Tử Vi
Sao Thai Phụ: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung
Tìm hiểu sao Thai Phụ trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.
Tổng quan về sao Thai Phụ
Thai Phụ là sao chủ bằng sắc và danh vọng, ngũ hành Kim đới Thổ, đi cặp với Phong Cáo. Hai sao này gắn với chức tước, văn bằng, sự được phong tặng, lợi cho con đường khoa danh.
- Ngũ hành: Kim (đới Thổ)
- Nhóm: Phụ Tinh Khoa Danh
- Cách an: Thai phụ an theo giờ sinh, đi cặp với phong cáo
- Cai quản: hiếu danh, bằng sắc, thi cử
- Tính chất: Bằng sắc, khoa danh
Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.
Ý nghĩa tại cung Mệnh
- Thai Phụ đắc thế, có văn tinh hoặc cát hóa: Người coi trọng danh phận và hình thức đúng mực, ăn mặc chỉnh tề, giấy tờ ngăn nắp; hợp con đường phải có bằng cấp, chứng chỉ, thi tuyển mới tiến.
- Thai Phụ thất thế, gặp sát tinh, Tuần Triệt hoặc Hóa Kỵ: Hiếu danh lộ ra ngoài: chuộng chức danh hơn nội dung công việc, khoe bằng khoe chỗ đứng, tự ái vì những chuyện thể diện nhỏ.
Ý nghĩa ở các cung khác
Đối chiếu ý nghĩa của Thai Phụ với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.
Cung Phụ Mẫu
- Thai Phụ đắc thế, có văn tinh hoặc cát hóa: Cha mẹ hoặc người nuôi dạy có học vấn, có chức phận, lo cho con đường học hành bài bản; giấy tờ hộ tịch của mình rõ ràng từ nhỏ.
- Thai Phụ thất thế, gặp sát tinh, Tuần Triệt hoặc Hóa Kỵ: Người trên nghiêm về thành tích, khen ít trách nhiều; hoặc gặp trắc trở về giấy tờ liên quan tới cha mẹ, hộ khẩu, thừa kế, khai sinh.
Cung Phúc Đức
- Thai Phụ đắc thế, có văn tinh hoặc cát hóa: Nếp nhà coi trọng chữ nghĩa và học hành, dòng họ có truyền thống khoa bảng hoặc có người làm việc công.
- Thai Phụ thất thế, gặp sát tinh, Tuần Triệt hoặc Hóa Kỵ: Trong lòng nặng chuyện hơn kém với người ngoài, sống theo mắt thiên hạ; nhà nặng lễ nghi hình thức mà nhẹ tình.
Cung Điền Trạch
- Thai Phụ đắc thế, có văn tinh hoặc cát hóa: Nhà đất có giấy tờ đầy đủ, sổ sách rõ ràng, thừa kế minh bạch; nhà cửa bài trí chỉn chu, có chỗ trưng bằng khen.
- Thai Phụ thất thế, gặp sát tinh, Tuần Triệt hoặc Hóa Kỵ: Mua nhà vì địa chỉ nghe cho oai; hoặc vướng sổ đỏ, giấy phép xây dựng, thủ tục sang tên kéo dài.
Cung Quan Lộc
- Thai Phụ đắc thế, có văn tinh hoặc cát hóa: Đây là cung nói rõ nhất. Công việc gắn với bổ nhiệm, chức vụ, ngạch bậc, chứng chỉ hành nghề; thăng tiến theo lộ trình có văn bản, thi tuyển hoặc xét duyệt.
- Thai Phụ thất thế, gặp sát tinh, Tuần Triệt hoặc Hóa Kỵ: Có chức danh mà không có thực quyền, ngồi chỗ đẹp mà việc người khác quyết; hoặc quyết định bổ nhiệm bị treo, hồ sơ thi tuyển trục trặc.
Cung Nô Bộc
- Thai Phụ đắc thế, có văn tinh hoặc cát hóa: Bạn bè và cộng sự thuộc giới có nghề, có chức, quan hệ đi qua hội nhóm nghề nghiệp và trường lớp chính quy.
- Thai Phụ thất thế, gặp sát tinh, Tuần Triệt hoặc Hóa Kỵ: Quan hệ chọn theo danh phận, chơi với người có chức chứ không phải người hợp; khi mất chỗ đứng thì bạn cũng vãn.
Cung Thiên Di
- Thai Phụ đắc thế, có văn tinh hoặc cát hóa: Ra ngoài được nhìn nhận đúng vị trí, danh thiếp và chức danh có tác dụng; hợp việc phải đại diện, phải ký kết, phải đứng tên tổ chức.
- Thai Phụ thất thế, gặp sát tinh, Tuần Triệt hoặc Hóa Kỵ: Ra ngoài nặng phần xưng danh mà nhẹ phần làm việc; hoặc gặp rắc rối giấy tờ khi đi xa, giấy phép, visa, hợp đồng ngoài địa phương.
Cung Tật Ách
- Thai Phụ đắc thế, có văn tinh hoặc cát hóa: Hồ sơ sức khỏe rõ ràng, khám định kỳ có giấy tờ đầy đủ, đi viện có bảo hiểm đúng tuyến nên đỡ vất vả.
- Thai Phụ thất thế, gặp sát tinh, Tuần Triệt hoặc Hóa Kỵ: Ngại đi khám vì sợ mang tiếng ốm yếu, giấu bệnh để giữ chỗ làm; hoặc chuyện giấy tờ bảo hiểm, thủ tục viện phí gây phiền.
Cung Tài Bạch
- Thai Phụ đắc thế, có văn tinh hoặc cát hóa: Tiền vào nhờ bằng cấp và chức danh: lương theo ngạch bậc, thù lao chuyên môn, phụ cấp chức vụ, tiền từ giấy phép và bản quyền.
- Thai Phụ thất thế, gặp sát tinh, Tuần Triệt hoặc Hóa Kỵ: Tiêu tiền cho thể diện: sắm sửa để bằng người, chi cho danh nghĩa; hoặc tiền bị kẹt vì thủ tục, hồ sơ thanh toán vướng.
Cung Tử Tức
- Thai Phụ đắc thế, có văn tinh hoặc cát hóa: Con cái có đường học hành, thi cử thuận, hay đạt giải hoặc vào được trường tốt; cha mẹ đầu tư cho học vấn của con.
- Thai Phụ thất thế, gặp sát tinh, Tuần Triệt hoặc Hóa Kỵ: Đặt lên con cái kỳ vọng bằng cấp nặng hơn sức con chịu; con học vì thành tích cho cha mẹ chứ không vì thích.
Cung Phu Thê
- Thai Phụ đắc thế, có văn tinh hoặc cát hóa: Bạn đời có học vấn hoặc vị trí xã hội được coi trọng; hôn nhân thường gắn với giấy tờ đàng hoàng, cưới hỏi đủ lễ, đăng ký sớm.
- Thai Phụ thất thế, gặp sát tinh, Tuần Triệt hoặc Hóa Kỵ: Lấy nhau vì môn đăng hộ đối hoặc vì cái danh của đối phương; hoặc chuyện giấy tờ hôn nhân trắc trở, cưới rồi mà thủ tục dây dưa.
Cung Huynh Đệ
- Thai Phụ đắc thế, có văn tinh hoặc cát hóa: Trong anh em có người ăn học tới nơi, có bằng cấp hoặc chức phận, tiếng nói của người ấy có trọng lượng với cả nhà.
- Thai Phụ thất thế, gặp sát tinh, Tuần Triệt hoặc Hóa Kỵ: Anh em hay so bì chuyện ai bằng cấp cao hơn, ai làm chỗ oai hơn; sĩ diện làm hỏng việc chung, nhất là khi phải chia tài sản có giấy tờ.
Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Thai Phụ an theo giờ sinh, không theo can, không theo chi, không theo tháng, không theo Cục. Phép an gọn một câu: lấy cung có Văn Khúc rồi đếm thuận chiều kim đồng hồ hai cung. Phong Cáo an đối xứng, lấy cung Văn Khúc đếm nghịch hai cung. Vì Văn Khúc khởi tại Thìn cho giờ Tý rồi mỗi giờ tiến một cung, nên Thai Phụ khởi tại Ngọ cho giờ Tý và Phong Cáo khởi tại Dần, cả hai cùng đi thuận theo giờ.
Ba ngôi sao ấy vì thế là một khối cứng: đổi giờ sinh thì cả ba cùng xoay đi bấy nhiêu cung, khoảng cách giữa chúng đứng yên vĩnh viễn. Toàn bộ mục này chỉ là khai triển của một câu ấy. Bảng dưới đây là vị trí đủ mười hai giờ sinh, sinh thẳng từ thuật toán an sao của trang.
Giờ Tý
- Thai Phụ: Ngọ
- Phong Cáo: Dần
- Văn Khúc: Thìn
Giờ Sửu
- Thai Phụ: Mùi
- Phong Cáo: Mão
- Văn Khúc: Tỵ
Giờ Dần
- Thai Phụ: Thân
- Phong Cáo: Thìn
- Văn Khúc: Ngọ
Giờ Mão
- Thai Phụ: Dậu
- Phong Cáo: Tỵ
- Văn Khúc: Mùi
Giờ Thìn
- Thai Phụ: Tuất
- Phong Cáo: Ngọ
- Văn Khúc: Thân
Giờ Tỵ
- Thai Phụ: Hợi
- Phong Cáo: Mùi
- Văn Khúc: Dậu
Giờ Ngọ
- Thai Phụ: Tý
- Phong Cáo: Thân
- Văn Khúc: Tuất
Giờ Mùi
- Thai Phụ: Sửu
- Phong Cáo: Dậu
- Văn Khúc: Hợi
Giờ Thân
- Thai Phụ: Dần
- Phong Cáo: Tuất
- Văn Khúc: Tý
Giờ Dậu
- Thai Phụ: Mão
- Phong Cáo: Hợi
- Văn Khúc: Sửu
Giờ Tuất
- Thai Phụ: Thìn
- Phong Cáo: Tý
- Văn Khúc: Dần
Giờ Hợi
- Thai Phụ: Tỵ
- Phong Cáo: Sửu
- Văn Khúc: Mão
Sáu điều bất biến của Thai Phụ
- Thai Phụ và Phong Cáo luôn cách nhau đúng bốn cung, tức luôn tam hợp chiếu nhau. Một sao đứng cách Văn Khúc hai cung thuận, một sao cách hai cung nghịch, cộng lại là bốn. Kiểm bằng máy với cả mười hai giờ sinh thì hiệu số luôn bằng bốn, không một ngoại lệ. Hệ quả trực tiếp: hai sao này không bao giờ đồng cung, không bao giờ xung chiếu, không bao giờ giáp nhau. Bộ bằng sắc luôn thành bộ, nhưng chỉ thành bằng đúng một thế duy nhất là tam hợp.
- Cả hai sao đều không bao giờ hội chiếu với Văn Khúc. Cách hai cung không phải đồng cung, không phải xung chiếu, không phải tam hợp, và cũng không phải giáp vì giáp là cách đúng một cung. Nói cho rõ: Văn Khúc đứng chính giữa hai sao mà vĩnh viễn không gặp được sao nào. Đây là điều nhiều bài viết nói sai, vì thấy ba sao đứng gần nhau rồi suy ra chúng đi thành bộ.
- Cái thật sự cố định là thế giáp chung. Giữa Thai Phụ và Văn Khúc còn đúng một cung đệm, và cung ấy bị hai sao kẹp hai bên; giữa Phong Cáo và Văn Khúc cũng vậy ở phía đối diện. Vậy trên mọi lá số có hai cung luôn nằm trong thế bị kẹp: một cung bị Văn Khúc cùng Thai Phụ giáp, một cung bị Văn Khúc cùng Phong Cáo giáp. Với người luận kỹ thì hai cung ấy đáng nhìn, nhất là khi chúng rơi vào Mệnh hoặc Quan Lộc.
- Góc thứ ba của tam hợp luôn là cung xung chiếu Văn Khúc. Tam hợp Thai Phụ Phong Cáo còn một đỉnh nữa, và chạy đủ mười hai giờ sinh thì đỉnh ấy luôn rơi đúng cung đối diện Văn Khúc. Đây là chỗ duy nhất trên lá số hứng trọn cả hai sao chiếu về, và cũng là mẹo tra nhanh nhất của cả bài.
- Thai Phụ vĩnh viễn không hội chiếu với Địa Không lẫn Địa Kiếp. Địa Kiếp an thuận theo giờ khởi từ Hợi nên luôn cách Thai Phụ đúng bảy cung; Địa Không an nghịch nên khoảng cách đổi theo giờ nhưng luôn là số lẻ. Mọi thế hội chiếu đều cần khoảng cách chẵn, nên hai sát tinh nặng nhất của lá số không bao giờ đồng cung, xung chiếu hay tam hợp với Thai Phụ. Phong Cáo cũng vậy, chỉ khác con số: nó luôn cách Địa Kiếp đúng ba cung. Thế duy nhất còn lại là giáp, và Địa Không đứng liền kề Thai Phụ khi sinh giờ Dần, Mão, Thân hoặc Dậu.
- Thai Phụ an được cả mười hai cung và không kén chính tinh. Mười hai giờ sinh đưa nó đi trọn một vòng địa bàn, nên không có cung nào nó không tới. Chạy đủ mười hai thế Tử Vi cho từng vị trí thì cả mười bốn chính tinh đều có thể đồng cung, và cung ấy cũng có thể trống. Sức của Thai Phụ vì vậy phụ thuộc hoàn toàn vào chính tinh ngồi cùng.
Cung nào hứng trọn bộ bằng sắc
Vì điều thứ tư ở trên là mẹo dùng được ngay, Thầy lập hẳn bảng tra. Cột cuối là cung mà cả Thai Phụ lẫn Phong Cáo cùng chiếu về, tức cung được bộ bằng sắc bao trọn.
Giờ Tý
- Văn Khúc tại: Thìn
- Thai Phụ tại: Ngọ
- Phong Cáo tại: Dần
- Góc thứ ba, tức cung xung chiếu Văn Khúc: Tuất
Giờ Sửu
- Văn Khúc tại: Tỵ
- Thai Phụ tại: Mùi
- Phong Cáo tại: Mão
- Góc thứ ba, tức cung xung chiếu Văn Khúc: Hợi
Giờ Dần
- Văn Khúc tại: Ngọ
- Thai Phụ tại: Thân
- Phong Cáo tại: Thìn
- Góc thứ ba, tức cung xung chiếu Văn Khúc: Tý
Giờ Mão
- Văn Khúc tại: Mùi
- Thai Phụ tại: Dậu
- Phong Cáo tại: Tỵ
- Góc thứ ba, tức cung xung chiếu Văn Khúc: Sửu
Giờ Thìn
- Văn Khúc tại: Thân
- Thai Phụ tại: Tuất
- Phong Cáo tại: Ngọ
- Góc thứ ba, tức cung xung chiếu Văn Khúc: Dần
Giờ Tỵ
- Văn Khúc tại: Dậu
- Thai Phụ tại: Hợi
- Phong Cáo tại: Mùi
- Góc thứ ba, tức cung xung chiếu Văn Khúc: Mão
Giờ Ngọ
- Văn Khúc tại: Tuất
- Thai Phụ tại: Tý
- Phong Cáo tại: Thân
- Góc thứ ba, tức cung xung chiếu Văn Khúc: Thìn
Giờ Mùi
- Văn Khúc tại: Hợi
- Thai Phụ tại: Sửu
- Phong Cáo tại: Dậu
- Góc thứ ba, tức cung xung chiếu Văn Khúc: Tỵ
Giờ Thân
- Văn Khúc tại: Tý
- Thai Phụ tại: Dần
- Phong Cáo tại: Tuất
- Góc thứ ba, tức cung xung chiếu Văn Khúc: Ngọ
Giờ Dậu
- Văn Khúc tại: Sửu
- Thai Phụ tại: Mão
- Phong Cáo tại: Hợi
- Góc thứ ba, tức cung xung chiếu Văn Khúc: Mùi
Giờ Tuất
- Văn Khúc tại: Dần
- Thai Phụ tại: Thìn
- Phong Cáo tại: Tý
- Góc thứ ba, tức cung xung chiếu Văn Khúc: Thân
Giờ Hợi
- Văn Khúc tại: Mão
- Thai Phụ tại: Tỵ
- Phong Cáo tại: Sửu
- Góc thứ ba, tức cung xung chiếu Văn Khúc: Dậu
Cách dùng bảng này rất giản dị. Mở lá số ra, tìm cung có Thai Phụ, đếm sang bốn cung là gặp Phong Cáo, rồi nhìn cung đối diện Văn Khúc, đó là đỉnh thứ ba. Ba cung ấy hợp thành tam giác của bộ bằng sắc. Nếu Mệnh, Quan Lộc hoặc Phụ Mẫu rơi vào một trong ba cung ấy thì đường học hành, thi cử, chức phận, giấy tờ công nhận của lá số đáng luận kỹ. Nếu cả ba cung ấy đều rơi vào những cung không dính gì tới danh phận, chẳng hạn Huynh Đệ, Nô Bộc và Tật Ách, thì bộ sao này gần như không nói gì, và Thầy khuyên đừng cố nặn ra nghĩa.
Cách An Và Vị Trí Của Thai Phụ Trong Lá Số
Thai Phụ an theo giờ sinh, đi cặp với Phong Cáo. Hai sao Thai Phụ Phong Cáo chủ bằng sắc, khoa danh.
Vì là phụ tinh, Thai Phụ làm rõ hoặc tô đậm tính chất của chính tinh đồng cung và của cung nó tọa thủ, chứ không tự quyết định cục diện một mình.
Đặc Tính Và Ý Nghĩa Theo Thư Tịch
Theo Tân Biên, Thai Phụ cùng Phong Cáo có tính tự đắc, khoe khoang, hiếu danh, ưa hình thức bề ngoài; lợi ích cho việc thi cử, cầu công danh; chủ về bằng sắc. Đây là cặp sao phụ trợ cho đường khoa danh, chức tước.
Thai Phụ đi cùng văn tinh như Xương Khúc, Khôi Việt thì lợi học hành thi cử rõ; gặp chính tinh sáng thì danh vọng và chức vị được củng cố. Là sao phụ, nó cần bộ cát tinh để khoa danh thành.
Quan Hệ Cố Định Với Nhóm Sao An Theo Giờ Sinh
Thai Phụ không thuộc vòng sao nào. Bốn vòng lớn của Tử Vi là vòng Thái Tuế đếm theo chi năm sinh, vòng Bác Sĩ đếm theo Lộc Tồn tức theo can năm sinh, vòng Tràng Sinh đếm theo Cục, và vòng thần sát tam hợp đếm theo tam hợp chi năm. Thai Phụ không có tên trong vòng nào cả. Nhưng nó thuộc một nhóm khác cũng chặt chẽ không kém: nhóm sáu sao an theo giờ sinh, gồm Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp, Thai Phụ, Phong Cáo. Chỉ trong nhóm này thì khoảng cách mới có thể cố định, và mục này chỉ nói những điều máy kiểm được.
Ba sao đi thuận và ba sao đi nghịch
Nhóm sáu sao ấy chia làm hai nửa theo chiều đếm. Đi thuận theo giờ có Văn Khúc khởi tại Thìn, Địa Kiếp khởi tại Hợi, Thai Phụ khởi tại Ngọ và Phong Cáo khởi tại Dần. Đi nghịch theo giờ có Văn Xương khởi tại Tuất và Địa Không khởi tại Hợi. Quy tắc rút ra rất sạch: hai sao cùng chiều thì khoảng cách cố định, hai sao ngược chiều thì khoảng cách đổi theo giờ. Vì thế Thai Phụ có quan hệ bất biến với Văn Khúc, Phong Cáo và Địa Kiếp, còn quan hệ với Văn Xương và Địa Không thì phải tra từng giờ.
Thai Phụ với Phong Cáo
- Khoảng cách: Đúng bốn cung, mọi giờ sinh
- Quan hệ thật: Luôn tam hợp chiếu. Không bao giờ đồng cung, xung chiếu hay giáp.
Thai Phụ với Văn Khúc
- Khoảng cách: Đúng hai cung thuận, mọi giờ sinh
- Quan hệ thật: Không đồng cung, không xung, không tam hợp, không giáp. Vĩnh viễn không hội chiếu.
Phong Cáo với Văn Khúc
- Khoảng cách: Đúng hai cung nghịch, mọi giờ sinh
- Quan hệ thật: Vĩnh viễn không hội chiếu, y như trên.
Thai Phụ với Địa Kiếp
- Khoảng cách: Đúng bảy cung, mọi giờ sinh
- Quan hệ thật: Số lẻ nên vĩnh viễn không hội chiếu bằng đường nào.
Phong Cáo với Địa Kiếp
- Khoảng cách: Đúng ba cung, mọi giờ sinh
- Quan hệ thật: Số lẻ nên vĩnh viễn không hội chiếu.
Thai Phụ, Phong Cáo với Địa Không
- Khoảng cách: Đổi theo giờ, nhưng luôn là số lẻ
- Quan hệ thật: Không bao giờ hội chiếu; chỉ có thể giáp.
Thai Phụ, Phong Cáo với Văn Xương
- Khoảng cách: Đổi theo giờ, luôn là số chẵn
- Quan hệ thật: Có thể đồng cung, xung chiếu hoặc tam hợp, tùy giờ sinh. Tra bảng dưới.
Dòng thứ tư, thứ năm và thứ sáu của bảng là chỗ Thầy muốn quý vị dừng lại. Trong khoa Tử Vi, hai sao phá hoại mạnh nhất đối với chuyện thành bại là Địa Không và Địa Kiếp; chúng là thứ hay làm hỏng một cách cục đẹp vào phút chót. Vậy mà bộ Thai Phụ Phong Cáo được phép an sao đặt vĩnh viễn ngoài tầm hội chiếu của cả hai. Đây là một trong rất ít bộ sao có được sự miễn nhiễm cấu trúc như thế. Nghĩa thực dụng: khi thấy một lá số có Không Kiếp nặng mà vẫn có bằng cấp, chức phận đàng hoàng, thì đừng ngạc nhiên, cấu trúc vốn cho phép chuyện ấy. Cái mà Không Kiếp phá là kết quả vật chất và sự bền của công việc, không phải tấm bằng.
Giờ Tý
- Văn Xương tại: Tuất
- Thai Phụ với Văn Xương: Tam hợp chiếu
- Phong Cáo với Văn Xương: Tam hợp chiếu
- Thai Phụ với Địa Không: Cách hai cung, không hội chiếu
Giờ Sửu
- Văn Xương tại: Dậu
- Thai Phụ với Văn Xương: Cách hai cung, không hội chiếu
- Phong Cáo với Văn Xương: Xung chiếu
- Thai Phụ với Địa Không: Cách hai cung, không hội chiếu
Giờ Dần
- Văn Xương tại: Thân
- Thai Phụ với Văn Xương: Đồng cung
- Phong Cáo với Văn Xương: Tam hợp chiếu
- Thai Phụ với Địa Không: Giáp, đứng liền kề
Giờ Mão
- Văn Xương tại: Mùi
- Thai Phụ với Văn Xương: Cách hai cung, không hội chiếu
- Phong Cáo với Văn Xương: Cách hai cung, không hội chiếu
- Thai Phụ với Địa Không: Giáp, đứng liền kề
Giờ Thìn
- Văn Xương tại: Ngọ
- Thai Phụ với Văn Xương: Tam hợp chiếu
- Phong Cáo với Văn Xương: Đồng cung
- Thai Phụ với Địa Không: Cách hai cung, không hội chiếu
Giờ Tỵ
- Văn Xương tại: Tỵ
- Thai Phụ với Văn Xương: Xung chiếu
- Phong Cáo với Văn Xương: Cách hai cung, không hội chiếu
- Thai Phụ với Địa Không: Cách hai cung, không hội chiếu
Giờ Ngọ
- Văn Xương tại: Thìn
- Thai Phụ với Văn Xương: Tam hợp chiếu
- Phong Cáo với Văn Xương: Tam hợp chiếu
- Thai Phụ với Địa Không: Cách hai cung, không hội chiếu
Giờ Mùi
- Văn Xương tại: Mão
- Thai Phụ với Văn Xương: Cách hai cung, không hội chiếu
- Phong Cáo với Văn Xương: Xung chiếu
- Thai Phụ với Địa Không: Cách hai cung, không hội chiếu
Giờ Thân
- Văn Xương tại: Dần
- Thai Phụ với Văn Xương: Đồng cung
- Phong Cáo với Văn Xương: Tam hợp chiếu
- Thai Phụ với Địa Không: Giáp, đứng liền kề
Giờ Dậu
- Văn Xương tại: Sửu
- Thai Phụ với Văn Xương: Cách hai cung, không hội chiếu
- Phong Cáo với Văn Xương: Cách hai cung, không hội chiếu
- Thai Phụ với Địa Không: Giáp, đứng liền kề
Giờ Tuất
- Văn Xương tại: Tý
- Thai Phụ với Văn Xương: Tam hợp chiếu
- Phong Cáo với Văn Xương: Đồng cung
- Thai Phụ với Địa Không: Cách hai cung, không hội chiếu
Giờ Hợi
- Văn Xương tại: Hợi
- Thai Phụ với Văn Xương: Xung chiếu
- Phong Cáo với Văn Xương: Cách hai cung, không hội chiếu
- Thai Phụ với Địa Không: Cách hai cung, không hội chiếu
Đọc bảng thì thấy vài điều đáng nhớ. Thai Phụ đồng cung Văn Xương khi sinh giờ Dần hoặc giờ Thân, còn Phong Cáo đồng cung Văn Xương khi sinh giờ Thìn hoặc giờ Tuất. Đây là bốn giờ sinh cho ra một cung mang cả văn tinh lẫn sao bằng sắc, thế đẹp nhất của bộ này cho đường thi cử. Ngược lại, giờ Mão và giờ Dậu thì Văn Xương trùng khít Văn Khúc, mà Văn Khúc lại vĩnh viễn không hội chiếu với hai sao của ta, nên với hai giờ ấy cả Thai Phụ lẫn Phong Cáo đều không gặp được văn tinh nào. Bộ bằng sắc vẫn thành bộ, mà đứng trơ một mình, không có chữ nghĩa đi kèm. Thầy hay thấy dạng này ứng ra thành người có chức có danh mà không phải do đường học hành mà nên.
Thai Phụ không nằm trong bảng Tứ Hóa, vậy đọc thế nào khi cùng cung với một chính tinh đang hóa
Bảng Tứ Hóa theo can năm sinh chỉ gọi tên mười bốn chính tinh cùng bốn phụ tinh là Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, và ở bản Bắc phái thì thêm Thiên Phủ. Thai Phụ không có tên trong bảng ấy ở cả hai phái, nên nó không bao giờ tự hóa Lộc, hóa Quyền, hóa Khoa hay hóa Kỵ. Điều này đúng với mọi tuổi can.
- Hóa Lộc đồng cung: cái bằng sắc sinh ra lợi thật. Bằng cấp mở ra nghề, chức vụ đi kèm bổng lộc, giấy tờ được duyệt thì tiền theo sau.
- Hóa Quyền đồng cung: đây là thế hợp về mặt chức phận. Thai Phụ chủ cái tên trên tờ quyết định, Hóa Quyền chủ cái quyền thật đằng sau cái tên ấy. Có cả hai thì danh và thực đi liền, thiếu Hóa Quyền thì hay chỉ còn cái danh.
- Hóa Khoa đồng cung: thế hợp nhất về tính chất, vì Hóa Khoa chính là sao chủ khoa danh, bằng cấp và sự được ghi nhận. Bộ bằng sắc gặp Hóa Khoa thì chuyện thi cử, chứng chỉ, giải thưởng, hồ sơ được công nhận hiện rõ nhất trong cả lá số.
- Hóa Kỵ đồng cung: nghĩa lật hẳn sang mặt trái. Bằng sắc mà gặp Kỵ thì thành giấy tờ trục trặc: hồ sơ thiếu, bằng cấp bị vướng thủ tục, quyết định bổ nhiệm bị treo, hoặc cái danh có mà mang tiếng. Riêng tuổi Tân thì Văn Xương hóa Kỵ, tuổi Kỷ thì Văn Khúc hóa Kỵ; hai tuổi ấy đáng xem kỹ vì cái Kỵ rơi ngay vào nhóm sao an theo giờ, sát cạnh bộ bằng sắc.
Vì sao đọc Thai Phụ phải đọc cả nhóm. Một sao chủ bằng sắc đứng lẻ thì chỉ nói được rằng người này có phần hiếu danh, thích được ghi nhận, chừng ấy thôi. Phải có Phong Cáo tam hợp về, đó là điều luôn có; phải xem văn tinh có chiếu tới không, đó là điều phải tra theo giờ; phải xem chính tinh của cung ấy đang hóa gì, đó là điều quyết định. Ba lớp ấy cộng lại mới ra được một câu luận có nội dung. Bỏ hai lớp đầu mà nói thẳng người này có bằng cấp là lối luận Thầy không dùng.
Hội Họp Các Sao Và Ý Nghĩa Sơ Lược Tại Cung
Thai Phụ phối với các sao cho đường khoa danh:
Phong Cáo
- Ý nghĩa kết hợp: Cặp Thai Phụ Phong Cáo, chủ bằng sắc, khoa danh.
Văn Xương, Văn Khúc, Hóa Khoa
- Ý nghĩa kết hợp: Lợi thi cử, khoa bảng rõ rệt.
Khôi, Việt, Quốc Ấn
- Ý nghĩa kết hợp: Củng cố chức vị, quyền hành.
Tuần Triệt, sát tinh
- Ý nghĩa kết hợp: Khoa danh dang dở, hư danh.
Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
Trước khi đọc hai cột dưới đây, xin nhớ quy tắc về lực, vì cùng một ngôi sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho hai kết quả khác nhau. Đồng cung mạnh nhất, hai sao ngồi chung thì tính chất trộn hẳn vào nhau. Xung chiếu mạnh nhì, cung đối diện chiếu thẳng sang. Tam hợp chiếu nhẹ hơn, có ảnh hưởng mà không quyết định. Giáp là thế bao vây, hai cung hai bên kẹp lại, thường hiện ra như một sức ép nền chứ không như một sự việc. Riêng với Thai Phụ thì cấu trúc đã khóa sẵn nhiều thế: Phong Cáo chỉ có thể tam hợp chiếu, không bao giờ ngồi chung; Văn Khúc, Địa Không và Địa Kiếp không có thế nào cả, chúng vĩnh viễn không hội chiếu được vào cung có Thai Phụ. Đừng đi tìm những thế không tồn tại.
Thai Phụ phát huy được khi gặp
- Phong Cáo (chỉ có thế tam hợp chiếu, mọi giờ sinh đều có): trọn bộ bằng sắc. Đây là điều kiện nền, luôn sẵn, nên không phải là điểm cộng riêng của lá số nào; cái đáng xem là bộ ấy rơi vào những cung chức nào.
- Hóa Khoa (đồng cung mạnh nhất, xung và tam hợp vẫn có tác dụng): ngôi sao hợp nhất với Thai Phụ trong cả lá số, vì cùng chủ khoa danh và sự được ghi nhận. Có Hóa Khoa thì bằng sắc là bằng sắc thật.
- Văn Xương (đồng cung khi sinh giờ Dần hoặc Thân, xung chiếu khi giờ Tỵ hoặc Hợi, tam hợp khi giờ Tý, Ngọ, Thìn, Tuất): thêm chữ nghĩa cho một sao vốn chỉ chủ hình thức công nhận. Đây là thế quan trọng thứ hai sau Hóa Khoa.
- Hóa Quyền (đồng cung hoặc chiếu): cho cái danh có thực quyền đằng sau. Thiếu Hóa Quyền thì chức danh hay chỉ là chức danh.
- Long Trì, Phượng Các (an theo chi năm nên vị thế không cố định): bộ sao chủ khoa giáp và sự vẻ vang. Thầy luận khoa danh thì bao giờ cũng xét ba bộ cùng lúc là Thai Phụ Phong Cáo, Long Trì Phượng Các, và Tam Thai Bát Tọa; hội được hai trong ba bộ về tam phương một cung là đã đáng nói, hội đủ ba thì đường khoa danh rất rõ.
- Tam Thai, Bát Tọa (an theo Tả Phụ Hữu Bật và ngày sinh nên vị thế không cố định): bộ chủ ngôi thứ và địa vị được sắp đặt, cùng hướng với bằng sắc, đi chung thì nghĩa chức phận dày hẳn lên.
- Quốc Ấn, Đường Phù (an theo can năm): bộ chủ ấn tín và quyền hành. Bằng sắc là tờ giấy, ấn tín là con dấu; có cả hai thì danh phận mới đủ hai mặt.
- Thiên Khôi, Thiên Việt (an theo can năm): quý nhân đứng ra đề bạt. Bộ bằng sắc nói cái danh được ghi nhận, Khôi Việt nói ai là người ký cho.
- Chính tinh miếu vượng (đồng cung): điều kiện quan trọng hơn mọi cát tinh phụ. Tử Vi, Thiên Phủ, Thái Dương, Thiên Lương sáng mà có Thai Phụ thì danh phận vững; chính tinh yếu thì bộ bằng sắc chỉ còn là nét hiếu danh.
Thai Phụ mất tác dụng khi gặp
- Tuần, Triệt án ngữ (chỉ có thế án ngay cung): che luôn phần công nhận, đây là thế bất lợi rõ nhất. luận là khoa danh dang dở: học mà không lấy được bằng, thi mà hỏng vòng cuối, quyết định ký rồi mà không có hiệu lực.
- Hóa Kỵ của chính tinh đồng cung (đồng cung nặng nhất): bằng sắc thành giấy tờ trục trặc. Đây là thế phải nói thẳng vì nó ứng rất cụ thể: hồ sơ thiếu, hạn nộp trễ, bằng cấp bị nghi vấn, bổ nhiệm bị treo.
- Từ hai sát tinh trở lên trong cùng cung (đồng cung, cộng dồn): Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh. Nhớ rằng Địa Không và Địa Kiếp không bao giờ vào được cung có Thai Phụ, nên ở đây chỉ còn bốn sát tinh phải đếm.
- Đà La đồng cung (đồng cung): sao chủ sự chậm và sự dây dưa, gặp bộ bằng sắc thì ứng ra thành thủ tục kéo dài, hồ sơ đi vòng, chờ đợi quyết định.
- Kình Dương đồng cung (đồng cung): chủ sự tranh, gặp bằng sắc thì ứng ra thành tranh chỗ, tranh danh, hoặc phải kiện tụng để đòi lại cái vốn thuộc về mình.
- Chính tinh hãm địa đồng cung: bộ bằng sắc không nâng nổi một chính tinh đang yếu, chỉ làm cho cái yếu ấy khoác thêm một lớp hình thức.
- Giờ Mão và giờ Dậu (thế không hội chiếu, không tránh được): Văn Xương trùng Văn Khúc nên cả hai văn tinh đều đứng cách Thai Phụ hai cung, không sao nào chiếu tới. Bộ bằng sắc khi ấy không có chữ nghĩa đi kèm, phải luận cho đúng chứ đừng luận thừa.
- Thói quen đo mình bằng chức danh: đây không phải một ngôi sao, nhưng Thầy xếp vào cột này vì nó gây hại thật. Sao này chủ hình thức của sự công nhận, và người có nó đậm rất dễ lẫn giữa việc mình là ai với việc trên danh thiếp ghi gì.
Tóm lại, Thai Phụ là phụ tinh: đi với chính tinh và cát tinh hợp cách thì phát huy mặt hay, gặp sát tinh và hung cách thì lộ mặt yếu. Luôn xét cả lá số.
Thai Phụ Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Trước hết phải nói rõ một điều mà nhiều trang viết lướt qua: Thai Phụ không có bản lưu niên. Trong khoa Tử Vi, chỉ những sao an theo can hoặc chi năm sinh mới có bản lưu tính lại theo can chi của năm đang xem, chẳng hạn lưu Thái Tuế, lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ theo chi năm, hay lưu Lộc Tồn, lưu Kình Dương, lưu Đà La theo can năm. Thai Phụ an theo giờ sinh, mà một năm dương lịch thì không có giờ sinh, nên không có cách nào lập ra một lưu Thai Phụ. Cùng lý ấy, Phong Cáo, Văn Xương Văn Khúc bản mệnh, Địa Không Địa Kiếp, Tả Phụ Hữu Bật, cả vòng Tràng Sinh cũng đều không có bản lưu. Ai đưa cho quý vị một bảng lưu Thai Phụ thì đó là chế thêm, không phải phép cũ.
Vậy Thai Phụ dự phần vào chiều thời gian bằng đúng một cách: nó nằm yên tại cung của lá số gốc và chờ vận chạy tới.
Đại vận đi vào cung có Thai Phụ
Mười năm ấy thường là mười năm của giấy tờ và danh phận. Trên lá số thật, Thầy hay thấy ba dạng ứng nghiệm: đi học lại hoặc thi lấy chứng chỉ, học vị, bằng nghề, giấy phép hành nghề; được bổ nhiệm hoặc đổi chức danh, kể cả những lần đổi nghe nhỏ mà đổi thật; và làm dày hồ sơ đời mình, tức đăng ký, sang tên, công chứng, hợp thức hóa những thứ trước nay vẫn để tạm.
Nhưng phải xét đủ ba điều kiện trước khi kết luận đó là mười năm tốt. Một, chính tinh của cung đại vận sáng hay hãm, vì Thai Phụ không đổi được cục diện. Hai, cung đại vận ấy có văn tinh và Hóa Khoa chiếu tới không; có thì bằng sắc là thật, không thì chỉ là hình thức. Ba, có Tuần Triệt án ngữ hoặc có Hóa Kỵ không; nếu có thì mười năm ấy thường ứng ra chuyện hồ sơ dở dang, và người ta hay mất công gấp đôi cho những việc lẽ ra đơn giản.
Đại vận đi vào cung xung chiếu với cung có Thai Phụ cũng đáng đọc, vì cung ấy hứng trọn cái chiếu về. Dạng này thường ứng ra chuyện danh phận của mình do người khác định: chờ cấp trên phê duyệt, chờ hội đồng xét, chờ đối tác ký. Còn đại vận đi vào đỉnh thứ ba của tam giác, tức cung xung chiếu Văn Khúc, thì hứng cả hai sao cùng lúc, và đây là mười năm mà chuyện bằng cấp chức phận nổi lên rõ nhất trong cả đời số.
Lưu niên: những lưu sao chạm vào cung có Thai Phụ
- Lưu Thái Tuế, tức cung mang tên chi của năm đang xem. Năm nào lưu Thái Tuế đè đúng cung có Thai Phụ thì chuyện danh phận, hồ sơ, thi cử của năm ấy nổi rõ. Chẳng hạn năm 2026 Bính Ngọ thì lưu Thái Tuế tại Ngọ, người nào có Thai Phụ đóng tại Ngọ sẽ gặp loại năm này.
- Lưu Kình Dương và lưu Đà La, tính từ lưu Lộc Tồn theo can của năm đang xem. Rơi vào cung có Thai Phụ thì việc giấy tờ của năm ấy hay bị cấn: lưu Đà La ứng ra sự chậm và sự vòng vo, lưu Kình Dương ứng ra sự tranh chấp và phải đấu để giữ chỗ.
- Hóa Kỵ của năm, tức chính tinh nào hóa Kỵ theo can năm đang xem và cung nó đóng. Rơi vào cung có Thai Phụ thì năm ấy nên rà kỹ hạn nộp hồ sơ, hợp đồng, hạn giấy phép. Riêng năm 2027 Đinh Mùi thì Cự Môn hóa Kỵ, năm 2029 Kỷ Dậu thì Văn Khúc hóa Kỵ; năm sau này đáng để ý riêng vì Văn Khúc chính là mốc gốc để an ra Thai Phụ.
- Lưu Tang Môn và lưu Bạch Hổ, tính theo chi năm. Rơi vào cung có Thai Phụ thì thường ứng ra giấy tờ liên quan tới việc hiếu, tới thừa kế, tới các thủ tục phải làm thay cho người trong nhà.
Thầy nói thêm một câu cho công bằng. Trong nhiều năm luận số, Thầy chưa từng gặp ca nào mà Thai Phụ một mình làm nên chuyện của một năm. Nó luôn là lớp nền: cùng một năm có việc bổ nhiệm, người có bộ bằng sắc đóng đúng cung thì chuyện ấy có văn bản đàng hoàng, người không có thì chuyện ấy vẫn xảy ra mà theo lối miệng nói tay làm, không giấy tờ. Chừng ấy thôi, mà chừng ấy cũng đủ đáng ghi nhận.
Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Thai Phụ
Trước hết xin đặt lại đúng tầm vóc. Thai Phụ là một phụ tinh nhỏ: không thuộc bộ lục cát tinh, không thuộc vòng sao nào, không có tên trong bảng Tứ Hóa, không có bảng miếu vượng đắc hãm mười hai cung riêng, và không có câu phú riêng trong Tân Biên hay Toàn Thư. Mọi điều nói được về nó đều là điều nói thêm cho một cung đã có chính tinh. Bốn hiểu lầm dưới đây sinh ra từ chỗ quên mất tầm vóc ấy.
Hiểu lầm thứ nhất: có Thai Phụ Phong Cáo là có bằng cấp, có chức tước
Sách nói gì: Tân Biên chép Thai Phụ cùng Phong Cáo có tính tự đắc, khoe khoang, hiếu danh, ưa hình thức bề ngoài, lợi ích cho việc thi cử và cầu công danh, chủ về bằng sắc. Đọc kỹ thì thấy vế đầu là tính nết, vế sau là lợi ích cho việc. Sách nói bộ sao này giúp cho việc thi cử, không nói nó bảo đảm kết quả thi cử.
Thêm nữa, mọi lá số đều có Thai Phụ và Phong Cáo, đủ mười hai giờ sinh, không sót ai, và hai sao luôn tam hợp nhau. Nếu chỉ cần có bộ ấy là có bằng cấp thì cả thiên hạ đều có bằng cấp. Cái phân biệt người này với người kia không phải là có hay không có bộ sao, mà là bộ ấy rơi vào cung chức nào và gặp gì ở đó. Rơi vào Quan Lộc cùng Hóa Khoa là một chuyện; rơi vào Nô Bộc cùng Đà La là chuyện hoàn toàn khác.
Hiểu lầm thứ hai: Thai Phụ và Phong Cáo đồng cung mới thành cách
Điều này không những sai mà còn bất khả thi. Kiểm bằng thuật toán an sao với cả mười hai giờ sinh, khoảng cách giữa hai sao luôn đúng bốn cung. Chúng không bao giờ đồng cung, cũng không bao giờ xung chiếu hay giáp nhau. Thế duy nhất chúng có là tam hợp chiếu, và thế ấy thì luôn có. Vậy nên hai câu sau đều vô nghĩa: nói lá số này quý vì Thai Phụ Phong Cáo đồng cung, và nói lá số kia kém vì hai sao không gặp nhau. Cả hai đều mô tả những tình huống không tồn tại trên bất kỳ lá số nào.
Hiểu lầm thứ ba: hai sao kẹp Văn Khúc nên làm Văn Khúc mạnh lên
Cũng sai, và sai vì lẫn giữa hai khái niệm. Giáp trong Tử Vi là hai cung liền kề, cách đúng một cung. Thai Phụ và Phong Cáo thì cách Văn Khúc đúng hai cung mỗi bên, còn một cung đệm ở giữa. Trên hình vẽ thì trông như kẹp, trên cấu trúc thì không phải, và Văn Khúc vĩnh viễn không nhận được gì từ hai sao ấy. Điều thật sự cố định là hai cung đệm: một cung bị Văn Khúc và Thai Phụ giáp, một cung bị Văn Khúc và Phong Cáo giáp. Nếu quý vị muốn nói tới thế giáp thì phải nói về hai cung đệm ấy, không phải về cung Văn Khúc.
Hiểu lầm thứ tư: Thai Phụ là sao thai nghén, liên quan chuyện sinh nở
Chữ thai trong tên sao này viết là 台, nghĩa gốc là đài, là bậc, cùng gốc với chữ trong Tam Thai; ghép với chữ phụ 輔 nghĩa là giúp, thành ra Thai Phụ nghĩa là chức phụ tá ở bậc cao trong triều, đúng với nghĩa bằng sắc và chức phong mà sách chép. Nó không cùng chữ và không cùng nghĩa với chữ thai 胎 trong bào thai. Trong khoa Tử Vi, sao mang nghĩa bào thai là sao Thai của vòng Tràng Sinh, một ngôi sao khác hẳn, an theo Cục chứ không an theo giờ. Hai chữ đọc giống nhau trong tiếng Việt nên hay bị lẫn, và Thầy thấy đây là chỗ nhầm phổ biến nhất khi tra cứu trên mạng.
Nói gọn lại một câu cho quý vị dễ nhớ: Thai Phụ nói về tờ giấy công nhận, không nói về cái năng lực được công nhận. Tấm bằng và tay nghề là hai chuyện, và một lá số đẹp cần cả hai.
Lời Khuyên Và Cách Dùng Cho Đúng
Với một phụ tinh nhỏ thì lời khuyên không phải là cách hóa giải cái xấu, mà là cách dùng cho đúng cái tốt, và cách không để cái tốt ấy biến thành thói chuộng hình thức. Thầy chia làm ba nhóm.
Dùng đúng cái mà Thai Phụ cho
- Cái nó cho là con đường có văn bản, không phải kết quả. Người có bộ bằng sắc đóng đẹp thường tiến nhanh hơn trên những lối đi có quy trình rõ: thi tuyển, xét ngạch, chứng chỉ hành nghề, hồ sơ năng lực. Vậy hãy chọn những lối ấy thay vì lối mở đường bằng quan hệ, vì đó là chỗ sao này giúp được thật.
- Lấy bằng cho xong, đừng để dở. Thầy thấy rất nhiều người có Thai Phụ đẹp mà học hành dở dang, chỉ vì nghĩ tấm bằng không quan trọng bằng kinh nghiệm. Với lá số khác thì câu ấy có thể đúng; với lá số mà cả tam giác bằng sắc phủ vào Mệnh Quan thì tấm bằng chính là cửa, không có nó thì đứng ngoài.
- Giữ hồ sơ đời mình cho sạch. Sao này chủ giấy tờ công nhận, nên cái lợi thực dụng nhất của nó là nhắc quý vị làm cho xong những thứ vẫn để tạm: đăng ký, công chứng, sang tên, gia hạn giấy phép, lưu lại bằng khen và chứng chỉ. Một buổi chiều dọn hồ sơ đáng giá hơn nhiều lời bàn về sao chiếu.
- Xin cho có văn bản. Khi được hứa một chức vụ, một khoản, một điều kiện làm việc, hãy hỏi thêm một câu là có thể ghi vào văn bản không. Với người mang bộ sao này thì thứ đã thành chữ mới bền, thứ chỉ nói miệng thì hay đổi.
Nếu Thai Phụ của quý vị bị lấn át
- Gặp Tuần Triệt án ngữ thì làm sớm và làm dư. Người có bộ bằng sắc bị Tuần Triệt nên nộp hồ sơ trước hạn, chuẩn bị dư giấy tờ, giữ bản sao và biên nhận. Đây không phải mê tín mà là cách sống chung với một thế hay dở dang.
- Gặp Hóa Kỵ đồng cung thì rà lại chi tiết nhỏ. Kỵ ở đây hay ứng vào những chỗ vụn: sai một chữ trong tên, lệch một con số ngày tháng, thiếu một chữ ký. Cẩn thận ở chỗ vụn là cách hóa giải thật của thế này.
- Gặp Đà La thì tính dư thời gian. Việc giấy tờ của quý vị sẽ lâu hơn người khác, đó là điều nên chấp nhận trước rồi lên kế hoạch theo, thay vì bực bội mỗi lần bị trả hồ sơ.
- Sinh giờ Mão hoặc giờ Dậu thì đừng trông vào đường khoa cử. Hai giờ ấy làm cả hai văn tinh đứng ngoài tầm chiếu của bộ bằng sắc. Không phải điều xấu, chỉ là dấu hiệu nên tìm chỗ đứng bằng nghề và bằng việc làm được, chứ đừng dồn sức vào thi cử.
Điều Thầy muốn nói thẳng
Không có phép nào đổi được vị trí của Thai Phụ, vì nó do giờ sinh định ra và cố định suốt đời. Cái đổi được là cách quý vị hành xử trong lĩnh vực mà nó chỉ tới. Ai bán cho quý vị một món đồ nói là kích được văn xương khoa cử, tăng được bằng sắc, thì người ấy đang bán niềm tin chứ không bán mệnh lý. Thầy không làm việc ấy và cũng khuyên quý vị đừng mua.
Còn một điều nữa phải nói, vì nó hay xảy ra với chính những người có bộ bằng sắc đẹp. Cái nguy của Thai Phụ không nằm ở tai họa mà nằm ở thói lấy chức danh làm bản thân mình. Sách đã chép sẵn hai chữ tự đắc và hiếu danh ngay trong phần tính chất, tức cổ nhân thấy điều này từ lâu. Người mang sao ấy đậm nên tự hỏi mỗi năm một lần: nếu ngày mai mất hết chức danh thì mình còn lại nghề gì. Trả lời được câu ấy thì cái danh mới là của mình.
Phong thủy bổ trợ, ghi rõ đây là gợi ý chung: những cách dưới đây thuộc về nếp sống và bài trí, không phải phép thuật, và không thay đổi được lá số. Nên có một chỗ cố định để giữ giấy tờ quan trọng, có bìa có nhãn, đủ khô ráo, vì tính chất của sao này gắn thẳng với hồ sơ và văn bản. Bàn làm việc nên gọn và đủ sáng, giấy tờ đang xử lý để riêng khỏi giấy tờ đã xong, đây là việc thuộc về sự tập trung chứ không phải phép thuật. Bằng khen và chứng chỉ nếu treo thì treo một chỗ kín đáo cho mình nhìn, đừng treo ở chỗ tiếp khách, vì với người vốn hiếu danh thì việc ấy nuôi thêm cái đã đủ. Việc mỗi năm dành một buổi rà lại hạn của giấy tờ tùy thân, bảo hiểm, giấy phép, hợp đồng, cũng nên coi là một dạng giữ gìn của thời nay, và nó có tác dụng thật với đời sống chứ không cần phải tin gì thêm. Ngoài chừng ấy, đừng trông đợi hơn.
Câu hỏi thường gặp
Thai Phụ là sao chủ bằng sắc và danh vọng trong Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Kim đới Thổ, đi cặp với Phong Cáo. Sao gắn với chức tước, văn bằng, lợi thi cử cầu công danh.
Thai Phụ và Phong Cáo hợp thành cặp sao chủ bằng sắc, khoa danh, báo việc văn bằng, bổ nhiệm, chức tước, nhất là khi đi cùng văn tinh và Hóa Khoa.
Thai Phụ là sao phụ trợ tốt cho đường khoa danh, chức tước, nhưng có nét hiếu danh, ưa hình thức. Gặp Tuần Triệt hay sát tinh thì dễ thành hư danh.
Thai Phụ an theo giờ sinh, đi cặp với Phong Cáo trong lá số.
Luôn luôn cách nhau đúng bốn cung, với cả mười hai giờ sinh, không có ngoại lệ. Lý do nằm ở phép an: Thai Phụ đứng cách cung Văn Khúc hai cung đếm thuận, Phong Cáo đứng cách cung Văn Khúc hai cung đếm nghịch, nên hiệu số giữa hai sao luôn bằng bốn dù Văn Khúc dời đi đâu. Cách bốn cung chính là thế tam hợp, vậy Thai Phụ và Phong Cáo luôn tam hợp chiếu nhau, và ngược lại chúng không bao giờ đồng cung, không bao giờ xung chiếu, cũng không bao giờ giáp nhau. Ai nói hai sao này đồng cung là nói sai cấu trúc.
Không. Đây là chỗ nhiều người hiểu nhầm vì thấy hai sao đứng hai bên Văn Khúc rồi tưởng là thế giáp. Giáp trong Tử Vi là hai cung liền kề, tức cách đúng một cung. Thai Phụ và Phong Cáo thì cách Văn Khúc đúng hai cung mỗi bên, tức còn một cung đệm ở giữa. Hệ quả rất đáng nhớ: cách hai cung không phải đồng cung, không phải xung chiếu, không phải tam hợp, cũng không phải giáp, nên Văn Khúc vĩnh viễn không hội chiếu với Thai Phụ lẫn Phong Cáo. Điều thật sự cố định là Thai Phụ cùng Văn Khúc luôn giáp chung cung nằm giữa hai sao, và Phong Cáo cùng Văn Khúc cũng giáp chung cung nằm giữa ở phía bên kia.
Cung xung chiếu với Văn Khúc. Vì Thai Phụ và Phong Cáo tam hợp nhau nên tam giác của chúng còn một góc thứ ba, và chạy đủ mười hai giờ sinh bằng thuật toán an sao thì góc ấy luôn rơi đúng vào cung đối diện Văn Khúc. Đây là điều thực dụng nhất trong cả bài: muốn biết cung nào của lá số được bộ bằng sắc chiếu trọn, chỉ cần tìm Văn Khúc rồi nhìn sang cung đối diện. Nếu cung ấy là Mệnh, Quan Lộc hoặc Phụ Mẫu thì đường khoa danh và giấy tờ đáng được luận kỹ.
Không, và đây là kết luận kiểm được bằng máy. Địa Kiếp an thuận theo giờ khởi từ Hợi, nên Thai Phụ luôn cách Địa Kiếp đúng bảy cung với mọi giờ sinh; Địa Không an nghịch theo giờ khởi từ Hợi, nên khoảng cách giữa Thai Phụ và Địa Không tuy đổi theo giờ nhưng luôn là số lẻ. Mọi thế hội chiếu của Tử Vi đều cần khoảng cách chẵn: không cung là đồng cung, sáu cung là xung chiếu, bốn hoặc tám cung là tam hợp. Vì hai khoảng cách trên luôn lẻ nên Thai Phụ vĩnh viễn không đồng cung, không xung chiếu và không tam hợp với cả Địa Không lẫn Địa Kiếp. Phong Cáo cũng vậy. Thế duy nhất còn lại là giáp: Địa Không đứng liền kề Thai Phụ khi sinh giờ Dần, Mão, Thân hoặc Dậu.