Tử Vi

Sao Tấu Thư: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung

Tìm hiểu sao Tấu Thư trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.

Đạo Quán26 phút đọc

Tổng quan về sao Tấu Thư

Tấu Thư là sao thứ sáu của vòng Bác Sĩ, gắn với việc tấu sớ, văn thư trình lên trên. Đây là một sao thiên về văn, chủ giấy tờ, văn bằng, thi cử, lợi cho học hành và con đường công danh bằng chữ nghĩa.

  • Ngũ hành: Kim
  • Nhóm: Vòng Bác Sĩ
  • Cách an: Theo sao Lộc Tồn
  • Cai quản: văn thư, giấy tờ, thi cử
  • Tính chất: Văn thư, thi cử

Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.

Ý nghĩa tại cung Mệnh

  • Khi chính tinh sáng, có Khoa hoặc văn tinh đỡ: Người chỉn chu, nói có sách mách có chứng, giấy tờ đâu ra đấy; hợp mọi nghề mà chữ ký và hồ sơ là công cụ chính.
  • Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Tuần Triệt, Không Kiếp: Câu nệ hình thức, sa vào tiểu tiết, việc lớn chậm vì lo thủ tục; hoặc hay sai sót ở chính chỗ mình tưởng đã kỹ.

Ý nghĩa ở các cung khác

Đối chiếu ý nghĩa của Tấu Thư với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.

Cung Phụ Mẫu

  • Khi chính tinh sáng, có Khoa hoặc văn tinh đỡ: Cha mẹ có học hoặc trọng việc học, giấy tờ của bậc trên rõ ràng; con cái được hưởng nếp học.
  • Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Tuần Triệt, Không Kiếp: Giấy tờ của bậc trên hay dở dang: hộ khẩu, hưu trí, thừa kế, bảo hiểm; nên giúp hoàn tất sớm khi còn thuận tiện.

Cung Phúc Đức

  • Khi chính tinh sáng, có Khoa hoặc văn tinh đỡ: Tinh thần ham học, thích đọc, trọng chữ nghĩa; niềm vui đến từ việc hiểu ra một điều mới.
  • Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Tuần Triệt, Không Kiếp: Nghĩ nhiều, hay soạn sẵn lời trong đầu, khó ngủ vì việc chưa xong trên giấy; cần đặt giờ ngừng làm việc.

Cung Điền Trạch

  • Khi chính tinh sáng, có Khoa hoặc văn tinh đỡ: Giấy tờ nhà đất đầy đủ, sang tên thuận; trong nhà có chỗ để sách vở, hồ sơ được cất gọn.
  • Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Tuần Triệt, Không Kiếp: Sổ đỏ, hợp đồng thuê, thủ tục xây sửa hay trục trặc; nên rà lại giấy tờ nhà trước khi tính chuyện mua bán.

Cung Quan Lộc

  • Khi chính tinh sáng, có Khoa hoặc văn tinh đỡ: Đây là cung Tấu Thư đắc dụng nhất: hợp hành chính, văn phòng, pháp chế, giáo dục, xuất bản, nghiên cứu, thư ký, kiểm toán; công danh đi lên bằng văn bằng và hồ sơ.
  • Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Tuần Triệt, Không Kiếp: Công việc ngập thủ tục, làm nhiều báo cáo mà ít kết quả thật; hoặc thăng tiến bị chặn vì thiếu một loại giấy tờ.

Cung Nô Bộc

  • Khi chính tinh sáng, có Khoa hoặc văn tinh đỡ: Bạn bè có người trong ngành hành chính, học thuật, luật; khi cần giấy tờ luôn có người chỉ đường.
  • Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Tuần Triệt, Không Kiếp: Dính giấy tờ vì người quen: ký bảo lãnh, đứng tên hộ, làm chứng; đây là chỗ hay sinh chuyện nhất của Tấu Thư.

Cung Thiên Di

  • Khi chính tinh sáng, có Khoa hoặc văn tinh đỡ: Ra ngoài được tiếng có học, dễ được mời phát biểu, viết bài, đại diện; đi xa vì việc học hoặc việc hồ sơ đều thuận.
  • Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Tuần Triệt, Không Kiếp: Ra ngoài dễ vướng thủ tục: giấy tờ đi lại, visa, đăng ký, hợp đồng ngoại tỉnh; cần chuẩn bị trước gấp đôi thời gian.

Cung Tật Ách

  • Khi chính tinh sáng, có Khoa hoặc văn tinh đỡ: Ít bệnh nặng; hồ sơ sức khỏe rõ ràng, khám định kỳ đều nên phát hiện sớm.
  • Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Tuần Triệt, Không Kiếp: Hay mệt vì lao tâm, mắt và cổ vai gáy dễ mỏi do làm việc với chữ; giấy tờ bảo hiểm và viện phí dễ rắc rối.

Cung Tài Bạch

  • Khi chính tinh sáng, có Khoa hoặc văn tinh đỡ: Tiền vào bằng hợp đồng, bằng nghề chữ nghĩa, bằng hoa hồng môi giới; thu nhập có giấy trắng mực đen nên bền.
  • Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Tuần Triệt, Không Kiếp: Tiền vướng ở giấy tờ: hợp đồng thiếu điều khoản, thanh toán chậm vì thủ tục, hoặc mất tiền vì ký mà không đọc kỹ.

Cung Tử Tức

  • Khi chính tinh sáng, có Khoa hoặc văn tinh đỡ: Con cái sáng dạ, hợp đường học, thi cử thuận; cha mẹ nên đầu tư vào việc học của con.
  • Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Tuần Triệt, Không Kiếp: Con học hành trục trặc về mặt thủ tục hơn là năng lực: hồ sơ, chuyển trường, xét tuyển; hoặc học giỏi mà thi không gặp thời.

Cung Phu Thê

  • Khi chính tinh sáng, có Khoa hoặc văn tinh đỡ: Bạn đời có học, trọng chữ nghĩa, hai bên hợp nhau ở chỗ nói chuyện được; hôn thú và giấy tờ chung suôn sẻ.
  • Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Tuần Triệt, Không Kiếp: Thủ tục hôn nhân hoặc giấy tờ chung có trục trặc, chậm trễ; hoặc hai bên hay tranh nhau bằng lời lẽ và bằng chứng cũ.

Cung Huynh Đệ

  • Khi chính tinh sáng, có Khoa hoặc văn tinh đỡ: Anh em có người học hành đến nơi, hoặc làm nghề giấy tờ; việc chung trong nhà có người ghi chép rõ ràng.
  • Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Tuần Triệt, Không Kiếp: Giấy tờ chung với anh em dễ lằng nhằng, nhất là thừa kế và đứng tên; nên làm rõ bằng văn bản từ sớm.

Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc

Tấu Thư không có phép an riêng. Nó là mắt thứ sáu của một chuỗi mười hai mắt gọi là vòng Bác Sĩ. Phép an gồm ba bước. Bước một, lấy thiên can năm sinh mà định vị Lộc Tồn. Bước hai, đặt Bác Sĩ ngay tại cung Lộc Tồn rồi đếm tiếp Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ. Bước ba, chọn chiều: người dương nam và âm nữ đếm thuận, người âm nam và dương nữ đếm nghịch. Can dương là Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm; can âm là Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý.

Từ đó rút ra điều cốt lõi: Tấu Thư đứng thứ sáu, tức cách Bác Sĩ năm nhịp, mà Bác Sĩ nằm đúng cung Lộc Tồn, cho nên Tấu Thư luôn cách Lộc Tồn đúng năm cung khi đếm thuận và bảy cung khi đếm nghịch. Chạy máy đủ mười can nhân hai chiều thì khoảng cách ấy chỉ nhận hai giá trị là 5 và 7. Điều đáng nói là cả năm lẫn bảy đều không phải quan hệ nào cả: không phải không cung để thành đồng cung, không phải bốn hay tám để thành tam hợp, không phải sáu để thành xung chiếu. Vậy Tấu Thư và Lộc Tồn vĩnh viễn không nhìn thấy nhau. Tờ sớ và kho lương ở hai nơi khác nhau, đó là hình rất đúng với công việc giấy tờ.

Bảng dưới trải đủ mười tuổi can kèm cả hai chiều đếm, để quý vị đối chiếu thẳng với lá số của mình.

Giáp (can dương)

  • Lộc Tồn tại: Dần
  • Tấu Thư khi đếm thuận (dương nam, âm nữ): Mùi
  • Tấu Thư khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ): Dậu

Ất (can âm)

  • Lộc Tồn tại: Mão
  • Tấu Thư khi đếm thuận (dương nam, âm nữ): Thân
  • Tấu Thư khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ): Tuất

Bính (can dương)

  • Lộc Tồn tại: Tỵ
  • Tấu Thư khi đếm thuận (dương nam, âm nữ): Tuất
  • Tấu Thư khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ): Tý

Đinh (can âm)

  • Lộc Tồn tại: Ngọ
  • Tấu Thư khi đếm thuận (dương nam, âm nữ): Hợi
  • Tấu Thư khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ): Sửu

Mậu (can dương)

  • Lộc Tồn tại: Tỵ
  • Tấu Thư khi đếm thuận (dương nam, âm nữ): Tuất
  • Tấu Thư khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ): Tý

Kỷ (can âm)

  • Lộc Tồn tại: Ngọ
  • Tấu Thư khi đếm thuận (dương nam, âm nữ): Hợi
  • Tấu Thư khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ): Sửu

Canh (can dương)

  • Lộc Tồn tại: Thân
  • Tấu Thư khi đếm thuận (dương nam, âm nữ): Sửu
  • Tấu Thư khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ): Mão

Tân (can âm)

  • Lộc Tồn tại: Dậu
  • Tấu Thư khi đếm thuận (dương nam, âm nữ): Dần
  • Tấu Thư khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ): Thìn

Nhâm (can dương)

  • Lộc Tồn tại: Hợi
  • Tấu Thư khi đếm thuận (dương nam, âm nữ): Thìn
  • Tấu Thư khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ): Ngọ

Quý (can âm)

  • Lộc Tồn tại: Tý
  • Tấu Thư khi đếm thuận (dương nam, âm nữ): Tỵ
  • Tấu Thư khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ): Mùi

Nhưng Tấu Thư lại dính chặt vào hai sao đứng gác kho, là Kình Dương và Đà La, và đây mới là quan hệ quan trọng nhất của sao này. Kình Dương luôn ở cung liền sau Lộc Tồn, Đà La luôn ở cung liền trước. Tấu Thư cách Lộc Tồn năm cung khi thuận, nên cách Kình Dương bốn cung và cách Đà La sáu cung: tam hợp Kình Dương, xung chiếu Đà La. Khi nghịch thì đảo lại: cách Kình Dương sáu cung và cách Đà La tám cung, tức xung chiếu Kình Dương, tam hợp Đà La. Kết luận bất biến cho mọi lá số: Tấu Thư luôn có một trong hai sao Kình Đà trong tam hợp và sao còn lại ở ngay đối cung, không bao giờ thoát cả hai, cũng không bao giờ đồng cung với sao nào trong hai sao ấy.

Còn một hệ quả nữa về phạm vi. Lộc Tồn không bao giờ đóng bốn cung mộ khố, nhưng Tấu Thư dịch khỏi Lộc Tồn năm cung, mà năm nhịp là bước nhảy đổi nhóm địa chi. Gộp cả hai chiều lại thì Tấu Thư tới đủ mười hai cung, không cung nào bị cấm, và vì mười bốn chính tinh cũng đi khắp mười hai cung tùy thế Tử Vi nên không có chính tinh nào bị cấm đồng cung với Tấu Thư. Cái ràng buộc của sao này không nằm ở chỗ nó không được gặp ai, mà nằm ở hai cái tên nó buộc phải gặp.

Những điều bất biến của Tấu Thư

  • Tới đủ mười hai cung, không cung nào bị cấm.
  • Không bao giờ gặp Lộc Tồn bằng bất cứ đường nào: khoảng cách chỉ nhận năm hoặc bảy cung, không phải đồng cung, không tam hợp, không xung chiếu.
  • Luôn dính cả hai sao Kình Đà nhưng theo hai kiểu khác nhau: người đếm thuận thì tam hợp Kình Dương và xung chiếu Đà La; người đếm nghịch thì xung chiếu Kình Dương và tam hợp Đà La. Không bao giờ đồng cung với Kình hay Đà.
  • Luôn xung chiếu Quan Phủ, sao thứ mười hai của vòng, cách Tấu Thư đúng sáu nhịp.
  • Luôn tam hợp Lực Sĩ và Đại Hao, hai sao cách Tấu Thư bốn và tám nhịp.
  • Luôn bị Tướng Quân và Phi Liêm giáp hai bên, vì hai sao ấy đứng liền trước và liền sau trong vòng.
  • Mọi chính tinh đều có thể đồng cung với Tấu Thư, không sao nào bị loại.

Đọc tới đây quý vị đã thấy chân dung của sao này hiện ra từ chính cấu trúc, chưa cần tới ý nghĩa nào. Tấu Thư là người viết tờ trình: không giữ kho, nhưng ngồi giữa hai lưỡi dao và nhìn thẳng vào cửa quan. Đó là mô tả rất đúng của công việc giấy tờ trong đời thật: người làm hồ sơ không cầm tiền, nhưng mọi tranh chấp và mọi hình phạt đều đi qua tay họ.

Vị Trí Trong Lá Số Và Cách An Rút Gọn

Vòng Bác Sĩ gồm mười hai sao an theo sao Lộc Tồn. Bác Sĩ luôn đứng cùng cung với Lộc Tồn, rồi lần lượt Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ được an theo chiều thuận với người dương nam âm nữ và nghịch với người âm nam dương nữ.

Trong vòng mười hai sao, Tấu Thư giữ vị trí cố định theo thứ tự. Biết Bác Sĩ (cùng cung Lộc Tồn) ở đâu và chiều an thuận hay nghịch là suy ra được vị trí Tấu Thư.

Đặc Tính Và Ý Nghĩa Của Tấu Thư

Tấu Thư mang khí của văn bài, giấy tờ trình tấu. Ở cung Quan, Mệnh, nó lợi cho thi cử, cầu công danh, các việc liên quan hồ sơ, văn bằng. Người có Tấu Thư thường chỉn chu giấy tờ, hợp nghề hành chính, văn phòng, học thuật.

Điểm hay đặc biệt: Tấu Thư gặp Bạch Hổ đồng cung tạo thế Hổ đội hòm sắt, lại lợi cho thi cử và cầu công danh, chủ chức vị, quyền thế. Là sao văn nhỏ, Tấu Thư phát huy khi đi cùng văn tinh và chính tinh sáng.

Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế

Trước khi đọc hai cột dưới, xin nhớ quy tắc về lực, vì cùng một sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho kết quả khác hẳn. Đồng cung là mạnh nhất, hai sao trộn thành một tính chất mới. Xung chiếu mạnh nhì, sao bên kia bắn thẳng sang, luôn có mặt trong mọi việc của cung này. Tam hợp chiếu nhẹ hơn, như người đứng xa góp lời. Giáp hai bên là thế bao vây, mạnh với sát tinh vì bị kẹp thì khó xoay, nhẹ với cát tinh vì được đỡ thì chỉ thêm êm. Với Tấu Thư còn một tầng nữa: cấu trúc vòng Bác Sĩ khóa sẵn nhiều vị thế, nên Quan Phủ chỉ tới bằng xung chiếu, Lực Sĩ và Đại Hao chỉ tới bằng tam hợp, Tướng Quân và Phi Liêm chỉ tới bằng thế giáp, Kình Đà thì một sao tam hợp một sao xung tùy chiều đếm, còn Lộc Tồn thì không tới được bằng đường nào. Mỗi dòng dưới đây ghi rõ vị thế khả dĩ.

Tấu Thư phát huy khi gặp

  • Bạch Hổ, đồng cung: thành thế Hổ đội hòm sắt, lợi thi cử và cầu công danh, chủ chức vị; chỉ xảy ra ở 12 trong một trăm hai mươi tổ hợp tuổi và giới, xem bảng ở mục vòng Bác Sĩ.
  • Văn Xương, Văn Khúc, đồng cung: bộ văn tinh đủ mặt, chữ nghĩa có nội dung chứ không chỉ có thủ tục.
  • Hóa Khoa, đồng cung: danh tiếng bằng chữ nghĩa, thi cử và học vị thuận, tên mình được người khác nhắc.
  • Thái Âm, Thiên Lương, Thiên Cơ miếu vượng, đồng cung: ba chính tinh thiên về văn, hợp khí Tấu Thư.
  • Long Trì, Phượng Các, Thai Phụ, Phong Cáo, đồng cung hoặc chiếu: nhóm sao bằng sắc, làm tờ trình có trọng lượng.
  • Lực Sĩ, tam hợp (vị thế cố định của vòng): có sức theo việc tới cùng, hồ sơ không bỏ dở.
  • Chính tinh hóa Lộc, đồng cung: giấy tờ sinh tiền, hợp đồng ký được, hợp nghề môi giới và tư vấn.

Tấu Thư trục trặc khi gặp

  • Hóa Kỵ, đồng cung: sai sót hồ sơ, hợp đồng có điều khoản gài, đơn từ bị trả lại; nặng nhất trong các thế vì Quan Phủ luôn chờ ở đối cung.
  • Tuần Triệt án ngữ cung có Tấu Thư: việc văn bằng bị ngăn nửa chừng, thi đỗ mà chậm nhận, hồ sơ nộp rồi treo đó.
  • Quan Phủ, xung chiếu (vị thế duy nhất có thể): mọi việc giấy tờ đều có cửa quan đứng đợi, cần giữ bản gốc và giữ lời.
  • Đà La, tam hợp hoặc xung tùy chiều đếm (không thể đồng cung): giấy tờ chậm, kéo dài, phải làm đi làm lại.
  • Kình Dương, tam hợp hoặc xung tùy chiều đếm (không thể đồng cung): giấy tờ đi nhanh nhưng dễ thành tranh chấp, dễ động tới kiện tụng.
  • Địa Không, Địa Kiếp, đồng cung: hồ sơ mất, bản gốc thất lạc, công sức viết ra không đọng lại thành kết quả.
  • Đại Hao, tam hợp (vị thế cố định của vòng): chi phí giấy tờ nhiều khoản nhỏ, cộng lại thành một khoản đáng kể.

Tóm lại, cùng một sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho kết quả khác nhau, và với Tấu Thư thì cấu trúc vòng Bác Sĩ đã khóa sẵn nhiều vị thế: Quan Phủ chỉ tới bằng xung chiếu, Lực Sĩ và Đại Hao chỉ tới bằng tam hợp, Kình Đà thì một sao tam hợp một sao xung tùy chiều đếm, còn Lộc Tồn thì không tới được bằng đường nào. Khi đọc một dòng trong hai cột trên, xin đọc kèm vị thế ghi ngay sau tên sao.

Tấu Thư Trong Đại Vận Và Lưu Niên

Mọi mục trên nói về Tấu Thư đứng yên trên lá số gốc. Câu khách hỏi nhiều nhất lại là chuyện động: năm nay thi có đỗ không, giai đoạn này ký hợp đồng có ổn không, hồ sơ nhà đất nên làm năm nào. Muốn trả lời phải xét ba tầng chồng lên nhau: đại vận mười năm, lưu niên một năm, và bản lưu của chính vòng Bác Sĩ.

Đại vận đi vào cung có Tấu Thư

Mười năm đại vận đóng vào cung có Tấu Thư bản mệnh là mười năm đời sống chạy bằng giấy tờ. Không nhất thiết là mười năm đi học, mà là mười năm mà việc gì cũng phải có văn bản: ký kết, đăng ký, xét duyệt, chứng nhận, sang tên. Nếu cung ấy có chính tinh sáng, có Khoa hoặc văn tinh thì đây thường là đại vận lập danh bằng chữ nghĩa: học thêm một bằng, đổi sang nghề cần chuyên môn, viết ra được thứ mang tên mình, hoặc lên vị trí mà chữ ký có sức nặng. Nếu cung ấy hãm, có Kỵ hoặc Tuần Triệt, thì mười năm ấy dễ thành mười năm bận thủ tục: làm nhiều báo cáo, chờ nhiều xét duyệt, kết quả thật thì ít.

Thầy hay dặn khách đang ở đại vận này ba việc. Một là lập một chỗ cất giấy tờ cố định, cả bản giấy lẫn bản chụp, vì mười năm ấy sẽ dùng tới rất nhiều lần. Hai là đọc hết trước khi ký, nhất là các phụ lục; Quan Phủ luôn ở đối cung nên cái giá của một dòng bỏ sót thường đắt hơn tưởng. Ba là học thêm một thứ có bằng, vì đại vận này trả công rất hậu cho việc học chính quy, hơn hẳn các đại vận khác.

Tấu Thư có bản lưu niên, và đây là điểm phân biệt với nhiều phụ tinh khác

Trong bốn vòng phụ tinh, chỉ vòng Thái Tuế và vòng Bác Sĩ có bản lưu niên. Vòng Thái Tuế lưu theo địa chi năm đang xem, vòng Bác Sĩ lưu theo thiên can năm đang xem, vì gốc của nó là Lộc Tồn mà Lộc Tồn an theo can. Ngược lại, vòng Tràng Sinh không có bản lưu vì nó an theo Cục, mà Cục cố định suốt đời; các sao an theo tháng sinh như Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Hình, Thiên Riêu và các sao an theo giờ sinh như Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp cũng không có bản lưu, vì tháng sinh và giờ sinh không đổi theo năm.

Vậy Tấu Thư có hai lớp. Lớp thứ nhất là Tấu Thư bản mệnh, đứng yên suốt đời, an theo can năm sinh. Lớp thứ hai là lưu Tấu Thư, mỗi năm dời một chỗ, an theo can năm đang xem: tìm lưu Lộc Tồn của năm ấy rồi đếm năm nhịp theo đúng chiều thuận nghịch của người đó. Bảng dưới tính sẵn cho các năm tới.

2026 Bính Ngọ

  • Lưu Lộc Tồn: Tỵ
  • Lưu Tấu Thư (người đếm thuận): Tuất
  • Lưu Tấu Thư (người đếm nghịch): Tý

2027 Đinh Mùi

  • Lưu Lộc Tồn: Ngọ
  • Lưu Tấu Thư (người đếm thuận): Hợi
  • Lưu Tấu Thư (người đếm nghịch): Sửu

2028 Mậu Thân

  • Lưu Lộc Tồn: Tỵ
  • Lưu Tấu Thư (người đếm thuận): Tuất
  • Lưu Tấu Thư (người đếm nghịch): Tý

2029 Kỷ Dậu

  • Lưu Lộc Tồn: Ngọ
  • Lưu Tấu Thư (người đếm thuận): Hợi
  • Lưu Tấu Thư (người đếm nghịch): Sửu

2030 Canh Tuất

  • Lưu Lộc Tồn: Thân
  • Lưu Tấu Thư (người đếm thuận): Sửu
  • Lưu Tấu Thư (người đếm nghịch): Mão

2031 Tân Hợi

  • Lưu Lộc Tồn: Dậu
  • Lưu Tấu Thư (người đếm thuận): Dần
  • Lưu Tấu Thư (người đếm nghịch): Thìn

2032 Nhâm Tý

  • Lưu Lộc Tồn: Hợi
  • Lưu Tấu Thư (người đếm thuận): Thìn
  • Lưu Tấu Thư (người đếm nghịch): Ngọ

2033 Quý Sửu

  • Lưu Lộc Tồn: Tý
  • Lưu Tấu Thư (người đếm thuận): Tỵ
  • Lưu Tấu Thư (người đếm nghịch): Mùi

2034 Giáp Dần

  • Lưu Lộc Tồn: Dần
  • Lưu Tấu Thư (người đếm thuận): Mùi
  • Lưu Tấu Thư (người đếm nghịch): Dậu

2035 Ất Mão

  • Lưu Lộc Tồn: Mão
  • Lưu Tấu Thư (người đếm thuận): Thân
  • Lưu Tấu Thư (người đếm nghịch): Tuất

Cách dùng bảng rất gọn, và với sao này thì thiết thực hơn nhiều sao khác vì việc giấy tờ thường chọn được thời điểm. Xem lưu Tấu Thư của năm ấy rơi vào cung chức nào: rơi vào Điền Trạch thì hợp làm giấy tờ nhà, vào Quan Lộc thì hợp thi cử và bổ nhiệm, vào Phu Thê thì hợp đăng ký kết hôn. Rồi xem nó có trùng cung với Tấu Thư bản mệnh không, và có rơi vào cung đang là đại vận không, vì ba lớp chồng lên nhau mới đáng nói.

Các lưu sao chạm vào cung có Tấu Thư

Trong một năm, cung có Tấu Thư bản mệnh còn bị các lưu sao khác đi qua. Lưu Xương Khúc hoặc lưu Hóa Khoa tới thì đây là năm nên thi, nên nộp hồ sơ, nên công bố; hai lớp văn tinh chồng nhau là dấu hiệu rõ nhất. Lưu Hóa Kỵ tới thì rà lại mọi giấy tờ đang có hiệu lực, nhất là hợp đồng tự động gia hạn. Lưu Kình Dương hoặc lưu Đà La tới thì việc giấy tờ hoặc thành tranh chấp hoặc thành kéo dài, nên chừa thêm thời gian và giữ bản gốc. Lưu Bạch Hổ tới cung có Tấu Thư là trường hợp đáng chú ý riêng: với người vốn không có thế Hổ đội hòm sắt trên lá số gốc, năm ấy có một bản tạm thời của thế ấy, nên là năm đáng thử sức ở việc thi cử và bổ nhiệm. Lưu Thái Tuế tới thì việc trong năm dồn về cung ấy. Nguyên tắc chung: một lưu sao đơn lẻ chưa đủ kết luận, phải có ít nhất hai lớp cùng chỉ về một cung.

Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Tấu Thư

Tấu Thư là sao hay bị thổi theo chiều tốt, vì ai cũng thích nghe mình có sao văn. Mục này nói rõ sách nói gì và không nói gì.

Hiểu lầm một: có Tấu Thư là học giỏi, là thi đâu đỗ đó

Sách chép Tấu Thư gắn với việc tấu sớ, văn thư trình lên trên, chủ giấy tờ, văn bằng, thi cử, lợi cho học hành và công danh bằng chữ nghĩa. Đó là lĩnh vực của sao, không phải lời hứa về kết quả.

Việc học được quyết bởi chính tinh cung Quan Lộc và Phúc Đức, bởi bộ Xương Khúc Khôi Việt, bởi Hóa Khoa và bởi vận có tới hay không. Tấu Thư chỉ thêm một sắc thái: việc của người này đi qua giấy tờ. Người có Tấu Thư mà không có văn tinh đi kèm thường là người làm hồ sơ giỏi chứ chưa hẳn là người học cao.

Hiểu lầm hai: Tấu Thư gặp Bạch Hổ thì ai cũng thành thế Hổ đội hòm sắt

Đây là chỗ bị chép lại nhiều nhất mà ít ai kiểm. Bạch Hổ an theo địa chi năm sinh, Tấu Thư an theo thiên can năm sinh cộng chiều thuận nghịch, nên hai sao chỉ gặp nhau ở một số tuổi nhất định. Chạy đủ sáu mươi hoa giáp nhân hai giới thì thế ấy chỉ xuất hiện ở 12 trong một trăm hai mươi tổ hợp, đúng một phần mười. Bảng đầy đủ đã đặt ở mục vòng Bác Sĩ. Ai không có tên trong bảng ấy thì đọc lời luận về Hổ đội hòm sắt cho biết, không áp vào mình được.

Hiểu lầm ba: Tấu Thư có bảng miếu vượng đắc hãm mười hai cung

Một số trang có dựng bảng sáng tối cho Tấu Thư đủ mười hai cung. Thư tịch mà trang này dẫn không lập bảng miếu vượng đắc hãm cho Tấu Thư. Cái quyết định mạnh yếu của một sao thuộc vòng Bác Sĩ là vị trí của nó trong vòng và bộ sao cùng cung, không phải độ sáng tối của riêng nó. Với Tấu Thư, ba chỗ cần nhìn là có văn tinh cùng cung không, Quan Phủ ở đối cung có sát tinh không, và người này đếm thuận hay nghịch để biết Kình hay Đà đang tam hợp.

Hiểu lầm bốn: Tấu Thư có câu phú riêng

Phần lớn phụ tinh nhỏ trong bốn vòng không có phú riêng, và Tấu Thư nằm trong số đó; những câu phú người ta hay gán cho nó thực ra là phú của Văn Xương, Văn Khúc hoặc Hóa Khoa. Bài này không trích câu phú nào cho Tấu Thư, chỉ giữ lại điều sách thật sự có chép là thế gặp Bạch Hổ.

Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải

Tấu Thư không phải sao cần trấn yểm. Nó là một công cụ, và mọi lời khuyên dưới đây xoay quanh một chữ: giữ. Cái mạnh của sao này là giấy trắng mực đen, cái yếu của nó cũng là giấy trắng mực đen. Người biết giữ giấy tờ thì sao này nuôi cả đời; người cẩu thả với giấy tờ thì chính sao này mang phiền tới.

Ba thói quen làm được ngay

Một, lập một chỗ cất giấy tờ cố định, có bản giấy và bản chụp, sắp theo năm. Nghe rất tầm thường nhưng đây là việc đổi đời của nhiều khách có Tấu Thư nổi bật. Hai, đọc hết trước khi ký, nhất là phụ lục và điều khoản gia hạn. Quan Phủ luôn ở đối cung Tấu Thư, nghĩa là cấu trúc đã cảnh báo sẵn rằng cái giá của một dòng bỏ sót thường đắt hơn tưởng. Ba, không đứng tên hộ và không ký bảo lãnh cho ai, dù thân tới đâu; đây là chỗ sinh chuyện nhiều nhất của người có sao này, nhất là khi Tấu Thư hoặc cung Nô Bộc có Kỵ.

Cho sao văn thư một nghề

Việc hiệu quả nhất là đưa cái tỉ mỉ ấy vào nghề nghiệp: pháp chế, kiểm toán, thẩm định, biên tập, hành chính nhân sự, quản lý dự án, giảng dạy. Ngược lại, việc phải quyết nhanh bằng cảm tính, không quy trình, không văn bản, là loại việc làm người này khổ mà không giỏi lên được.

Khi Tấu Thư gặp Kỵ, Tuần Triệt hoặc Không Kiếp

Với các tổ hợp nặng, cách xử lý không phải là né mà là làm chậm một nhịp và nhờ người soát. Gặp Hóa Kỵ thì mọi văn bản quan trọng đều nên có người thứ hai đọc lại trước khi ký. Gặp Tuần Triệt thì đừng sốt ruột khi hồ sơ bị treo, hãy chuẩn bị đủ bộ rồi nộp lại đúng cửa, vì Triệt chặn chứ không hủy. Gặp Không Kiếp thì việc quan trọng nhất là sao lưu: bản gốc cất một nơi, bản chụp cất một nơi khác.

Phong thủy bổ trợ, ghi rõ là gợi ý chung: những việc như giữ bàn làm việc gọn, có một ngăn riêng cho giấy tờ quan trọng, đủ ánh sáng khi đọc để đỡ mỏi mắt, đặt giờ ngừng làm việc để đầu được nghỉ, đều thuộc loại điều chỉnh nếp sống và bài trí. Đây không phải trấn yểm, không thay thế được nỗ lực bản thân và cũng không sửa được lá số. Ai nói chỉ cần đặt một vật lên bàn là thi đâu đỗ đó thì quý vị nên dè chừng.

Lời cuối: một tờ giấy đúng lúc đáng giá hơn mười lời hứa. Sao chỉ cho biết đời mình đi qua giấy tờ, viết đúng và giữ kỹ là việc của người.

Câu hỏi thường gặp

Tấu Thư là sao thứ sáu của vòng Bác Sĩ trong Tử Vi Đẩu Số, gắn với văn thư tấu sớ. Đây là sao thiên về văn, chủ giấy tờ, văn bằng, thi cử, lợi cho học hành và công danh bằng chữ nghĩa.

Tấu Thư gặp Bạch Hổ đồng cung tạo thế Hổ đội hòm sắt, lại hóa lợi cho thi cử và cầu công danh, chủ chức vị và quyền thế. Đây là một thế hay của hai sao vốn khác tính chất.

Tấu Thư đứng thứ sáu trong vòng Bác Sĩ, an theo Lộc Tồn và đi theo chiều thuận hoặc nghịch tùy âm dương nam nữ.

Trong lưu niên, cung gặp Tấu Thư thường lợi cho thi cử, hồ sơ, giấy tờ, hợp đồng và các việc cần văn bản, là sao báo điềm thuận cho việc chữ nghĩa.

Không, bằng bất cứ đường nào. Tấu Thư đứng thứ sáu trong vòng Bác Sĩ, cách Bác Sĩ năm nhịp, mà Bác Sĩ luôn đóng đúng cung Lộc Tồn. Chạy máy đủ mười can nhân hai chiều đếm thì khoảng cách giữa Tấu Thư và Lộc Tồn chỉ nhận năm hoặc bảy cung; cả hai giá trị đều không phải đồng cung, không phải tam hợp bốn tám cung, cũng không phải xung chiếu sáu cung.

Vì Kình Dương luôn ở cung liền sau Lộc Tồn và Đà La luôn ở cung liền trước, mà Tấu Thư thì cách Lộc Tồn năm cung khi đếm thuận. Khi ấy Tấu Thư cách Kình Dương bốn cung nên tam hợp, cách Đà La sáu cung nên xung chiếu. Người đếm nghịch thì đảo lại, xung Kình Dương và tam hợp Đà La. Không có trường hợp nào Tấu Thư thoát được cả hai sao ấy, và cũng không có trường hợp nào đồng cung với chúng.

Tấu Thư an theo thiên can năm sinh cộng chiều thuận nghịch, còn Bạch Hổ an theo địa chi năm sinh, nên hai sao chỉ đồng cung ở một số tuổi. Chạy đủ sáu mươi hoa giáp nhân hai giới, tức một trăm hai mươi tổ hợp, thì chỉ mười hai tổ hợp cho kết quả đồng cung, đúng một phần mười. Bài viết in đủ danh sách mười hai tổ hợp ấy trong mục vị trí của Tấu Thư trong vòng Bác Sĩ.

Có. Vòng Bác Sĩ an theo Lộc Tồn mà Lộc Tồn an theo thiên can, nên mỗi năm có một bản lưu: lấy can của năm đang xem để định lưu Lộc Tồn, rồi đếm năm nhịp theo đúng chiều thuận nghịch của người đó thì ra lưu Tấu Thư. Đây là lý do người ta chọn được năm thuận cho việc thi cử và giấy tờ. Vòng Tràng Sinh và các sao an theo tháng sinh, giờ sinh thì không có bản lưu.