải là bị bỏ lại. Cung mộ khố là cái kho, mà kho thì để chứa chứ không phải để trống. Có người dùng chính cái tính ưa giữ ấy để tích được những thứ mà người ưa đi không bao giờ ngồi yên đủ lâu để tích.
Câu hỏi thường gặp
Quả Tú là sao chủ sự cô độc trong Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Thổ, đi cặp với Cô Thần và thường ứng nhiều cho nữ mệnh. Sao chỉ sự lẻ loi, quạnh quẽ, bất lợi cho hôn nhân và đoàn tụ.
Quả Tú ở Phu Thê với nữ mệnh nhắc về khả năng muộn màng hoặc trắc trở trong hôn nhân, sự xa cách trong tình cảm, nhất là khi đi cùng Cô Thần và sát tinh.
Có. Gặp cát tinh, chính tinh sáng và các sao đào hoa hỷ khánh như Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỷ thì nét cô quả được hóa thành sự tự lập, kín đáo và bớt lẻ loi.
Quả Tú an theo địa chi năm sinh, cố định theo tuổi và đi cặp với Cô Thần trong lá số.
Luôn cách nhau đúng bốn cung, tức luôn tam hợp nhau, và vì thế không bao giờ đồng cung. Quả Tú tại Tuất thì Cô Thần tại Dần, cùng tam hợp Dần Ngọ Tuất; Quả Tú tại Sửu thì Cô Thần tại Tỵ, cùng tam hợp Tỵ Dậu Sửu; Quả Tú tại Thìn thì Cô Thần tại Thân, cùng tam hợp Thân Tý Thìn; Quả Tú tại Mùi thì Cô Thần tại Hợi, cùng tam hợp Hợi Mão Mùi. Không lệch một tuổi nào. Vậy bộ Cô Quả là một bộ tam hợp mà lá số của ai cũng có, chứ không phải một bộ đồng cung, và cảnh hai sao cùng đóng một cung để cô độc gấp bội là cảnh không tồn tại.
Không. Chữ quả ở đây là chữ chỉ sự ít, lẻ, một mình, cùng chữ với quả nhân mà vua chúa tự xưng, nghĩa là người đứng một mình, không phải chữ chỉ người mất chồng. Tân Biên đặt Cô Thần và Quả Tú thành một cặp với nghĩa chung là cô độc lẻ loi, và không có một dòng nào trong Tân Biên hay Toàn Thư nói Quả Tú chủ sự góa bụa. Việc gán chữ quả thành chữ góa là lối hiểu dân gian truyền miệng, không phải thư tịch.
Tùy nhóm tuổi, và chỉ có ba khả năng. Tuổi tứ mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì Quả Tú luôn đồng cung với Thiên Đức, Phúc Đức và Phan An, đây là bộ nhẹ nhất vì có đức tinh che chở. Tuổi tứ chính Tý, Ngọ, Mão, Dậu thì luôn đồng cung với Nguyệt Sát và Điếu Khách. Tuổi tứ sinh Dần, Thân, Tỵ, Hợi thì luôn đồng cung với Thiên Sát, Trực Phù và Quán Sách, riêng tuổi Dần Thân có thêm Hồng Loan và tuổi Tỵ Hợi có thêm Thiên Hỷ ngồi cùng. Vì thế cùng là Quả Tú nhưng ba nhóm tuổi cho ba kiểu quạnh khác nhau: quạnh mà yên, quạnh giữa đám đông, và quạnh vì gánh việc.