Tử Vi

Sao Tai Sát: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung

Tìm hiểu sao Tai Sát trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.

Đạo Quán36 phút đọc

Tổng quan về sao Tai Sát

Tai Sát là một trong mười hai Thần Sát theo tam hợp, đứng đối xung với Tướng Tinh. Tên Tai Sát nghĩa là sát khí gây tai họa, nên sao chủ về những tai ương, bệnh tật, nạn đến bất ngờ.

  • Ngũ hành: Hỏa
  • Nhóm: Thần Sát Tam Hợp
  • Cách an: Đây là một trong mười hai thần sát, an theo tam hợp địa chi năm sinh
  • Cai quản: tai họa, bệnh tật, nạn bất ngờ
  • Tính chất: Tai họa, nạn

Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.

Ý nghĩa tại cung Mệnh

  • Khi có chính tinh miếu vượng, Hóa Khoa, Lộc Tồn hoặc sao giải đỡ: Người cảnh giác, quen nghĩ tới tình huống xấu nên hay có phương án dự phòng; bình tĩnh lúc rối.
  • Khi chính tinh hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Lo xa thành lo hão, hay bất an không rõ cớ; dễ phản ứng thái quá trước việc nhỏ.

Ý nghĩa ở các cung khác

Đối chiếu ý nghĩa của Tai Sát với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.

Cung Phụ Mẫu

  • Khi có chính tinh miếu vượng, Hóa Khoa, Lộc Tồn hoặc sao giải đỡ: Bậc trên cẩn thận, dạy mình biết phòng xa; quan hệ dựa trên sự yên tâm.
  • Khi chính tinh hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Sức khỏe bậc trên là mối bận tâm; nên chủ động sắp lịch thăm khám thay vì để bị động.

Cung Phúc Đức

  • Khi có chính tinh miếu vượng, Hóa Khoa, Lộc Tồn hoặc sao giải đỡ: Biết lo xa vừa đủ nên trong lòng vững; hợp lối sống có kế hoạch.
  • Khi chính tinh hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Hay nghĩ tới điều chưa xảy ra rồi tự làm khổ mình; nên có người để nói chuyện.

Cung Điền Trạch

  • Khi có chính tinh miếu vượng, Hóa Khoa, Lộc Tồn hoặc sao giải đỡ: Nhà cửa được kiểm tra bảo trì đều, ít hỏng hóc lớn.
  • Khi chính tinh hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Chú ý an toàn điện nước, phòng cháy và giấy tờ nhà đất.

Cung Quan Lộc

  • Khi có chính tinh miếu vượng, Hóa Khoa, Lộc Tồn hoặc sao giải đỡ: Hợp nghề dự phòng và xử lý sự cố: bảo hiểm, an toàn lao động, y tế dự phòng, cấp cứu, kiểm soát rủi ro, hậu cần.
  • Khi chính tinh hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Công việc nhiều biến động ngoài ý muốn, kế hoạch hay bị đổi; nên chọn chỗ có quy trình rõ.

Cung Nô Bộc

  • Khi có chính tinh miếu vượng, Hóa Khoa, Lộc Tồn hoặc sao giải đỡ: Bạn bè là kênh báo tin sớm, có người nhắc mình lúc sắp sai.
  • Khi chính tinh hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Dễ bị việc của người khác kéo vào; nên rõ ràng chuyện đứng tên và bảo lãnh.

Cung Thiên Di

  • Khi có chính tinh miếu vượng, Hóa Khoa, Lộc Tồn hoặc sao giải đỡ: Ra ngoài biết lường trước, gặp việc gấp thì xử lý được, người ngoài tin cậy.
  • Khi chính tinh hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Đi lại nên cẩn trọng và nên có bảo hiểm; tránh đi gấp trong lúc mệt.

Cung Tật Ách

  • Khi có chính tinh miếu vượng, Hóa Khoa, Lộc Tồn hoặc sao giải đỡ: Bệnh phát hiện sớm thì xử lý được; hợp khám định kỳ và tiêm phòng đầy đủ.
  • Khi chính tinh hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Lưu ý những chứng đến đột ngột và việc an toàn khi đi lại. Đây là gợi ý phòng ngừa và đi khám, không phải lời phán bệnh.

Cung Tài Bạch

  • Khi có chính tinh miếu vượng, Hóa Khoa, Lộc Tồn hoặc sao giải đỡ: Biết để dành cho lúc bất trắc, có quỹ dự phòng nên không bị động.
  • Khi chính tinh hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Hao vì việc đột xuất, hoặc tiền vào ra thất thường; nên tách một khoản dự phòng riêng.

Cung Tử Tức

  • Khi có chính tinh miếu vượng, Hóa Khoa, Lộc Tồn hoặc sao giải đỡ: Con cái biết giữ mình, dạy con nên dạy phần an toàn và xử lý tình huống.
  • Khi chính tinh hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Chuyện con cái hay làm cha mẹ giật mình; chú ý an toàn cho trẻ nhỏ.

Cung Phu Thê

  • Khi có chính tinh miếu vượng, Hóa Khoa, Lộc Tồn hoặc sao giải đỡ: Bạn đời điềm tĩnh, cùng nhau qua được lúc bất trắc thì gắn bó hơn.
  • Khi chính tinh hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Chuyện trong nhà hay đến lúc không ngờ; nên nói sớm thay vì giấu cho êm.

Cung Huynh Đệ

  • Khi có chính tinh miếu vượng, Hóa Khoa, Lộc Tồn hoặc sao giải đỡ: Anh em là chỗ báo tin và đỡ nhau lúc có việc gấp.
  • Khi chính tinh hãm, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Việc của anh em hay ập tới bất ngờ; nên thống nhất trước cách xử lý việc chung.

Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc

Tai Sát an theo tam hợp địa chi năm sinh, không dính tới can năm, tháng sinh hay giờ sinh. Phép an ngắn gọn: khởi Kiếp Sát trước, người tuổi Dần, Ngọ, Tuất khởi tại Hợi; tuổi Thân, Tý, Thìn tại Tỵ; tuổi Tỵ, Dậu, Sửu tại Dần; tuổi Hợi, Mão, Mùi tại Thân, rồi bước thêm đúng một cung theo chiều thuận là tới Tai Sát. Vì tham số là tuổi nên vị trí ấy cả đời không đổi một cung.

Tý

  • Tai Sát an tại: Ngọ

Sửu

  • Tai Sát an tại: Mão

Dần

  • Tai Sát an tại: Tý

Mão

  • Tai Sát an tại: Dậu

Thìn

  • Tai Sát an tại: Ngọ

Tỵ

  • Tai Sát an tại: Mão

Ngọ

  • Tai Sát an tại: Tý

Mùi

  • Tai Sát an tại: Dậu

Thân

  • Tai Sát an tại: Ngọ

Dậu

  • Tai Sát an tại: Mão

Tuất

  • Tai Sát an tại: Tý

Hợi

  • Tai Sát an tại: Dậu

Cột bên phải cho điều cấu trúc quan trọng nhất của sao này: Tai Sát chỉ có đúng bốn ô để đứng, là Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Bốn cung ấy nhà nghề gọi là tứ chính, bốn cung vượng của bốn hành. Tám cung còn lại, gồm bốn cung tứ sinh Dần Thân Tỵ Hợi và bốn cung tứ mộ Thìn Tuất Sửu Mùi, thì Tai Sát vĩnh viễn không tới. Đã chạy đủ mười hai tuổi bằng thuật toán an sao của trang để xác nhận, không có ngoại lệ.

Có một cách nhớ gọn hơn cả bảng, đã kiểm cho cả bốn nhóm tam hợp: Tai Sát luôn đóng đúng cung xung chiếu với cung vượng của tam hợp tuổi mình. Nhóm Thân Tý Thìn vượng ở Tý nên Tai Sát ở Ngọ; nhóm Dần Ngọ Tuất vượng ở Ngọ nên Tai Sát ở Tý; nhóm Tỵ Dậu Sửu vượng ở Dậu nên Tai Sát ở Mão; nhóm Hợi Mão Mùi vượng ở Mão nên Tai Sát ở Dậu. Cung vượng ấy chính là chỗ Tướng Tinh đóng, nên nói cách khác, Tai Sát là cái bóng đối diện của Tướng Tinh. Trong vòng sinh vượng, cung ấy ứng với mốc Thai, tức lúc khí vừa tượng hình mà chưa thành, chứ không phải mốc nào bạo liệt.

Bảy điều bất biến của Tai Sát

  • Chỉ đóng bốn cung tứ chính Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Không bao giờ vào tám cung còn lại. Đây là ràng buộc mạnh nhất của sao này.
  • Luôn kẹp giữa Kiếp Sát ở cung liền trước và Thiên Sát ở cung liền sau. Ba sát của vòng đứng liền nhau thành một khối ba cung, ở mọi tuổi.
  • Luôn bị Tướng Tinh xung chiếu. Đây là điều các sách vẫn chép và đã kiểm lại bằng máy: hai sao cách nhau đúng sáu cung ở cả mười hai tuổi.
  • Luôn có Nguyệt Sát và Thiên Mã ở hai cung tam hợp. Nghĩa là Thiên Mã không bao giờ đồng cung với Tai Sát mà cũng không bao giờ rời nó, luôn nhìn nhau qua đường tam hợp.
  • Tang Môn, Tuế Phá, Thiên Hư và Điếu Khách luôn nằm trong tam phương tứ chính. Chạy đủ mười hai tuổi thì bốn sao ấy hoặc đồng cung hoặc tam hợp chiếu, không tuổi nào ra ngoài. Tam phương của Tai Sát vì thế là một góc trời khá nặng.
  • Không một đức tinh nào vào được tam phương tứ chính. Long Đức, Phúc Đức, Thiên Đức, Nguyệt Đức đều chỉ có thể ở thế giáp hoặc ở cung cách xa. Đây là đính chính cho dòng chữ vẫn thấy trong nhiều bảng hợp kỵ rằng Thiên Đức chế được Tai Sát.
  • Đà La vĩnh viễn không thể đồng cung. Đà La an theo can năm và không rơi vào cung tứ chính nào, nên dù sáu mươi hoa giáp cũng không có tuổi nào Đà La ngồi chung với Tai Sát. Quốc Ấn và Đường Phù cũng vậy.

Chính tinh nào có thể ngồi cùng, và Lộc Tồn Kình Dương ở tuổi nào

Chạy đủ mười hai thế Tử Vi cho cả bốn vị trí thì cả mười bốn chính tinh đều có thể đồng cung với Tai Sát. Cái tên Tai Sát vì thế không hàm ý gì về chính tinh đi kèm; hai người cùng có Tai Sát thủ Mệnh mà một người là Thái Dương miếu tại Ngọ, một người là Cự Môn hãm thì đọc hoàn toàn khác nhau.

Với ba sao an theo can năm, đã chạy đủ sáu mươi hoa giáp. Lộc Tồn đóng đúng cung Tai Sát ở sáu tuổi, chỉ thuộc hai can Ất và Tân: Ất Sửu, Ất Tỵ, Ất Dậu, Tân Mão, Tân Mùi, Tân Hợi. Kình Dương đóng cùng cung ở chín tuổi thuộc ba can Bính, Mậu, Nhâm: Bính Tý, Bính Thìn, Bính Thân, Mậu Tý, Mậu Thìn, Mậu Thân, Nhâm Dần, Nhâm Ngọ, Nhâm Tuất. Còn Đà La thì không một tuổi nào.

Chín tuổi có Kình Dương ngồi chung là chín tuổi Thầy dặn kỹ nhất, nhưng dặn theo hướng thực tế chứ không theo hướng dọa: đó là những người việc gì tới cũng tới nhanh và tới gọn, nên nếp sống cần có kỷ luật về an toàn và về sức khỏe. Ngược lại sáu tuổi có Lộc Tồn ngồi chung thì cái bất ngờ thường có chỗ đỡ, hao mà không kiệt.

Không Kiếp, Thiên Hình, Tuần và Triệt rơi vào cung Tai Sát khi nào

Tai Sát chốt theo tuổi còn Không Kiếp chốt theo giờ sinh, nên mỗi vị trí có đúng một giờ sinh làm chúng đồng cung: tại Tý là giờ Sửu và giờ Hợi, tại Mão là giờ Thìn và giờ Thân, tại Ngọ là giờ Mùi và giờ Tỵ, tại Dậu là giờ Tuất và giờ Dần. Khác Kiếp Sát, Tai Sát không bao giờ có cảnh Không Kiếp cùng vào một lượt, vì hai sao ấy chỉ đồng cung với nhau tại Tỵ và Hợi mà Tai Sát thì không tới hai cung đó. Thiên Hình cũng có đúng một tháng sinh cho mỗi vị trí: tại Tý là tháng tư, tại Mão tháng bảy, tại Ngọ tháng mười, tại Dậu tháng giêng.

Về Tuần và Triệt thì Tai Sát khác hẳn hai sát cùng khối: cả bốn vị trí đều có thể bị Triệt án ngữ, tổng cộng mười hai hoa giáp, và Tuần cũng phủ đủ bốn vị trí, trong khi Kiếp Sát tại Hợi và Thiên Sát tại Tuất thì không bao giờ có Triệt. Nhắc lại là Tuần Triệt chặn cả cung chứ không chọn sao.

Vị Trí Của Tai Sát Trong Vòng Mười Hai Thần Sát

Đẩu Số có bốn vòng phụ tinh, mỗi vòng mười hai sao rải kín mười hai cung. Vòng Thái Tuế đếm theo chi năm sinh, vòng Bác Sĩ theo Lộc Tồn tức can năm sinh và có chiều thuận nghịch, vòng Tràng Sinh khởi theo Cục. Vòng thứ tư là vòng mười hai thần sát theo tam hợp mà Tai Sát đứng thứ hai: đếm theo nhóm tam hợp của địa chi năm sinh, đặt Kiếp Sát trước rồi an thuận chiều kim đồng hồ lần lượt Kiếp Sát, Tai Sát, Thiên Sát, Chỉ Bối, Đào Hoa, Nguyệt Sát, Vong Thần, Tướng Tinh, Phan An, Thiên Mã, Tức Thần, Hoa Cái. Nhiều sách khởi theo lối khác mà cùng kết quả: đặt Tướng Tinh vào cung vượng của tam hợp, tức Thân Tý Thìn tại Tý, Dần Ngọ Tuất tại Ngọ, Tỵ Dậu Sửu tại Dậu, Hợi Mão Mùi tại Mão, rồi suy ra cả vòng. Hai lối cho cùng một bàn sao, đã đối chiếu bằng máy trên cả mười hai tuổi.

Tý

  • Kiếp Sát: Tỵ
  • Tai Sát: Ngọ
  • Thiên Sát: Mùi
  • Chỉ Bối: Thân
  • Đào Hoa: Dậu
  • Nguyệt Sát: Tuất
  • Vong Thần: Hợi
  • Tướng Tinh: Tý
  • Phan An: Sửu
  • Thiên Mã: Dần
  • Tức Thần: Mão
  • Hoa Cái: Thìn

Sửu

  • Kiếp Sát: Dần
  • Tai Sát: Mão
  • Thiên Sát: Thìn
  • Chỉ Bối: Tỵ
  • Đào Hoa: Ngọ
  • Nguyệt Sát: Mùi
  • Vong Thần: Thân
  • Tướng Tinh: Dậu
  • Phan An: Tuất
  • Thiên Mã: Hợi
  • Tức Thần: Tý
  • Hoa Cái: Sửu

Dần

  • Kiếp Sát: Hợi
  • Tai Sát: Tý
  • Thiên Sát: Sửu
  • Chỉ Bối: Dần
  • Đào Hoa: Mão
  • Nguyệt Sát: Thìn
  • Vong Thần: Tỵ
  • Tướng Tinh: Ngọ
  • Phan An: Mùi
  • Thiên Mã: Thân
  • Tức Thần: Dậu
  • Hoa Cái: Tuất

Mão

  • Kiếp Sát: Thân
  • Tai Sát: Dậu
  • Thiên Sát: Tuất
  • Chỉ Bối: Hợi
  • Đào Hoa: Tý
  • Nguyệt Sát: Sửu
  • Vong Thần: Dần
  • Tướng Tinh: Mão
  • Phan An: Thìn
  • Thiên Mã: Tỵ
  • Tức Thần: Ngọ
  • Hoa Cái: Mùi

Thìn

  • Kiếp Sát: Tỵ
  • Tai Sát: Ngọ
  • Thiên Sát: Mùi
  • Chỉ Bối: Thân
  • Đào Hoa: Dậu
  • Nguyệt Sát: Tuất
  • Vong Thần: Hợi
  • Tướng Tinh: Tý
  • Phan An: Sửu
  • Thiên Mã: Dần
  • Tức Thần: Mão
  • Hoa Cái: Thìn

Tỵ

  • Kiếp Sát: Dần
  • Tai Sát: Mão
  • Thiên Sát: Thìn
  • Chỉ Bối: Tỵ
  • Đào Hoa: Ngọ
  • Nguyệt Sát: Mùi
  • Vong Thần: Thân
  • Tướng Tinh: Dậu
  • Phan An: Tuất
  • Thiên Mã: Hợi
  • Tức Thần: Tý
  • Hoa Cái: Sửu

Ngọ

  • Kiếp Sát: Hợi
  • Tai Sát: Tý
  • Thiên Sát: Sửu
  • Chỉ Bối: Dần
  • Đào Hoa: Mão
  • Nguyệt Sát: Thìn
  • Vong Thần: Tỵ
  • Tướng Tinh: Ngọ
  • Phan An: Mùi
  • Thiên Mã: Thân
  • Tức Thần: Dậu
  • Hoa Cái: Tuất

Mùi

  • Kiếp Sát: Thân
  • Tai Sát: Dậu
  • Thiên Sát: Tuất
  • Chỉ Bối: Hợi
  • Đào Hoa: Tý
  • Nguyệt Sát: Sửu
  • Vong Thần: Dần
  • Tướng Tinh: Mão
  • Phan An: Thìn
  • Thiên Mã: Tỵ
  • Tức Thần: Ngọ
  • Hoa Cái: Mùi

Thân

  • Kiếp Sát: Tỵ
  • Tai Sát: Ngọ
  • Thiên Sát: Mùi
  • Chỉ Bối: Thân
  • Đào Hoa: Dậu
  • Nguyệt Sát: Tuất
  • Vong Thần: Hợi
  • Tướng Tinh: Tý
  • Phan An: Sửu
  • Thiên Mã: Dần
  • Tức Thần: Mão
  • Hoa Cái: Thìn

Dậu

  • Kiếp Sát: Dần
  • Tai Sát: Mão
  • Thiên Sát: Thìn
  • Chỉ Bối: Tỵ
  • Đào Hoa: Ngọ
  • Nguyệt Sát: Mùi
  • Vong Thần: Thân
  • Tướng Tinh: Dậu
  • Phan An: Tuất
  • Thiên Mã: Hợi
  • Tức Thần: Tý
  • Hoa Cái: Sửu

Tuất

  • Kiếp Sát: Hợi
  • Tai Sát: Tý
  • Thiên Sát: Sửu
  • Chỉ Bối: Dần
  • Đào Hoa: Mão
  • Nguyệt Sát: Thìn
  • Vong Thần: Tỵ
  • Tướng Tinh: Ngọ
  • Phan An: Mùi
  • Thiên Mã: Thân
  • Tức Thần: Dậu
  • Hoa Cái: Tuất

Hợi

  • Kiếp Sát: Thân
  • Tai Sát: Dậu
  • Thiên Sát: Tuất
  • Chỉ Bối: Hợi
  • Đào Hoa: Tý
  • Nguyệt Sát: Sửu
  • Vong Thần: Dần
  • Tướng Tinh: Mão
  • Phan An: Thìn
  • Thiên Mã: Tỵ
  • Tức Thần: Ngọ
  • Hoa Cái: Mùi

Vòng này thật ra là vòng Tràng Sinh của tam hợp, gọi bằng tên khác

Đây là phát hiện cấu trúc đáng giá nhất của bài, đã chạy kiểm cho cả bốn nhóm tam hợp và không lệch một cung: mười hai thần sát của vòng này trùng khít mười hai mốc Tràng Sinh của hành tam hợp tuổi mình, chỉ đổi tên gọi. Chỉ Bối đứng đúng cung Trường Sinh, Đào Hoa cung Mộc Dục, Tướng Tinh cung Đế Vượng, Thiên Mã cung Bệnh, Hoa Cái cung Mộ, Kiếp Sát cung Tuyệt, và Tai Sát đúng cung Thai.

Kiếp Sát

  • Thứ tự: 1
  • Trùng mốc Tràng Sinh: Tuyệt
  • Cung theo bốn nhóm tam hợp Dần Ngọ Tuất · Thân Tý Thìn · Tỵ Dậu Sửu · Hợi Mão Mùi: Hợi · Tỵ · Dần · Thân

Tai Sát

  • Thứ tự: 2
  • Trùng mốc Tràng Sinh: Thai
  • Cung theo bốn nhóm tam hợp Dần Ngọ Tuất · Thân Tý Thìn · Tỵ Dậu Sửu · Hợi Mão Mùi: Tý · Ngọ · Mão · Dậu

Thiên Sát

  • Thứ tự: 3
  • Trùng mốc Tràng Sinh: Dưỡng
  • Cung theo bốn nhóm tam hợp Dần Ngọ Tuất · Thân Tý Thìn · Tỵ Dậu Sửu · Hợi Mão Mùi: Sửu · Mùi · Thìn · Tuất

Chỉ Bối

  • Thứ tự: 4
  • Trùng mốc Tràng Sinh: Tràng Sinh
  • Cung theo bốn nhóm tam hợp Dần Ngọ Tuất · Thân Tý Thìn · Tỵ Dậu Sửu · Hợi Mão Mùi: Dần · Thân · Tỵ · Hợi

Đào Hoa

  • Thứ tự: 5
  • Trùng mốc Tràng Sinh: Mộc Dục
  • Cung theo bốn nhóm tam hợp Dần Ngọ Tuất · Thân Tý Thìn · Tỵ Dậu Sửu · Hợi Mão Mùi: Mão · Dậu · Ngọ · Tý

Nguyệt Sát

  • Thứ tự: 6
  • Trùng mốc Tràng Sinh: Quan Đới
  • Cung theo bốn nhóm tam hợp Dần Ngọ Tuất · Thân Tý Thìn · Tỵ Dậu Sửu · Hợi Mão Mùi: Thìn · Tuất · Mùi · Sửu

Vong Thần

  • Thứ tự: 7
  • Trùng mốc Tràng Sinh: Lâm Quan
  • Cung theo bốn nhóm tam hợp Dần Ngọ Tuất · Thân Tý Thìn · Tỵ Dậu Sửu · Hợi Mão Mùi: Tỵ · Hợi · Thân · Dần

Tướng Tinh

  • Thứ tự: 8
  • Trùng mốc Tràng Sinh: Đế Vượng
  • Cung theo bốn nhóm tam hợp Dần Ngọ Tuất · Thân Tý Thìn · Tỵ Dậu Sửu · Hợi Mão Mùi: Ngọ · Tý · Dậu · Mão

Phan An

  • Thứ tự: 9
  • Trùng mốc Tràng Sinh: Suy
  • Cung theo bốn nhóm tam hợp Dần Ngọ Tuất · Thân Tý Thìn · Tỵ Dậu Sửu · Hợi Mão Mùi: Mùi · Sửu · Tuất · Thìn

Thiên Mã

  • Thứ tự: 10
  • Trùng mốc Tràng Sinh: Bệnh
  • Cung theo bốn nhóm tam hợp Dần Ngọ Tuất · Thân Tý Thìn · Tỵ Dậu Sửu · Hợi Mão Mùi: Thân · Dần · Hợi · Tỵ

Tức Thần

  • Thứ tự: 11
  • Trùng mốc Tràng Sinh: Tử
  • Cung theo bốn nhóm tam hợp Dần Ngọ Tuất · Thân Tý Thìn · Tỵ Dậu Sửu · Hợi Mão Mùi: Dậu · Mão · Tý · Ngọ

Hoa Cái

  • Thứ tự: 12
  • Trùng mốc Tràng Sinh: Mộ
  • Cung theo bốn nhóm tam hợp Dần Ngọ Tuất · Thân Tý Thìn · Tỵ Dậu Sửu · Hợi Mão Mùi: Tuất · Thìn · Sửu · Mùi

Đọc bảng ấy thì cái tên Tai Sát bớt dữ đi rất nhiều. Cung Thai là chỗ khí vừa kết mà chưa thành hình, tức chỗ mọi thứ còn ở dạng khả năng: chưa lộ, chưa chắc, chưa nắm được. Đó chính là cái người xưa gọi là việc chưa biết trước. Ba sao mang tên nghe dữ nhất của vòng là Kiếp Sát, Tai Sát, Thiên Sát đứng liền nhau ở đúng ba mốc Tuyệt, Thai, Dưỡng, tức đoạn lặng nhất của cả chu kỳ, chứ không đứng ở mốc nào bạo liệt. Người xưa đặt tên nặng cho ba mốc yếu ấy vì đó là ba chỗ khí chưa đủ sức tự giữ mình.

Tai Sát đứng ở vị trí thứ hai của vòng

Tai Sát ở vị trí thứ hai. Quan hệ vị trí tính bằng khoảng cách cố định nên đúng ở mọi tuổi:

  • Đứng ngay trước: Kiếp Sát, ứng cung Tuyệt.
  • Đứng ngay sau: Thiên Sát, ứng cung Dưỡng.
  • Ở cung xung chiếu: Tướng Tinh, luôn cách sáu cung, ứng cung Đế Vượng.
  • Hai sao ở tam hợp: Nguyệt Sát cách bốn cung và Thiên Mã cách tám cung.

Trục Tai Sát và Tướng Tinh là trục đáng đọc nhất của vòng này. Tướng Tinh đóng cung vượng, tức chỗ khí mạnh nhất, ứng với quyền và với thế đứng của mình; Tai Sát đóng cung Thai đối diện, tức chỗ khí yếu nhất, ứng với cái mình chưa nắm được. Người xưa mượn hình ảnh ấy để nói một câu rất đời: chỗ mình mạnh nhất và chỗ mình hở nhất luôn nằm đối diện nhau trên cùng một trục. Đó là lý do sách hay viết Tai Sát nhắc rằng càng ở vị trí cao càng phải phòng.

Điều đáng nói tiếp theo là Thiên Mã luôn ở tam hợp của Tai Sát. Cùng với Đào Hoa ở vị trí thứ năm và Hoa Cái ở vị trí thứ mười hai, đây là vòng nối kết nhiều sao quen thuộc: ba cái tên người ta tra hằng ngày hóa ra là ba mắt của cùng một chuỗi mà Tai Sát là mắt thứ hai. Riêng Đào Hoa đứng cách Tai Sát ba cung nên hai sao ấy không bao giờ đồng cung, xung chiếu hay tam hợp, dù cả hai đều chỉ đóng bốn cung tứ chính.

Tai Sát không nằm trong bảng Tứ Hóa, nhưng vẫn chịu Tứ Hóa

Bảng Tứ Hóa theo can năm chỉ gọi tên mười bốn chính tinh cùng Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, tùy phái thêm Thiên Phủ. Tai Sát không có tên trong bảng ấy ở bất kỳ can nào, nên tự nó không hóa Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ, và sách cũng không lập cách hóa riêng cho nó. Nhưng nó nhận sắc thái từ chính tinh đồng cung đang hóa:

  • Hóa Lộc: cái bất ngờ lại là cơ hội. Đọc là người xoay xở tốt trong tình huống chưa lường trước, nghề nghiệp gắn với xử lý sự cố.
  • Hóa Quyền: mình là người đứng ra chịu trận và quyết trong lúc rối. Được việc nhưng gánh nặng dồn về mình.
  • Hóa Khoa: hóa lành nhất với sao này. Cái bất ngờ được xử lý có quy trình, có chuẩn mực, nên hậu quả nhẹ đi. Hay thấy ở người làm nghề an toàn, bảo hiểm, y tế dự phòng.
  • Hóa Kỵ: thế nặng nhất và cũng hay bị phán bừa nhất. Đọc đúng là lo trước cả khi có chuyện, nghĩ ngợi về những điều chưa xảy tới, hoặc một việc rắc rối dây dưa không dứt. Đây là chỉ dấu về tâm trạng và về cách xử lý, không phải căn cứ để nói về tai nạn của ai.

Vì sao đọc Tai Sát thì phải đọc cả vòng

Tai Sát là cái tên khiến người ta dừng lại và sợ. Nhưng nhìn cả vòng thì nó chỉ là một mắt trong mười hai mắt xích của một chu kỳ sinh vượng, và mắt của nó là mắt Thai, chỗ khí mới tượng hình. Muốn biết cung có Tai Sát nặng hay nhẹ thì phải xem ba cái cùng lúc: chính tinh của cung ấy, Tướng Tinh đối diện đang rơi vào cung chức nào, và Thiên Mã tam hợp đang ở đâu. Chỉ cần biết tuổi chi là dựng được cả bản đồ ấy.

Hội Họp Các Sao, Bản Rút Gọn

Tai Sát phối với các sao cho kết quả khác nhau:

Kình Dương, Đà La, Không Kiếp

  • Ý nghĩa kết hợp: Tai họa, nạn rõ hơn.

Hóa Kỵ, Lưu Hà, Kiếp Sát

  • Ý nghĩa kết hợp: Cộng hưởng hung, tai ương nặng.

Thiên Giải, Giải Thần, Thiên Đức

  • Ý nghĩa kết hợp: Chế bớt họa, tai qua nạn khỏi.

Chính tinh miếu vượng

  • Ý nghĩa kết hợp: Giảm sức tai họa.

Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế

Trước khi đọc hai cột dưới, xin nhớ quy tắc về lực: đồng cung mạnh nhất vì hai khí trộn thẳng vào nhau, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn và mang tính hoàn cảnh, còn giáp hai bên là thế bao vây, mạnh với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Riêng với Tai Sát phải nhớ thêm hai tầng đã kiểm bằng máy: Đà La vĩnh viễn không thể đồng cung, và không một đức tinh nào vào được tam phương tứ chính, dù nhiều bảng hợp kỵ vẫn ghi Thiên Đức chế được sao này.

Tai Sát nhẹ đi khi gặp

  • Chính tinh miếu vượng đồng cung (cả mười bốn chính tinh đều có thể): sao sáng lấn át được sát khí, là cái đỡ mạnh nhất.
  • Giải Thần (đồng cung ở tuổi Thìn và Tuất, xung chiếu ở tuổi Sửu và Mùi, tam hợp ở tuổi Tý, Dần, Ngọ, Thân, ngoài tam phương ở bốn tuổi còn lại): khác hẳn Kiếp Sát, ở đây Giải Thần thật sự tới được, nên câu sách nói gặp sao giải thì họa nhẹ là có cơ sở cấu trúc với Tai Sát.
  • Phượng Các (cùng vị trí với Giải Thần nên cùng những tuổi ấy): thêm nét chỉn chu, việc rối được sắp lại cho gọn.
  • Hóa Khoa (đồng cung mạnh nhất, xung chiếu vẫn có tác dụng): cái bất ngờ được xử lý có quy trình nên hậu quả nhẹ đi.
  • Lộc Tồn (đồng cung ở sáu tuổi Ất Sửu, Ất Tỵ, Ất Dậu, Tân Mão, Tân Mùi, Tân Hợi): cái bất ngờ có chỗ tựa vật chất, hao mà không kiệt.
  • Thiên Phúc (an theo can năm, đồng cung ở chín hoa giáp thuộc ba can Bính, Kỷ, Canh): phúc tinh nhỏ nhưng tới được thật.
  • Thiên Khôi, Thiên Việt (đồng cung ở một số hoa giáp, Thiên Khôi sáu tuổi thuộc can Canh và Quý): quý nhân đỡ được lúc rối.
  • Tuần, Triệt án ngữ (chặn cả cung): với một sao hung thì bị chặn thường là điều hay; cả bốn vị trí của Tai Sát đều có thể bị Tuần hoặc Triệt. Nhưng chúng chặn cả cung chứ không chọn sao.

Tai Sát nặng thêm khi gặp

  • Kình Dương (đồng cung ở chín tuổi Bính Tý, Bính Thìn, Bính Thân, Mậu Tý, Mậu Thìn, Mậu Thân, Nhâm Dần, Nhâm Ngọ, Nhâm Tuất): sát tinh thật đứng chung với thần sát nhỏ, việc tới nhanh và sắc. Đây là tổ hợp đáng lưu ý nhất của sao này.
  • Đà La (không bao giờ đồng cung): ghi vào đây để quý vị khỏi đi tìm. Đà La không rơi vào cung tứ chính nào nên tổ hợp Tai Sát Đà La đồng cung là điều không tồn tại.
  • Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung, mỗi vị trí ứng một giờ sinh; không bao giờ cả hai cùng vào một lượt): việc đến đột ngột và mất mát rõ hơn.
  • Tang Môn, Tuế Phá, Thiên Hư, Điếu Khách (luôn nằm trong tam phương tứ chính, hoặc đồng cung hoặc tam hợp tùy tuổi): bốn bại tinh của vòng Thái Tuế luôn có mặt quanh Tai Sát. Vì không né được nên chỉ tính nặng nhẹ theo chính tinh, không tính là một điềm.
  • Hóa Kỵ (đồng cung mạnh nhất): lo trước cả khi có chuyện, hoặc một việc rắc rối dây dưa không dứt.
  • Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung, khả dĩ ở mọi tuổi): chuyện đến bất ngờ, tâm trạng lên xuống thất thường.
  • Kiếp Sát và Thiên Sát (luôn giáp hai bên ở mọi tuổi): thế bao vây cố định, ai cũng có, nên đây không phải một cách cục xấu mà chỉ là hình dạng của vòng.
  • Long Đức, Phúc Đức, Thiên Đức, Nguyệt Đức (không bao giờ vào tam phương tứ chính của Tai Sát): ghi vào cột này để đính chính. Bốn đức tinh chỉ có thể ở thế giáp, nên cái đỡ phải tìm ở chính tinh, ở Giải Thần và ở Tứ Hóa.

Tóm lại, cùng một sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho kết quả khác nhau, và với Tai Sát còn thêm hai tầng cố định đã kiểm bằng máy: Đà La vĩnh viễn không thể đồng cung, còn bốn đức tinh thì không bao giờ vào tam phương tứ chính của nó. Đọc hai cột trên phải đọc kèm vị thế ghi trong ngoặc, và luôn xét cả cung lẫn đại vận lưu niên.

Tai Sát Trong Đại Vận Và Lưu Niên

Tai Sát bản mệnh cố định cả đời ở đúng một cung, nên tự nó không nói được chuyện năm nào. Muốn trả lời câu hỏi về thời gian phải xét ba tầng chồng lên nhau: đại vận mười năm, lưu niên một năm, và các lưu sao chạm vào cung ấy. Phần lớn nỗi sợ về Tai Sát sinh ra từ chỗ đem một sao cố định của cả đời ra đọc như điềm báo của năm nay.

Đại vận đi vào cung có Tai Sát

Mười năm đại vận đóng vào cung có Tai Sát bản mệnh thường là mười năm nhiều biến động ngoài kế hoạch: việc đổi hướng giữa chừng, người đi kẻ đến không báo trước, sức khỏe cần theo dõi. Cung ấy có chính tinh miếu vượng, Hóa Khoa, Lộc Tồn hay Giải Thần đỡ thì đây là vận rèn bản lĩnh: người ta học được cách dựng phương án và bình tĩnh trong lúc rối.

Nếu cung ấy chính tinh hãm, lại có Kình Dương, Không Kiếp, Hỏa Linh hoặc Hóa Kỵ thì mười năm ấy vất vả thật, và cái vất vả nằm ở chỗ bị động. Thầy dặn khách đang ở đại vận này ba việc: lập một quỹ dự phòng tách riêng; mua đủ bảo hiểm y tế và bảo hiểm cho việc mình làm; và khám sức khỏe định kỳ có ghi vào lịch. Ba việc rất đời thường ấy xử lý đúng thứ mà sao này nói tới, và làm được thì phần lớn cái gọi là hạn Tai Sát chỉ còn là việc đã có phương án.

Vòng thần sát có bản lưu niên không

Trong bốn vòng phụ tinh, vòng Thái Tuế và vòng Bác Sĩ có bản lưu theo can chi năm xem, còn vòng Tràng Sinh thì không vì nó khởi theo Cục; các sao an theo tháng và giờ sinh cũng không có bản lưu. Vòng thần sát tam hợp thì về nguyên tắc lưu được, vì tham số của nó là địa chi mà mỗi năm lại có một địa chi mới: lấy chi của năm đang xem, tra nhóm tam hợp rồi khởi lưu Kiếp Sát, đếm thêm một cung thuận là ra lưu Tai Sát. Trong vòng đã có sẵn hai sao mà bản lưu được dùng rộng rãi là lưu Đào Hoa và lưu Thiên Mã. Nhưng các bộ chính điển không lập bản lưu riêng cho Tai Sát, nên bảng dưới xin ghi rõ là suy luận.

2026 Bính Ngọ

  • Lưu Tai Sát: Tý
  • Lưu Tướng Tinh: Ngọ
  • Lưu Kiếp Sát: Hợi
  • Lưu Đào Hoa: Mão
  • Lưu Thiên Mã: Thân

2027 Đinh Mùi

  • Lưu Tai Sát: Dậu
  • Lưu Tướng Tinh: Mão
  • Lưu Kiếp Sát: Thân
  • Lưu Đào Hoa: Tý
  • Lưu Thiên Mã: Tỵ

2028 Mậu Thân

  • Lưu Tai Sát: Ngọ
  • Lưu Tướng Tinh: Tý
  • Lưu Kiếp Sát: Tỵ
  • Lưu Đào Hoa: Dậu
  • Lưu Thiên Mã: Dần

2029 Kỷ Dậu

  • Lưu Tai Sát: Mão
  • Lưu Tướng Tinh: Dậu
  • Lưu Kiếp Sát: Dần
  • Lưu Đào Hoa: Ngọ
  • Lưu Thiên Mã: Hợi

2030 Canh Tuất

  • Lưu Tai Sát: Tý
  • Lưu Tướng Tinh: Ngọ
  • Lưu Kiếp Sát: Hợi
  • Lưu Đào Hoa: Mão
  • Lưu Thiên Mã: Thân

2031 Tân Hợi

  • Lưu Tai Sát: Dậu
  • Lưu Tướng Tinh: Mão
  • Lưu Kiếp Sát: Thân
  • Lưu Đào Hoa: Tý
  • Lưu Thiên Mã: Tỵ

Bảng ấy cho một quy tắc gọn: lưu Tai Sát về đúng cung Tai Sát bản mệnh vào những năm có chi cùng nhóm tam hợp với chi năm sinh, tức ba năm trong mỗi mười hai năm chứ không phải một. Người tuổi Thân, Tý, Thìn thì các năm Thân, Tý, Thìn đều có lưu Tai Sát về đúng cung Ngọ của mình; và cũng ba năm ấy lưu Tướng Tinh về đúng cung Tướng Tinh bản mệnh, nên cả trục cùng chồng khít.

Nói cho thật rõ vì đây là chỗ hay bị dùng để dọa người: những năm ấy không phải năm gặp nạn. Trên lá số thật, cái hay gặp là năm có việc ngoài kế hoạch phải xoay, năm đổi chỗ đổi việc, năm phải lo giấy tờ hay sức khỏe. Cách dùng đúng của bảng trên là chuẩn bị trước, không phải lo sợ.

Các lưu sao khác chạm vào cung Tai Sát

  • Lưu Hóa Khoa (theo can năm xem): việc rối được xử lý có bài bản và được ghi nhận, thế đẹp nhất.
  • Lưu Hóa Kỵ: cái lo dính lại lâu hơn; năm nên bớt ôm việc và bớt nghĩ xa.
  • Lưu Kình Dương và lưu Đà La: rơi vào cung Tai Sát thì việc đến gấp hơn hoặc dây dưa hơn; nên có dự phòng.
  • Lưu Thái Tuế và lưu Tang Hổ: chồng lên cung Tai Sát thì năm ấy chuyện thường dính tới người khác chứ không chỉ mình.
  • Lưu Thiên Mã, cùng vòng nên rất dễ tra: tới cung Tai Sát thì việc ngoài kế hoạch đi kèm chuyện di chuyển, đổi nơi ở hoặc nơi làm.

Một nguyên tắc Thầy giữ suốt nhiều năm: không bao giờ nói một câu về tai nạn hay bệnh tật chỉ vì lưu niên chạm vào cung có Tai Sát. Một thần sát nhỏ không đủ tư cách để nói câu ấy. Cái đúng mực là nhắc lập quỹ dự phòng, nhắc mua bảo hiểm, nhắc đi khám, rồi để người ta tự sắp xếp.

Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Tai Sát

Với một sao mang tên như Tai Sát thì đây là mục quan trọng nhất của cả bài. Xin nói ngay và nói thẳng: Tai Sát là một thần sát nhỏ, sức nặng kém xa Lục Sát, và không bao giờ được phán tai họa từ nó.

Một: đây là thần sát nhỏ mượn từ hệ Bát Tự, không phải Lục Sát của Đẩu Số

Vòng mười hai thần sát tam hợp vốn là bộ khái niệm của hệ Bát Tự Tứ Trụ, được các đời sau đưa sang bàn Tử Vi cho đủ bộ. Nó khác hẳn Lục Sát của Đẩu Số là Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, những sao có bảng miếu vượng riêng, cách cục riêng, phú riêng và có sức làm hỏng một cung thật sự. Tai Sát không có bảng miếu vượng, không có cách cục mang tên nó, không có phú riêng, và ngay bộ Tân Biên cũng không dành cho nó một mục đặc tính riêng như đã dành cho Kiếp Sát. Đọc một thần sát nhỏ với sức nặng của Lục Sát là lỗi so sánh nhầm cấp.

Hai: tên sao không phải điều sẽ xảy ra

Chữ Tai khiến nhiều người đọc thẳng thành tai nạn, bệnh tật, mất mát. Cấu trúc bác bỏ cách hiểu ấy ngay: Tai Sát an theo tam hợp chi năm sinh nên ai cũng có một sao Tai Sát trong lá số, ở đúng một cung, suốt đời không đổi, và một phần tư số người có nó ở cùng một chi. Nếu nó là điềm tai nạn thì cả nhân loại đang mang điềm ấy từ lúc lọt lòng. Thêm nữa, đã kiểm bằng máy: sao này đứng đúng cung Thai trong chu kỳ sinh vượng của tam hợp tuổi mình, tức chỗ khí vừa tượng hình mà chưa thành, chứ không phải chỗ khí bạo phát. Tượng đúng của nó là cái chưa lường được, không phải cái sẽ ập xuống.

Ba: đây là sao của chỗ hở, và chỗ hở thì bịt được

Sau nhiều năm đối chiếu lá số thật, cách đọc Thầy thấy đúng nhất và ít gây hại nhất là: Tai Sát chỉ ra chỗ trong đời mình khó lường trước nhất, tức chỗ cần có phương án dự phòng. Nó không nói chuyện gì sẽ xảy ra, nó nói chỗ nào mình mỏng. Mà chỗ mỏng thì bịt được bằng những việc rất đời thường: quỹ dự phòng, bảo hiểm, lịch khám định kỳ. Rất nhiều người có Tai Sát nổi bật làm nghề dự phòng và xử lý sự cố, và họ giỏi vì quen nghĩ tới tình huống xấu trong khi người khác thì không.

Bốn: Thiên Đức không giải được Tai Sát, còn Đà La không thể đồng cung

Hai đính chính này chỉ thấy được khi chạy máy. Nhiều bảng hợp kỵ, kể cả bản cũ của chính trang này, ghi rằng Tai Sát gặp Thiên Đức thì họa được chế. Chạy đủ mười hai tuổi thì cả bốn đức tinh Long Đức, Phúc Đức, Thiên Đức, Nguyệt Đức đều không bao giờ vào cung đồng, cung xung hay hai cung tam hợp của Tai Sát; chúng chỉ có thể ở thế giáp. Cái đỡ thật nằm ở chính tinh miếu vượng, ở Giải Thần và Phượng Các vốn tới được thật với tám trong mười hai tuổi, ở Hóa Khoa, ở Lộc Tồn và Thiên Phúc. Ngược lại, nhiều tài liệu cảnh báo Tai Sát gặp Đà La, mà Đà La không bao giờ đồng cung được với Tai Sát ở bất kỳ hoa giáp nào; sao đáng lưu ý ở đây là Kình Dương chứ không phải Đà La.

Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải

Tai Sát không phải sao cần trấn yểm, và Thầy đặc biệt không tán thành việc lấy cái tên này ra để bán lễ giải hạn. Đây là một thần sát nhỏ chỉ ra chỗ mình mỏng, mà chỗ mỏng thì không bịt bằng lễ, chỉ bịt bằng phương án.

Ba việc rất cụ thể, làm khi chưa có chuyện gì

Người có Tai Sát nổi bật ở Mệnh, Tật Ách, Tài Bạch hay Thiên Di nên làm sẵn ba việc. Một, một quỹ dự phòng tách riêng, không cần lớn nhưng phải riêng. Hai, đủ bảo hiểm: y tế cho cả nhà, bảo hiểm cho phương tiện và cho công việc mình làm. Ba, lịch khám sức khỏe định kỳ ghi vào lịch, cho mình và cho cha mẹ. Ba việc nghe khô khan ấy xử lý đúng thứ mà sao này nói tới.

Dùng thói quen lo xa như một nghề, nếu nó đậm

Người quen nghĩ tới tình huống xấu là người hiếm và rất được việc. Trên lá số thật, Thầy gặp nhiều người có sao này nổi bật làm nghề bảo hiểm, an toàn lao động, kiểm soát rủi ro, y tế dự phòng, cấp cứu, hậu cần, kiểm định. Điểm chung của họ không phải là gặp nạn, mà là chuẩn bị sẵn trong khi người khác chủ quan. Nếu Tai Sát đậm ở Mệnh hoặc Quan Lộc, hãy nghĩ tới việc đưa cái tính ấy vào một khuôn nghề nghiệp thay vì để nó quay vào trong thành bất an.

Chỗ cần giữ nhất là ranh giới giữa lo xa và lo hão

Cái hao thật của Tai Sát hiếm khi là một biến cố; nó thường là chuỗi ngày lo về những chuyện chưa xảy ra, rồi mới sinh mất ngủ và mệt mỏi. Thầy hay dặn một mẹo rất nhỏ: mỗi khi thấy mình lo, hãy hỏi ba câu là chuyện này có thể xảy ra thật không, nếu xảy ra thì mình làm gì, và có việc gì làm được ngay hôm nay không. Câu nào trả lời được thì làm, câu nào không thì gác lại. Lo mà ra được một việc cụ thể thì là lo xa; lo mà không ra việc gì thì là lo hão.

Phong thủy bổ trợ, ghi rõ là gợi ý chung: những việc dưới đây thuộc loại điều chỉnh nếp sống và bài trí, không phải trấn yểm, không thay thế được nỗ lực của bản thân và cũng không sửa được lá số. Trong nhà nên có một hộp đồ y tế và một đèn pin để chỗ ai cũng biết, kiểm tra điện nước và bếp gas theo định kỳ. Phòng ngủ nên thoáng và đủ tối, hạn chế xem tin tức nặng trước giờ ngủ vì người có sao này vốn dễ nhiễm lo. Nên có cây xanh và ánh sáng tự nhiên buổi sáng. Ai muốn chỉnh theo đúng lá số của mình thì nên xem cung Điền Trạch và cung Phúc Đức rồi hãy quyết.

Lời cuối của mục này, cũng là câu Thầy hay nói khi khách mở lá số ra và giật mình vì thấy chữ Tai Sát: đời ai cũng có một chỗ mỏng, lá số chỉ nói cho biết chỗ ấy nằm ở đâu để mà vá lại trước.

Câu hỏi thường gặp

Tai Sát là một trong mười hai Thần Sát theo tam hợp, ngũ hành Hỏa, đứng đối xung với Tướng Tinh. Sao là hung tinh chủ tai họa, bệnh tật và nạn đến bất ngờ.

Tai Sát ở Tật Ách nhắc đề phòng tai nạn, bệnh tật bất ngờ. Cần có phúc tinh và sao giải như Thiên Giải, Giải Thần, Thiên Đức để chế bớt; gặp Kình Đà, Không Kiếp, Hóa Kỵ thì nạn rõ.

Tai Sát đứng đối xung với Tướng Tinh trong vòng mười hai thần sát, an theo tam hợp địa chi năm sinh.

Có. Tai Sát gặp phúc tinh, sao giải (Thiên Giải, Giải Thần, Thiên Đức) và chính tinh miếu vượng thì cái họa được giảm, tai qua nạn khỏi.

Không. Tai Sát an theo tam hợp địa chi năm sinh nên ai cũng có một sao Tai Sát trong lá số, ở đúng một cung, suốt đời không đổi, và một phần tư số người có nó ở cùng một chi. Đây là một thần sát nhỏ mượn từ hệ Bát Tự, không có bảng miếu vượng, không có cách cục riêng và không có phú riêng, nên sức nặng kém xa Lục Sát của Đẩu Số. Cách đọc đúng là sao chỉ ra chỗ trong đời mình khó lường trước nhất, tức chỗ cần có phương án dự phòng, chứ không phải lời báo trước về sự việc.

Chỉ bốn cung tứ chính Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Tám cung còn lại gồm Dần, Thân, Tỵ, Hợi và Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì Tai Sát vĩnh viễn không tới, đã chạy đủ mười hai tuổi bằng thuật toán an sao để xác nhận. Cách nhớ gọn nhất là Tai Sát luôn đóng cung xung chiếu với cung vượng của tam hợp tuổi mình, tức luôn đối diện Tướng Tinh: tuổi Thân Tý Thìn tại Ngọ, tuổi Dần Ngọ Tuất tại Tý, tuổi Tỵ Dậu Sửu tại Mão, tuổi Hợi Mão Mùi tại Dậu.

Vì trong vòng mười hai thần sát, Tai Sát đứng vị trí thứ hai còn Tướng Tinh đứng vị trí thứ tám, cách nhau đúng sáu cung ở cả mười hai tuổi, nên quan hệ giữa chúng chỉ có một dạng duy nhất là xung chiếu. Đối chiếu với vòng Tràng Sinh của tam hợp thì Tướng Tinh đóng cung Đế Vượng là chỗ khí mạnh nhất, còn Tai Sát đóng cung Thai là chỗ khí yếu nhất. Người xưa mượn hình ảnh ấy để nói rằng chỗ mình mạnh nhất và chỗ mình hở nhất luôn nằm đối diện nhau trên cùng một trục.

Chạy đủ mười hai tuổi thì cả bốn đức tinh Long Đức, Phúc Đức, Thiên Đức, Nguyệt Đức đều không bao giờ vào được tam phương tứ chính của Tai Sát, nên không thể coi Thiên Đức là thuốc giải như nhiều bảng hợp kỵ vẫn ghi. Cái đỡ thật gồm chính tinh miếu vượng đồng cung, Giải Thần và Phượng Các vốn đồng cung ở tuổi Thìn và Tuất và tam hợp ở tuổi Tý, Dần, Ngọ, Thân, Hóa Khoa và Hóa Lộc tới qua chính tinh, Lộc Tồn đồng cung ở sáu tuổi thuộc hai can Ất và Tân, cùng Thiên Phúc. Ngược lại, sao đáng lưu ý nhất là Kình Dương, đồng cung ở chín tuổi thuộc ba can Bính, Mậu, Nhâm; còn Đà La thì không bao giờ đồng cung được.