Tử Vi

Sao Tả Phụ: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung

Tìm hiểu sao Tả Phụ trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.

Đạo Quán53 phút đọc

Tổng quan về sao Tả Phụ

Trong Tử Vi Đẩu Số, ngoài mười bốn chính tinh giữ vai trò chủ chốt còn có một lớp sao quan trọng không kém gọi là trợ tinh, tức các sao phụ tá. Tả Phụ là một trong những trợ tinh đứng đầu lớp này. Tên gọi của nó đã nói lên tất cả, chữ Tả là bên trái, chữ Phụ là giúp đỡ, ghép lại là người trợ giúp đứng bên tay trái.

Tả Phụ thuộc chòm Bắc Đẩu, ngũ hành Dương Thổ đới Kim, mang tính chất phù tinh, chủ về quyền lệnh và sự phò tá. Nó không tự mình làm nên đại sự, nhưng lại là yếu tố quyết định một lá số có thành hay không.

Cái hay của Tả Phụ nằm ở chỗ nó là sao của quý nhân. Người có Tả Phụ tốt trong lá số thường được cấp trên cất nhắc, được đồng nghiệp giúp sức, gặp khó khăn lại luôn có người chìa tay ra đúng lúc. Đó là thứ phúc khí mà nhiều người tài giỏi vẫn mơ ước nhưng không có, bởi tài năng mà thiếu người nâng đỡ thì cũng khó cất cánh.

Một điểm cần nắm ngay từ đầu là Tả Phụ luôn đi đôi với người anh em song sinh của nó, sao Hữu Bật. Hai sao này hợp thành bộ Tả Hữu, là cặp phò tá mạnh nhất trong khoa Đẩu Số. Khi luận về Tả Phụ, gần như lúc nào cũng phải nhắc tới Hữu Bật, bởi sức mạnh thật sự của chúng nằm ở sự cộng hưởng khi cả hai cùng chầu về một cung.

  • Ngũ hành: Thổ
  • Chòm sao: Bắc Đẩu
  • Loại sao: Trợ tinh, phò tá
  • Cách an: Theo tháng sinh
  • Cai quản: Quý nhân, trợ lực, quyền
  • Hợp gặp: Hữu Bật, Tử Vi, Khôi Việt
  • Kỵ: Đơn thủ giữa sát tinh, Tuần Triệt

Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.

Ý nghĩa tại cung Mệnh

  • Tả Phụ đủ bộ Tả Hữu hoặc gặp cát tinh: Trung hậu, đáng tin, có nghĩa khí; cả đời có người nâng đỡ và bản thân cũng là chỗ dựa của người khác. Hợp vai tham mưu, phó tướng, người điều phối.
  • Tả Phụ đơn thủ hoặc gặp sát tinh: Vẫn tử tế nhưng dễ thành người làm nền suốt đời: gánh việc cho người, công của mình mà tên của người, ngại đứng ra nhận phần.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Mệnh tại Sửu hoặc Mùi mới có cửa được Tả Hữu đồng cung hay giáp hai bên. Mệnh Tử Vi có Tả Hữu là gốc của Quân Thần Khánh Hội. Mệnh có Tả Phụ hóa Khoa tuổi Nhâm là quý nhân chính danh.

Ý nghĩa ở các cung khác

Đối chiếu ý nghĩa của Tả Phụ với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.

Cung Phụ Mẫu

  • Tả Phụ đủ bộ Tả Hữu hoặc gặp cát tinh: Cha mẹ hiền hậu, có người đỡ đầu ngoài huyết thống; giấy tờ, bằng cấp, thủ tục với bậc trên đều hanh thông.
  • Tả Phụ đơn thủ hoặc gặp sát tinh: Được cha mẹ thương nhưng phải là người lo cho cha mẹ và cho cả họ hàng, việc nhà dồn về mình.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Tả Phụ hóa Khoa tuổi Nhâm tại Phụ Mẫu là người đỡ đầu có học vị hoặc chức phận. Gặp Kình Đà thì việc giấy tờ hay bị kéo dài, phải làm đi làm lại.

Cung Phúc Đức

  • Tả Phụ đủ bộ Tả Hữu hoặc gặp cát tinh: Phúc dày, tâm an, hay làm việc thiện và được báo đáp; họ hàng bên nội có người tử tế đứng ra gánh việc chung.
  • Tả Phụ đơn thủ hoặc gặp sát tinh: Tâm hay nghĩ cho người tới mức tự làm khổ mình, khó từ chối, lo hộ phần thiên hạ.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Phúc Đức có Tả Hữu mà tam phương có Không Kiếp là người dễ dốc lòng nhầm chỗ. Có Thiên Lương cùng thì hợp đường nghiên cứu, tôn giáo, thiện nguyện.

Cung Điền Trạch

  • Tả Phụ đủ bộ Tả Hữu hoặc gặp cát tinh: Nhà cửa ổn định, có người giúp về chỗ ở, mua bán nhà đất thuận, thừa kế êm; sổ sách thủ tục rõ ràng.
  • Tả Phụ đơn thủ hoặc gặp sát tinh: Nhà đất phải nhờ người khác đứng tên hoặc chung phần, dễ vướng chuyện chia chác trong họ.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Điền Trạch có Tả Phụ mà chính tinh hóa Kỵ là thế đứng tên hộ sinh chuyện, cần giấy trắng mực đen. Có Lộc Tồn cùng thì điền sản giữ được.

Cung Quan Lộc

  • Tả Phụ đủ bộ Tả Hữu hoặc gặp cát tinh: Vị trí đẹp nhất của Tả Phụ: được cấp trên cất nhắc, có ê kíp đắc lực, hợp quản trị, hành chính, tổ chức, hậu cần, tham mưu.
  • Tả Phụ đơn thủ hoặc gặp sát tinh: Có việc mà không có quyền, làm nhiều mà công thuộc về người khác; đổi chỗ làm thì mất luôn chỗ dựa.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Quan Lộc có Tả Phụ hóa Khoa tuổi Nhâm là danh nghề nghiệp đến từ vai phò tá. Có Tử Vi hóa Quyền cùng tuổi Nhâm là vua có quyền thần có danh, tổ hợp rất mạnh.

Cung Nô Bộc

  • Tả Phụ đủ bộ Tả Hữu hoặc gặp cát tinh: Bạn bè và cấp dưới trung thành, đắc lực, sẵn lòng ra tay; đây là cung mà Tả Phụ nói đúng bản chất của nó nhất.
  • Tả Phụ đơn thủ hoặc gặp sát tinh: Giúp bạn nhiều mà ít được đáp lại, cấp dưới nhờ vả liên miên, dễ bị mượn danh mượn tiền.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Nô Bộc có Tả Phụ đứng cùng chính tinh hóa Kỵ là tổ hợp chớ đứng tên hộ, chớ bảo lãnh. Có Không Kiếp cùng thì bạn tới lúc cần lại vắng.

Cung Thiên Di

  • Tả Phụ đủ bộ Tả Hữu hoặc gặp cát tinh: Ra ngoài gặp quý nhân, đi xa có người đón đường, hợp hợp tác liên kết, hợp công tác nước ngoài.
  • Tả Phụ đơn thủ hoặc gặp sát tinh: Ra ngoài phải nhờ vả mới xong việc, tự mình xoay thì chậm; dễ phụ thuộc vào một mối quan hệ.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Thiên Di có Tả Phụ mà Mệnh trống là người hưởng phúc bên ngoài nhiều hơn trong nhà. Gặp Thiên Mã cùng thì đi xa có người dẫn dắt.

Cung Tật Ách

  • Tả Phụ đủ bộ Tả Hữu hoặc gặp cát tinh: Có bệnh thì gặp thầy giỏi, có người chăm, qua được tai ách nhờ trợ lực tới đúng lúc; hay được phát hiện bệnh sớm nhờ người nhắc.
  • Tả Phụ đơn thủ hoặc gặp sát tinh: Sức khỏe hao vì lo cho người khác, mất ngủ vì việc thiên hạ; chứng thuộc tỳ vị, tiêu hóa do Thổ khí.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Tả Phụ tại Tật Ách chỉ nói về người chăm và cách qua ách, không tự nó chỉ ra bệnh gì. Muốn biết bệnh phải đọc chính tinh và sát tinh tại cung ấy trước.

Cung Tài Bạch

  • Tả Phụ đủ bộ Tả Hữu hoặc gặp cát tinh: Tiền vào có người giúp: đối tác tốt, người chung vốn tử tế, hậu thuẫn tài chính đúng lúc; hợp làm ăn theo nhóm.
  • Tả Phụ đơn thủ hoặc gặp sát tinh: Tiền dính tới người khác quá nhiều: cho vay, đứng tên, ứng hộ; tiền vào tay rồi chảy sang chỗ khác.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Tài Bạch có Tả Phụ mà tuổi Nhâm thì Vũ Khúc hóa Kỵ, nếu hai sao gặp nhau là thế người giúp lại làm mình kẹt tiền, phải luận kỹ. Có Lộc Tồn cùng thì giữ được của.

Cung Tử Tức

  • Tả Phụ đủ bộ Tả Hữu hoặc gặp cát tinh: Con cái hiếu thuận, biết đỡ đần, có người đỡ đầu cho con; nhà có nhiều người cùng chăm trẻ.
  • Tả Phụ đơn thủ hoặc gặp sát tinh: Lo cho con nhiều mà con chưa hiểu, hoặc phải nuôi con của người khác, nhận nuôi, đỡ đầu cháu.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Tử Tức có Tả Hữu đủ bộ thường đông con hoặc nhiều người quanh trẻ. Gặp Tuần Triệt thì cái đỡ đần đến muộn.

Cung Phu Thê

  • Tả Phụ đủ bộ Tả Hữu hoặc gặp cát tinh: Bạn đời là chỗ dựa thật, biết chia việc, hai người bù cho nhau; hôn nhân bền vì có tình nghĩa chứ không chỉ có tình.
  • Tả Phụ đơn thủ hoặc gặp sát tinh: Bạn đời hay bận lo cho người ngoài, hoặc hôn nhân có người thứ ba dự phần theo nghĩa can thiệp, không nhất thiết là tình cảm.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Phu Thê có Tả Phụ đơn thủ đứng cùng Đào Hoa hay Hồng Loan mới phải xét chuyện người thứ ba; một mình Tả Phụ thì không đủ để nói điều đó. Đây là chỗ bị đọc sai nhiều nhất.

Cung Huynh Đệ

  • Tả Phụ đủ bộ Tả Hữu hoặc gặp cát tinh: Anh em hòa thuận, đắc lực, tương trợ; có bạn thân như tay chân, hợp làm ăn cùng anh em.
  • Tả Phụ đơn thủ hoặc gặp sát tinh: Mình là người gánh cho anh em, việc chung dồn về một mối; dễ vướng chuyện tiền bạc trong nhà.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Huynh Đệ có Tả Phụ đứng cùng chính tinh hóa Kỵ là tổ hợp anh em vay mượn dây dưa. Đủ bộ Tả Hữu tại Huynh Đệ thì anh em đông và có người thành đạt.

Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc

Tả Phụ không an theo Tử Vi, không an theo can năm, cũng không an theo giờ sinh. Nó an theo tháng sinh âm lịch: khởi tại cung Thìn ứng với tháng Giêng rồi đếm thuận, mỗi tháng tiến một cung. Người anh em của nó là Hữu Bật thì khởi tại cung Tuất ứng với tháng Giêng rồi đếm nghịch, mỗi tháng lùi một cung. Hai chiều đếm ngược nhau ấy sinh ra toàn bộ luật chơi của bộ Tả Hữu, và những luật ấy chặt tới mức có thể nói trước điều gì xảy ra được, điều gì không bao giờ xảy ra, mà không cần nhìn lá số.

Tháng 1

  • Tả Phụ: Thìn
  • Hữu Bật: Tuất

Tháng 2

  • Tả Phụ: Tỵ
  • Hữu Bật: Dậu

Tháng 3

  • Tả Phụ: Ngọ
  • Hữu Bật: Thân

Tháng 4

  • Tả Phụ: Mùi
  • Hữu Bật: Mùi

Tháng 5

  • Tả Phụ: Thân
  • Hữu Bật: Ngọ

Tháng 6

  • Tả Phụ: Dậu
  • Hữu Bật: Tỵ

Tháng 7

  • Tả Phụ: Tuất
  • Hữu Bật: Thìn

Tháng 8

  • Tả Phụ: Hợi
  • Hữu Bật: Mão

Tháng 9

  • Tả Phụ: Tý
  • Hữu Bật: Dần

Tháng 10

  • Tả Phụ: Sửu
  • Hữu Bật: Sửu

Tháng 11

  • Tả Phụ: Dần
  • Hữu Bật: Tý

Tháng 12

  • Tả Phụ: Mão
  • Hữu Bật: Hợi

Đọc kỹ bảng sẽ thấy một điều mà rất nhiều sách nói mập mờ: hai sao không đơn giản là đối xứng, mà đối xứng qua một trục cố định là trục Sửu Mùi. Tháng Giêng Tả Phụ ở Thìn thì Hữu Bật ở Tuất, tháng Tư cả hai cùng dồn về Mùi, tháng Mười cả hai cùng dồn về Sửu. Cứ lấy vị trí Tả Phụ soi gương qua đường nối Sửu với Mùi là ra vị trí Hữu Bật, không sai một tháng nào. Toàn bộ những điều bất biến bên dưới đều là hệ quả của cái gương ấy.

Sáu điều bất biến của Tả Phụ

  • Tả Phụ an được cả mười hai cung, không cung nào là cung cấm. Khác Thiên Mã chỉ tới bốn cung Dần Thân Tỵ Hợi, khác Đào Hoa chỉ tới bốn cung Tý Ngọ Mão Dậu, Tả Phụ có mặt ở đủ mười hai địa chi và có thể đứng chung với bất kỳ sao nào trong mười bốn chính tinh, cũng có thể ngồi một mình ở cung vô chính diệu. Vì thế không tồn tại câu "Tả Phụ không bao giờ gặp sao X" trong nhóm chính tinh. Ai nói ngược lại là nhớ nhầm sang sao khác.
  • Tả Phụ và Hữu Bật chỉ đồng cung tại hai chỗ: Mùi và Sửu. Sinh tháng Tư thì cả hai cùng an tại Mùi, sinh tháng Mười thì cả hai cùng an tại Sửu. Ngoài hai tháng ấy ra, tuyệt đối không có lá số nào có Tả Hữu ngồi chung một cung. Đây là con số cứng: chỉ hai trên mười hai tháng, tức chừng một phần sáu số người.
  • Hai sao chỉ xung chiếu nhau trên trục Thìn Tuất. Sinh tháng Giêng thì Tả Phụ ở Thìn, Hữu Bật ở Tuất; sinh tháng Bảy thì đảo lại. Không có cặp xung chiếu nào khác. Trục Thìn Tuất là trục vuông góc với trục Sửu Mùi, đúng như hình học của cái gương ở trên.
  • Tả Hữu chỉ có thể giáp hai bên cung Sửu hoặc cung Mùi. Sinh tháng Ba (Tả Phụ Ngọ, Hữu Bật Thân) hoặc tháng Năm (Tả Phụ Thân, Hữu Bật Ngọ) thì hai sao kẹp lấy cung Mùi. Sinh tháng Chín (Tả Phụ Tý, Hữu Bật Dần) hoặc tháng Mười Một (Tả Phụ Dần, Hữu Bật Tý) thì hai sao kẹp lấy cung Sửu. Hệ quả rất lớn cho người luận: cách Tả Hữu giáp Mệnh chỉ thành khi cung Mệnh an tại Sửu hoặc tại Mùi. Mệnh ở mười cung còn lại thì dù sinh tháng nào cũng không bao giờ được Tả Hữu giáp. Sách nói cách này mà không nói điều kiện ấy, nên nhiều người tìm mãi không ra.
  • Khi Tả Hữu tam hợp nhau, cung nhận đủ cả hai vẫn là Sửu hoặc Mùi. Sinh tháng Hai và tháng Sáu, hai sao đứng ở Tỵ và Dậu, tam hợp Tỵ Dậu Sửu, cung nhận là Sửu. Sinh tháng Tám và tháng Mười Hai, hai sao đứng ở Hợi và Mão, tam hợp Hợi Mão Mùi, cung nhận là Mùi. Cộng cả ba thế đồng cung, giáp và tam hợp lại thì thấy ngay: Sửu và Mùi là hai cung được bộ Tả Hữu ưu ái nhất trong cả lá số.
  • Tả Phụ không bao giờ hội Thiên Hình và không bao giờ hội Thiên Riêu. Ba sao này cùng an theo tháng sinh nên khoảng cách giữa chúng là hằng số: Tả Phụ luôn cách Thiên Hình đúng bảy cung và cách Thiên Riêu đúng ba cung. Bảy và ba đều không phải không, không phải bốn, không phải tám, không phải sáu, cũng không phải một hay mười một. Nghĩa là Tả Phụ với hai sao ấy không đồng cung, không tam hợp, không xung chiếu và cũng không giáp nhau, ở bất kỳ lá số nào của bất kỳ ai. Câu "Tả Phụ gặp Thiên Riêu thì trợ lực hóa tà" là câu không thể xảy ra.

Bảng sau ghi rõ thế đứng giữa Tả Phụ và Hữu Bật ứng với từng tháng sinh, để quý vị tra một lần là biết lá số nhà mình thuộc thế nào.

Tháng 1

  • Tả Phụ tại: Thìn
  • Hữu Bật tại: Tuất
  • Thế đứng giữa hai sao: xung chiếu nhau qua trục Thìn Tuất

Tháng 2

  • Tả Phụ tại: Tỵ
  • Hữu Bật tại: Dậu
  • Thế đứng giữa hai sao: tam hợp, cùng chiếu về cung Sửu

Tháng 3

  • Tả Phụ tại: Ngọ
  • Hữu Bật tại: Thân
  • Thế đứng giữa hai sao: giáp hai bên cung Mùi

Tháng 4

  • Tả Phụ tại: Mùi
  • Hữu Bật tại: Mùi
  • Thế đứng giữa hai sao: đồng cung tại Mùi

Tháng 5

  • Tả Phụ tại: Thân
  • Hữu Bật tại: Ngọ
  • Thế đứng giữa hai sao: giáp hai bên cung Mùi

Tháng 6

  • Tả Phụ tại: Dậu
  • Hữu Bật tại: Tỵ
  • Thế đứng giữa hai sao: tam hợp, cùng chiếu về cung Sửu

Tháng 7

  • Tả Phụ tại: Tuất
  • Hữu Bật tại: Thìn
  • Thế đứng giữa hai sao: xung chiếu nhau qua trục Thìn Tuất

Tháng 8

  • Tả Phụ tại: Hợi
  • Hữu Bật tại: Mão
  • Thế đứng giữa hai sao: tam hợp, cùng chiếu về cung Mùi

Tháng 9

  • Tả Phụ tại: Tý
  • Hữu Bật tại: Dần
  • Thế đứng giữa hai sao: giáp hai bên cung Sửu

Tháng 10

  • Tả Phụ tại: Sửu
  • Hữu Bật tại: Sửu
  • Thế đứng giữa hai sao: đồng cung tại Sửu

Tháng 11

  • Tả Phụ tại: Dần
  • Hữu Bật tại: Tý
  • Thế đứng giữa hai sao: giáp hai bên cung Sửu

Tháng 12

  • Tả Phụ tại: Mão
  • Hữu Bật tại: Hợi
  • Thế đứng giữa hai sao: tam hợp, cùng chiếu về cung Mùi

Thầy dùng bảng trên như một bước sàng đầu tiên. Khách đọc tháng sinh âm lịch xong là Thầy biết ngay bộ Tả Hữu của họ mạnh hay tán: sinh tháng Tư hay tháng Mười là đủ bộ ngồi chung một chỗ, lực dồn vào đúng một cung; sinh tháng Ba, Năm, Chín, Mười Một là thế bao vây, lực trải ra hai cung liền nhau; sinh tháng Hai, Sáu, Tám, Mười Hai là thế tam hợp, lực chiếu xa; còn sinh tháng Giêng và tháng Bảy là thế hai sao quay lưng vào nhau qua trục Thìn Tuất, mỗi sao lo một đầu lá số. Không thế nào là xấu, nhưng bốn thế ấy cho ra bốn kiểu quý nhân rất khác nhau, và mục Cách cục bên dưới sẽ nói kỹ.

Cung nào trong lá số hưởng đủ bộ Tả Hữu

Vì mỗi tháng sinh cho một cặp vị trí cố định, có thể chạy đủ mười hai tháng để hỏi ngược: một cung cụ thể thì có bao nhiêu cơ hội nhận được cả Tả Phụ lẫn Hữu Bật trong tam phương tứ chính, hoặc được cả hai giáp hai bên. Kết quả dưới đây kiểm bằng thuật toán, không phải ước lượng.

Tý

  • Tháng sinh khiến cung này hội đủ Tả Hữu trong tam phương tứ chính: tháng 3, tháng 5
  • Tháng sinh khiến cung này bị Tả Hữu giáp hai bên: không bao giờ
  • Tổng số tháng được đủ bộ: 2 trên 12

Sửu

  • Tháng sinh khiến cung này hội đủ Tả Hữu trong tam phương tứ chính: tháng 2, tháng 4, tháng 6, tháng 10
  • Tháng sinh khiến cung này bị Tả Hữu giáp hai bên: tháng 9, tháng 11
  • Tổng số tháng được đủ bộ: 6 trên 12

Dần

  • Tháng sinh khiến cung này hội đủ Tả Hữu trong tam phương tứ chính: tháng 3, tháng 5
  • Tháng sinh khiến cung này bị Tả Hữu giáp hai bên: không bao giờ
  • Tổng số tháng được đủ bộ: 2 trên 12

Mão

  • Tháng sinh khiến cung này hội đủ Tả Hữu trong tam phương tứ chính: tháng 4, tháng 8, tháng 12
  • Tháng sinh khiến cung này bị Tả Hữu giáp hai bên: không bao giờ
  • Tổng số tháng được đủ bộ: 3 trên 12

Thìn

  • Tháng sinh khiến cung này hội đủ Tả Hữu trong tam phương tứ chính: tháng 1, tháng 7
  • Tháng sinh khiến cung này bị Tả Hữu giáp hai bên: không bao giờ
  • Tổng số tháng được đủ bộ: 2 trên 12

Tỵ

  • Tháng sinh khiến cung này hội đủ Tả Hữu trong tam phương tứ chính: tháng 2, tháng 6, tháng 10
  • Tháng sinh khiến cung này bị Tả Hữu giáp hai bên: không bao giờ
  • Tổng số tháng được đủ bộ: 3 trên 12

Ngọ

  • Tháng sinh khiến cung này hội đủ Tả Hữu trong tam phương tứ chính: tháng 9, tháng 11
  • Tháng sinh khiến cung này bị Tả Hữu giáp hai bên: không bao giờ
  • Tổng số tháng được đủ bộ: 2 trên 12

Mùi

  • Tháng sinh khiến cung này hội đủ Tả Hữu trong tam phương tứ chính: tháng 4, tháng 8, tháng 10, tháng 12
  • Tháng sinh khiến cung này bị Tả Hữu giáp hai bên: tháng 3, tháng 5
  • Tổng số tháng được đủ bộ: 6 trên 12

Thân

  • Tháng sinh khiến cung này hội đủ Tả Hữu trong tam phương tứ chính: tháng 9, tháng 11
  • Tháng sinh khiến cung này bị Tả Hữu giáp hai bên: không bao giờ
  • Tổng số tháng được đủ bộ: 2 trên 12

Dậu

  • Tháng sinh khiến cung này hội đủ Tả Hữu trong tam phương tứ chính: tháng 2, tháng 6, tháng 10
  • Tháng sinh khiến cung này bị Tả Hữu giáp hai bên: không bao giờ
  • Tổng số tháng được đủ bộ: 3 trên 12

Tuất

  • Tháng sinh khiến cung này hội đủ Tả Hữu trong tam phương tứ chính: tháng 1, tháng 7
  • Tháng sinh khiến cung này bị Tả Hữu giáp hai bên: không bao giờ
  • Tổng số tháng được đủ bộ: 2 trên 12

Hợi

  • Tháng sinh khiến cung này hội đủ Tả Hữu trong tam phương tứ chính: tháng 4, tháng 8, tháng 12
  • Tháng sinh khiến cung này bị Tả Hữu giáp hai bên: không bao giờ
  • Tổng số tháng được đủ bộ: 3 trên 12

Bảng này là thứ đáng giá nhất của cả bài. Nó nói rằng bộ Tả Hữu không rải đều cho mười hai cung. Cung Sửu và cung Mùi mỗi cung có sáu tháng trên mười hai được đủ bộ, tức một nửa số người sinh ra. Cung Mão, Tỵ, Dậu, Hợi có ba tháng. Còn Tý, Dần, Ngọ, Thân, Thìn, Tuất chỉ có hai tháng, và riêng Thìn với Tuất thì hai tháng ấy lại là thế Tả Hữu xung chiếu nhau, tức quý nhân đứng hai đầu chứ không xúm về một chỗ.

Hệ quả thực tế: khi quý vị đọc thấy sách khen cách Tả Hữu giáp Mệnh hay Tả Hữu đồng cung mà lá số nhà mình có Mệnh ở Dần, ở Thân, ở Thìn hay ở Tuất, thì không phải quý vị kém phúc, mà là cấu trúc an sao vốn không cho phép. Người Mệnh ở những cung ấy tìm quý nhân ở chỗ khác: Thiên Khôi Thiên Việt an theo can năm nên tới được đủ cả mười hai cung theo một luật khác, Lộc Tồn cũng vậy. Đó mới là chỗ nên nhìn, thay vì tiếc một cách cục mà tháng sinh của mình không thể có.

Còn một hệ quả nữa ít người để ý. Tả Phụ an theo tháng, trong khi Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La, Thiên Khôi, Thiên Việt an theo can năm, còn Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp an theo giờ sinh. Ba nhóm tham số này độc lập nhau hoàn toàn. Vì thế mọi tổ hợp kiểu "Tả Phụ đồng cung Văn Xương", "Tả Phụ gặp Lộc Tồn", "Tả Phụ bị Kình Dương kẹp" đều là chuyện có thể xảy ra chứ không phải chuyện cố định, và xác suất của chúng do sự tình cờ giữa tháng sinh, giờ sinh và can năm quyết định. Không có câu nào kiểu "Tả Phụ luôn đi với Văn Xương" là đúng cả. Ngược lại, quan hệ giữa Tả Phụ với Hữu Bật, với Thiên Hình, với Thiên Riêu thì cố định tuyệt đối, vì cùng an theo một tham số là tháng sinh.

Cách An Và Đặc Tính Khi Thủ Mệnh

Khác với các chính tinh được an theo vị trí của Tử Vi, sao Tả Phụ được an dựa vào tháng sinh âm lịch. Cách an rất gọn: khởi từ cung Thìn ứng với tháng Giêng, rồi đếm thuận theo chiều mười hai cung, mỗi tháng tiến một cung.

Vì an theo tháng, Tả Phụ luôn nằm đối xứng với Hữu Bật, hai sao tạo thành một cặp cố định trong mọi lá số. Đây cũng là lý do người ta luôn nhắc tới chúng cùng nhau như một bộ.

Người có Tả Phụ tọa thủ cung Mệnh thường mang tính cách trung hậu, đôn chính, sống có nghĩa khí và rất biết giúp người. Họ là mẫu người đáng tin, làm việc cẩn thận, có tinh thần trách nhiệm, được lòng cả người trên lẫn người dưới. Đáng quý nhất là họ thường có duyên với quý nhân, đi đâu cũng dễ gặp người nâng đỡ, lúc khốn khó lại có người ra tay tương trợ.

Bản thân người Tả Phụ cũng là quý nhân của người khác. Họ hay đứng ra giúp đỡ, làm chỗ dựa, làm cánh tay đắc lực cho bạn bè và đồng sự. Vì lẽ đó, người Tả Phụ rất hợp với vai trò tham mưu, trợ lý, phó tướng, cố vấn, những vị trí phò tá then chốt mà không cần phải đứng mũi chịu sào. Họ làm nền cho người khác tỏa sáng, và chính trong vai trò ấy họ phát huy được trọn vẹn cái hay của mình.

Tuy nhiên, do bản chất là trợ tinh nên Tả Phụ ít khi đơn độc làm nên sự nghiệp lớn. Nếu trong lá số chỉ có Tả Phụ thủ Mệnh mà tam phương tứ chính lại không có chính tinh đắc cách hay sao quý nào hỗ trợ, người ấy tuy hiền lành tử tế nhưng dễ rơi vào cảnh làm phụ cho người, suốt đời nâng đỡ kẻ khác mà bản thân không nổi bật. Đây chính là điểm cần lưu ý khi luận Tả Phụ, sẽ nói kỹ ở mục tiếp theo.

Vì Sao Tả Phụ Không Luận Miếu Vượng Đắc Hãm

Với chính tinh, người ta lập bảng miếu vượng đắc hãm để biết sao mạnh hay yếu tại từng cung. Nhưng với Tả Phụ thì không có bảng ấy, và đây là điểm rất nhiều người mới học hay nhầm.

Tả Phụ là trợ tinh, không có ngôi vị cố định, nên không thể đem ra xếp miếu vượng đắc hãm như Tử Vi hay Thiên Phủ. Đừng tìm và cũng đừng bịa ra một bảng đắc hãm cho nó.

Nguyên tắc luận trợ tinh Tả Phụ

Tả Phụ không có miếu vượng đắc hãm riêng. Tính chất tốt xấu của nó hoàn toàn phụ thuộc vào chính tinh và cung mà nó đi cùng. Sách Tử Vi Đẩu Số Tân Biên nêu rõ một nguyên tắc cốt lõi để luận sao này: gặp nhiều sao tốt đẹp thì làm tốt đẹp thêm, gặp nhiều sao xấu xa thì làm xấu xa thêm. Nói cách khác, Tả Phụ là một sao khuếch đại. Nó đứng cạnh chính tinh đắc cách và bộ cát tinh thì nhân cái hay lên gấp bội, biến một lá số khá thành một lá số quý. Nhưng nếu nó kẹt giữa một bầy sát tinh, nó cũng tiếp sức cho cái xấu, làm cái hung thêm nặng. Vì vậy không bao giờ được luận Tả Phụ một mình, mà phải nhìn xem nó đang phò tá cho ai và ngồi giữa những sao nào.

Hiểu được nguyên tắc này rồi thì việc luận Tả Phụ trở nên rất tự nhiên. Khi xem một cung có Tả Phụ, việc đầu tiên là nhìn chính tinh thủ cung đó tốt hay xấu, đắc cách hay thất thế. Tả Phụ chỉ làm cho cái nền sẵn có rõ nét hơn chứ không tự nó đổi trắng thay đen. Một chính tinh quý có thêm Tả Phụ thì quý hẳn lên, còn một cung đã đầy sát tinh thì Tả Phụ vào cũng khó cứu, thậm chí còn khuếch đại cái dở.

Mẹo luận nhanh: với mọi trợ tinh như Tả Phụ, Hữu Bật, hãy bỏ thói quen hỏi sao này miếu hay hãm. Thay vào đó hỏi ba câu, nó đang phò tá chính tinh nào, nó có đủ bộ với người anh em Hữu Bật không, và quanh nó là cát tinh hay sát tinh. Trả lời được ba câu đó là luận đúng Tả Phụ.

Tứ Hóa Của Tả Phụ Theo Tuổi Can

Bảng dưới là đủ mười can cho chữ Khoa, để quý vị thấy Tả Phụ đứng ở đâu trong cả hệ.

Giáp

  • Sao hóa Khoa: Vũ Khúc

Ất

  • Sao hóa Khoa: Tử Vi

Bính

  • Sao hóa Khoa: Văn Xương

Đinh

  • Sao hóa Khoa: Thiên Cơ

Mậu

  • Sao hóa Khoa: Hữu Bật

Kỷ

  • Sao hóa Khoa: Thiên Lương

Canh

  • Sao hóa Khoa: Thiên Đồng (Nam phái) · Thái Âm (Bắc phái)

Tân

  • Sao hóa Khoa: Văn Khúc

Nhâm

  • Sao hóa Khoa: Tả Phụ (Nam phái) · Thiên Phủ (Bắc phái)

Quý

  • Sao hóa Khoa: Thái Âm

Dị bản quan trọng, phải đọc trước khi dùng: chỗ tuổi Nhâm là chỗ hai phái tách nhau. Nam phái, tức bảng mà trang an lá số này dùng làm mặc định, xếp tuổi Nhâm Tả Phụ hóa Khoa. Bắc phái Trung Châu xếp tuổi Nhâm Thiên Phủ hóa Khoa, Tả Phụ không hóa gì. Ba chữ còn lại của tuổi Nhâm thì hai phái thống nhất: Thiên Lương hóa Lộc, Tử Vi hóa Quyền, Vũ Khúc hóa Kỵ. Vì vậy khi quý vị đọc một bài luận tuổi Nhâm ở nơi khác mà thấy nói Thiên Phủ hóa Khoa, đó không phải người ta an sai, mà là người ta theo Bắc phái. Cả bài này trình bày theo Nam phái và có nói rõ chỗ Bắc phái khác. Người luận nên chọn một phái rồi giữ cho nhất quán suốt lá số, tối kỵ lấy Khoa của phái này ghép với Kỵ của phái kia.

Tả Phụ hóa Khoa (tuổi Nhâm, theo Nam phái)

Khoa là chữ của khoa danh, văn thư, tiếng thơm, của cái được ghi nhận thành tên tuổi. Đặt chữ Khoa lên một sao vốn là người giúp đỡ thì nghĩa hiện ra rất rõ: quý nhân của người tuổi Nhâm là quý nhân có danh phận. Không phải kiểu người quen giúp lén, mà là thầy có tiếng, là cấp trên có chức, là tổ chức có tên, là một tờ giấy chứng nhận, một lời giới thiệu chính thức, một cái bảo lãnh đứng tên. Người tuổi Nhâm có Tả Phụ ở Mệnh hay ở Quan thường được nâng đỡ theo đường chính danh chứ không phải đường cửa sau, và bản thân họ cũng là người mà người khác dám lấy tên ra bảo lãnh.

Trên lá số thật, Thầy thấy Tả Phụ hóa Khoa mạnh nhất ở ba cung. Ở Quan Lộc, nó cho cái danh nghề nghiệp đến từ việc phò tá người khác: phó tổng, chánh văn phòng, tham mưu trưởng, trợ lý cấp cao, người đứng thứ hai mà ai cũng biết tên. Ở Phụ Mẫu, nó cho người đỡ đầu có học vị hoặc có chức, và cho chuyện giấy tờ bằng cấp hanh thông. Ở Điền Trạch, nó cho chuyện nhà đất có người đứng ra làm giúp phần thủ tục, sổ sách rõ ràng, ít tranh chấp. Ngược lại Tả Phụ hóa Khoa ở Nô Bộc thì hơi trớ trêu: bạn bè cấp dưới đều là người có tiếng, nhưng cái tiếng ấy phục vụ họ chứ chưa chắc phục vụ mình.

Một chỗ rất đáng chú ý mà ít bài nào nói: tuổi Nhâm còn có Tử Vi hóa Quyền trong cùng bộ Tứ Hóa. Mà Tử Vi là đế tinh, Tả Phụ là quần thần. Nghĩa là người tuổi Nhâm sinh ra đã mang sẵn một cặp vua có quyền, thần có danh trong lá số của mình, chỉ còn chờ xem hai sao ấy có đứng gần nhau không. Nếu Tử Vi và Tả Phụ cùng về một cung hoặc chiếu nhau, đó là thế Quân Thần Khánh Hội có Tứ Hóa đỡ lưng, quý hơn hẳn một Quân Thần Khánh Hội thường. Ngược lại cũng tuổi Nhâm mà Vũ Khúc hóa Kỵ, nên nếu Tả Phụ hóa Khoa lại rơi đúng vào cung có Vũ Khúc hóa Kỵ thì thành thế người giúp mình lại là người làm mình kẹt tiền, phải luận rất cẩn thận trước khi khen.

Hữu Bật hóa Khoa (tuổi Mậu, hai phái thống nhất)

Nửa còn lại của bộ Tả Hữu được chữ Khoa ở tuổi Mậu, và chỗ này thì Nam phái với Bắc phái không tranh cãi. Người tuổi Mậu có Hữu Bật đắc địa thì quý nhân đến từ phía sau lưng, kín hơn và bền hơn kiểu quý nhân của Tả Phụ. Ghép hai điều lại, có thể nói bộ Tả Hữu có hai tuổi được thắp sáng là Mậu và Nhâm. Mười can còn lại thì bộ này giữ nguyên bản chất, không hóa, và toàn bộ sức mạnh của nó tùy thuộc vào chính tinh nó phò tá cùng thế đứng đã nói ở mục cấu trúc.

Tả Phụ đứng cạnh một chính tinh đang hóa thì đọc thế nào

Đây mới là tình huống hay gặp nhất, vì chỉ một trên mười tuổi có Tả Phụ hóa Khoa, còn chín tuổi kia thì Tả Phụ phải mượn hóa của người khác. Nguyên tắc của Tân Biên vẫn giữ nguyên: Tả Phụ gặp nhiều sao tốt đẹp thì làm tốt đẹp thêm, gặp nhiều sao xấu xa thì làm xấu xa thêm. Đem nguyên tắc ấy áp vào Tứ Hóa thì ra bốn cách đọc sau.

  • Tả Phụ đồng cung chính tinh hóa Lộc. Lộc là cái được, Tả Phụ là người mang cái được ấy tới. Đọc là: tiền và cơ hội đến qua tay người khác, qua giới thiệu, qua hợp tác, qua chung vốn. Thầy hay dặn thế này người ta kiếm được nhiều nhưng hiếm khi kiếm một mình, tách ra làm riêng thường kém hơn ở lại làm chung.
  • Tả Phụ đồng cung chính tinh hóa Quyền. Quyền là cái nắm, Tả Phụ là người phò. Đọc là: có quyền và có người thi hành quyền ấy, tức là quyền thật chứ không phải chức hờ. Đây là tổ hợp đẹp cho người quản trị. Nếu Quyền ấy lại nằm ở Quan Lộc mà Tả Phụ đủ bộ với Hữu Bật thì là người có ê kíp, khác hẳn người có chức mà không có ai đi theo.
  • Tả Phụ đồng cung chính tinh hóa Khoa. Khoa gặp Khoa hoặc Khoa gặp trợ tinh thì thành danh chồng danh: hợp học hành, thi cử, nghiên cứu, nghề cần bằng cấp và uy tín chuyên môn. Tuổi Nhâm có Tả Phụ hóa Khoa mà lại đứng cùng một chính tinh đang hóa Quyền là Tử Vi thì càng rõ.
  • Tả Phụ đồng cung chính tinh hóa Kỵ. Đây là chỗ phải cẩn thận nhất và cũng là chỗ người mới hay đọc sai. Kỵ là cái vướng, cái mắc. Tả Phụ không hóa giải được Kỵ, nó chỉ khuếch đại. Đọc là: cái vướng ấy có thêm người dự phần, tức là chuyện rắc rối dây thêm người vào, dai hơn, khó gỡ hơn, hay dính tới việc đứng tên hộ, bảo lãnh, hùn hạp. Trên lá số thật, Tả Phụ đứng cùng Hóa Kỵ ở Nô Bộc hoặc ở Huynh Đệ là tổ hợp Thầy luôn dặn khách không đứng tên vay hộ và không hùn vốn theo tình cảm.

Hóa từ cung khác bay tới cung có Tả Phụ

Ngoài Tứ Hóa theo can năm sinh, Bắc phái Trung Châu còn xét hóa bay từ cung này sang cung kia theo can của từng cung, gọi là phi hóa. Với một sao mang tượng người giúp như Tả Phụ, phi hóa cho ra ba câu hỏi rất cụ thể mà Thầy dùng thường xuyên khi luận.

  • Cung nào bay Lộc vào cung có Tả Phụ, thì lĩnh vực của cung ấy chính là nơi quý nhân của quý vị xuất hiện. Quan Lộc bay Lộc tới thì quý nhân là người trong nghề; Phụ Mẫu bay Lộc tới thì quý nhân là bậc trên hoặc người trong họ.
  • Cung nào bay Kỵ vào cung có Tả Phụ, thì đúng người giúp mình lại là chỗ mình mắc. Đây là thế hay gặp ở những ca vay mượn giữa người thân, hoặc ca được cất nhắc rồi phải gánh phần trách nhiệm của người cất nhắc mình.
  • Cung có Tả Phụ bay Kỵ đi đâu, thì đó là nơi lòng tốt của quý vị bị tiêu hao. Bay vào Tài Bạch là giúp người bằng tiền, bay vào Tật Ách là giúp người bằng sức khỏe của chính mình.

Phi hóa từng cung là tầng sâu hơn và thuộc phần luận trả phí của UK MASTER ACADEMY. Trên trang an lá số, bấm vào từng dòng phi hóa dưới lá số là đọc được.

Các Cách Cục Quan Trọng Của Tả Phụ

Cách cục là những thế sao đặc biệt khi nhiều tinh diệu hội về một chỗ, tạo hiệu ứng lớn hơn từng sao riêng lẻ. Tả Phụ là một thành phần then chốt trong nhiều cách cục quý của khoa Đẩu Số.

Điều cần nhớ là gần như mọi cách cục đẹp của Tả Phụ đều cần có mặt Hữu Bật để thành bộ.

Một cách cục chỉ thành khi hội đủ điều kiện và phá khi vướng một điều kiện phá. Với Tả Phụ, điều kiện đầu tiên luôn là một câu hỏi rất cụ thể mà mục cấu trúc đã trả lời: tháng sinh âm lịch là tháng mấy. Có những cách mà tháng sinh không cho phép thì tìm mãi cũng không ra, nên phần dưới đây ghi rõ cả điều kiện tháng sinh chứ không chỉ ghi tên cách.

Thành cách: Tử Vi thủ Mệnh, có Tả Phụ và Hữu Bật cùng chầu về, thêm Thiên Khôi Thiên Việt hoặc Văn Xương Văn Khúc hội chiếu. Ví như vua ngồi giữa triều mà quần thần đủ mặt. Trong bộ quần thần ấy, Tả Hữu là hai vị đại thần đắc lực nhất, còn Khôi Việt là quý nhân tiến cử, Xương Khúc là văn quan.

Đủ đẹp: đây là chỗ thuật toán nói rõ hơn sách. Vì Tả Hữu chỉ đồng cung tại Sửu và Mùi, nên trường hợp Tử Vi được cả Tả Phụ lẫn Hữu Bật ngồi ngay trong cung của mình chỉ xảy ra khi Tử Vi an tại Sửu hoặc tại Mùi, mà tại hai chỗ ấy Tử Vi luôn đi cặp với Phá Quân. Nói cách khác, Quân Thần Khánh Hội ở dạng đậm đặc nhất luôn là một lá Tử Vi Phá Quân. Còn dạng hội chiếu thì rộng hơn: Tử Vi ở cung nào cũng có thể được Tả Hữu tam hợp hoặc xung chiếu tới, tùy tháng sinh, theo đúng bảng cung nào hưởng đủ bộ ở mục cấu trúc.

Phá cách: thiếu hẳn một trong hai sao Tả Hữu thì vua chỉ có một cánh tay, sách gọi Tử Vi khi ấy là cô quân. Toàn Thư nói thẳng về thế Tử Vi Phá Quân mà thiếu Tả Hữu và thiếu cát diệu: Tử Vi Phá Quân, vô Tả Hữu vô cát diệu, hung ác tư tà chi bối, nghĩa là người ấy dễ thành hạng cứng đầu làm càn, có sức mà không có đường. Đọc câu ấy cùng với cấu trúc an sao thì thấy cổ nhân rất tinh: chính tại Sửu Mùi, nơi duy nhất Tả Hữu có thể ngồi chung với Tử Vi, cũng lại là nơi duy nhất Tử Vi phải đi cùng Phá Quân. Có Tả Hữu thì phá mà nên, không có Tả Hữu thì phá mà hỏng. Ngoài ra Tuần hoặc Triệt án ngữ ngay cung Mệnh cũng làm cách này hụt đi một bậc.

Tả Hữu đồng cung tại Sửu Mùi

Thành cách: sinh tháng Tư âm lịch thì Tả Phụ và Hữu Bật cùng an tại Mùi; sinh tháng Mười thì cùng an tại Sửu. Chỉ hai tháng ấy, không có tháng thứ ba. Cung nhận được cả hai sao là cung mạnh nhất về mặt trợ lực trong toàn lá số, bất kể nó là cung chức nào.

Đủ đẹp: cung ấy có chính tinh đắc cách làm nền, nhất là Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng, Thái Dương sáng; hoặc cung ấy là Mệnh, là Quan Lộc. Toàn Thư có câu Tả Phụ Hữu Bật, chung thân phúc hậu, nói về cái phúc dày và bền của người đủ bộ hai sao này. Trên lá số thật, người sinh tháng Tư hoặc tháng Mười mà Mệnh hoặc Quan rơi đúng vào Mùi hay Sửu thường có một đặc điểm chung rất dễ nhận: họ hiếm khi phải làm việc lớn một mình, quanh họ luôn có ê kíp, và họ giỏi giữ người hơn là giỏi tự làm.

Đáng ngại: Tả Hữu đồng cung là con dao hai lưỡi vì hai sao dồn hết lực vào một chỗ. Nếu cung ấy là cung xấu, chẳng hạn cung Tật Ách có chính tinh hãm và sát tinh, thì cái được khuếch đại là cái xấu chứ không phải cái tốt. Phá cách: cung ấy có Địa Không Địa Kiếp đồng cung, hoặc bị Tuần Triệt án ngữ, khi ấy hai vị quý nhân bị nhốt lại, có người mà không nhờ được.

Tả Hữu giáp Mệnh

Thành cách: Tả Phụ và Hữu Bật đứng ở hai cung kề bên kẹp lấy cung Mệnh. Kiểm bằng thuật toán thì cách này có điều kiện rất hẹp mà ít sách nói ra: chỉ thành khi cung Mệnh an tại Sửu hoặc tại Mùi. Mệnh tại Mùi thì phải sinh tháng Ba hoặc tháng Năm; Mệnh tại Sửu thì phải sinh tháng Chín hoặc tháng Mười Một. Mười cung còn lại không bao giờ được Tả Hữu giáp, ở bất kỳ lá số nào.

Đủ đẹp: cung Mệnh có chính tinh tốt làm chỗ dựa, vì giáp là thế bao vây từ bên ngoài, phải có cái ruột vững thì vòng vây mới thành vòng hộ vệ. Người hợp cách này có nét rất riêng so với người Tả Hữu đồng cung: quý nhân của họ đến từ hai phía khác nhau và thường không quen biết nhau, một bên là người trên, một bên là người ngang hàng. Họ ít khi bị kẹt vì luôn còn một đường lui. Phá cách: cung Mệnh vô chính diệu mà không được Nhật Nguyệt sáng chiếu về, hoặc chính hai cung giáp ấy lại có Không Kiếp Kình Đà ngồi cùng Tả Hữu, khi ấy vòng vây thành gọng kìm.

Tả Hữu gặp Không Kiếp hoặc bị Tuần Triệt án ngữ

Đây là cách đáng ngại, không phải cách quý. Thành cách: Tả Phụ hoặc cả bộ Tả Hữu đóng cùng cung với Địa Không, Địa Kiếp, hoặc cung ấy bị Tuần, Triệt án ngữ. Địa Không Địa Kiếp an theo giờ sinh, Tuần Triệt theo can chi năm sinh, đều độc lập với tháng sinh, nên đây là chuyện tình cờ chứ không phải quy luật, và vì tình cờ nên phải tra từng lá số chứ không đoán được.

Cách đọc: Không Kiếp là hư và cướp, Tả Phụ là người giúp. Ghép lại thành người giúp không tới hoặc tới rồi lại đi: hứa mà không làm, giúp nửa chừng, hoặc giúp xong thì sinh chuyện. Tuần Triệt thì khác, nó không phá mà ngăn: quý nhân có thật, ở ngay đó, nhưng cách một lớp màn, nên cái giúp đến muộn hoặc phải qua nhiều lần trắc trở mới tới tay. Thầy để ý một chi tiết an ủi: Tuần Triệt đóng vào cung có Tả Phụ đơn thủ giữa bầy sát tinh lại thành có ích, vì nó chặn luôn cả cái khuếch đại xấu. Đây đúng là chỗ mà cùng một sao án ngữ cho hai kết quả trái ngược, tùy nền cung tốt hay xấu. Giải cách: có Thiên Khôi Thiên Việt hoặc Lộc Tồn chầu về thì quý nhân đổi đường mà tới, cái mất bên này bù được bên kia.

Tả Phụ đơn thủ, không có Hữu Bật đi cùng

Thành cách: Tả Phụ đóng ở một cung mà Hữu Bật không đồng cung, không tam hợp, không xung chiếu và cũng không giáp. Theo bảng cấu trúc, đây không phải trường hợp hiếm mà là trường hợp thường gặp nhất: ở tám cung trong mười hai cung, phần lớn tháng sinh đều cho ra thế đơn thủ. Người đọc lá số nên coi đây là mặc định, còn đủ bộ mới là ngoại lệ.

Cách đọc theo Tân Biên: Tả Phụ vẫn giữ nguyên tính trung hậu, vẫn có duyên quý nhân, nhưng sức phò tá giảm rõ, ví như vua chỉ có một bên tả mà thiếu bên hữu. Trên lá số thật, người Tả Phụ đơn thủ hay có một kiểu vận rất đặc trưng: họ được giúp từng đợt, mỗi giai đoạn một người, hết người này mới tới người kia, chứ không có cái nền quý nhân liên tục như người đủ bộ. Vì thế họ giỏi thích nghi với người mới, nhưng cũng dễ hụt hẫng mỗi lần đổi môi trường. Đủ đẹp: bù bằng Thiên Khôi Thiên Việt, bằng Lộc Tồn, hoặc bằng chính tinh đắc cách tại cung đó. Đáng ngại: đơn thủ mà lại kẹt giữa Kình Dương Đà La, Hỏa Tinh Linh Tinh, khi ấy đúng như mục ba của bài đã nói, nó khuếch đại cái xấu chứ không cứu được cái hung.

Tôn cư bát tọa (Tả Phụ hội Văn Xương và cát tinh)

Thành cách: Toàn Thư có câu Tả Phụ Văn Xương hội cát tinh, tôn cư bát tọa, nói về người có địa vị được tôn kính. Điều kiện là Tả Phụ và Văn Xương cùng chầu về cung Mệnh, lại thêm cát tinh hội hợp. Chỗ cần nói rõ: Văn Xương an theo giờ sinh, Tả Phụ an theo tháng sinh, hai tham số hoàn toàn độc lập. Cho nên cách này không thể suy ra từ tháng sinh, cũng không thể suy ra từ giờ sinh, mà phải có đủ cả hai rồi tra mới biết. Đây cũng là lý do cách tôn cư bát tọa hiếm hơn nhiều so với cảm nhận của người mới đọc sách.

Đủ đẹp: có thêm Hữu Bật và Văn Khúc cho đủ hai cặp trợ tinh và văn tinh, thêm Khôi Việt thì thành gần trọn bộ lục cát. Phá cách: tuổi Tân có Văn Xương hóa Kỵ, khi ấy cái danh do chữ nghĩa mà ra lại thành cái vướng do chữ nghĩa mà ra, giấy tờ hợp đồng phải xem rất kỹ; hoặc cung Mệnh bị Không Kiếp thủ, danh đến rồi đi.

Ba câu hỏi trước khi gọi tên một cách cục của Tả Phụ

  • Tháng sinh âm lịch là tháng mấy? Câu này quyết định thế đứng của cả bộ Tả Hữu, và loại bỏ ngay những cách mà tháng sinh không cho phép. Không hỏi tháng sinh mà bàn cách Tả Hữu giáp Mệnh là bàn hú họa.
  • Cung đang xét có chính tinh gì và chính tinh ấy đắc hay hãm? Tả Phụ là sao khuếch đại, nó nhân cái nền lên chứ không tạo ra cái nền. Nền xấu mà khuếch đại thì càng xấu.
  • Quanh cung ấy là cát tinh hay sát tinh, có Tuần Triệt không? Cùng một Tả Phụ, đứng cạnh Khôi Việt Lộc Tồn là một chuyện, đứng cạnh Không Kiếp Kình Đà là chuyện khác hẳn.

Trả lời được ba câu ấy rồi hãy gọi tên cách cục. Thấy chữ Tả Phụ trên lá số mà đã mừng là bước hụt đầu tiên của người mới học.

Sao Hợp Và Sao Kỵ Với Tả Phụ, Phân Theo Vị Thế

Vì là sao khuếch đại, Tả Phụ tốt hay xấu phụ thuộc gần như hoàn toàn vào dàn sao vây quanh. Gặp cát tinh thì nhân cái hay, gặp sát tinh thì tiếp cái dở.

Hai cột dưới đây tóm tắt nhanh những sao Tả Phụ mừng được gặp và những sao Tả Phụ e ngại.

Trước khi đọc hai cột dưới đây, cần nắm một quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Tả Phụ là mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn, còn giáp hai bên là thế bao vây, rất mạnh với sát tinh mà lại nhẹ với cát tinh. Riêng với Tả Phụ còn một tầng nữa: vì bản chất nó là sao khuếch đại, nên vị thế càng gần thì nó càng nhân mạnh cái tính của sao đứng cạnh, dù tính ấy tốt hay xấu. Địa Kiếp đồng cung Tả Phụ nặng hơn hẳn Địa Kiếp tam hợp chiếu, không phải vì Kiếp mạnh thêm mà vì Tả Phụ tiếp sức cho nó.

Tả Phụ rất thích gặp

  • Hữu Bật (đồng cung mạnh nhất, chỉ có tại Sửu và Mùi; giáp kế; tam hợp nhẹ hơn): đủ bộ Tả Hữu mới là hình thái trọn vẹn của sao này.
  • Tử Vi (đồng cung mạnh nhất): quần thần gặp minh quân, gốc của cách Quân Thần Khánh Hội. Đồng cung chỉ xảy ra khi Tử Vi ở Sửu Mùi, tức luôn kèm Phá Quân.
  • Thiên Phủ, Thiên Tướng (đồng cung hoặc tam hợp): kho tàng và ấn tín có người trông coi, hợp quản trị và tài chính.
  • Thiên Khôi, Thiên Việt (đồng cung hoặc chiếu): hai lớp quý nhân chồng nhau, một lớp theo tháng sinh một lớp theo can năm, nên bù được cho nhau khi Tả Phụ đơn thủ.
  • Văn Xương, Văn Khúc (đồng cung): thêm văn tài và thanh danh, là điều kiện của cách tôn cư bát tọa.
  • Lộc Tồn và Hóa Lộc (đồng cung hoặc tam hợp): trợ lực đi liền với cái ăn được, người giúp mang theo cả cơ hội chứ không chỉ mang lời khuyên.
  • Hóa Quyền, Hóa Khoa (đồng cung): quyền có người thi hành, danh có người xác nhận. Tuổi Nhâm thì chính Tả Phụ hóa Khoa, là thế đẹp nhất của riêng sao này.

Tả Phụ e ngại khi gặp

  • Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung nặng nhất, giáp kế): trợ lực hóa hư, người hứa mà không tới, hoặc giúp xong thì sinh chuyện.
  • Hóa Kỵ của chính tinh đồng cung (đồng cung nặng nhất): Tả Phụ không gỡ được Kỵ mà chỉ làm cái vướng dây thêm người, hay dính chuyện đứng tên hộ và bảo lãnh.
  • Kình Dương, Đà La (đồng cung hoặc giáp hai bên): phúc quý nhân bị tổn, giúp người rồi mang tiếng; giáp Kình Đà là thế nặng hơn chiếu.
  • Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung): việc tốt cũng làm gấp làm ẩu, trợ lực đến nhanh mà tan cũng nhanh.
  • Tuần, Triệt án ngữ (án ngay cung có Tả Phụ): quý nhân có thật mà cách một lớp màn, cái giúp đến muộn. Điểm cần nhớ: nếu cung ấy vốn xấu thì Tuần Triệt lại thành có ích vì chặn luôn cái khuếch đại xấu.
  • Đứng lẻ giữa bầy sát tinh: không phải một sao mà là một thế. Đây mới là điều Tả Phụ ngại nhất, vì nó biến sao khuếch đại thành cái loa cho cái hung.

Cần nói thêm một điều mà bảng trên không thể hiện được: những sao ở cột trái và cột phải phần lớn an theo can năm hoặc giờ sinh, còn Tả Phụ an theo tháng sinh. Ba tham số ấy độc lập nhau, nên không có tổ hợp nào trong hai cột là cố định cho một nhóm người. Người sinh tháng Tư không mặc nhiên gặp Văn Xương, người tuổi Nhâm không mặc nhiên có Tả Phụ tại Mệnh. Muốn biết chắc thì phải an lá số rồi nhìn, không suy từ một tham số ra được. Ngoại lệ duy nhất là quan hệ với Hữu Bật, Thiên Hình và Thiên Riêu, ba sao cùng an theo tháng nên quan hệ với Tả Phụ là hằng số.

Nguyên tắc xuyên suốt rất rõ: Tả Phụ là quý nhân, nhưng quý nhân cũng cần đứng đúng chỗ. Một vị hiền thần bên cạnh minh quân thì lập công lớn, cũng vị ấy lạc vào triều đình loạn lạc thì cũng vạ lây. Khi xem lá số, hãy luôn hỏi Tả Phụ này đang phò ai, có đủ bộ Tả Hữu chưa, và quanh nó là cát tinh hay sát tinh.

Tả Phụ Trong Đại Vận Và Lưu Niên

Đại vận đi vào cung có Tả Phụ

Đại vận đến cung có Tả Phụ đủ bộ với Hữu Bật, lại có chính tinh đắc cách, là mười năm có người. Biểu hiện rất cụ thể chứ không mơ hồ: gặp được cộng sự hợp, được cấp trên để mắt, lập được ê kíp, nhận được lời mời tham gia một việc lớn của người khác, hoặc đơn giản là có người đứng ra gỡ cho một chuyện mà tự mình không gỡ nổi. Thầy để ý đại vận này thường không phải đại vận người ta phát to nhất, mà là đại vận người ta vào được cuộc: đặt chân vào một tổ chức, một ngành, một mối quan hệ mà mười năm sau mới thu hoạch.

Đại vận đến cung có Tả Phụ đơn thủ mà quanh đó là sát tinh thì đọc ngược lại: mười năm gánh cho người. Việc thì nhiều, người nhờ vả thì đông, mà phần mình thì mỏng. Đây không phải mười năm xấu, chỉ là mười năm cho đi. Với người còn trẻ, đó thường là giai đoạn học nghề bằng cách làm cho người khác, rất đáng giá. Với người đã lớn tuổi, cần biết dừng đúng lúc kẻo kiệt sức vì việc không phải của mình. Một dấu hiệu Thầy hay dùng: nếu đại vận có Tả Phụ mà cung Nô Bộc của đại vận ấy lại có sát tinh, gần như chắc chắn là mười năm bị nhờ vả nhiều hơn được giúp.

Bản lưu niên của chính Tả Phụ

Cần nói ngay cho rõ để tránh hiểu lầm: Tả Phụ không có bản lưu niên riêng theo cách mà Lộc Tồn có lưu Lộc Tồn, Kình Đà có lưu Kình Đà, Thiên Mã có lưu Thiên Mã, Xương Khúc có lưu Xương Khúc, Khôi Việt có lưu Khôi Việt. Lý do nằm ở cấu trúc: các sao có bản lưu đều an theo can hoặc chi của năm, nên đổi năm thì có bản mới; còn Tả Phụ an theo tháng sinh, mà tháng sinh của một người thì suốt đời không đổi. Vì thế trên lá số của quý vị, Tả Phụ đứng yên một chỗ từ lúc sinh tới lúc mất.

Cái động của Tả Phụ theo năm nằm ở chỗ khác: Tứ Hóa lưu niên. Tứ Hóa lưu lấy theo can của năm đang xem, cùng bảng với Tứ Hóa bản mệnh. Theo bảng Nam phái mà trang an lá số này dùng, mỗi mười năm một lần Tả Phụ được khoác chữ Khoa lưu.

Nhâm

  • Sao lưu hóa Khoa: Tả Phụ lưu Khoa (Nam phái)
  • Các năm gần đây và sắp tới: 2022 Nhâm Dần · 2032 Nhâm Tý · 2042 Nhâm Tuất
  • Đọc thế nào: Năm quý nhân hiện ra chính danh: được giới thiệu, được đề cử, việc giấy tờ bằng cấp hanh thông. Cung nào có Tả Phụ thì lĩnh vực ấy được người đứng ra bảo chứng trong năm. Bắc phái năm này lấy Thiên Phủ hóa Khoa nên không có hiệu ứng này.

Mậu

  • Sao lưu hóa Khoa: Hữu Bật lưu Khoa (hai phái thống nhất)
  • Các năm gần đây và sắp tới: 2018 Mậu Tuất · 2028 Mậu Thân · 2038 Mậu Ngọ
  • Đọc thế nào: Nửa kia của bộ được thắp sáng. Nếu Tả Hữu đồng cung tại Sửu hay Mùi thì năm Mậu chính cung ấy cũng sáng theo, dù Tả Phụ không hóa.

Các sao lưu chạm vào cung có Tả Phụ

  • Lưu Thái Tuế đến cung có Tả Phụ: năm việc chung, việc tổ chức, việc có danh phận dồn về. Đủ bộ Tả Hữu thì được giao vai và có người phụ; đơn thủ giữa sát tinh thì là năm ôm việc thay người.
  • Lưu Kình Dương, lưu Đà La đến cung có Tả Phụ: năm lòng tốt sinh phiền. Giúp người rồi mang tiếng, đứng ra hòa giải lại thành người bị trách. Thầy dặn khách năm này chớ nhận vai trung gian trong tranh chấp tiền bạc của người khác.
  • Lưu Xương Khúc, lưu Khôi Việt đến cung có Tả Phụ: năm thi cử, xét tuyển, đề bạt thuận, vì cả ba lớp quý nhân và văn tinh cùng chầu về một chỗ. Đây là tổ hợp lưu đẹp nhất cho sao này.
  • Lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ đến cung có Tả Phụ tại Huynh Đệ hoặc Nô Bộc: năm nên để ý sức khỏe hoặc chuyện buồn của anh em và bạn thân, và cũng là năm mình hay phải đứng ra lo việc cho người khác. Không kết luận điều gì nặng, chỉ là năm nên hỏi thăm nhiều hơn.
  • Lưu Thiên Mã đến cung có Tả Phụ: năm đi xa mà có người đón đường, hợp chuyển công tác, hợp mở rộng địa bàn cùng đối tác. Vì Thiên Mã chỉ tới Dần Thân Tỵ Hợi nên tổ hợp này chỉ xảy ra khi Tả Phụ đóng ở bốn cung ấy, tức khi sinh tháng Hai, tháng Năm, tháng Tám hoặc tháng Mười Một.

Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Tả Phụ

Tả Phụ là sao được khen nhiều, mà sao được khen nhiều thì hay bị gán thêm những thứ sách không hề nói. Mục này tách bạch cho rõ, để quý vị khỏi mừng hụt và cũng khỏi lo oan.

Tả Phụ không phải sao bảo đảm có quý nhân

Tân Biên xếp Tả Phụ là trợ tinh chủ quyền lệnh và sự phò tá, tính trung hậu, được người giúp. Nhưng cùng sách ấy nêu ngay nguyên tắc gặp nhiều sao tốt đẹp thì làm tốt đẹp thêm, gặp nhiều sao xấu xa thì làm xấu xa thêm. Hai câu ấy phải đọc cùng nhau. Nghĩa là Tả Phụ không phát cho ai một suất quý nhân, nó chỉ nhân lên cái nền sẵn có. Cung tốt thì nhân cái tốt, cung xấu thì nhân cái xấu. Thầy gặp không ít lá số có Tả Phụ ngay tại Mệnh mà cả đời khổ vì người, bởi Tả Phụ ấy đứng lẻ giữa Không Kiếp Kình Đà. Thấy chữ Tả Phụ mà đã kết luận có quý nhân là bước hụt phổ biến nhất về sao này.

Tả Hữu giáp Mệnh không phải ai cũng có cửa

Sách nói cách Tả Hữu giáp Mệnh là cách quý, và nhiều người đọc xong đi tìm trên lá số nhà mình. Nhưng kiểm bằng thuật toán an sao thì cách này chỉ thành khi cung Mệnh an tại Sửu hoặc tại Mùi, vì bộ Tả Hữu đối xứng qua đúng trục ấy. Mệnh ở mười cung còn lại thì dù sinh tháng nào, tuổi nào, giờ nào cũng không bao giờ được Tả Hữu kẹp hai bên. Đây không phải chuyện phúc mỏng, mà là chuyện hình học của cách an sao. Người luận nên nói thẳng điều này với khách thay vì để họ đi tìm một thứ không tồn tại.

Tả Phụ tại Phu Thê không đồng nghĩa với người thứ ba

Sách nói Tả Phụ chủ phò tá và giúp đỡ, không có chữ nào nói nó chủ về ngoại tình. Cái ý người thứ ba mà nhiều bài trên mạng gán cho Tả Phụ tại Phu Thê thực ra đến từ chỗ khác: nó là suy diễn từ chữ thêm một người. Trên lá số thật, Tả Phụ tại Phu Thê phần lớn là bạn đời biết chia việc, hoặc là hôn nhân có người ngoài can thiệp theo nghĩa bố mẹ hai bên, anh em, đồng nghiệp xen vào chuyện nhà. Chỉ khi Tả Phụ đơn thủ đứng cùng Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Riêu, lại thêm chính tinh hãm hoặc Hóa Kỵ, mới đủ căn cứ để đặt vấn đề tình cảm. Mà theo cấu trúc, Tả Phụ không bao giờ đồng cung hay hội chiếu Thiên Riêu, nên vế Thiên Riêu ấy tự nó đã loại. Một mình Tả Phụ thì tuyệt đối không đủ để nói chuyện người thứ ba.

Tả Phụ không có miếu vượng đắc hãm, cũng không có sáng tối

Mục ba của bài đã nói Tả Phụ là trợ tinh nên không có bảng miếu vượng đắc hãm. Ở đây nói thêm một biến thể của cùng lỗi ấy: có người thay chữ miếu hãm bằng chữ sáng tối, hoặc bằng chữ đắc địa, rồi vẫn xếp Tả Phụ đẹp ở cung này xấu ở cung kia. Cấu trúc an sao không cho phép làm thế: Tả Phụ an đủ mười hai cung với xác suất bằng nhau, không có cung nào là đất của riêng nó. Cái duy nhất phân biệt được là thế đứng với Hữu Bật, mà thế ấy lại phụ thuộc tháng sinh chứ không phụ thuộc địa chi. Nếu quý vị gặp một bảng ghi Tả Phụ miếu tại Thìn Tuất Sửu Mùi, hãy hỏi bảng ấy lấy từ sách nào; đó thường là bảng của một sao khác bị chép nhầm sang.

Tả Phụ hóa Khoa tuổi Nhâm không phải chuyện mọi phái đều công nhận

Đây là chỗ dễ cãi nhau nhất và cũng là chỗ bài này muốn nói rõ nhất. Nam phái xếp tuổi Nhâm Tả Phụ hóa Khoa, và đó là bảng mặc định của trang an lá số này. Bắc phái Trung Châu xếp tuổi Nhâm Thiên Phủ hóa Khoa, Tả Phụ không hóa. Hai bên đều có hệ thống riêng và đều nhất quán trong hệ thống của mình. Cái sai không nằm ở chỗ chọn phái nào, mà nằm ở chỗ trộn hai phái: lấy Tả Phụ hóa Khoa của Nam phái ghép vào một bài luận đang dùng bảng Bắc phái thì lá số có tới hai chữ Khoa, đọc kiểu gì cũng lệch. Khi đọc bất kỳ bài luận nào về tuổi Nhâm, việc đầu tiên nên làm là hỏi bài ấy dùng bảng nào.

Lời Khuyên Khi Có Tả Phụ Trong Lá Số

Tả Phụ vốn là sao tốt, là phúc quý nhân trời cho. Việc cần làm không phải là lo sợ mà là biết phát huy và giữ gìn cái phúc ấy.

Dưới đây là vài điều người có Tả Phụ nổi bật trong lá số nên ghi nhớ và thực hành.

  • Trân trọng người giúp mình. Phúc quý nhân không phải là vô hạn. Biết ơn và giữ quan hệ tốt với những người từng nâng đỡ mình chính là cách nuôi dưỡng cái phúc ấy lâu dài.
  • Mạnh dạn nhận vai khi cần. Người Tả Phụ giỏi phò tá nhưng đừng quá nhún mình thành thụ động. Có lúc cần bước lên đứng mũi chịu sào, đừng mãi đứng sau.
  • Chọn đúng người để phò. Quý nhân giúp đúng minh chủ thì lập công, giúp nhầm người xấu thì vạ lây. Hãy tỉnh táo nhìn người trước khi dốc lòng giúp đỡ.
  • Giữ lại phần cho mình. Nhất là với nữ mệnh, hay quên mình vì người khác, cần biết giữ giới hạn để lòng tốt không bị lợi dụng.
  • Xem cả lá số trước khi kết luận. Tả Phụ tốt hay xấu tùy chính tinh và bộ sao đi cùng. Có Tả Phụ chưa đủ, phải xem nó phò ai, có đủ Tả Hữu chưa, quanh nó là cát hay sát. Việc này nên nhờ người có chuyên môn luận giúp.

Về tinh thần sống: người có Tả Phụ đẹp hợp nhất với lối sống rộng lòng, hay giúp người và biết kết giao chân thành. Càng gieo nhân tốt với người, phúc quý nhân càng dày. Đây là gợi ý chung mang tính tham khảo, muốn chuẩn xác vẫn cần dựa trên trọn bộ lá số và bản mệnh.

Câu hỏi thường gặp

Tả Phụ là trợ tinh, phù tinh thuộc chòm Bắc Đẩu trong Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Dương Thổ đới Kim. Đây là sao chủ về quyền lệnh và sự phò tá giúp đỡ, tượng cho quý nhân bên tay trái, người trung hậu được cấp trên và đồng nghiệp hỗ trợ. Tả Phụ đi cặp với Hữu Bật thành bộ Tả Hữu, là một trong những trợ tinh quan trọng nhất.

Tả Phụ được an theo tháng sinh âm lịch. Khởi từ cung Thìn ứng với tháng Giêng rồi đếm thuận theo chiều mười hai cung, mỗi tháng tiến một cung. Vì an theo tháng nên Tả Phụ luôn đi đối xứng với Hữu Bật, hai sao này hợp thành một cặp phò tá.

Tả Phụ là trợ tinh nên không có bảng miếu vượng đắc hãm riêng như các chính tinh. Tính chất của nó được luận theo chính tinh và cung mà nó đi cùng. Nguyên tắc của Tử Vi Đẩu Số Tân Biên là Tả Phụ gặp nhiều sao tốt đẹp thì làm tốt đẹp thêm, gặp nhiều sao xấu xa thì làm xấu xa thêm, tức là nó khuếch đại tính chất của bộ sao đi cùng.

Tả Phụ và Hữu Bật hợp thành bộ Tả Hữu, là cặp trợ lực mạnh nhất phò tá đế tinh Tử Vi. Khi Tử Vi thủ Mệnh có đủ Tả Hữu giáp hoặc hội chiếu, quý khí tăng vọt, đó là một trong những điều kiện cốt lõi để tạo nên cách Quân Thần Khánh Hội, vua có đủ quần thần triều bái.

Tả Phụ kỵ nhất là đứng lẻ một mình giữa các sát tinh, khi đó không những không phát huy được sức phò tá mà còn bị kéo theo cái xấu của bộ sao. Tả Phụ cũng e ngại Tuần và Triệt án ngữ vì hai sao này làm giảm hoặc cách trở lực phò tá của nó.

Chỉ hai tháng: sinh tháng Tư âm lịch thì cả hai cùng an tại cung Mùi, sinh tháng Mười âm lịch thì cả hai cùng an tại cung Sửu. Ngoài hai tháng ấy không có lá số nào có Tả Hữu ngồi chung một cung, vì hai sao an theo tháng sinh và đối xứng nhau qua trục Sửu Mùi. Điều này đã kiểm bằng thuật toán an sao của trang.

Cần cung Mệnh an tại Sửu hoặc tại Mùi, không có cung nào khác. Mệnh tại Mùi thì phải sinh tháng Ba hoặc tháng Năm, Mệnh tại Sửu thì phải sinh tháng Chín hoặc tháng Mười Một. Lý do là bộ Tả Hữu đối xứng qua trục Sửu Mùi nên chỉ có thể kẹp hai bên đúng hai cung ấy. Mệnh ở mười cung còn lại thì dù tuổi nào, giờ nào cũng không bao giờ được Tả Hữu giáp.

Không. Các sao có bản lưu đều an theo can hoặc chi của năm nên đổi năm thì có bản mới, còn Tả Phụ an theo tháng sinh mà tháng sinh thì suốt đời không đổi, nên Tả Phụ đứng yên một chỗ. Cái động của nó theo năm là Tứ Hóa lưu: năm can Nhâm thì Tả Phụ lưu hóa Khoa theo Nam phái, năm can Mậu thì Hữu Bật lưu hóa Khoa theo cả hai phái. Ngoài ra còn các sao lưu khác như lưu Thái Tuế, lưu Kình Đà, lưu Xương Khúc, lưu Khôi Việt chạm vào cung có Tả Phụ.