Tử Vi
Sao Tang Môn: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung
Tìm hiểu sao Tang Môn trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.
Tổng quan về sao Tang Môn
Tang Môn là một sao trong vòng Thái Tuế, được xếp vào loại bại tinh, ngũ hành Mộc. Cùng với Bạch Hổ, Tang Môn chủ những việc buồn thương, tang điếu, hiếu hỉ và sự hao tổn. Đây là sao cần lưu ý, nhất là trong lưu niên.
- Ngũ hành: Mộc
- Nhóm: Vòng Thái Tuế
- Cách an: Theo chi năm sinh
- Cai quản: Tang thương, buồn rầu, hao tổn
- Kỵ: Bạch Hổ, sát tinh, Hóa Kỵ
Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.
Ý nghĩa tại cung Mệnh
- Khi đắc địa, có chính tinh miếu vượng hoặc Hóa Khoa: Người sâu sắc, biết thương người, hay được nhờ cậy khi nhà có việc; nét mặt trầm mà đáng tin.
- Khi hãm địa, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Đa sầu, khó buông chuyện cũ; dễ nhận việc của người khác rồi tự mình nặng lòng.
Ý nghĩa ở các cung khác
Đối chiếu ý nghĩa của Tang Môn với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.
Cung Phụ Mẫu
- Khi đắc địa, có chính tinh miếu vượng hoặc Hóa Khoa: Hiếu thuận, gần gũi bậc trên, là người trong nhà đứng ra lo khi cha mẹ có việc.
- Khi hãm địa, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Sức khỏe bậc trên là mối bận tâm dài; nên chủ động sắp lịch thăm khám cho cha mẹ thay vì để bị động.
Cung Phúc Đức
- Khi đắc địa, có chính tinh miếu vượng hoặc Hóa Khoa: Đời sống tinh thần có chiều sâu, hiểu lẽ vô thường sớm, hợp việc thiện nguyện.
- Khi hãm địa, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Hay buồn không rõ cớ, nghĩ nhiều về chuyện đã qua; nên có người để nói chuyện.
Cung Điền Trạch
- Khi đắc địa, có chính tinh miếu vượng hoặc Hóa Khoa: Nhà cửa yên tĩnh, giữ được nếp thờ tự chu đáo.
- Khi hãm địa, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Nhà hay phải sửa vì hư hao, hoặc chuyện đất đai họ hàng làm bận lòng.
Cung Quan Lộc
- Khi đắc địa, có chính tinh miếu vượng hoặc Hóa Khoa: Hợp nghề y tế, điều dưỡng, tang lễ, bảo hiểm, công tác xã hội, tôn giáo; làm lâu thì có uy tín riêng.
- Khi hãm địa, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Nhiều thay đổi ngoài ý muốn, hay phải dọn hậu quả người khác để lại; thăng tiến chậm.
Cung Nô Bộc
- Khi đắc địa, có chính tinh miếu vượng hoặc Hóa Khoa: Bạn bè ít mà thật, người tới lúc mình khó thường là người ở lại lâu.
- Khi hãm địa, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Quan hệ hay đứt đoạn, bạn cũ xa dần.
Cung Thiên Di
- Khi đắc địa, có chính tinh miếu vượng hoặc Hóa Khoa: Ra ngoài trầm tĩnh, được tin cậy giao việc hệ trọng.
- Khi hãm địa, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Đi xa hay gặp việc phải lo cho người khác, hoặc phải về gấp vì việc nhà.
Cung Tật Ách
- Khi đắc địa, có chính tinh miếu vượng hoặc Hóa Khoa: Bệnh thuộc dạng theo dõi được, biết giữ gìn thì ổn; hợp khám định kỳ đều đặn.
- Khi hãm địa, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Lưu ý suy nhược do lo nghĩ, mất ngủ, và chứng liên quan tới gan mật theo hành Mộc của sao. Đây là gợi ý đi khám, không phải lời phán bệnh.
Cung Tài Bạch
- Khi đắc địa, có chính tinh miếu vượng hoặc Hóa Khoa: Tiền có phần chi cho việc hiếu hỉ và chăm sóc người thân, chi ra thì được tiếng và được lòng.
- Khi hãm địa, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Hao hụt vì việc bất ngờ của người khác; nên có một khoản dự phòng riêng.
Cung Tử Tức
- Khi đắc địa, có chính tinh miếu vượng hoặc Hóa Khoa: Con cái chín chắn sớm, biết lo cho cha mẹ; quan hệ có chiều sâu hơn chiều vui.
- Khi hãm địa, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Chuyện con cái làm cha mẹ nghĩ ngợi, hoặc con đến muộn; nên chăm phần trò chuyện.
Cung Phu Thê
- Khi đắc địa, có chính tinh miếu vượng hoặc Hóa Khoa: Bạn đời điềm đạm, biết chia việc lúc khó, trải qua chuyện buồn rồi mới bền.
- Khi hãm địa, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Trong nhà hay có chuyện làm lòng nặng, dễ giận lâu; nên nói ra sớm.
Cung Huynh Đệ
- Khi đắc địa, có chính tinh miếu vượng hoặc Hóa Khoa: Anh chị em gắn bó qua những lúc nhà có việc, cùng lo việc họ hàng chu đáo.
- Khi hãm địa, gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ: Anh em ít gần, hoặc gặp nhau chủ yếu vào những dịp buồn.
Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Tang Môn an theo địa chi của năm sinh, phép an đếm nhẩm cũng ra: tìm cung mang tên chi tuổi, đó là cung Thái Tuế, rồi bước thêm đúng hai cung theo chiều thuận. Người tuổi Tý thì Tang Môn ở Dần, tuổi Hợi thì ở Sửu, tuổi Ngọ thì ở Thân. Không phụ thuộc tháng sinh, giờ sinh hay can năm, và vì đi theo tuổi nên cả đời không đổi một cung.
Tý
- Thái Tuế: Tý
- Tang Môn: Dần
- Bạch Hổ: Thân
Sửu
- Thái Tuế: Sửu
- Tang Môn: Mão
- Bạch Hổ: Dậu
Dần
- Thái Tuế: Dần
- Tang Môn: Thìn
- Bạch Hổ: Tuất
Mão
- Thái Tuế: Mão
- Tang Môn: Tỵ
- Bạch Hổ: Hợi
Thìn
- Thái Tuế: Thìn
- Tang Môn: Ngọ
- Bạch Hổ: Tý
Tỵ
- Thái Tuế: Tỵ
- Tang Môn: Mùi
- Bạch Hổ: Sửu
Ngọ
- Thái Tuế: Ngọ
- Tang Môn: Thân
- Bạch Hổ: Dần
Mùi
- Thái Tuế: Mùi
- Tang Môn: Dậu
- Bạch Hổ: Mão
Thân
- Thái Tuế: Thân
- Tang Môn: Tuất
- Bạch Hổ: Thìn
Dậu
- Thái Tuế: Dậu
- Tang Môn: Hợi
- Bạch Hổ: Tỵ
Tuất
- Thái Tuế: Tuất
- Tang Môn: Tý
- Bạch Hổ: Ngọ
Hợi
- Thái Tuế: Hợi
- Tang Môn: Sửu
- Bạch Hổ: Mùi
Cột thứ ba của bảng cho điều bất biến quan trọng nhất của sao này: Bạch Hổ luôn cách Tang Môn đúng sáu cung, tức luôn ở cung xung chiếu, không tuổi nào khác đi. Nhiều tài liệu viết chưa chặt khi nói Tang Môn "thường ở thế tam hợp hoặc xung chiếu với Bạch Hổ"; chạy đủ mười hai tuổi thì quan hệ ấy chỉ có một dạng duy nhất là xung chiếu. Bộ Tang Hổ vì thế luôn là một trục thẳng nối hai cung đối diện, chứ không phải một đám sao tụ một chỗ.
Vì phép an là ánh xạ một đối một từ mười hai chi sang mười hai cung, Tang Môn đi hết cả mười hai cung địa bàn, không chừa cung nào, và chạy đủ mười hai thế Tử Vi thì cả mười bốn chính tinh đều có thể đồng cung với nó. Nói cách khác, ai cũng có Tang Môn trong lá số của mình, ở đúng một cung, suốt đời. Riêng điều này đã đủ để bỏ cách hiểu Tang Môn là điềm báo tang chế.
Sáu điều bất biến của Tang Môn
- Luôn kề ngay sau Thiếu Dương và ngay trước Thiếu Âm. Thế giáp cố định ở mọi tuổi. Theo thuật toán an sao của trang, Thiên Không luôn đồng cung Thiếu Dương, nên một bên Tang Môn luôn là cặp Thiếu Dương với Thiên Không.
- Luôn bị Bạch Hổ xung chiếu, như đã nói ở trên, không có ngoại lệ.
- Luôn có Tuế Phá và Điếu Khách ở hai cung tam hợp. Tuế Phá cách bốn cung, Điếu Khách cách tám cung. Vì Thiên Hư luôn đồng cung Tuế Phá nên Thiên Hư cũng luôn tam hợp chiếu Tang Môn.
- Tam phương tứ chính của Tang Môn không có một đức tinh nào. Chạy đủ mười hai tuổi thì Long Đức cách năm cung, Phúc Đức cùng Thiên Đức cách bảy cung, Nguyệt Đức cùng Tử Phù cách ba cung; không sao nào trong bốn đức tinh ấy rơi vào cung đồng, cung xung, hai cung tam hợp hay hai cung giáp của Tang Môn. Đây là điều cần nói thẳng, vì nhiều bảng hợp kỵ vẫn ghi "gặp Long Đức, Phúc Đức thì giải" mà không nói rằng về mặt cấu trúc chúng không tới được.
- Thiên Mã luôn nằm trong tam phương tứ chính. Đồng cung ở bốn tuổi tứ chính Tý, Ngọ, Mão, Dậu; tam hợp chiếu ở tám tuổi còn lại. Không tuổi nào Thiên Mã ra ngoài tam phương của Tang Môn.
- Cô Thần đồng cung Tang Môn ở bốn tuổi Tý, Ngọ, Mão, Dậu, đúng bốn tuổi Thiên Mã cũng ngồi chung. Tổ hợp ấy đọc là đi xa, một mình, có việc phải lo.
Đắc địa ở đâu, và gặp Lộc Tồn Kình Đà ở tuổi nào
Tân Biên chép Tang Môn cùng Bạch Hổ khi đắc địa ở Dần, Thân, Mão, Dậu thì khí có phần mạnh mẽ bạo tợn nhưng vẫn mang nét bi thảm. Đối chiếu với phép an thì bốn vị trí ấy ứng với bốn tuổi rất dễ nhớ: tuổi Tý thì Tang Môn ở Dần, tuổi Sửu ở Mão, tuổi Ngọ ở Thân, tuổi Mùi ở Dậu. Nghĩa là chỉ người sinh năm Tý, Sửu, Ngọ, Mùi mới có Tang Môn đắc địa; tám tuổi còn lại thì Tang Môn ở đất thường hoặc hãm, và sách nói hãm địa thì phương hại đến công danh.
Với ba sao an theo can, quan hệ phụ thuộc hoa giáp. Chạy đủ sáu mươi hoa giáp thì Lộc Tồn đóng đúng cung Tang Môn ở bốn tuổi Giáp Tý, Ất Sửu, Canh Ngọ, Tân Mùi; Kình Dương ở sáu tuổi Bính Thìn, Mậu Thìn, Đinh Tỵ, Kỷ Tỵ, Nhâm Tuất, Quý Hợi; Đà La ở sáu tuổi Bính Dần, Mậu Dần, Đinh Mão, Kỷ Mão, Nhâm Thân, Quý Dậu. Bốn tuổi có Lộc Tồn ngồi cùng chính là bốn tuổi Tang Môn đang đắc địa: cái buồn có chỗ tựa vật chất, việc hiếu hỉ lo được chu toàn. Mười hai tuổi có Kình hoặc Đà ngồi cùng thì việc buồn hay đi kèm hao tổn thật.
Đặc Tính Và Ý Nghĩa Theo Thư Tịch
Theo Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, Tang Môn cùng Bạch Hổ là bại tinh, khi đắc địa ở Dần, Thân, Mão, Dậu thì khí có phần mạnh mẽ bạo tợn nhưng vẫn mang nét bi thảm. Sao này chủ gây tang thương, bệnh tật, làm hao hụt tài lộc; nếu hãm địa lại còn phương hại đến công danh.
Tang Môn không phải sao đại hung gây tai họa lớn, nhưng là dấu hiệu của buồn phiền, mất mát, những việc hiếu sự trong nhà. Khi đi cùng sát tinh và Hóa Kỵ thì cái buồn ấy nặng hơn.
Vị Trí Của Tang Môn Trong Vòng Thái Tuế
Vòng Thái Tuế là một trong bốn vòng phụ tinh của Đẩu Số, gồm đúng mười hai sao rải kín mười hai cung, mỗi cung nhận một sao. Vòng này đếm theo địa chi năm sinh: đặt Thái Tuế vào cung trùng chi tuổi rồi an thuận chiều kim đồng hồ lần lượt Thái Tuế, Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Phúc Đức, Điếu Khách, Trực Phù. Khác vòng Bác Sĩ có chiều thuận nghịch theo âm dương nam nữ, khác vòng Tràng Sinh khởi theo Cục, vòng Thái Tuế chỉ có một chiều thuận và một tham số là chi năm sinh, nên nó đi theo tuổi và cả đời cố định.
Nói vòng này chủ về cái gì bằng một câu thì đây là vòng của cái danh và cái tiếng ngoài xã hội. Vòng Bác Sĩ nói chuyện tiền nong và phận sự, vòng Tràng Sinh nói chuyện sinh trưởng suy tàn, còn vòng Thái Tuế nói chuyện người đời nhìn mình ra sao và mình phải lo việc gì với người. Nhìn danh sách thì rõ: Quan Phù là giấy tờ công đường, Tang Môn Bạch Hổ là hiếu hỉ tang chế, Long Đức Phúc Đức là được che chở. Vòng này lại có bản lưu theo chi năm xem, nên vừa là bản đồ cả đời vừa là bản đồ từng năm.
Tang Môn đứng ở vị trí thứ ba của vòng
Tang Môn ở vị trí thứ ba của vòng. Quan hệ vị trí của nó, tính bằng khoảng cách cố định nên đúng ở mọi tuổi:
- Đứng ngay trước: Thiếu Dương, kèm Thiên Không đồng cung theo thuật toán của trang.
- Đứng ngay sau: Thiếu Âm, tức Thiếu Âm.
- Ở cung xung chiếu: Bạch Hổ, luôn cách sáu cung, không tuổi nào khác đi.
- Hai sao ở tam hợp: Tuế Phá cách bốn cung, kèm Thiên Hư đồng cung; và Điếu Khách cách tám cung.
Xếp lại thì tam phương tứ chính của Tang Môn gồm Bạch Hổ xung chiếu, Tuế Phá cùng Thiên Hư tam hợp, Điếu Khách tam hợp, và trong tam phương ấy luôn có thêm Thiên Mã. Đây là bộ người xưa gọi là Tang Hổ Điếu Khách, và cần nói cho đúng: bốn góc ấy không phải do sao xấu tụ về, mà do cấu trúc an sao xếp sẵn từ lúc sinh, ai cũng có. Bảng dưới liệt kê đủ mười hai tuổi; ô in đậm màu đỏ là bốn vị trí đắc địa.
Tý
- Tang Môn: Dần
- Bạch Hổ xung chiếu: Thân
- Tuế Phá và Thiên Hư tam hợp: Ngọ
- Điếu Khách tam hợp: Tuất
- Thiên Mã: Dần
Sửu
- Tang Môn: Mão
- Bạch Hổ xung chiếu: Dậu
- Tuế Phá và Thiên Hư tam hợp: Mùi
- Điếu Khách tam hợp: Hợi
- Thiên Mã: Hợi
Dần
- Tang Môn: Thìn
- Bạch Hổ xung chiếu: Tuất
- Tuế Phá và Thiên Hư tam hợp: Thân
- Điếu Khách tam hợp: Tý
- Thiên Mã: Thân
Mão
- Tang Môn: Tỵ
- Bạch Hổ xung chiếu: Hợi
- Tuế Phá và Thiên Hư tam hợp: Dậu
- Điếu Khách tam hợp: Sửu
- Thiên Mã: Tỵ
Thìn
- Tang Môn: Ngọ
- Bạch Hổ xung chiếu: Tý
- Tuế Phá và Thiên Hư tam hợp: Tuất
- Điếu Khách tam hợp: Dần
- Thiên Mã: Dần
Tỵ
- Tang Môn: Mùi
- Bạch Hổ xung chiếu: Sửu
- Tuế Phá và Thiên Hư tam hợp: Hợi
- Điếu Khách tam hợp: Mão
- Thiên Mã: Hợi
Ngọ
- Tang Môn: Thân
- Bạch Hổ xung chiếu: Dần
- Tuế Phá và Thiên Hư tam hợp: Tý
- Điếu Khách tam hợp: Thìn
- Thiên Mã: Thân
Mùi
- Tang Môn: Dậu
- Bạch Hổ xung chiếu: Mão
- Tuế Phá và Thiên Hư tam hợp: Sửu
- Điếu Khách tam hợp: Tỵ
- Thiên Mã: Tỵ
Thân
- Tang Môn: Tuất
- Bạch Hổ xung chiếu: Thìn
- Tuế Phá và Thiên Hư tam hợp: Dần
- Điếu Khách tam hợp: Ngọ
- Thiên Mã: Dần
Dậu
- Tang Môn: Hợi
- Bạch Hổ xung chiếu: Tỵ
- Tuế Phá và Thiên Hư tam hợp: Mão
- Điếu Khách tam hợp: Mùi
- Thiên Mã: Hợi
Tuất
- Tang Môn: Tý
- Bạch Hổ xung chiếu: Ngọ
- Tuế Phá và Thiên Hư tam hợp: Thìn
- Điếu Khách tam hợp: Thân
- Thiên Mã: Thân
Hợi
- Tang Môn: Sửu
- Bạch Hổ xung chiếu: Mùi
- Tuế Phá và Thiên Hư tam hợp: Tỵ
- Điếu Khách tam hợp: Dậu
- Thiên Mã: Tỵ
So sánh với sao đứng liền trước nó thì thấy ngay ý nghĩa của vị trí. Thiếu Dương ở vị trí thứ hai có đủ bốn đức tinh chầu về tam phương tứ chính; Tang Môn ở vị trí thứ ba thì không có một đức tinh nào tới được, cả bốn góc đều là bại tinh. Hai cung đứng sát nhau trên địa bàn mà khí hoàn toàn trái nhau. Vì vậy cái đỡ cho Tang Môn không tìm ở vòng Thái Tuế mà phải tìm ở chính tinh miếu vượng đồng cung, ở Hóa Khoa, ở các sao giải như Giải Thần, hoặc Thiên Quan Thiên Phúc an theo can năm.
Tang Môn không nằm trong bảng Tứ Hóa, nhưng vẫn chịu Tứ Hóa
Bảng Tứ Hóa theo can năm chỉ gọi tên mười bốn chính tinh cùng Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, tùy phái thêm Thiên Phủ. Tang Môn không có tên trong bảng ấy ở bất kỳ can nào, nên tự nó không hóa Lộc Quyền Khoa Kỵ. Sách không lập cách hóa riêng cho sao này và bài này không bịa thêm. Nhưng nó chịu Tứ Hóa qua chính tinh đồng cung, và bốn hóa cho bốn sắc thái rất khác nhau:
- Hóa Khoa: hóa quý nhất với Tang Môn, làm cho việc buồn được lo chỉn chu và có danh dự. Người có Tang Môn gặp Hóa Khoa thường là người đứng ra lo việc hiếu trong họ và làm rất đâu ra đấy.
- Hóa Lộc: việc buồn có chỗ tựa vật chất, lo được chu toàn mà không kiệt sức. Ở cung Tài Bạch còn có thể là nghề nghiệp gắn với việc hiếu hỉ, tang lễ, y tế, chăm sóc người bệnh.
- Hóa Quyền: mình là người quyết trong những việc ấy, gánh nặng dồn về mình. Được việc nhưng mệt.
- Hóa Kỵ: thế nặng nhất và cũng là thế hay bị phán bừa nhất. Đọc đúng là cái buồn dính lại, khó nguôi, chuyện đã qua vẫn còn nghĩ, hoặc một việc hiếu hỉ kéo theo tranh chấp về sau. Đây là chỉ dấu để nói về tâm trạng và về việc phải lo, tuyệt đối không phải căn cứ để nói về sinh tử của ai.
Vì sao đọc Tang Môn thì phải đọc cả vòng
Tang Môn là cái tên dễ làm người ta dừng lại và sợ. Nhưng đọc cả vòng thì thấy nó chỉ là một mắt trong mười hai mắt xích, mỗi sao giữ một sắc thái cho một cung của đời người. Cung có Tang Môn chỉ nói rằng lĩnh vực ấy là chỗ mình phải lo việc buồn và việc hiếu hỉ của người khác, chứ không nói rằng lĩnh vực ấy hỏng. Chỉ cần biết tuổi chi là dựng được ngay bản đồ ấy, trước khi tra tới chính tinh.
Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
Trước khi đọc hai cột dưới, nhớ quy tắc về lực: đồng cung mạnh nhất vì hai khí trộn thẳng vào nhau, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn và mang tính hoàn cảnh, còn giáp hai bên là thế bao vây, mạnh với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Với Tang Môn phải nhớ thêm một tầng đã kiểm bằng máy: bốn đức tinh Long Đức, Phúc Đức, Thiên Đức, Nguyệt Đức không bao giờ vào được tam phương tứ chính của Tang Môn, nên cái đỡ phải tìm ở chính tinh, ở Tứ Hóa và ở các sao giải, chứ không tìm ở vòng Thái Tuế.
Tang Môn nhẹ đi khi gặp
- Chính tinh miếu vượng đồng cung (mọi chính tinh đều có thể): sao sáng lấn át được bại khí, đây là cái đỡ mạnh nhất và phổ biến nhất.
- Hóa Khoa (đồng cung mạnh nhất, xung chiếu vẫn có tác dụng): việc buồn được lo chu đáo, có danh dự; hóa hợp nhất với sao này.
- Hóa Lộc (đồng cung): việc buồn có chỗ tựa vật chất, lo được mà không kiệt sức.
- Giải Thần (đồng cung ở tuổi Thìn và tuổi Tuất, xung chiếu ở tuổi Sửu và tuổi Mùi, tam hợp ở tuổi Tý, Dần, Ngọ, Thân): sao giải thật sự tới được tam phương của Tang Môn, khác hẳn bốn đức tinh.
- Phượng Các (cùng vị trí với Giải Thần nên cùng những tuổi ấy): thêm nét trang nhã, làm cho việc hiếu hỉ được chỉn chu.
- Thiên Quan, Thiên Phúc (an theo can năm; Thiên Phúc đồng cung Tang Môn ở sáu tuổi Bính Tuất, Mậu Tý, Kỷ Sửu, Canh Thìn, Tân Mão, Đinh Dậu): hai phúc tinh nhỏ nhưng tới được thật.
- Lộc Tồn (đồng cung ở bốn tuổi Giáp Tý, Ất Sửu, Canh Ngọ, Tân Mùi, cũng đúng là bốn tuổi Tang Môn đắc địa): việc hiếu hỉ lo được chu toàn, hao mà không kiệt.
- Tuần, Triệt án ngữ (chặn cả cung): với một bại tinh thì bị chặn thường là điều mừng. Nhưng Tuần Triệt chặn cả cung chứ không chọn sao, phải xem cung ấy còn mang gì khác.
Tang Môn nặng thêm khi gặp
- Bạch Hổ (luôn xung chiếu ở mọi tuổi, không bao giờ đồng cung): cùng là bại tinh, khí tang thương nặng thêm. Vì không né được nên chỉ tính nặng hay nhẹ, tùy cung ấy có chính tinh sáng hay không.
- Điếu Khách (luôn tam hợp chiếu ở mọi tuổi): hội thành điềm tang điếu rõ hơn. Lực nhẹ hơn xung chiếu vì là đường tam hợp.
- Tuế Phá và Thiên Hư (luôn tam hợp chiếu, hai sao này đồng cung nhau): thêm sắc đổ vỡ và trống rỗng cho tam phương.
- Hóa Kỵ (đồng cung mạnh nhất): cái buồn dính lại, khó nguôi; hoặc một việc hiếu hỉ kéo theo tranh chấp về sau.
- Kình Dương (đồng cung ở sáu tuổi Bính Thìn, Mậu Thìn, Đinh Tỵ, Kỷ Tỵ, Nhâm Tuất, Quý Hợi): việc buồn đến gấp và sắc, hao tổn thấy ngay.
- Đà La (đồng cung ở sáu tuổi Bính Dần, Mậu Dần, Đinh Mão, Kỷ Mão, Nhâm Thân, Quý Dậu): việc buồn dây dưa, kéo dài không dứt.
- Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung, khả dĩ ở mọi tuổi): chuyện đến đột ngột, tâm trạng lên xuống thất thường.
- Thiên Mã (luôn trong tam phương tứ chính, đồng cung ở bốn tuổi Tý, Ngọ, Mão, Dậu) cùng Cô Thần (đồng cung đúng bốn tuổi ấy): tổ hợp đi xa, một mình, có việc phải lo. Không phải điềm dữ, nhưng là chỉ dấu nên thu xếp để không phải xoay xở một mình.
- Long Đức, Phúc Đức, Thiên Đức, Nguyệt Đức (không bao giờ vào tam phương tứ chính của Tang Môn): ghi vào đây để quý vị khỏi đi tìm. Bốn đức tinh này thường được nêu như thuốc giải, nhưng chạy đủ mười hai tuổi thì chúng luôn nằm ngoài cung đồng, cung xung, hai cung tam hợp và hai cung giáp.
Tóm lại, cùng một sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho kết quả khác nhau, và với Tang Môn còn thêm hai tầng cố định đã kiểm bằng máy: Bạch Hổ luôn xung chiếu chứ không bao giờ đồng cung, còn bốn đức tinh thì vĩnh viễn không vào tam phương tứ chính của nó. Đọc hai cột trên phải đọc kèm vị thế ghi trong ngoặc, và luôn xét cả cung lẫn đại vận lưu niên.
Tang Môn Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Tang Môn bản mệnh cố định cả đời ở đúng một cung, nên tự nó không nói được chuyện năm nào. Muốn trả lời câu hỏi về thời gian phải xét ba tầng chồng lên nhau: đại vận mười năm, lưu niên một năm, và bản lưu của chính vòng Thái Tuế. Phần lớn nỗi sợ về Tang Môn sinh ra từ chỗ đem một sao cố định của cả đời ra đọc như điềm báo của năm nay.
Đại vận đi vào cung có Tang Môn
Mười năm đại vận đóng vào cung có Tang Môn bản mệnh thường là mười năm mình đứng ở vai người phải lo: lo cho cha mẹ già, lo việc hiếu hỉ trong họ, lo cho người ốm trong nhà, hoặc làm một nghề mà công việc chính là có mặt lúc người khác khó. Cung ấy đắc địa, có chính tinh miếu vượng, có Hóa Khoa hoặc Lộc Tồn thì đây là vận trưởng thành: người ta chín lên vì gánh vác và được cả họ tin cậy từ đó.
Nếu cung ấy hãm địa, có Kình Đà Hỏa Linh hoặc Hóa Kỵ thì mười năm ấy nặng thật, và cái nặng chủ yếu nằm ở sức bền tinh thần chứ không phải ở một biến cố. Thầy dặn khách đang ở đại vận này ba việc: một là giữ giấc ngủ và khám sức khỏe định kỳ, vì lo nghĩ lâu ngày mới là chỗ hao thật; hai là chia việc ra cho người khác thay vì ôm hết, nhất là việc của họ hàng; ba là giữ một khoản dự phòng riêng cho việc bất ngờ của người thân. Ba việc ấy xử lý đúng thứ mà sao này nói tới.
Tang Môn có bản lưu niên, vì nó thuộc vòng Thái Tuế
Trong bốn vòng phụ tinh, vòng Thái Tuế và vòng Bác Sĩ có bản lưu theo năm xem, còn vòng Tràng Sinh thì không, vì vòng ấy khởi theo Cục chứ không theo can chi; các sao an theo tháng sinh và giờ sinh cũng không có bản lưu. Vòng Thái Tuế lưu được vì tham số của nó là địa chi, mà mỗi năm lại có một địa chi mới: lấy chi của năm đang xem đặt lưu Thái Tuế rồi an thuận đủ mười hai sao, nên lưu Tang Môn luôn ở cung cách chi năm xem hai cung theo chiều thuận, và lưu Bạch Hổ luôn ở cung đối diện lưu Tang Môn.
2026 Bính Ngọ
- Lưu Tang Môn tại: Thân
- Lưu Bạch Hổ tại: Dần
- Tuổi có lưu Tang Môn về đúng cung Tang Môn bản mệnh: tuổi Ngọ
- Tuổi có lưu Bạch Hổ đè lên cung Tang Môn bản mệnh: tuổi Tý
2027 Đinh Mùi
- Lưu Tang Môn tại: Dậu
- Lưu Bạch Hổ tại: Mão
- Tuổi có lưu Tang Môn về đúng cung Tang Môn bản mệnh: tuổi Mùi
- Tuổi có lưu Bạch Hổ đè lên cung Tang Môn bản mệnh: tuổi Sửu
2028 Mậu Thân
- Lưu Tang Môn tại: Tuất
- Lưu Bạch Hổ tại: Thìn
- Tuổi có lưu Tang Môn về đúng cung Tang Môn bản mệnh: tuổi Thân
- Tuổi có lưu Bạch Hổ đè lên cung Tang Môn bản mệnh: tuổi Dần
2029 Kỷ Dậu
- Lưu Tang Môn tại: Hợi
- Lưu Bạch Hổ tại: Tỵ
- Tuổi có lưu Tang Môn về đúng cung Tang Môn bản mệnh: tuổi Dậu
- Tuổi có lưu Bạch Hổ đè lên cung Tang Môn bản mệnh: tuổi Mão
2030 Canh Tuất
- Lưu Tang Môn tại: Tý
- Lưu Bạch Hổ tại: Ngọ
- Tuổi có lưu Tang Môn về đúng cung Tang Môn bản mệnh: tuổi Tuất
- Tuổi có lưu Bạch Hổ đè lên cung Tang Môn bản mệnh: tuổi Thìn
2031 Tân Hợi
- Lưu Tang Môn tại: Sửu
- Lưu Bạch Hổ tại: Mùi
- Tuổi có lưu Tang Môn về đúng cung Tang Môn bản mệnh: tuổi Hợi
- Tuổi có lưu Bạch Hổ đè lên cung Tang Môn bản mệnh: tuổi Tỵ
2032 Nhâm Tý
- Lưu Tang Môn tại: Dần
- Lưu Bạch Hổ tại: Thân
- Tuổi có lưu Tang Môn về đúng cung Tang Môn bản mệnh: tuổi Tý
- Tuổi có lưu Bạch Hổ đè lên cung Tang Môn bản mệnh: tuổi Ngọ
2033 Quý Sửu
- Lưu Tang Môn tại: Mão
- Lưu Bạch Hổ tại: Dậu
- Tuổi có lưu Tang Môn về đúng cung Tang Môn bản mệnh: tuổi Sửu
- Tuổi có lưu Bạch Hổ đè lên cung Tang Môn bản mệnh: tuổi Mùi
Hai cột cuối cho hai quy tắc rất gọn, đều tính được chứ không phải nhớ. Lưu Tang Môn về đúng cung Tang Môn bản mệnh vào năm có chi trùng chi năm sinh, tức đúng năm bản mệnh, mười hai năm một lần. Lưu Bạch Hổ đè lên cung Tang Môn bản mệnh vào năm có chi xung với chi năm sinh, tức đúng năm xung Thái Tuế, cũng mười hai năm một lần và cách năm kia đúng sáu năm. Hai năm ấy là hai năm mà trục Tang Hổ lưu chồng khít lên trục Tang Hổ bản mệnh.
Nói cho thật rõ, vì đây là chỗ hay bị dùng để dọa người: hai năm ấy không phải hai năm có tang. Trên lá số thật, cái hay gặp là năm có việc hiếu hỉ trong họ phải đứng ra lo, năm phải thăm nom bệnh tật, năm tâm trạng nặng và ngủ kém. Đó là những việc một đời người ai cũng đi qua nhiều lần. Cách dùng đúng của bảng trên là sắp lịch trước: chủ động đưa cha mẹ đi khám, chuẩn bị một khoản dự phòng, giữ lịch làm việc có khoảng trống.
Các lưu sao khác chạm vào cung Tang Môn
- Lưu Hóa Khoa (theo can năm xem): việc buồn được lo chu đáo và được ghi nhận, thế đẹp nhất.
- Lưu Hóa Kỵ: cái buồn dính lại lâu hơn; năm nên bớt ôm việc và bớt tự trách.
- Lưu Kình Dương, lưu Đà La: rơi vào cung Tang Môn thì hao tổn thấy rõ hơn, việc đến gấp hoặc kéo dài; nên có dự phòng.
- Lưu Thiên Khốc, lưu Thiên Hư (theo chi năm xem): cộng hưởng đúng chiều, năm ấy tâm trạng là thứ phải giữ nhất.
- Lưu Thiên Mã: việc phải lo thường ở xa, hoặc phải đi lại nhiều vì việc của người thân.
Thầy vẫn nhắc: một năm không xấu vì một sao. Cách làm đúng là xếp chồng ba tầng cung Mệnh, cung đại vận, cung lưu niên rồi đếm xem có bao nhiêu sao cùng chiều. Riêng với Tang Môn, còn phải thêm một câu nữa: dù ba tầng có cùng chiều thì kết luận cũng chỉ dừng ở khuynh hướng và lời dặn giữ gìn, không bao giờ là lời phán về sinh tử của bất kỳ ai.
Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Tang Môn
Với một sao mang tên như Tang Môn thì đây là mục quan trọng nhất của cả bài. Xin nói ngay: Tang Môn là một phụ tinh nhỏ, và không bao giờ được phán họa từ một sao.
Một: Tang Môn không phải điềm tang chế
Chữ tang trong tên sao khiến rất nhiều người đọc thành lời báo trước về cái chết. Cấu trúc bác bỏ cách hiểu ấy ngay lập tức: Tang Môn an theo chi năm sinh nên ai cũng có một sao Tang Môn trong lá số, ở đúng một cung, suốt đời không đổi. Nếu Tang Môn là điềm tang chế thì cả nhân loại đang mang điềm ấy từ lúc lọt lòng tới lúc nhắm mắt. Điều sách chép là Tang Môn cùng Bạch Hổ thuộc loại bại tinh, chủ gây tang thương, bệnh tật, hao hụt tài lộc, hãm địa thì phương hại công danh. Đọc đúng chữ thì đây là sao của khí buồn và sự hao, không phải sao của sự kiện tang lễ.
Hai: đây là sao của việc buồn và việc hiếu hỉ phải lo
Sau nhiều năm đối chiếu lá số thật, cách đọc mà Thầy thấy đúng nhất và cũng ít gây hại nhất là: Tang Môn nói về việc buồn phải lo, việc hiếu hỉ phải đứng ra, và về khuynh hướng nghĩ ngợi của người ta. Cung có Tang Môn là chỗ mình được giao vai người lo: lo đám hiếu trong họ, lo người ốm trong nhà, lo phần nghi lễ, lo phần an ủi. Rất nhiều người có Tang Môn nổi bật làm nghề y, điều dưỡng, tang lễ, công tác xã hội, tôn giáo, và họ làm rất tốt vì chịu được không khí ấy trong khi người khác thì không. Đó là một năng lực, không phải một cái nạn.
Ba: phải xét cả cung lẫn đại vận lưu niên, không đọc sao lẻ
Tang Môn bản mệnh cố định cả đời nên tự nó không nói được năm nào cả. Muốn nói tới một giai đoạn thì phải có đủ bốn tầng cùng chiều: cung ấy hãm địa hoặc chính tinh không sáng; cung ấy có sát tinh hoặc Hóa Kỵ; đại vận đang đóng vào đó; và lưu niên có lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ hoặc lưu Kỵ chạm tới. Thiếu một tầng thì chỉ nói được khuynh hướng. Và ngay cả khi đủ bốn tầng, kết luận đúng mực vẫn là lời dặn giữ gìn sức khỏe, thu xếp việc nhà, giữ tinh thần, chứ không phải một lời tiên đoán về người thân. Người luận mà vượt qua ranh giới ấy là đang làm hại người nghe.
Bốn: quan hệ với Bạch Hổ chỉ có một dạng duy nhất
Nhiều tài liệu viết Tang Môn "thường ở thế tam hợp hoặc xung chiếu với Bạch Hổ", hoặc cảnh báo trường hợp Tang Hổ đồng cung. Chạy đủ mười hai tuổi bằng thuật toán an sao thì Bạch Hổ luôn cách Tang Môn đúng sáu cung, tức chỉ có một dạng duy nhất là xung chiếu; hai sao không bao giờ đồng cung và cũng không bao giờ tam hợp. Một hiểu lầm cùng loại là bảng hợp kỵ ghi Long Đức, Phúc Đức, Thiên Đức, Nguyệt Đức giải được Tang Môn: bốn đức tinh ấy không bao giờ vào tam phương tứ chính của nó. Cái đỡ thật nằm ở chính tinh miếu vượng, Hóa Khoa, Giải Thần và Thiên Quan Thiên Phúc. Đây là loại đính chính chỉ thấy được khi chạy máy.
Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải
Tang Môn không phải sao cần trấn yểm, và Thầy đặc biệt không tán thành việc lấy tên sao này ra để bán lễ giải hạn. Đây là sao nói về việc buồn phải lo, mà việc buồn không hóa giải bằng lễ, chỉ hóa giải bằng chuẩn bị và sức bền.
Chuẩn bị trước ba việc rất cụ thể
Người có Tang Môn nổi bật ở Mệnh, Phụ Mẫu, Tật Ách hoặc Phúc Đức nên làm sẵn ba việc, và làm khi chưa có chuyện gì. Một, lịch khám định kỳ cho cha mẹ và cho chính mình, ghi vào lịch chứ đừng để nhớ trong đầu. Hai, một khoản dự phòng riêng, không lớn cũng được, nhưng phải tách bạch, dành cho việc bất ngờ của người thân. Ba, một danh sách người có thể nhờ. Ba việc ấy biến phần lớn cái người ta gọi là hạn Tang Môn thành việc đã có phương án.
Giữ tinh thần là giữ đúng chỗ sao này đánh vào
Cái hao thật của Tang Môn hiếm khi là một biến cố lớn; nó là chuỗi ngày lo nghĩ và ngủ kém kéo dài, rồi mới sinh mệt mỏi và bệnh. Lời khuyên hiệu quả nhất vì thế cũng là lời đời thường nhất: giữ giờ ngủ, đi bộ mỗi ngày, có một người để nói chuyện thật, có một việc đều đặn để làm. Với người hay nghĩ ngợi về chuyện đã qua, Thầy hay dặn thêm một việc: viết ra rồi gấp lại, mỗi tối viết ba dòng về điều làm mình nặng lòng. Nghe rất nhỏ nhưng nó cắt được vòng lặp trong đầu.
Dùng Tang Môn như một nghề, nếu nó đậm
Người chịu được không khí của mất mát và biết an ủi người khác là người hiếm. Nếu Tang Môn nổi bật ở Mệnh hoặc Quan Lộc, hãy nghĩ tới những nghề mà năng lực ấy được trả công: y tế, điều dưỡng, chăm sóc người già, tang lễ, bảo hiểm, công tác xã hội, tư vấn tâm lý. Đây không phải lời nói cho êm tai, đó là cách dùng đúng cái lá số đã trao. Sao không quyết định đời người, nó chỉ cho biết mình có gì trong tay.
Phong thủy bổ trợ, ghi rõ là gợi ý chung: những việc dưới đây thuộc loại điều chỉnh nếp sống và bài trí, không phải trấn yểm, không thay thế được nỗ lực của bản thân và cũng không sửa được lá số. Giữ phòng ngủ thoáng và đủ tối, hạn chế xem tin tức nặng trước giờ ngủ. Chỗ thờ tự trong nhà nên gọn gàng sáng sủa và lau dọn đều đặn, vì nếp thờ tự chu đáo giúp lòng yên hơn bất kỳ vật phẩm nào. Trong nhà nên có cây xanh và ánh sáng tự nhiên vào buổi sáng. Đây là gợi ý chung cho mọi người; ai muốn chỉnh theo đúng lá số của mình thì nên xem cung Điền Trạch và cung Phúc Đức rồi hãy quyết.
Lời cuối của mục này, cũng là câu Thầy hay nói khi khách mở lá số ra và giật mình vì thấy chữ Tang Môn: ai rồi cũng có lúc phải làm người đứng ra lo, lá số chỉ nói cho biết chỗ ấy nằm ở đâu trong đời mình để mà chuẩn bị.
Câu hỏi thường gặp
Tang Môn là một bại tinh trong vòng Thái Tuế của Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Mộc. Cùng với Bạch Hổ, sao này chủ những việc buồn thương, tang điếu, hiếu hỉ và sự hao tổn, là dấu hiệu cần lưu ý nhất là trong lưu niên.
Tang Môn được an cách Thái Tuế hai cung theo chiều thuận, thường ở thế liên quan với Bạch Hổ. Cả vòng an theo chi năm sinh nên vị trí Tang Môn cố định theo tuổi.
Tang Môn không phải đại hung gây tai họa lớn, mà là dấu hiệu buồn phiền, mất mát, việc hiếu sự. Có phúc tinh như Long Đức, Phúc Đức, Hóa Khoa cùng cung thì cái buồn được hóa giải nhiều, nên không cần hoang mang.
Năm gặp lưu Tang Môn ở cung quan trọng nên lưu ý sức khỏe người thân, việc hiếu hỉ và giữ tinh thần ổn định, nhất là ở cung Phụ Mẫu và Tật Ách. Vẫn cần xem cả lá số và bộ sao lưu niên.
Không. Tang Môn an theo chi năm sinh nên ai cũng có một sao Tang Môn trong lá số, ở đúng một cung, suốt đời không đổi; nếu nó là điềm tang chế thì cả đời ai cũng đang mang điềm ấy. Sách chép Tang Môn cùng Bạch Hổ là bại tinh, chủ gây tang thương bệnh tật, làm hao hụt tài lộc, hãm địa thì phương hại công danh. Cách đọc đúng là sao của việc buồn phải lo, việc hiếu hỉ phải đứng ra và khuynh hướng nghĩ ngợi, chứ không phải lời báo trước về sự việc; và không bao giờ được phán họa từ một phụ tinh nhỏ.
Không. Tang Môn đứng vị trí thứ ba của vòng Thái Tuế, Bạch Hổ đứng vị trí thứ chín, nên hai sao luôn cách nhau đúng sáu cung ở cả mười hai tuổi. Quan hệ giữa chúng vì thế chỉ có một dạng duy nhất là xung chiếu; không bao giờ đồng cung và cũng không bao giờ tam hợp. Những tài liệu ghi Tang Hổ đồng cung hoặc tam hợp là chép theo trí nhớ chứ chưa chạy thử đủ mười hai tuổi.
Lưu Tang Môn an theo chi của năm đang xem, cách chi ấy hai cung theo chiều thuận. Vì thế lưu Tang Môn về đúng cung Tang Môn bản mệnh vào năm có chi trùng chi năm sinh, tức đúng năm bản mệnh, mười hai năm một lần; còn lưu Bạch Hổ đè lên cung Tang Môn bản mệnh vào năm có chi xung với chi năm sinh. Hai năm ấy không phải hai năm có tang, mà thường là năm có việc hiếu hỉ phải lo, phải thăm nom bệnh tật, tâm trạng nặng hơn. Cách dùng đúng là sắp lịch trước chứ không phải lo sợ.
Chạy đủ mười hai tuổi thì bốn đức tinh Long Đức, Phúc Đức, Thiên Đức, Nguyệt Đức không bao giờ vào được tam phương tứ chính của Tang Môn, nên không thể coi chúng là thuốc giải dù nhiều bảng hợp kỵ vẫn ghi như vậy. Cái đỡ thật nằm ở chính tinh miếu vượng đồng cung, ở Hóa Khoa và Hóa Lộc tới qua chính tinh, ở Giải Thần và Phượng Các đồng cung với Tang Môn ở tuổi Thìn và tuổi Tuất, và ở Thiên Quan Thiên Phúc an theo can năm. Lộc Tồn đóng đúng cung Tang Môn ở bốn tuổi Giáp Tý, Ất Sửu, Canh Ngọ, Tân Mùi, cũng đúng bốn tuổi Tang Môn đắc địa.