Tử Vi
Sao Thái Âm: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung
Tìm hiểu sao Thái Âm trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.
Tổng quan về sao Thái Âm
Trong Tử Vi Đẩu Số, sao Thái Âm tượng cho mặt trăng, đứng cùng cặp với Thái Dương là mặt trời. Nếu Thái Dương rực rỡ dương cương, thì Thái Âm lại dịu dàng, sáng trong, êm đềm như ánh trăng đêm. Đây là một phú tinh, nghĩa là sao chủ về sự giàu có, sung túc, đặc biệt là tài sản và nhà đất.
Thái Âm thuộc hành Thủy, mang tính âm nên còn gọi là Âm Thủy. Sao này mềm mại, trầm lặng mà sâu sắc, đại diện cho phần nội tâm, cho cái đẹp kín đáo và cho phái nữ trong lá số.
Một điểm cốt lõi của Thái Âm là tính biểu trưng cho người thân nữ giới. Với bất kỳ ai, Thái Âm chỉ người mẹ và các con gái. Riêng với nam mệnh, Thái Âm còn chỉ người vợ. Vì vậy khi muốn xét tình trạng của mẹ hay của vợ trong một lá số, người ta luôn quay về quan sát Thái Âm sáng hay tối, tốt hay xấu. Đây là điều khiến Thái Âm trở thành một trong những sao được coi trọng bậc nhất khi luận về gia đạo và tình thân.
Theo Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, người có Thái Âm thường khoan hòa, nhân hậu, hay làm việc thiện, thông minh và rất yêu cái đẹp, lại có chút lãng mạn, mộng mơ. Sao này chủ sự phú túc, nhiều nhà đất, hay gặp may mắn về tài sản. Tuy nhiên khi rơi vào hãm địa, mặt tốt của Thái Âm bị che lấp, người trở nên kém sáng suốt, hay nhầm lẫn, dễ phát tán và suy bại. Bởi vậy luận Thái Âm không thể bỏ qua hai yếu tố then chốt: cung nó đóng sáng hay tối, và người đó sinh vào ban ngày hay ban đêm.
- Ngũ hành: Thủy
- Chòm sao: Bắc Đẩu
- Loại sao: Phú tinh, điền trạch
- Miếu vượng: Miếu tại Dậu, Tuất, Hợi
- Cai quản: Điền trạch, mẹ và vợ
- Hợp gặp: Thái Dương, Lộc, Đào Hồng
- Kỵ: Hóa Kỵ, Đà Riêu, hãm địa
Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.
Ý nghĩa tại cung Mệnh
- Thái Âm sáng: Thanh tú, nhân hậu, thẩm mỹ cao, biết tích lũy, có duyên với nhà đất; mẹ là chỗ dựa.
- Thái Âm hãm: Vẫn hiền và tinh tế nhưng đa cảm, hay ưu tư, làm ra tiền mà giữ không yên, duyên với mẹ mỏng.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Sáng gặp Xương Khúc là người có danh về văn chương, nghệ thuật. Sáng hóa Lộc (tuổi Đinh) là phú cách. Hãm gặp Kỵ, Đà La, Thiên Riêu là thế trăng mờ sương, tình cảm rối và hay mất ngủ.
Người có sao Thái Âm đóng ở cung Mệnh thường mang dáng vẻ thanh tú, da dẻ trắng trẻo, gương mặt sáng dịu, dáng người mềm mại. Nếu Thái Âm miếu vượng thì vẻ ngoài càng ưa nhìn, toát ra nét đẹp kín đáo dễ mến.
Bên trong, họ ôn hòa, nhân hậu, biết cảm thông và rất tinh tế. Đây là mẫu người sống thiên về tình cảm, coi trọng gia đình, thích sự yên ổn và một không gian sống đẹp đẽ, ấm cúng.
Về tính cách, người Thái Âm thông minh, có óc thẩm mỹ cao, ưa văn chương nghệ thuật và những điều tao nhã. Họ làm việc cẩn thận, chu đáo, biết tích lũy nên thường khá giả về sau, có duyên với nhà đất và tài sản. Trong giao tiếp họ nhẹ nhàng, dễ tạo thiện cảm, biết lắng nghe và quan tâm tới người khác. Mặt trái của tính âm nhu là dễ đa cảm, hay suy nghĩ nhiều, đôi khi thiếu quyết đoán, mềm lòng và dễ bị tình cảm chi phối. Khi gặp chuyện, họ có xu hướng giữ trong lòng thay vì bộc lộ ra ngoài.
Có một yếu tố rất riêng của Thái Âm mà các sao khác không có, đó là vai trò của thời điểm sinh. Thái Âm là mặt trăng nên ưa ban đêm. Người sinh vào ban đêm, nhất là từ mùng một tới rằm khi trăng đang lên, thì Thái Âm thuận lý, sáng tỏ, phát huy trọn vẹn cái đẹp, sự thông minh và phú túc. Ngược lại, người sinh ban ngày thì vầng trăng bị ánh mặt trời lấn át, Thái Âm kém sáng, công lực giảm sút, nhất là khi đồng thời đóng ở cung hãm. Vì thế, cùng một Thái Âm thủ Mệnh, người sinh đêm và người sinh ngày có thể cho hai cảnh đời rất khác.
Ý nghĩa ở các cung khác
Đối chiếu ý nghĩa của Thái Âm với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.
Cung Phụ Mẫu
- Thái Âm sáng: Mẹ hiền, phúc thọ, có của, gần gũi và có ảnh hưởng lớn; được thừa hưởng nền nếp và tài sản từ mẹ.
- Thái Âm hãm: Duyên với mẹ mỏng: mẹ vất vả, xa cách sớm, hoặc mẹ hay đau yếu ngầm.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Thái Âm hãm hóa Kỵ tại Phụ Mẫu cộng lưu Tang Môn hay Bạch Hổ chạm tới là năm cần lo cho sức khỏe mẹ. Thái Âm sáng gặp Thiên Phủ giáp (luôn có) và Lộc Tồn là cha mẹ có của để lại.
Cung Phúc Đức
- Thái Âm sáng: Tâm hồn thanh nhã, thích cái đẹp, phúc bên ngoại dày, tổ tiên bên mẹ có nền nếp; về già an nhàn.
- Thái Âm hãm: Hay buồn vu vơ, nghĩ ngợi ban đêm, phúc phần bên ngoại mỏng, tinh thần dễ hao.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Nguyệt ở Phúc mà Nhật ở Quan hay Tài cùng sáng là cả nhà thịnh cả phúc lẫn danh. Phúc có Thái Âm Kỵ gặp Thiên Riêu, Hóa Kỵ khác chiếu thì đời hay mộng mị, dễ tin việc tâm linh mơ hồ.
Cung Điền Trạch
- Thái Âm sáng: Cung sở trường của Thái Âm: nhà cửa đẹp, nhiều bất động sản, tích lũy được, nhà gần nước hay hướng mát.
- Thái Âm hãm: Điền sản tốn công giữ, nhà hay dột hay ẩm, mua bán đổi dời nhiều, giấy tờ nhà lằng nhằng.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Nhật Nguyệt đồng cung Sửu Mùi tại Điền là cách Nhật Nguyệt Chiếu Bích, sách khen về nhà đất. Điền có Thái Âm Lộc thêm Lộc Tồn là của cải nằm ở đất. Điền có Thái Âm hãm hóa Kỵ là chỗ dễ mất nhà, mất đất vì đứng tên hộ.
Cung Quan Lộc
- Thái Âm sáng: Hợp nghề về cái đẹp, văn hóa, nghệ thuật, tài chính, bất động sản, y dược, nghề làm về đêm; thăng tiến đều, êm.
- Thái Âm hãm: Sự nghiệp lặng lẽ, làm phía sau, hay đổi việc, danh thuộc về người khác.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Quan có Thái Âm Quyền là nắm tiền, nắm việc nội bộ thật. Quan có Thái Âm sáng gặp Thái Dương sáng chiếu là Nhật Nguyệt tịnh minh ở đường công danh, cả danh lẫn lợi. Quan có Nguyệt hãm gặp Không Kiếp là hay đổi nghề, làm ăn về đêm mà hao.
Cung Nô Bộc
- Thái Âm sáng: Bạn bè, cấp dưới phần nhiều là nữ, tình cảm, chu đáo, giúp nhau chân thành.
- Thái Âm hãm: Bạn nữ hay gây phiền, cấp dưới hay làm mình mệt vì chuyện tình cảm, tiền bạc lặt vặt.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Nô có Thái Âm Kỵ là bị bạn bè nữ giới lôi vào chuyện tiền nong. Nô có Thái Âm Lộc thì cộng sự nữ làm ra tiền cho mình; gặp Đào Hồng là dễ có tình cảm với người dưới quyền.
Cung Thiên Di
- Thái Âm sáng: Ra ngoài được quý nhân nữ giúp, môi trường xa nhà êm ả, hợp đi xa về phương bắc hay phương tây, hợp ở nước ngoài.
- Thái Âm hãm: Xa nhà thì buồn, đi đêm dễ gặp chuyện, ở nơi xa hay nhớ mẹ nhớ nhà.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Thiên Di có Thái Âm sáng gặp Thiên Mã tại Tỵ Hợi (trong đó Hợi là miếu) là đi xa mà giàu, hợp định cư nước ngoài. Di có Nguyệt hãm gặp Kỵ, Đà thì ra đường lo mất của, lo bị lừa.
Cung Tật Ách
- Thái Âm sáng: Thể chất thiên hàn, sức khỏe nhìn chung ổn; điểm cần giữ là thận, mắt, phần âm huyết, giấc ngủ.
- Thái Âm hãm: Mắt kém, thận và bàng quang yếu, thiếu máu, mất ngủ, chứng do lạnh và do ẩm; nữ mệnh chú ý phụ khoa, kinh nguyệt.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Thái Âm gặp Hóa Kỵ tại Tật là mắt và âm huyết trước hết. Gặp Thiên Riêu, Đà La là bệnh phần kín, bệnh ngầm khó phát hiện. Gặp Hỏa Linh là mất ngủ, huyết áp thất thường. Gặp Kình Dương là mắt hoặc thận phải mổ.
Cung Tài Bạch
- Thái Âm sáng: Tiền vào đều, êm, bền; tích lũy giỏi, có lộc từ nhà đất, tiền lương, tiền thuê; tiền gắn với người mẹ, người vợ.
- Thái Âm hãm: Tiền vào ra thất thường, hay hụt về đêm, hao vì lo cho phụ nữ trong nhà, có mà không thấy.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Tài có Thái Âm Lộc thêm Lộc Tồn hay Thiên Phủ giáp là cách giữ được của. Tài có Thái Âm hãm gặp Đại Tiểu Hao thì cho vay không đòi được, tiền trôi theo tình cảm. Tài có Thái Âm Khoa là tiền sạch, tiền từ nghề danh giá.
Cung Tử Tức
- Thái Âm sáng: Con dịu dàng, hiếu thuận, thường có con gái giỏi và gần mẹ; con có của.
- Thái Âm hãm: Muộn con hoặc lo cho con nhiều, con gái hay xa nhà, con ốm vặt về đêm.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Tử Tức có Thái Âm Kỵ cần xem kỹ chuyện thụ thai và sức khỏe sinh sản của người mẹ. Tử có Nguyệt sáng gặp Thiên Hỷ, Long Phượng thì tin vui sinh con gái; gặp Đào Hồng là con đẹp.
Cung Phu Thê
- Thái Âm sáng: Nam mệnh: vợ đẹp dịu dàng, đảm đang, có của, gần gũi mẹ chồng. Nữ mệnh: chồng tinh tế, chu đáo, tính hơi âm, sống hướng nội.
- Thái Âm hãm: Nam mệnh: vợ hay đau ốm ngầm, duyên muộn, hoặc vợ nhiều tâm sự. Nữ mệnh: chồng thiếu quyết đoán, mình phải gánh phần chồng.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Nam mệnh Phu có Thái Âm hãm hóa Kỵ là thế cần luận kỹ về hôn nhân và sức khỏe vợ, không kết luận vội. Phu có Nhật Nguyệt đồng cung Sửu Mùi là vợ chồng một sáng một tối, bù nhau nhưng hay lệch pha. Phu có Thái Âm gặp Đào Hồng Riêu là tình duyên nhiều mối.
Cung Huynh Đệ
- Thái Âm sáng: Anh chị em hòa thuận, có chị em gái thân thiết, biết đỡ đần; anh em có của.
- Thái Âm hãm: Chị em gái thưa hoặc mỗi người một phương, mình phải lo cho chị em mà ít được đáp lại.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Huynh có Thái Âm gặp Kình Đà là chị em bất hòa vì nhà đất. Huynh có Nguyệt sáng gặp Tả Hữu là chị em giúp nhau làm ăn, có góp vốn chung.
Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Thái Âm không đi theo chuỗi Tử Vi mà đi theo chuỗi Thiên Phủ. Khi đã định được cung Tử Vi thì Thiên Phủ an ở cung đối xứng với Tử Vi qua trục Dần Thân (Tử Vi ở Dần thì Thiên Phủ cũng ở Dần, Tử Vi ở Ngọ thì Thiên Phủ ở Tuất, Tử Vi ở Tý thì Thiên Phủ ở Thìn). Từ Thiên Phủ đi thuận từng cung một: Thái Âm ngay cung kế, rồi Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, và Phá Quân cách ba cung nữa. Thái Âm là sao thứ hai của chuỗi ấy, đứng sát sau kho lẫm Thiên Phủ. Cách an cứng như vậy sinh ra những điều về Thái Âm không bao giờ thay đổi, bất kể tuổi nào, tháng nào, giờ nào.
Bốn điều bất biến của Thái Âm
- Luôn bị giáp bởi Thiên Phủ và Tham Lang. Thái Âm đóng cung nào thì Thiên Phủ nằm ngay cung liền trước, Tham Lang nằm ngay cung liền sau, mười hai vị trí đều thế. Mặt trăng luôn treo giữa một bên là kho lẫm, một bên là dục vọng. Đây là lý do Thái Âm hay được gọi là phú tinh: nó không tự làm ra của, nó ở cạnh kho.
- Tam phương tứ chính chỉ gặp Thiên Cơ, Thiên Đồng, Thiên Lương, Thái Dương hoặc cung trống. Bốn sao ấy cùng Thái Âm hợp thành bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương, thêm Thái Dương là bộ Nhật Nguyệt. Thái Âm không bao giờ có Tử Vi, Vũ Khúc, Liêm Trinh, Thiên Phủ, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thất Sát hay Phá Quân chiếu về trong tam hợp hay xung chiếu. Ai nói "Thái Âm hội Sát Phá Tham" hay "Thái Âm bị Cự Môn chiếu" là đã an sai lá số.
- Đồng cung chỉ có ba khả năng. Thái Âm độc tọa tại Mão, Thìn, Tỵ, Dậu, Tuất, Hợi; đi cặp với Thiên Đồng tại Tý, Ngọ; với Thái Dương tại Sửu, Mùi; với Thiên Cơ tại Dần, Thân. Không có cặp nào khác, và cặp nào cũng là sao trong bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương hoặc Thái Dương.
- Sáu vị trí độc tọa luôn có một sao trong bộ xung chiếu. Thái Âm Mão và Dậu có Thiên Đồng đối diện; Thái Âm Thìn và Tuất có Thái Dương đối diện; Thái Âm Tỵ và Hợi có Thiên Cơ đối diện. Nghĩa là nói "Thái Âm cư Hợi" là đã ngầm nói "Thiên Cơ cư Tỵ chiếu về, Thái Dương và Thiên Lương ở Mão hợp chiếu".
Bảng dưới đây liệt kê đủ mười hai vị trí, sinh bằng thuật toán an sao chứ không chép từ trí nhớ. Cột "tam hợp" là hai cung hợp chiếu, cột "xung" là cung đối diện, cột "giáp" là hai cung kề. Cung trống thì ghi trống, khi luận phải mượn sao ở cung đối diện của cung trống ấy.
Tý
- Đồng cung: Thiên Đồng
- Tam hợp chiếu: Thiên Cơ, Thiên Lương (Thìn) · trống (Thân)
- Xung chiếu: trống (Ngọ)
- Giáp hai bên: Thiên Phủ (Hợi) · Vũ Khúc, Tham Lang (Sửu)
Sửu
- Đồng cung: Thái Dương
- Tam hợp chiếu: Thiên Lương (Tỵ) · trống (Dậu)
- Xung chiếu: trống (Mùi)
- Giáp hai bên: Vũ Khúc, Thiên Phủ (Tý) · Tham Lang (Dần)
Dần
- Đồng cung: Thiên Cơ
- Tam hợp chiếu: Thiên Lương (Ngọ) · Thiên Đồng (Tuất)
- Xung chiếu: trống (Thân)
- Giáp hai bên: Thiên Phủ (Sửu) · Tử Vi, Tham Lang (Mão)
Mão
- Đồng cung: độc tọa
- Tam hợp chiếu: Thiên Lương (Mùi) · Thái Dương (Hợi)
- Xung chiếu: Thiên Đồng (Dậu)
- Giáp hai bên: Tử Vi, Thiên Phủ (Dần) · Tham Lang (Thìn)
Thìn
- Đồng cung: độc tọa
- Tam hợp chiếu: Thiên Đồng, Thiên Lương (Thân) · Thiên Cơ (Tý)
- Xung chiếu: Thái Dương (Tuất)
- Giáp hai bên: Thiên Phủ (Mão) · Liêm Trinh, Tham Lang (Tỵ)
Tỵ
- Đồng cung: độc tọa
- Tam hợp chiếu: Thái Dương, Thiên Lương (Dậu) · trống (Sửu)
- Xung chiếu: Thiên Cơ (Hợi)
- Giáp hai bên: Liêm Trinh, Thiên Phủ (Thìn) · Tham Lang (Ngọ)
Ngọ
- Đồng cung: Thiên Đồng
- Tam hợp chiếu: Thiên Cơ, Thiên Lương (Tuất) · trống (Dần)
- Xung chiếu: trống (Tý)
- Giáp hai bên: Thiên Phủ (Tỵ) · Vũ Khúc, Tham Lang (Mùi)
Mùi
- Đồng cung: Thái Dương
- Tam hợp chiếu: Thiên Lương (Hợi) · trống (Mão)
- Xung chiếu: trống (Sửu)
- Giáp hai bên: Vũ Khúc, Thiên Phủ (Ngọ) · Tham Lang (Thân)
Thân
- Đồng cung: Thiên Cơ
- Tam hợp chiếu: Thiên Lương (Tý) · Thiên Đồng (Thìn)
- Xung chiếu: trống (Dần)
- Giáp hai bên: Thiên Phủ (Mùi) · Tử Vi, Tham Lang (Dậu)
Dậu
- Đồng cung: độc tọa
- Tam hợp chiếu: Thiên Lương (Sửu) · Thái Dương (Tỵ)
- Xung chiếu: Thiên Đồng (Mão)
- Giáp hai bên: Tử Vi, Thiên Phủ (Thân) · Tham Lang (Tuất)
Tuất
- Đồng cung: độc tọa
- Tam hợp chiếu: Thiên Đồng, Thiên Lương (Dần) · Thiên Cơ (Ngọ)
- Xung chiếu: Thái Dương (Thìn)
- Giáp hai bên: Thiên Phủ (Dậu) · Liêm Trinh, Tham Lang (Hợi)
Hợi
- Đồng cung: độc tọa
- Tam hợp chiếu: Thái Dương, Thiên Lương (Mão) · trống (Mùi)
- Xung chiếu: Thiên Cơ (Tỵ)
- Giáp hai bên: Liêm Trinh, Thiên Phủ (Tuất) · Tham Lang (Tý)
Từ bảng này rút ra ba quy luật đọc rất tiện. Một, Thái Âm độc tọa ở Tỵ và Hợi là hai vị trí "đủ bộ" nhất: tam hợp có cặp Thái Dương Thiên Lương đồng cung, xung có Thiên Cơ, tức bốn trong năm sao của bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương cộng Nhật cùng chầu về, chỉ thiếu Thiên Đồng. Ở Hợi thì mặt trăng sáng mà mặt trời ở Mão cũng vừa mọc, nên Nguyệt Lãng Thiên Môn quý là vì thế; ở Tỵ thì mặt trăng mờ nhưng mặt trời Dậu cũng đã xế, cả bộ cùng yếu. Hai, Thái Âm ở Thìn và Tuất là hai vị trí có đủ trọn bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương trong tam phương (Đồng Lương đồng cung một bên, Thiên Cơ một bên) lại thêm Thái Dương xung chiếu. Tuất miếu mà Thái Dương ở Thìn còn vượng, nên cả Nhật lẫn Nguyệt cùng sáng; Thìn hãm mà Thái Dương Tuất cũng hãm, thành thế Phản Bối. Cùng một cấu trúc, đổi đầu đuôi là đổi hẳn cảnh. Ba, Thái Âm ở Sửu và Mùi đi cặp Thái Dương thì tam phương chỉ còn một Thiên Lương, hai cung kia trống, cả cục diện Nhật Nguyệt dồn vào đúng một cung, nên cách này rất đậm mà cũng rất đơn, ít sao bên ngoài cứu.
Vì Thái Âm chỉ hội với Thiên Cơ, Thiên Đồng, Thiên Lương và Thái Dương, nên các cách cục của Thái Âm cũng chỉ xoay quanh những sao ấy: Nhật Nguyệt Tịnh Minh, Nhật Nguyệt Phản Bối, Nhật Nguyệt Chiếu Bích, Đồng Âm, Cơ Âm, và cách của cả bộ là Cơ Nguyệt Đồng Lương. Không có cách nào ghép Thái Âm với Sát Phá Tham hay với Tử Phủ, đó không phải thiếu sót của sách mà là hệ quả của cách an sao. Một hệ quả khác ít người để ý: Cự Môn nằm cách Thái Âm đúng hai cung trong chuỗi Thiên Phủ, nên Cự Môn không bao giờ đồng cung, không tam hợp, không xung, cũng không giáp Thái Âm. Hóa Kỵ của Cự Môn tuổi Đinh vì thế không bao giờ chiếu thẳng vào mặt trăng, mà chỉ chạm tới qua cung trống mượn sao. Điều này sẽ được dùng lại ở mục Tứ Hóa.
Bảng Miếu Vượng Đắc Hãm Của Thái Âm
Một sao mạnh hay yếu tùy vào cung nó đóng. Thứ tự sức mạnh đi từ cao xuống thấp là miếu, vượng, đắc địa, bình hòa, hãm. Với Thái Âm, cái logic này gắn liền với hình ảnh vầng trăng: cung nào ứng với lúc trăng lên cao thì sao sáng, cung nào ứng với lúc trăng còn thấp hoặc bị mặt trời lấn thì sao tối.
Vì thế Thái Âm sáng nhất ở phương tây và phương bắc, ứng với buổi tối và nửa đêm, mờ nhất ở phương đông và phương nam, ứng với ban ngày.
Tý
- Đồng cung: Thiên Đồng
- Theo Tân Biên: Vượng
- Theo Toàn Thư: Vượng
Sửu
- Đồng cung: Thái Dương
- Theo Tân Biên: Đắc
- Theo Toàn Thư: Vượng
Dần
- Đồng cung: Thiên Cơ
- Theo Tân Biên: Hãm
- Theo Toàn Thư: Hãm
Mão
- Đồng cung: Đơn thủ
- Theo Tân Biên: Hãm
- Theo Toàn Thư: (không nêu)
Thìn
- Đồng cung: Đơn thủ
- Theo Tân Biên: Hãm
- Theo Toàn Thư: Hãm
Tỵ
- Đồng cung: Đơn thủ
- Theo Tân Biên: Hãm
- Theo Toàn Thư: Hãm
Ngọ
- Đồng cung: Thiên Đồng
- Theo Tân Biên: Hãm
- Theo Toàn Thư: Hãm
Mùi
- Đồng cung: Thái Dương
- Theo Tân Biên: Đắc
- Theo Toàn Thư: (không nêu)
Thân
- Đồng cung: Thiên Cơ
- Theo Tân Biên: Vượng
- Theo Toàn Thư: (không nêu)
Dậu
- Đồng cung: Đơn thủ
- Theo Tân Biên: Miếu
- Theo Toàn Thư: Miếu
Tuất
- Đồng cung: Đơn thủ
- Theo Tân Biên: Miếu
- Theo Toàn Thư: Miếu
Hợi
- Đồng cung: Đơn thủ
- Theo Tân Biên: Miếu
- Theo Toàn Thư: Miếu
Hai trường phái về miếu vượng
Bảng trên đặt song song hai bộ sách gốc để người đọc tự đối chiếu. Tử Vi Đẩu Số Tân Biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang xếp Thái Âm miếu tại Dậu, Tuất, Hợi; vượng tại Thân, Tý; đắc tại Sửu, Mùi; hãm tại Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ. Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư của Vũ Tài Lục ghi Thái Âm miếu tại Dậu, Hợi, Tuất; vượng tại Tý, Sửu; hãm tại Ngọ, Dần, Thìn, Tỵ, một số cung như Mão, Mùi, Thân thì sách không liệt kê nên ghi là không nêu. Hai phái tuy chênh nhau đôi chỗ nhưng đều thống nhất ở điều cốt lõi nhất: Thái Âm sáng nhất về đêm và rực rỡ nhất khi đóng tại Dậu, Tuất, Hợi.
Mẹo nhớ: Thái Âm độc tọa, đứng một mình, chỉ ở sáu cung Mão, Thìn, Tỵ, Dậu, Tuất, Hợi. Sáu cung còn lại Thái Âm luôn đi kèm một chính tinh khác: gặp Thiên Đồng ở Tý và Ngọ tạo cách Đồng Âm, gặp Thái Dương ở Sửu và Mùi tạo cách Nhật Nguyệt, gặp Thiên Cơ ở Dần và Thân tạo cách Cơ Âm.
Tứ Hóa Của Thái Âm Theo Tuổi Can
Miếu hãm là độ sáng "trời cho" của mặt trăng, tùy cung nó đóng. Giờ sinh ngày hay đêm là tấm rèm mở hay khép. Còn Tứ Hóa là tấm áo mà tuổi can của người ấy khoác thêm lên mặt trăng. Cùng một Thái Âm cư Hợi, người tuổi Đinh đọc khác hẳn người tuổi Ất, vì một bên trăng đội thêm Lộc, bên kia trăng bị Kỵ che. Trong mười bốn chính tinh, Thái Âm là sao hóa đủ cả bốn: Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ, mỗi hóa một tuổi can khác nhau, nên không xét Tứ Hóa là mới đọc được nửa sao.
Đinh
- Thái Âm hóa: Hóa Lộc
- Cả bộ Tứ Hóa của tuổi ấy (Lộc · Quyền · Khoa · Kỵ): Thái Âm · Thiên Đồng · Thiên Cơ · Cự Môn. Hai phái Nam Bắc thống nhất.
Mậu
- Thái Âm hóa: Hóa Quyền
- Cả bộ Tứ Hóa của tuổi ấy (Lộc · Quyền · Khoa · Kỵ): Tham Lang · Thái Âm · Hữu Bật · Thiên Cơ. Hai phái thống nhất.
Quý
- Thái Âm hóa: Hóa Khoa
- Cả bộ Tứ Hóa của tuổi ấy (Lộc · Quyền · Khoa · Kỵ): Phá Quân · Cự Môn · Thái Âm · Tham Lang. Hai phái thống nhất.
Ất
- Thái Âm hóa: Hóa Kỵ
- Cả bộ Tứ Hóa của tuổi ấy (Lộc · Quyền · Khoa · Kỵ): Thiên Cơ · Thiên Lương · Tử Vi · Thái Âm. Hai phái thống nhất.
Canh
- Thái Âm hóa: không hóa (Bắc phái: Hóa Khoa)
- Cả bộ Tứ Hóa của tuổi ấy (Lộc · Quyền · Khoa · Kỵ): Nam phái, là bảng trang an lá số đang dùng: Thái Dương · Vũ Khúc · Thiên Đồng · Thiên Tướng, Thái Âm không hóa. Bắc phái: Thái Dương · Vũ Khúc · Thái Âm · Thiên Đồng, tức Thái Âm hóa Khoa thay cho Thiên Đồng. Đây là chỗ hai phái khác nhau rõ nhất về Thái Âm.
Giáp, Bính, Kỷ, Tân, Nhâm
- Thái Âm hóa: không hóa
- Cả bộ Tứ Hóa của tuổi ấy (Lộc · Quyền · Khoa · Kỵ): Thái Âm giữ nguyên ánh sáng gốc theo miếu hãm và giờ sinh; chịu ảnh hưởng Tứ Hóa của các sao chiếu về (xem phần phi hóa bên dưới).
Thái Âm hóa Lộc (tuổi Đinh)
Lộc là bổng lộc, là cái được. Thái Âm vốn là phú tinh chủ điền trạch, nay hóa Lộc thì đúng sở trường: của cải đến đều, đến êm, thường qua nhà đất, tích lũy, lương bổng ổn định, hoặc qua tay người mẹ, người vợ. Thái Âm miếu vượng hóa Lộc (tuổi Đinh, sao ở Dậu, Tuất, Hợi, Thân, Tý) là thế đẹp nhất trong mọi thế của sao này, sách xếp ngang với cách phú của bộ Nhật Nguyệt: người thanh nhã mà giàu ngầm, tiền không ồn ào nhưng bền. Đáng chú ý là tuổi Đinh còn có Thiên Đồng hóa Quyền và Thiên Cơ hóa Khoa cùng bộ, mà hai sao ấy luôn nằm trong tam phương tứ chính hoặc đồng cung với Thái Âm (mục 2), nên người tuổi Đinh có Thái Âm thủ Mệnh gần như luôn được bộ Lộc Quyền Khoa chầu về một lúc, sách gọi là tam kỳ gia hội. Thái Âm hãm địa hóa Lộc (Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ) thì Lộc vẫn có nhưng là lộc âm thầm: tiền đến nhờ chắt chiu, nhờ người thân nữ giới, nhờ nghề làm về đêm hay nghề kín đáo, và hay đi kèm một nỗi lo về mẹ. Thầy hay gặp nữ mệnh tuổi Đinh có Thái Âm hãm hóa Lộc là người giữ tiền cho cả nhà, khá giả mà không mấy khi thấy mình sung sướng.
Thái Âm hóa Quyền (tuổi Mậu)
Quyền là quyền uy, là cái nắm được. Mặt trăng hóa Quyền là quyền mềm, quyền trong nhà, quyền của người quản lý tài sản, kế toán, thủ quỹ, người điều hành phía sau chứ không phải người đứng trước đám đông. Thái Âm miếu vượng hóa Quyền là người nữ đảm đang nắm hết việc nhà và tiền bạc, người nam tinh tế mà quyết đoán về của cải, hợp bất động sản, tài chính, quản lý nội bộ. Nhưng tuổi Mậu có Thiên Cơ hóa Kỵ cùng bộ, và Thiên Cơ đồng cung với Thái Âm tại Dần Thân, xung chiếu tại Tỵ Hợi, tam hợp tại Tý Ngọ Thìn Tuất. Nghĩa là Thái Âm Quyền của tuổi Mậu hầu như luôn đi kèm Thiên Cơ Kỵ ở rất gần: nắm quyền mà tính toán hay lệch, hoặc nắm tiền mà đầu óc không yên. Thái Âm hãm hóa Quyền thì quyền không ở tay mình mà là gánh việc thay người: chăm mẹ già, lo tài chính cho chồng, giữ tiền hộ mà không được quyết. Với nữ mệnh tuổi Mậu, Thái Âm Quyền hãm tại Phu Thê thường là người vợ cầm trịch trong nhà nhưng lòng nhiều ưu tư.
Thái Âm hóa Kỵ (tuổi Ất)
Kỵ là cái vướng, cái tối. Mặt trăng hóa Kỵ là trăng bị mây, sách nói thẳng: hao tài, tổn về mẹ hoặc vợ, ưu phiền, mắt kém, và với nữ mệnh là chuyện sức khỏe phần âm. Nhưng phải tách hai trường hợp. Thái Âm miếu vượng hóa Kỵ (tuổi Ất, sao ở Dậu, Tuất, Hợi, Thân, Tý): trăng vẫn sáng, Kỵ chỉ là mây thoáng qua, biểu hiện là hay lo xa, tiền có mà giữ không yên, tình cảm với mẹ đậm mà hay xa cách, mắt dễ mỏi. Tuổi Ất lại có Thiên Cơ hóa Lộc và Thiên Lương hóa Quyền, hai sao luôn ở gần Thái Âm, nên Kỵ của tuổi Ất là Kỵ có cứu: mất ở chỗ này thì được ở chỗ kia. Thái Âm hãm địa hóa Kỵ (tuổi Ất, sao ở Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ) mới là thế nặng thật: trăng đã mờ giữa ban ngày còn bị mây, cần xem kỹ cung Tật Ách về mắt, thận và phần âm huyết, cung Phụ Mẫu về duyên với mẹ, cung Điền Trạch về giấy tờ nhà đất, và với nam mệnh là cung Phu Thê. Trong các vị trí hãm, Thái Âm Kỵ tại Tỵ và Ngọ (trăng giữa trưa) nặng hơn tại Dần và Mão (trăng lặn lúc rạng sáng), và người sinh ban đêm đỡ được một phần đáng kể so với người sinh ban ngày. Thầy gặp nhiều lá Thái Âm Kỵ hãm mà vẫn có nhà có đất, chỉ là nhà đất ấy luôn có chuyện: tranh chấp, đứng tên hộ, mua rồi bán vội.
Hóa từ cung khác bay tới (phi hóa)
Thái Âm không hóa với tuổi mình vẫn có thể "ăn" Tứ Hóa của các sao chiếu về, vì tam phương tứ chính của nó luôn là Thiên Cơ, Thiên Đồng, Thiên Lương, Thái Dương. Ba tình huống hay gặp nhất trên lá số thật:
- Tuổi Giáp, Thái Dương hóa Kỵ chiếu Thái Âm. Thái Dương đồng cung với Thái Âm tại Sửu Mùi, tam hợp tại Mão Hợi và Tỵ Dậu, xung chiếu tại Thìn Tuất. Mặt trời bị mây rọi sang mặt trăng: nữ mệnh lo về chồng hoặc cha, nam mệnh lo về cha, và cả hai đều thấy tiền vào bị "cha hay chồng" kéo đi. Thái Âm sáng thì chịu được; Thái Âm Thìn hãm mà Thái Dương Tuất hãm hóa Kỵ xung chiếu là thế Phản Bối bị Kỵ, nặng nhất trong các thế của bộ Nhật Nguyệt.
- Tuổi Mậu, Thiên Cơ hóa Kỵ đi kèm Thái Âm hóa Quyền. Đã nói ở trên: tại Dần Thân hai hóa nằm ngay trong một cung, Quyền và Kỵ ôm nhau, người giỏi tính mà tính hay sai, nắm tiền mà đầu không yên; tại Tỵ Hợi thì Cơ Kỵ xung chiếu, cái vướng đến từ đường đi, việc dời đổi, người anh em.
- Tuổi Nhâm, Thiên Lương hóa Lộc chiếu Thái Âm; tuổi Bính, Thiên Đồng hóa Lộc chiếu hoặc đồng cung. Hai thế đẹp mà ít người để ý. Lương Lộc chiếu Nguyệt (Thiên Lương luôn tam hợp Thái Âm ở mọi vị trí độc tọa và đồng cung Sửu Mùi) là phúc được che chở, của cải nhờ người lớn tuổi hay nhờ nghề y, giáo, tư vấn. Đồng Lộc đồng cung Thái Âm tại Tý (tuổi Bính) là cách Đồng Âm được thêm phúc lộc, rất hợp người sống bằng nghề an nhàn, văn nghệ, dịch vụ.
Ngược lại, có một Kỵ không bao giờ chiếu thẳng Thái Âm: Cự Môn hóa Kỵ tuổi Đinh, vì Cự Môn không nằm trong tam phương tứ chính hay giáp Thái Âm ở bất kỳ vị trí nào (mục 2). Người tuổi Đinh vì thế được Thái Âm Lộc mà không sợ Cự Kỵ chạm vào Mệnh, trừ khi cung trống trong tam phương phải mượn sao từ cung có Cự Môn. Bắc phái Trung Châu còn xét hóa bay từ cung này sang cung kia theo can của từng cung (phi hóa từng cung), là tầng sâu hơn và thuộc phần luận trả phí của UK MASTER ACADEMY. Trên trang an lá số, bấm vào từng dòng phi hóa dưới lá số là đọc được.
Thái Âm Thủ Mệnh Tại 12 Cung Địa Chi
Cùng một sao Thái Âm nhưng đóng ở mỗi địa chi lại cho một mẫu người khác nhau, do cung đó ứng với lúc trăng sáng hay mờ, và do sao đi kèm.
Dưới đây là nét chính của từng vị trí, lấy theo Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư và Tân Biên, có gạn lọc lại cho gần với đời sống hôm nay.
Đồng Âm đồng cung tại Tý và Ngọ
Thái Âm gặp Thiên Đồng tạo cách Đồng Âm, người hiền hòa, tình cảm, có tài về văn nghệ và đời sống nội tâm phong phú. Tại Tý, Thái Âm vượng nên là cách đẹp, người thanh nhã, thông minh, có phúc, dễ hưởng an nhàn và tài sản, nhất là sinh ban đêm. Tại Ngọ, Thái Âm hãm vì trăng mọc giữa ban ngày, công lực giảm hẳn, người dễ đa sầu đa cảm, vất vả về tình cảm và cần thêm phụ tinh mới đỡ.
Nhật Nguyệt đồng cung tại Sửu và Mùi
Thái Âm gặp Thái Dương ở Sửu, Mùi là cách Nhật Nguyệt, mặt trời và mặt trăng cùng một cung. Người vừa có cái rực rỡ của Thái Dương, vừa có cái dịu sáng của Thái Âm, tính cách dung hòa giữa cương và nhu, có cả danh lẫn lợi nếu hai sao cùng đắc khí. Đây là vị trí thú vị vì âm dương hội tụ, song cũng cần phụ tá tốt, bởi một trong hai sao thường không thể sáng trọn vẹn cùng lúc.
Cơ Âm đồng cung tại Dần và Thân
Thái Âm gặp Thiên Cơ tạo cách Cơ Âm, người thông minh, nhanh nhạy, giỏi mưu trí, hợp nghề cần đầu óc như tư vấn, kế hoạch, kỹ thuật, sáng tạo. Tại Thân, Thái Âm vượng nên là cách đẹp, người vừa có trí vừa có tài lộc, dễ thành đạt. Tại Dần, Thái Âm hãm vì ứng với rạng sáng trăng đã lặn, người tuy thông minh nhưng tình cảm dễ trắc trở, đời nhiều thay đổi, cần kiên trì và giữ lòng vững.
Thái Âm độc tọa tại Mão và Thìn (hãm)
Tại Mão và Thìn, Thái Âm đứng một mình nhưng rơi vào hãm địa vì ứng với lúc trăng còn thấp hoặc đã nhạt. Người thông minh, tình cảm nhưng dễ ưu tư, hay buồn vu vơ, đường tình duyên và tài lộc đến muộn, cần nỗ lực nhiều hơn. Nếu sinh ban đêm và có thêm cát tinh phù trợ thì cái hãm được giảm bớt đáng kể.
Thái Âm độc tọa tại Tỵ (hãm)
Tại Tỵ, Thái Âm hãm nặng vì đây là lúc giữa ban ngày, trăng gần như vô hình. Người vẫn giữ được nét nhân hậu, yêu cái đẹp, nhưng dễ vất vả về tình cảm và tài chính, hay gặp chuyện không như ý, lòng nhiều tâm sự. Đây là vị trí rất cần phụ tinh tốt, cần sinh ban đêm để vớt vát ánh sáng, và cần tu dưỡng để giữ tâm an.
Thái Âm độc tọa tại Dậu và Tuất (miếu)
Đây là những vị trí rất đẹp của Thái Âm, ứng với lúc trăng đã lên cao và sáng tỏ. Người thanh nhã, tướng mạo ưa nhìn, thông minh, có óc thẩm mỹ, giàu tình cảm và đặc biệt có duyên với tài sản, nhà đất. Sinh ban đêm thì càng quý, dễ phú túc, gia đạo êm ấm. Hợp các nghề liên quan tới cái đẹp, văn hóa, nghệ thuật, bất động sản, tài chính và quản lý tài sản.
Thái Âm độc tọa tại Hợi (miếu, đẹp nhất)
Đây là vị trí lý tưởng nhất của Thái Âm, ứng với lúc trăng tròn sáng nhất giữa đêm. Thái Âm cư Hợi tạo cách Nguyệt Lãng Thiên Môn rất quý, chủ phú túc, điền sản dồi dào, người thanh cao, nhân hậu, thông tuệ và nhiều may mắn về tài sản. Nếu sinh ban đêm, hội thêm Lộc, Khoa hoặc Khôi Việt thì phú quý song toàn, gia đạo viên mãn, cuộc đời an nhàn mà sung túc.
Một câu để nhớ
Thái Âm ở Hợi là trăng rằm giữa đêm, sáng nhất và quý nhất. Thái Âm ở Dậu, Tuất là trăng lên cao, đẹp và sung túc. Thái Âm ở Tý, Thân tuy đi cùng sao khác vẫn vượng. Còn Thái Âm ở Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ là trăng giữa ban ngày, mờ nhạt, rất cần ánh sáng từ phụ tinh và từ giờ sinh ban đêm.
Các Cách Cục Quan Trọng Của Thái Âm
Cách cục là những thế sao đặc biệt khi nhiều tinh diệu cùng hội về, tạo ra hiệu ứng lớn hơn nhiều so với từng sao riêng lẻ.
Thái Âm là trung tâm của nhiều cách cục quý nổi tiếng, phần lớn gắn với hình ảnh vầng trăng sáng và sự hòa hợp với Thái Dương.
Một cách cục chỉ "thành" khi hội đủ điều kiện, và "phá" khi vướng một trong các điều kiện phá. Dưới đây mỗi cách ghi rõ cả hai, vì đây là chỗ người mới hay mừng hụt: thấy Thái Âm ở Hợi đã gọi là Nguyệt Lãng Thiên Môn trong khi người ấy sinh giờ Ngọ và tuổi Ất. Mọi cách của Thái Âm đều nằm trong khuôn cấu trúc ở mục 2, tức chỉ ghép được với Thiên Cơ, Thiên Đồng, Thiên Lương và Thái Dương.
Nguyệt Lãng Thiên Môn (trăng sáng cửa trời)
Thành cách: Thái Âm thủ Mệnh độc tọa tại Hợi. Hợi là cửa trời, là lúc trăng lên đến đỉnh, Thái Âm miếu theo cả Tân Biên lẫn Toàn Thư. Phú viết "Nguyệt lãng Thiên Môn, tiến tước phong hầu". Đủ đẹp: sinh ban đêm (giờ Dậu tới giờ Dần), tuổi Đinh để có Hóa Lộc ngay tại Mệnh, thêm Lộc Tồn, Xương Khúc, Khôi Việt hoặc Tả Hữu chầu; theo cấu trúc, cách này luôn có Thái Dương Thiên Lương tại Mão hợp chiếu và Thiên Cơ tại Tỵ xung chiếu, nên khi Thái Dương ở Mão cũng sáng thì Nguyệt Lãng Thiên Môn đồng thời là Nhật Nguyệt tịnh minh. Người hợp cách phú túc, điền sản dồi dào, thanh cao, hợp nghề tài chính, bất động sản, văn hóa, nghệ thuật, và với nữ mệnh là mẫu người vừa đẹp vừa giàu vừa hiền. Phá cách: tuổi Ất (Thái Âm hóa Kỵ ngay tại Mệnh), sinh ban ngày, Tuần Triệt án ngữ cung Hợi, hoặc Không Kiếp, Đà La, Thiên Riêu đồng cung. Khi phá cách, người vẫn thanh nhã và vẫn có của, nhưng của ấy "sáng cho người khác": giữ tiền cho gia đình, đứng tên hộ, hoặc giàu mà lòng không vui.
Thủy Trừng Quế Ngạc và Đồng Âm (Thiên Đồng Thái Âm tại Tý, Ngọ)
Thành cách: Thái Âm đồng cung Thiên Đồng thủ Mệnh tại Tý. Tý là chính bắc, nửa đêm, Thái Âm vượng, Thiên Đồng cũng đắc địa. Toàn Thư viết "Thái Âm cư Tý, hiệu viết Thủy Trừng Quế Ngạc, đắc thanh yếu chi chức, trung gián chi tài", nghĩa là nước trong in bóng cành quế, người được chức thanh cao trọng yếu, có tài can gián trung thực. Đây là cách của người làm nghề cần sự trong sạch và tinh tế: thanh tra, thư ký, cố vấn, giáo dục, y dược, nghệ thuật. Đủ đẹp: sinh ban đêm, tuổi Đinh (Thái Âm Lộc và Thiên Đồng Quyền cùng một cung, là thế Lộc Quyền đồng cung hiếm có) hoặc tuổi Bính (Thiên Đồng hóa Lộc), thêm Xương Khúc hoặc Khôi Việt. Theo cấu trúc, tam hợp của Tý luôn có Thiên Cơ Thiên Lương tại Thìn chiếu về, nên cách này đồng thời là cách Cơ Nguyệt Đồng Lương trọn bộ. Phá cách: tuổi Ất (Thái Âm Kỵ), tuổi Canh theo Bắc phái (Thiên Đồng Kỵ), gặp Kình Đà Hỏa Linh đồng cung. Cùng bộ Đồng Âm nhưng tại Ngọ thì Thái Âm hãm, trăng mọc giữa trưa, Thiên Đồng cũng không mạnh; sách không xếp Đồng Âm Ngọ là cách quý. Thầy thấy Đồng Âm Ngọ hay là người tình cảm, tài hoa mà lận đận, nhất là về hôn nhân, cần sinh ban đêm và có Hóa Lộc, Hóa Khoa mới đỡ; tuổi Đinh Đồng Âm Ngọ vẫn có lộc nhưng là lộc của người hay thay đổi chỗ làm.
Nhật Nguyệt Tịnh Minh (mặt trời mặt trăng cùng sáng), nhìn từ phía Thái Âm
Phú viết "Nhật Nguyệt tịnh minh, tá cửu trùng ư Nghiêu điện": mặt trời mặt trăng cùng sáng thì phò vua nơi điện Nghiêu. Thành cách: Thái Âm sáng và Thái Dương sáng cùng chiếu về Mệnh. Từ phía Thái Âm có ba thế đúng cấu trúc ở mục 2. Một là Mệnh tại Hợi, Thái Âm miếu thủ Mệnh, Thái Dương tại Mão vượng hợp chiếu, thế này trùng với Nguyệt Lãng Thiên Môn. Hai là Mệnh an tại Sửu, Thái Dương tại Tỵ và Thái Âm tại Dậu cùng hợp chiếu về (hoặc Mệnh tại Mùi với Thái Dương Mão, Thái Âm Hợi), thế này bài Thái Dương đã nói kỹ. Ba là Mệnh tại Tuất, Thái Âm miếu thủ Mệnh, Thái Dương tại Thìn vượng xung chiếu, trăng lên phía tây khi mặt trời còn ở phía đông, hai vầng cùng thấy; sách khen Nhật Thìn Nguyệt Tuất nhưng không đặt tên riêng, Thầy xếp vào tịnh minh theo nguyên lý cả hai cùng sáng. Người hợp cách được cả uy của cha lẫn phúc của mẹ, cả danh lẫn tài. Đủ đẹp: sinh giờ hợp với sao thủ Mệnh (Thái Âm thủ thì sinh đêm), tuổi Đinh hoặc tuổi Canh để một trong hai sao hóa Lộc, thêm Tả Hữu chầu. Phá cách: chỉ cần một trong hai sao hóa Kỵ (tuổi Ất hay tuổi Giáp) là cách bị "một sáng một tối"; Mệnh có Không Kiếp thủ; hoặc Thái Dương ở cung hãm dù Thái Âm sáng, ví dụ Thái Âm Dậu miếu nhưng Thái Dương Tỵ tuy vượng mà đã xế nên chỉ được nửa cách.
Nhật Nguyệt Phản Bối (mặt trời mặt trăng quay lưng)
Phú viết "Nhật Nguyệt tối hiềm phản bối". Thành cách (đây là cách xấu): Thái Âm ở Thìn, Thái Dương ở Tuất, hai sao xung chiếu nhau mà cùng hãm: mặt trời đã lặn ở Tuất, mặt trăng chưa lên ở Thìn, đúng lúc trời đất không có ánh sáng nào. Người có Mệnh ở Thìn (Thái Âm thủ) hoặc Tuất (Thái Dương thủ) rơi vào thế này cần hết sức chú ý về cha mẹ, về mắt, và về tài sản gia đình. Từ phía Thái Âm, Mệnh tại Thìn có Thiên Đồng Thiên Lương tại Thân và Thiên Cơ tại Tý hợp chiếu, tức bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương vẫn đủ, nên người không hề kém trí, chỉ là tối về duyên với mẹ và về của. Cách này đỡ được đáng kể khi có Tuần hoặc Triệt án tại cung có sao hãm (tối bị che thì thành đỡ tối), khi sinh ban đêm cứu Thái Âm, hoặc khi tuổi Đinh cho Thái Âm hóa Lộc, tuổi Quý cho hóa Khoa. Nặng nhất là tuổi Ất, Thái Âm Thìn hóa Kỵ, hay tuổi Giáp, Thái Dương Tuất hóa Kỵ xung chiếu, cả hai đều là "tối chồng tối". Thầy dặn người có Phản Bối bị Kỵ nên xem kỹ Phụ Mẫu và Điền Trạch trước khi bàn chuyện khác.
Nhật Nguyệt Chiếu Bích (mặt trời mặt trăng rọi vách nhà)
Thành cách: Thái Dương và Thái Âm đồng cung tại Sửu hoặc Mùi, và cung ấy là Điền Trạch. Nhật Nguyệt rọi vào vách nhà thì nhà cửa sáng sủa, điền sản nhiều, sách khen về bất động sản và của để dành. Theo cấu trúc, Nhật Nguyệt Sửu Mùi luôn có Thiên Lương tam hợp và Thiên Phủ, Vũ Khúc giáp một bên, Tham Lang giáp bên kia, nên kho lẫm ở ngay cạnh cung nhà. Đủ đẹp: tại Sửu Thái Âm đắc (Tân Biên) hoặc vượng (Toàn Thư) nên khá hơn tại Mùi; thêm Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc (tuổi Đinh Thái Âm Lộc, tuổi Canh Thái Dương Lộc), Tả Hữu. Phá cách: Không Kiếp, Đại Tiểu Hao đồng cung ở Điền, hoặc Hóa Kỵ tuổi Ất, tuổi Giáp rơi vào cung ấy: nhà đất có mà giữ không bền, mua rồi bán. Nhật Nguyệt đồng cung thủ Mệnh tại Sửu Mùi thì sách nói "Nhật Nguyệt thủ bất như chiếu hợp": ở cùng một cung không bằng chiếu nhau, vì hai sao chung một cung thì luôn một sáng một mờ, chỉ có ở Điền Trạch cái "cùng cung" ấy mới hóa thành ưu điểm, bởi nhà đất cần cả sáng lẫn tối, cả ngày lẫn đêm.
Cơ Âm (Thiên Cơ Thái Âm tại Dần, Thân)
Thành cách: Thái Âm đồng cung Thiên Cơ thủ Mệnh tại Dần hoặc Thân. Mưu thần gặp mặt trăng: người thông minh, nhanh nhạy, giỏi tính toán, hợp nghề cần đầu óc và sự tinh tế như tài chính, kế hoạch, kỹ thuật, tư vấn, sáng tạo. Tại Thân Thái Âm vượng nên là cách đẹp; tại Dần Thái Âm hãm, trăng lặn lúc rạng sáng, người tuy giỏi nhưng đời nhiều dời đổi, tình cảm hay trắc trở. Theo cấu trúc, Cơ Âm Dần Thân luôn có Thiên Lương và Thiên Đồng tam hợp, nên Cơ Âm thủ Mệnh đồng thời là cách Cơ Nguyệt Đồng Lương trọn bộ; phú viết "Cơ Nguyệt Đồng Lương tác lại nhân", cả bộ hợp làm công chức, người làm công ăn lương, người cầm sổ sách hơn là làm chủ lớn. Đủ đẹp: Cơ Âm Thân sinh ban đêm, tuổi Đinh (Thái Âm Lộc, Thiên Cơ Khoa cùng cung), tuổi Ất (Thiên Cơ Lộc, nhưng Thái Âm Kỵ nên chỉ được nửa), thêm Xương Khúc. Phá cách: tuổi Mậu, Thiên Cơ hóa Kỵ ngay trong cung dù Thái Âm hóa Quyền, người nắm tiền mà tính hay sai; tuổi Ất Thái Âm Kỵ tại Dần là nặng nhất; gặp Hỏa Linh, Không Kiếp đồng cung thì mưu nhiều mà thành ít. Cơ Âm là cặp hay "đi": đổi chỗ ở, đổi việc, đi nước ngoài; Thầy thấy Cơ Âm Thân có Thiên Mã đồng cung phần nhiều là người sống xa quê mà khá giả.
Cách hay cũng có mặt cần dè chừng
Thái Âm dù sáng đến đâu mà gặp Hóa Kỵ thì như trăng bị mây che, dễ hao tài, ưu phiền, tổn về mẹ hoặc vợ. Thái Âm miếu vượng mà gặp Tuần, Triệt án ngữ thì ánh trăng bị chặn, cái quý khó phát trọn vẹn. Ngược lại, Thái Âm hãm địa nếu gặp Tuần, Triệt lại được đỡ xấu phần nào, vì cái tối vốn đã bất lợi nay bị che bớt đi. Riêng với Thái Âm còn thêm một điều kiện mà các sao khác không có: giờ sinh. Cách quý nhất mà sinh giữa trưa thì chỉ còn nửa cách; cách xấu mà sinh nửa đêm thì bớt đi một phần. Bởi vậy luận Thái Âm phải xét cả thế sáng tối, giờ sinh, Tứ Hóa theo tuổi lẫn các sao án ngữ, không thể vội mừng hay vội lo.
Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
Thái Âm tốt hay xấu phụ thuộc nhiều vào dàn sao vây quanh và độ sáng của chính nó. Cùng một vầng trăng, gặp sao lành thì sáng thêm, gặp mây mù che lấp thì lu mờ.
Hai cột dưới đây tóm tắt nhanh những sao Thái Âm mừng được gặp và những sao Thái Âm e ngại.
Trước khi đọc hai cột dưới đây, cần nhớ một quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Thái Âm là mạnh nhất, xung chiếu là mạnh nhì, tam hợp chiếu là nhẹ hơn, còn giáp hai bên là thế bao vây, mạnh với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Hóa Kỵ đồng cung là mây che ngay trên vầng trăng; Hóa Kỵ tam hợp chiếu chỉ là mây ở chân trời. Với Thái Âm còn phải cộng thêm hai điều kiện nền là miếu hãm và giờ sinh, vì cùng một Đà La đồng cung, Thái Âm Hợi sinh đêm chịu được, Thái Âm Tỵ sinh ngày thì không.
Thái Âm rất thích gặp
- Thái Dương sáng (xung chiếu hoặc tam hợp): thành Nhật Nguyệt tịnh minh. Đồng cung tại Sửu Mùi thì hay nhưng không bằng chiếu nhau, sách nói "thủ bất như chiếu hợp".
- Lộc Tồn, Hóa Lộc (đồng cung mạnh nhất, tam hợp cũng tốt): phú tinh gặp lộc, của cải bền, hợp nhất tại Điền Trạch và Tài Bạch.
- Văn Xương, Văn Khúc (đồng cung): trăng gặp văn tinh, thêm tài hoa, thẩm mỹ, chữ nghĩa; tuổi Quý còn có Thái Âm Khoa nên danh về học vấn.
- Thiên Khôi, Thiên Việt (đồng cung hoặc chiếu): quý nhân nâng đỡ, nhất là quý nhân nữ hoặc người lớn tuổi.
- Tả Phụ, Hữu Bật (đồng cung, giáp cũng tốt): thêm người phò tá, thêm chị em bạn bè giúp sức; tuổi Mậu Hữu Bật hóa Khoa đi cùng Thái Âm Quyền là thế đẹp.
- Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỷ (đồng cung, khi Thái Âm sáng): thêm duyên, thêm vui, đẹp người đẹp nết; nhưng chỉ tốt khi không có Thiên Riêu đi kèm.
- Thiên Mã (đồng cung, chỉ có tại Dần Thân Tỵ Hợi): Thái Âm Hợi hay Thân gặp Mã là đi xa mà giàu.
Thái Âm e ngại khi gặp
- Hóa Kỵ (đồng cung nặng nhất, xung chiếu kế): trăng bị mây che, hao tài, ưu phiền, tổn về mẹ hoặc vợ. Kỵ tam hợp chiếu chỉ là nỗi lo thoáng qua.
- Đà La (đồng cung): ánh trăng bị ám, lòng phiền muộn dai dẳng, chuyện tình cảm kéo dài không dứt; gặp thêm Thiên Riêu là thế trăng mờ sương.
- Thiên Riêu (đồng cung): mặt trăng gặp sương, tình duyên rối, dễ mang tiếng, với nữ mệnh cần giữ mình.
- Kình Dương (đồng cung hoặc giáp): lòng hay tổn thương, mắt và thận dễ phải can thiệp; giáp Kình Đà là thế bị kẹp, nặng hơn chiếu.
- Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung hoặc giáp Mệnh): của cải hóa hư, tích được rồi mất; giáp là thế xấu hơn chiếu.
- Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung): thủy hỏa xung nhau, mất ngủ, nóng lạnh thất thường, tình cảm bốc rồi tắt.
- Hãm địa và sinh ban ngày: không phải sao mà là thế; hai điều kiện này cộng lại thì mọi cát tinh chỉ đỡ được một phần.
Một lưu ý riêng của Thái Âm về Tuần Triệt. Khi Thái Âm đang miếu vượng mà gặp Tuần hoặc Triệt án ngữ thì như trăng sáng bị mây che, ánh sáng bị giảm, cái quý khó phát trọn vẹn. Ngược lại, khi Thái Âm hãm địa mà gặp Tuần Triệt thì lại đỡ xấu, vì cái hãm vốn đã tối nay được che bớt nên giảm hung. Đây là điểm tinh tế cần nhớ khi luận một lá số có Thái Âm.
Thái Âm Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Đại vận đi vào cung có Thái Âm
Đại vận đến cung Thái Âm miếu vượng là mười năm tích lũy và an ổn: có nhà, có đất, có của để dành, gia đạo êm, người mẹ hoặc người vợ là chỗ dựa, việc làm thiên về nội bộ, tài chính, cái đẹp. Nếu cung ấy lại có Lộc hay Khoa theo tuổi thì đó thường là đại vận "giàu ngầm" của đời, tiền không ồn ào mà nhiều. Đại vận đến cung Thái Âm hãm là mười năm lo lắng âm thầm: lo cho mẹ, cho vợ, cho con gái; nhà đất có chuyện; tiền vào mà không giữ được; đêm hay mất ngủ. Người có Mệnh vốn cứng (Sát Phá Tham) mà đại vận đi tới Thái Âm sáng thì là mười năm lui về xây nhà, lập gia đình, tích của, thường là giai đoạn ổn định nhất đời, chỉ cần đừng đem tính xung trận vào chuyện nhà. Ngược lại Mệnh Thái Âm sáng mà đại vận rơi vào Thái Dương hãm là thời gian phải ra ngoài, phải gánh việc cho cha hoặc chồng, nên giữ cái đang có hơn là mở rộng. Với nữ mệnh, đại vận Thái Âm sáng hay là chặng làm mẹ, làm chủ gia đình; đại vận Thái Âm hãm gặp Kỵ là chặng cần khám sức khỏe phần âm đều đặn.
Lưu niên: năm nào mặt trăng đổi áo
Tứ Hóa lưu niên lấy theo can của năm xem, cùng bảng với Tứ Hóa bản mệnh. Vì thế mỗi mười năm, Thái Âm trong lá số của mọi người lần lượt đội Lộc, đội Quyền, đội Khoa rồi bị Kỵ:
Đinh
- Thái Âm lưu hóa: Lưu Lộc
- Các năm gần đây và sắp tới: 2017 Đinh Dậu · 2027 Đinh Mùi · 2037 Đinh Tỵ
- Đọc thế nào: Năm thuận cho nhà đất, tích lũy, chuyện của mẹ và vợ; cung nào có Thái Âm thì lĩnh vực ấy có lộc trong năm. Năm Đinh còn có Cự Môn lưu Kỵ, nhưng Cự Môn không chiếu Thái Âm nên lộc này ít bị quấy.
Mậu
- Thái Âm lưu hóa: Lưu Quyền
- Các năm gần đây và sắp tới: 2018 Mậu Tuất · 2028 Mậu Thân · 2038 Mậu Ngọ
- Đọc thế nào: Năm được giao giữ tiền, giữ việc nội bộ, nữ mệnh nắm quyền trong nhà; Thái Âm hãm thì là năm gánh việc thay mẹ hay thay vợ. Kèm Thiên Cơ lưu Kỵ chiếu tới, tính toán năm ấy hay sai.
Quý
- Thái Âm lưu hóa: Lưu Khoa
- Các năm gần đây và sắp tới: 2023 Quý Mão · 2033 Quý Sửu · 2043 Quý Hợi
- Đọc thế nào: Năm có tiếng thơm, thi cử, xét tuyển, việc học và nghệ thuật thuận; Khoa lưu cũng giải bớt Kỵ bản mệnh của tuổi Ất. Kèm Tham Lang lưu Kỵ ở cung liền sau.
Ất
- Thái Âm lưu hóa: Lưu Kỵ
- Các năm gần đây và sắp tới: 2015 Ất Mùi · 2025 Ất Tỵ · 2035 Ất Mão
- Đọc thế nào: Năm trăng bị mây: để ý sức khỏe mẹ hoặc vợ, giấy tờ nhà đất, tiền cho vay, mắt và giấc ngủ; Thái Âm ở Điền thì nhà đất bị soi, ở Phụ Mẫu thì lo cho mẹ, ở Tật thì đi khám.
Canh (chỉ Bắc phái)
- Thái Âm lưu hóa: Lưu Khoa
- Các năm gần đây và sắp tới: 2020 Canh Tý · 2030 Canh Tuất · 2040 Canh Thân
- Đọc thế nào: Theo Bắc phái năm Canh Thái Âm lưu Khoa; theo Nam phái mà trang an lá số đang dùng thì năm Canh Thái Âm không hóa, Thiên Đồng lưu Khoa. Xem lá số theo phái nào thì đọc theo phái ấy.
Các sao lưu chạm vào cung Thái Âm
- Lưu Thái Tuế đến cung Thái Âm: năm có việc dính tới nhà đất, giấy tờ tài sản, hoặc chuyện của người mẹ, người vợ phải ra công khai; sáng thì được việc, hãm thì lôi thôi, dễ tranh chấp đất với người thân.
- Lưu Kình Dương, lưu Đà La đến cung Thái Âm hãm: năm cần xem mắt, thận, và với nữ là phần phụ khoa; lưu Đà chạm Thái Âm tại Phu Thê là năm vợ chồng lạnh nhạt kéo dài, lưu Kình chạm Thái Âm tại Tật Ách là năm hay phải can thiệp y tế nhỏ.
- Lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ đến cung Phụ Mẫu có Thái Âm hãm, nhất là trùng năm Ất: đây là tổ hợp Thầy luôn dặn khách để ý sức khỏe người mẹ trong năm, không kết luận tang nhưng phải đưa mẹ đi khám sớm.
- Lưu Xương Khúc, lưu Khôi Việt đến cung Thái Âm sáng: năm thi cử, xét tuyển, được tiếng thơm về học vấn, nghệ thuật; nữ mệnh hay là năm được người trên nâng đỡ.
- Lưu Thiên Mã đến cung Thái Âm sáng tại Dần Thân Tỵ Hợi: năm dời nhà, đổi chỗ ở, đi xa hoặc mua nhà nơi khác; Thái Âm hãm gặp lưu Mã là năm dời đổi vì bất đắc dĩ.
- Lưu Hồng Loan, lưu Thiên Hỷ, lưu Đào Hoa đến cung Thái Âm sáng: năm cưới hỏi, sinh con gái, tin vui trong nhà; Thái Âm hãm gặp lưu Đào thêm Riêu thì là năm dễ vướng tình cảm ngoài luồng.
Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Thái Âm
Một sao càng được yêu càng bị gán thêm nhiều thứ không có trong sách. Mục này nói rõ Thái Âm không chủ về gì, để người đọc khỏi mừng hụt hay lo oan.
Thái Âm trong Tử Vi không phải sao Thái Âm trong cúng sao giải hạn
Đây là nhầm lẫn phổ biến nhất. "Năm nay sao Thái Âm chiếu mệnh" mà người ta nói khi cúng sao đầu năm là sao Thái Âm trong hệ Cửu Diệu (La Hầu, Thổ Tú, Thủy Diệu, Thái Bạch, Thái Dương, Vân Hán, Kế Đô, Thái Âm, Mộc Đức), an theo tuổi mụ và giới tính, mỗi năm đổi một sao, và trong hệ ấy Thái Âm được coi là sao tốt với nữ. Sao Thái Âm trong Tử Vi Đẩu Số là chính tinh an theo tháng và giờ sinh, nằm cố định trong lá số suốt đời. Hai hệ không liên quan gì nhau: người có Thái Âm Tử Vi hãm địa vẫn có thể gặp năm Thái Âm Cửu Diệu chiếu mệnh, và ngược lại. Muốn tra sao hạn từng năm thì dùng công cụ sao hạn, không phải bài này.
Thái Âm hãm không đồng nghĩa với nghèo, cũng không đồng nghĩa với mất mẹ sớm
Sách nói Thái Âm hãm thì "kém sáng suốt, hay nhầm lẫn, dễ phát tán, suy bại" và "duyên với mẹ mỏng". Sách không nói nghèo, cũng không nói mất mẹ. Thái Âm là phú tinh nhưng chỉ là một trong các nguồn của cải; tiền bạc trong lá số còn do Tài Bạch, Vũ Khúc, Lộc Tồn, Thiên Phủ quyết định, mà Thiên Phủ thì luôn ở ngay cạnh Thái Âm. Thầy gặp rất nhiều lá Thái Âm hãm mà khá giả, họ chỉ không tích được của theo kiểu êm đềm, tiền của họ đến từ Vũ Khúc, Tham Lang hay Lộc Tồn ở cung khác và đến với nhiều mồ hôi hơn. Còn "duyên với mẹ mỏng" trên lá số thật hay là mẹ đi làm xa, mẹ vất vả, hai mẹ con thương nhau mà ít nói được với nhau, chứ không phải điều gì đáng sợ. Chỉ khi Thái Âm hãm hóa Kỵ ở Phụ Mẫu, thêm Kình Đà hay Tang Hổ, và có lưu niên chạm tới mới cần đặt vấn đề sức khỏe của mẹ, và cũng chỉ để đi khám sớm.
Sinh ban ngày không làm Thái Âm "vô dụng"
Tân Biên nhấn mạnh Thái Âm ưa sinh ban đêm, tức là sinh đêm thì thêm điểm, chứ không nói sinh ngày thì mất Thái Âm. Thái Âm miếu tại Hợi mà sinh giờ Ngọ vẫn là Thái Âm miếu, chỉ bớt rực rỡ một bậc; người sinh ngày mà Thái Âm sáng vẫn có của, có nhà, có mẹ hiền, có điều tài sản thường đến muộn hơn và thường qua đường công việc hơn là qua đường thừa hưởng. Xét theo nguyên lý thì giờ sinh là điều kiện nền, còn miếu hãm là điều kiện gốc: Thái Âm hãm mà sinh đêm vẫn là hãm được vớt, Thái Âm miếu mà sinh ngày vẫn là miếu bị bớt, hai thứ này không đổi chỗ cho nhau được. Cách đọc "sinh ngày thì bỏ Thái Âm không xét" là đọc sai.
Nam mệnh Thái Âm không phải "yếu đuối", và Thái Âm không phải sao đào hoa
Sách nói Thái Âm là sao âm nhu, chủ tinh tế, thẩm mỹ, tình cảm; với nam mệnh còn chỉ người vợ. Sách không nói nam mệnh Thái Âm là ủy mị hay thiếu ý chí, càng không xếp Thái Âm vào nhóm đào hoa. Đào hoa trong Tử Vi là Tham Lang, Liêm Trinh, và các sao Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Riêu; Thái Âm chỉ "có duyên" khi những sao ấy đến cùng. Nam mệnh Thái Âm sáng trên lá số thật phần nhiều là người điềm đạm, tính kỹ, giỏi giữ tiền, rất được lòng phụ nữ lớn tuổi, và là người chồng biết chăm sóc. Chỉ khi Thái Âm hãm cộng Đà La, Thiên Riêu, Hóa Kỵ mới có chuyện thiếu quyết đoán hay tình cảm lằng nhằng, mà khi ấy lỗi là ở dàn sao đi cùng chứ không ở mặt trăng.
Thái Âm hóa Kỵ không mặc định là bệnh mắt hay bệnh phụ khoa
Sách ghi Thái Âm chủ mắt, thận, âm huyết, và Thái Âm Kỵ thì "tổn", nhưng đó là khi Kỵ ấy rơi vào cung Tật Ách hoặc cung Mệnh với sao hãm. Thái Âm Kỵ tại Điền Trạch chủ yếu là chuyện nhà đất lằng nhằng, tại Nô Bộc là bị bạn bè nữ giới làm phiền, tại Tài Bạch là tiền cho vay không đòi được. Đọc bệnh phải đọc ở Tật Ách, đọc từ cung Mệnh sang chỉ được phép suy ra khuynh hướng, không được phán bệnh. Và ngay tại Tật Ách, Thái Âm Kỵ miếu vượng sinh đêm cũng chỉ là "dễ mỏi mắt, dễ lạnh", không phải bệnh; chỉ Thái Âm Kỵ hãm địa thêm Kình Đà Riêu mới là thế cần đi khám.
Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải
Thái Âm vốn là sao tốt và đáng quý, nên việc cần làm không phải là lo sợ, mà là biết phát huy cái đẹp, cái phúc và tiết chế cái yếu của tính âm nhu.
Dưới đây là vài điều người có Thái Âm nổi bật trong lá số nên ghi nhớ và thực hành mỗi ngày.
- Rèn sự quyết đoán. Thái Âm hay đa cảm, do dự, nên tập đưa ra quyết định dứt khoát và đứng vững với lựa chọn của mình, tránh để cảm xúc cuốn đi.
- Giữ tâm an, bớt nghĩ ngợi. Người Thái Âm dễ buồn vu vơ và ôm tâm sự trong lòng. Thiền, đi bộ, chia sẻ với người thân giúp giữ ánh trăng trong tâm luôn sáng.
- Phát huy thế mạnh tài sản. Thái Âm có duyên tích lũy, nhà đất và tài chính. Hãy biết tiết kiệm, đầu tư đều đặn vào tài sản bền vững thay vì tiêu tán.
- Trân trọng người thân nữ giới. Vì Thái Âm chủ mẹ và vợ, hãy quan tâm chăm sóc mẹ, vợ và những phụ nữ trong gia đình, đó cũng là cách giữ phúc.
- Xem kỹ cả lá số trước khi kết luận. Thái Âm sáng hay tối phụ thuộc giờ sinh và dàn sao đi cùng. Đây là việc nên nhờ người có chuyên môn luận giúp cho chính xác.
Về phong thủy bổ trợ: người mệnh có Thái Âm vốn hành Thủy, hợp các gam màu trắng, bạc, xanh dương dịu và không gian sống thanh nhã, sạch sẽ, gần ánh sáng mềm. Đây là gợi ý chung mang tính tham khảo, muốn chuẩn xác vẫn cần dựa trên trọn bộ lá số và bản mệnh.
Câu hỏi thường gặp
Thái Âm là phú tinh thuộc chòm Bắc Đẩu trong Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Âm Thủy, tượng cho mặt trăng. Đây là sao chủ về tài sản, nhà đất, sự phú túc, đồng thời mang tính nữ, chủ về mẹ và về vợ. Người có Thái Âm thường khoan hòa, nhân hậu, thông minh và yêu cái đẹp.
Thái Âm là mặt trăng, mang khí âm nhu nên trong lá số đại diện cho phái nữ. Với mọi mệnh, Thái Âm chỉ người mẹ và các con gái; riêng với nam mệnh, Thái Âm còn chỉ người vợ. Vì thế khi luận về tình trạng mẹ hoặc vợ, người ta thường xét tới vị trí và mức sáng tối của Thái Âm.
Thái Âm là mặt trăng, chỉ rực rỡ về đêm. Người sinh vào ban đêm, nhất là từ mùng một đến rằm khi trăng lên, thì Thái Âm thuận lý, sáng tỏ, phát huy trọn vẹn cái đẹp và sự phú túc. Sinh ban ngày thì trăng mờ, Thái Âm kém sáng, công lực giảm, nhất là khi đóng ở các cung hãm.
Đó là cách Thái Dương và Thái Âm cùng sáng và cùng chiếu về Mệnh, ví như mặt trời và mặt trăng cùng tỏa rạng. Người hợp cách này thường có cả danh lẫn lợi, được cả uy lẫn phúc, công danh tài lộc song toàn, là một trong những cách quý đáng quý nhất của bộ Nhật Nguyệt.
Thái Âm sáng nhất và đẹp nhất khi đóng tại Dậu, Tuất, Hợi, là lúc trăng lên cao và tỏ rạng. Trong đó Thái Âm độc tọa tại Hợi tạo cách Nguyệt Lãng Thiên Môn rất quý, chủ phú túc, điền sản dồi dào, người thanh nhã và nhiều may mắn về tài sản.
Do cách an sao theo chuỗi Thiên Phủ, tam phương tứ chính của Thái Âm chỉ có thể gặp Thiên Cơ, Thiên Đồng, Thiên Lương, Thái Dương hoặc cung trống, hợp thành bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương và bộ Nhật Nguyệt. Thái Âm không bao giờ có Tử Vi, Vũ Khúc, Liêm Trinh, Thiên Phủ, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thất Sát hay Phá Quân chiếu về, và luôn bị giáp bởi Thiên Phủ ở cung trước, Tham Lang ở cung sau. Vì Cự Môn không nằm trong tam phương tứ chính của Thái Âm ở bất kỳ vị trí nào, Cự Môn hóa Kỵ tuổi Đinh không chiếu thẳng vào Thái Âm, chỉ chạm tới qua cung trống mượn sao.
Năm có can Ất thì Thái Âm lưu hóa Kỵ, gần đây là 2025 Ất Tỵ, sắp tới là 2035 Ất Mão. Năm ấy nên để ý sức khỏe mẹ hoặc vợ, giấy tờ nhà đất, tiền cho vay, mắt và giấc ngủ, nhất là khi Thái Âm bản mệnh cũng đã hóa Kỵ vì tuổi Ất, gọi là Kỵ chồng Kỵ. Ngược lại năm can Đinh Thái Âm lưu hóa Lộc (2027 Đinh Mùi), năm can Mậu lưu hóa Quyền, năm can Quý lưu hóa Khoa, là những năm thuận cho nhà đất, tích lũy và chuyện gia đạo.
Đó là cách Nhật Nguyệt Phản Bối: Thái Âm hãm tại Thìn, Thái Dương hãm tại Tuất xung chiếu nhau, mặt trời đã lặn mà mặt trăng chưa lên. Sách xếp là cách xấu, cần chú ý về cha mẹ, mắt và tài sản gia đình. Cách này đỡ được đáng kể khi có Tuần hoặc Triệt án tại cung có sao hãm, khi sinh ban đêm để cứu Thái Âm, hoặc khi tuổi Đinh cho Thái Âm hóa Lộc, tuổi Quý cho hóa Khoa. Nặng nhất là tuổi Ất (Thái Âm hóa Kỵ) hoặc tuổi Giáp (Thái Dương hóa Kỵ), là thế tối chồng tối.