Tử Vi
Sao Thanh Long: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung
Tìm hiểu sao Thanh Long trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.
Tổng quan về sao Thanh Long
Thanh Long là sao thứ ba của vòng Bác Sĩ, lấy hình con rồng xanh, biểu tượng của điềm lành phương Đông. Đây là một cát tinh, chủ hỷ khánh, tài lộc, may mắn và những tin vui đến trong đời.
- Ngũ hành: Mộc
- Nhóm: Vòng Bác Sĩ
- Cách an: Theo sao Lộc Tồn
- Cai quản: hỷ khánh, tài lộc, may mắn
- Tính chất: Hỷ khánh, tài lộc
Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.
Ý nghĩa tại cung Mệnh
- Thanh Long gặp cát, chính tinh sáng: Người có quý khí, dễ gần, đi tới đâu cũng có người quý; đời hay gặp tin lành đúng lúc, việc khó thường có lối ra. Nét mặt sáng, dáng thanh.
- Thanh Long gặp hung, chính tinh hãm: Trông cậy vào vận may nên thiếu bền; vui đâu chầu đấy, việc gì cũng bắt đầu hăng rồi nguội. Điềm lành vẫn có nhưng tới chậm và tới nhỏ.
Ý nghĩa ở các cung khác
Đối chiếu ý nghĩa của Thanh Long với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.
Cung Phụ Mẫu
- Thanh Long gặp cát, chính tinh sáng: Cha mẹ tính lành, gia đình có phúc khí, được thương và được đỡ; trong họ có người gặp vận tốt.
- Thanh Long gặp hung, chính tinh hãm: Cha mẹ dễ tính tới mức thiếu định hướng; được chiều nên vào đời chậm cứng cáp.
Cung Phúc Đức
- Thanh Long gặp cát, chính tinh sáng: Tinh thần phơi phới, biết vui với cái mình có, ít để bụng; đây là mặt hay nhất của Thanh Long.
- Thanh Long gặp hung, chính tinh hãm: Vui thì nhanh mà nản cũng nhanh; tránh né chuyện nặng, ngại đối diện việc khó.
Cung Điền Trạch
- Thanh Long gặp cát, chính tinh sáng: Nhà cửa có tin vui, mua bán thuận, nhà sáng sủa thoáng đãng; trong nhà hay có việc mừng.
- Thanh Long gặp hung, chính tinh hãm: Chuyện nhà cửa hứa hẹn nhiều mà chốt chậm; sửa sang tốn hơn dự tính vì làm theo hứng.
Cung Quan Lộc
- Thanh Long gặp cát, chính tinh sáng: Công danh có hỷ sự: được thăng, được khen, được giao việc tốt; hợp nghề giao tiếp, tiếp thị, lễ nghi, du lịch, truyền thông, nghệ thuật.
- Thanh Long gặp hung, chính tinh hãm: Cơ hội đến mà không giữ được vì thiếu vế bền; hay đổi việc theo cảm hứng. Nên chọn nơi trả công theo kết quả rõ.
Cung Nô Bộc
- Thanh Long gặp cát, chính tinh sáng: Bạn bè rộng, có người mang cơ hội tới; cấp dưới vui vẻ, không khí làm việc nhẹ nhàng.
- Thanh Long gặp hung, chính tinh hãm: Bạn vui thì đông, bạn giúp thì ít; hay được rủ vào việc nghe rất hay mà không thành.
Cung Thiên Di
- Thanh Long gặp cát, chính tinh sáng: Ra ngoài gặp quý nhân, đi xa có tin vui, đổi chỗ thì tốt lên; hợp việc phải giao thiệp.
- Thanh Long gặp hung, chính tinh hãm: Ra ngoài vui nhiều mà việc chính không tiến; dễ mất thì giờ vào những mối quan hệ dễ chịu mà không đi tới đâu.
Cung Tật Ách
- Thanh Long gặp cát, chính tinh sáng: Ốm đau nhẹ, gặp thầy đúng lúc, hồi phục nhanh; tinh thần lạc quan nên bệnh cũng nhẹ theo.
- Thanh Long gặp hung, chính tinh hãm: Chủ quan vì thấy mình ít bệnh, bỏ khám định kỳ; chuyện sức khỏe hay được phát hiện muộn hơn cần thiết.
Cung Tài Bạch
- Thanh Long gặp cát, chính tinh sáng: Tiền tới theo cơ hội và theo người giới thiệu; hay có khoản ngoài dự tính. Có Hóa Lộc cùng cung thì đây là cung tài rất đẹp.
- Thanh Long gặp hung, chính tinh hãm: Cơ hội nhiều mà nắm được ít; tiền tới rồi đi nhanh vì tiêu theo niềm vui. Nên tách khoản thưởng ra khỏi khoản chi thường.
Cung Tử Tức
- Thanh Long gặp cát, chính tinh sáng: Tin mừng về con cái, sinh nở thuận; con tính lành, dễ nuôi, hay mang niềm vui về cho cha mẹ.
- Thanh Long gặp hung, chính tinh hãm: Đường con cái tới muộn hơn mong; niềm vui về con hay đi kèm khoản phải chi. Không chủ hiếm muộn.
Cung Phu Thê
- Thanh Long gặp cát, chính tinh sáng: Duyên tới thuận, cưới hỏi có tin vui đi kèm; bạn đời tính lành, dễ chịu, mang phúc khí về nhà.
- Thanh Long gặp hung, chính tinh hãm: Duyên tới rồi lại lùi, hỷ sự bị hoãn hoặc phải làm gọn; hai người vui thì rất vui mà bền thì phải cố.
Cung Huynh Đệ
- Thanh Long gặp cát, chính tinh sáng: Anh chị em hòa thuận, có người gặp may và kéo được cả nhà; bạn bè mang tin vui tới.
- Thanh Long gặp hung, chính tinh hãm: Vui vẻ bề ngoài mà giúp nhau ít; tin mừng của người này lại là chuyện phải lo của người kia.
Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Thanh Long không có công thức an riêng. Sách chỉ ghi rằng vòng mười hai sao khởi từ cung có Lộc Tồn, Bác Sĩ đứng ngay ô ấy, Lực Sĩ kế tiếp, rồi Thanh Long là sao thứ ba, cách Lộc Tồn đúng hai cung. Chiều đếm theo âm dương của can năm và giới tính: dương nam âm nữ đếm thuận, âm nam dương nữ đếm nghịch. Mà Lộc Tồn thì an theo thiên can năm sinh, không dính tới tháng, giờ, ngày hay cục. Vậy Thanh Long chỉ cần hai dữ kiện là xác định được: can năm sinh và chiều đếm.
Con số hai cung ấy chính là điều đáng nói nhất của bài này. Tam phương tứ chính của một cung gồm chính nó, cung cách bốn, cung cách sáu và cung cách tám. Hai cung không nằm trong tập ấy, ba cung cũng không, một cung cũng không. Mà khoảng cách từ Thanh Long tới Lộc Tồn luôn là hai, tới Kình Dương là một hoặc ba, tới Đà La là ba hoặc một, tùy chiều. Chạy máy đủ mười can cả hai chiều, kết quả không sót trường hợp nào: Thanh Long không bao giờ đồng cung, không bao giờ xung chiếu và không bao giờ tam hợp với Lộc Tồn, Kình Dương hay Đà La. Trong ba sao đầu vòng, đây là sao duy nhất thoát trọn khỏi bộ Lộc Kình Đà. Bác Sĩ thì luôn ngồi cùng Lộc Tồn, Lực Sĩ thì luôn ngồi cùng một sát tinh, riêng Thanh Long đứng ngoài cả ba, chỉ kề bên một trong hai sát tinh mà thôi.
Bảng dưới đây đặt ba sao cùng an theo can năm cạnh nhau, làm gốc để tra. Bảng thứ hai ở mục sau ghép thẳng cột Thanh Long vào để quý vị tự đối chiếu khoảng cách.
Giáp
- Lộc Tồn: Dần
- Kình Dương: Mão
- Đà La: Sửu
Ất
- Lộc Tồn: Mão
- Kình Dương: Thìn
- Đà La: Dần
Bính
- Lộc Tồn: Tỵ
- Kình Dương: Ngọ
- Đà La: Thìn
Đinh
- Lộc Tồn: Ngọ
- Kình Dương: Mùi
- Đà La: Tỵ
Mậu
- Lộc Tồn: Tỵ
- Kình Dương: Ngọ
- Đà La: Thìn
Kỷ
- Lộc Tồn: Ngọ
- Kình Dương: Mùi
- Đà La: Tỵ
Canh
- Lộc Tồn: Thân
- Kình Dương: Dậu
- Đà La: Mùi
Tân
- Lộc Tồn: Dậu
- Kình Dương: Tuất
- Đà La: Thân
Nhâm
- Lộc Tồn: Hợi
- Kình Dương: Tý
- Đà La: Tuất
Quý
- Lộc Tồn: Tý
- Kình Dương: Sửu
- Đà La: Hợi
Năm điều bất biến của Thanh Long
- Cách Lộc Tồn đúng hai cung, không hơn không kém. Về phía thuận với người dương nam âm nữ, về phía nghịch với người âm nam dương nữ.
- Đứng ngoài trọn bộ Lộc Kình Đà. Không đồng cung, không xung chiếu, không tam hợp với cả ba sao ấy. Đây là điểm cấu trúc riêng của Thanh Long trong nhóm ba sao đầu vòng.
- Luôn kề một sát tinh. Đếm thuận thì Kình Dương nằm ở cung liền trước Thanh Long, đếm nghịch thì Đà La nằm ở cung liền trước. Kề là thế giáp một bên, nhẹ hơn đồng cung rất nhiều, nhưng không phải là không có.
- Người đếm thuận thì Thanh Long không bao giờ ở tứ chính. Bốn cung Tý, Mão, Ngọ, Dậu vĩnh viễn vắng mặt nó. Người đếm nghịch thì ngược lại: bốn cung tứ sinh Dần, Tỵ, Thân, Hợi vĩnh viễn vắng mặt. Riêng bốn cung tứ mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì chiều nào cũng có thể, và đây là chỗ đáng nhớ vì Lộc Tồn cùng Bác Sĩ thì cả đời không tới tứ mộ.
- Không liên quan gì tới vòng Tử Vi. Vị trí Tử Vi tính từ cục và ngày sinh, vị trí Thanh Long tính từ can năm. Chạy đủ mười hai thế Tử Vi cho từng cung, kết quả đều ra đủ mười bốn chính tinh, nghĩa là bất kỳ chính tinh nào cũng có thể đứng chung cung với Thanh Long, và cũng có thể là cung trống.
Điểm bất biến thứ hai đổi hẳn cách Thầy luận sao này, nên xin nói kỹ. Trang gốc và nhiều sách hay viết rằng Thanh Long đi cùng Lộc Tồn thì hỷ khánh kèm tài lộc. Câu ấy nghe xuôi tai nhưng về cấu trúc thì không thể xảy ra: Lộc Tồn không bao giờ vào tam phương tứ chính của Thanh Long, nói gì tới đồng cung. Vậy cái Lộc mà Thanh Long thật sự gặp được là Hóa Lộc của chính tinh, thứ an theo can năm và rơi vào cung nào là tùy vị trí chính tinh, hoàn toàn có thể trùng ô hoặc chiếu tới. Phân biệt được hai chữ Lộc ấy là phân biệt được người đọc sách và người hiểu sách.
Nhắc Lại Gọn Cách An Cho Người Mới
Vòng Bác Sĩ gồm mười hai sao an theo sao Lộc Tồn. Bác Sĩ luôn đứng cùng cung với Lộc Tồn, rồi lần lượt Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ được an theo chiều thuận với người dương nam âm nữ và nghịch với người âm nam dương nữ.
Với Thanh Long, khoảng cách ấy là đúng hai cung tính từ Lộc Tồn, về phía thuận hay phía nghịch tùy người. Hai cung là một con số đáng chú ý, vì nó không nằm trong tam phương tứ chính. Hệ quả và bằng chứng máy chạy đủ mười can nằm ở mục hai và mục năm.
Đặc Tính Của Thanh Long Theo Tân Biên
Thanh Long mang khí lành của rồng xanh, gắn với hỷ sự, tài lộc và sự hanh thông. Ở cung Tài, Quan, Phúc, nó báo điềm vui, cơ hội tốt, tài lộc tới. Người có Thanh Long thường gặp may, có quý khí, đời nhiều tin lành.
Xin đính chính ngay một chi tiết mà bản cũ của trang này viết chưa chuẩn: Thanh Long không bao giờ đi cùng Lộc Tồn, vì hai sao vĩnh viễn cách nhau đúng hai cung, đã kiểm bằng máy đủ mười thiên can và cả hai chiều đếm. Cái Lộc mà Thanh Long thật sự gặp được là Hóa Lộc của chính tinh, thứ an theo can năm nên hoàn toàn có thể trùng ô hoặc chiếu tới. Vậy câu đúng là: Thanh Long đi cùng Hóa Lộc và chính tinh sáng thì điềm lành càng rõ. Chi tiết ở mục cấu trúc và mục ranh giới.
Vị Trí Của Thanh Long Trong Vòng Mười Hai Sao
Tử Vi Đẩu Số có bốn vòng phụ tinh, mỗi vòng đúng mười hai sao chạy liền nhau theo thứ tự cố định: vòng Thái Tuế khởi từ cung có chi năm sinh, vòng Tràng Sinh khởi theo cục, vòng Thần Sát khởi từ Kiếp Sát theo tam hợp chi năm, và vòng Bác Sĩ khởi từ cung có Lộc Tồn, tức khởi theo thiên can năm sinh. Thanh Long thuộc vòng thứ tư ấy.
Thứ tự mười hai sao, đếm từ Bác Sĩ đi: Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ. Can dương là Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm; can âm là Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý. Dương nam và âm nữ đếm thuận, âm nam và dương nữ đếm nghịch, đúng quy tắc quyết định chiều đi của đại vận.
Thanh Long giữ vị trí số hai. Sao đứng trước nó là Lực Sĩ, sao đứng sau nó là Tiểu Hao. Vì các sao đi liền cung nên hai cung kề Thanh Long chắc chắn là hai sao ấy, không bao giờ khác. Đọc tượng thì thấy một nhịp rất đời: sức lực ở một bên, hao vặt ở bên kia, và niềm vui đứng giữa. Đó cũng là hình dung đúng về Thanh Long trên thực tế, một điềm lành nằm giữa việc phải làm và khoản phải chi.
Bốn quan hệ cứng giữa Thanh Long và bộ Lộc Kình Đà
- Với Lộc Tồn và Bác Sĩ: khoảng cách luôn đúng hai cung, nên không đồng cung, không xung chiếu, không tam hợp. Mười trên mười, cả hai chiều.
- Với Kình Dương: đếm thuận thì Kình Dương ở cung liền trước Thanh Long, tức chỉ giáp; đếm nghịch thì cách ba cung, tức không có quan hệ chiếu nào.
- Với Đà La: đếm nghịch thì Đà La ở cung liền trước Thanh Long, tức chỉ giáp; đếm thuận thì cách ba cung, không chiếu tới.
- Kết luận gộp: trong tam phương tứ chính của Thanh Long không bao giờ có mặt Lộc Tồn, Kình Dương hay Đà La. Cả cái được lẫn cái mất của bộ ba nổi tiếng ấy đều không chạm tới nó theo đường chiếu.
Giáp
- Lộc Tồn và Bác Sĩ: Dần
- Thanh Long khi thuận: Thìn
- Thanh Long khi nghịch: Tý
- Kình Dương: Mão
- Đà La: Sửu
Ất
- Lộc Tồn và Bác Sĩ: Mão
- Thanh Long khi thuận: Tỵ
- Thanh Long khi nghịch: Sửu
- Kình Dương: Thìn
- Đà La: Dần
Bính
- Lộc Tồn và Bác Sĩ: Tỵ
- Thanh Long khi thuận: Mùi
- Thanh Long khi nghịch: Mão
- Kình Dương: Ngọ
- Đà La: Thìn
Đinh
- Lộc Tồn và Bác Sĩ: Ngọ
- Thanh Long khi thuận: Thân
- Thanh Long khi nghịch: Thìn
- Kình Dương: Mùi
- Đà La: Tỵ
Mậu
- Lộc Tồn và Bác Sĩ: Tỵ
- Thanh Long khi thuận: Mùi
- Thanh Long khi nghịch: Mão
- Kình Dương: Ngọ
- Đà La: Thìn
Kỷ
- Lộc Tồn và Bác Sĩ: Ngọ
- Thanh Long khi thuận: Thân
- Thanh Long khi nghịch: Thìn
- Kình Dương: Mùi
- Đà La: Tỵ
Canh
- Lộc Tồn và Bác Sĩ: Thân
- Thanh Long khi thuận: Tuất
- Thanh Long khi nghịch: Ngọ
- Kình Dương: Dậu
- Đà La: Mùi
Tân
- Lộc Tồn và Bác Sĩ: Dậu
- Thanh Long khi thuận: Hợi
- Thanh Long khi nghịch: Mùi
- Kình Dương: Tuất
- Đà La: Thân
Nhâm
- Lộc Tồn và Bác Sĩ: Hợi
- Thanh Long khi thuận: Sửu
- Thanh Long khi nghịch: Dậu
- Kình Dương: Tý
- Đà La: Tuất
Quý
- Lộc Tồn và Bác Sĩ: Tý
- Thanh Long khi thuận: Dần
- Thanh Long khi nghịch: Tuất
- Kình Dương: Sửu
- Đà La: Hợi
Khoảng cách trong vòng cố định, nên quan hệ tam hợp và xung chiếu giữa các sao cùng vòng cũng cố định, không đổi theo can và không đổi theo chiều. Với Thanh Long ở vị trí số hai: sao xung chiếu luôn là Bệnh Phù, hai chân tam hợp luôn là Phi Liêm và Phục Binh. Ba sao ấy có mặt trong tam phương tứ chính của Thanh Long ở mọi lá số. Đây là chi tiết mà các trang chép sách không nói, và nó chỉnh lại khá nhiều cách đọc: một cát tinh chủ hỷ khánh mà tam phương tứ chính luôn có ba sao thuộc loại ngấm ngầm, tức niềm vui của Thanh Long không bao giờ là niềm vui trống trải, luôn có phần mỏi mệt đối diện và phần ẩn phục chiếu về. Bù lại, hai sao hao là Tiểu Hao ở vị trí ba và Đại Hao ở vị trí chín thì cách Thanh Long một cung và bảy cung, nên không sao hao nào vào được tam phương tứ chính của nó. Đó là một tin lành có tính cấu trúc.
Bảng dưới đây in đủ mười hai sao của vòng theo cả mười can, trường hợp đếm thuận. Người đếm nghịch lấy Bác Sĩ làm gốc rồi soi gương lại thứ tự.
Giáp
- Bác Sĩ: Dần
- Lực Sĩ: Mão
- Thanh Long: Thìn
- Tiểu Hao: Tỵ
- Tướng Quân: Ngọ
- Tấu Thư: Mùi
- Phi Liêm: Thân
- Hỷ Thần: Dậu
- Bệnh Phù: Tuất
- Đại Hao: Hợi
- Phục Binh: Tý
- Quan Phủ: Sửu
Ất
- Bác Sĩ: Mão
- Lực Sĩ: Thìn
- Thanh Long: Tỵ
- Tiểu Hao: Ngọ
- Tướng Quân: Mùi
- Tấu Thư: Thân
- Phi Liêm: Dậu
- Hỷ Thần: Tuất
- Bệnh Phù: Hợi
- Đại Hao: Tý
- Phục Binh: Sửu
- Quan Phủ: Dần
Bính
- Bác Sĩ: Tỵ
- Lực Sĩ: Ngọ
- Thanh Long: Mùi
- Tiểu Hao: Thân
- Tướng Quân: Dậu
- Tấu Thư: Tuất
- Phi Liêm: Hợi
- Hỷ Thần: Tý
- Bệnh Phù: Sửu
- Đại Hao: Dần
- Phục Binh: Mão
- Quan Phủ: Thìn
Đinh
- Bác Sĩ: Ngọ
- Lực Sĩ: Mùi
- Thanh Long: Thân
- Tiểu Hao: Dậu
- Tướng Quân: Tuất
- Tấu Thư: Hợi
- Phi Liêm: Tý
- Hỷ Thần: Sửu
- Bệnh Phù: Dần
- Đại Hao: Mão
- Phục Binh: Thìn
- Quan Phủ: Tỵ
Mậu
- Bác Sĩ: Tỵ
- Lực Sĩ: Ngọ
- Thanh Long: Mùi
- Tiểu Hao: Thân
- Tướng Quân: Dậu
- Tấu Thư: Tuất
- Phi Liêm: Hợi
- Hỷ Thần: Tý
- Bệnh Phù: Sửu
- Đại Hao: Dần
- Phục Binh: Mão
- Quan Phủ: Thìn
Kỷ
- Bác Sĩ: Ngọ
- Lực Sĩ: Mùi
- Thanh Long: Thân
- Tiểu Hao: Dậu
- Tướng Quân: Tuất
- Tấu Thư: Hợi
- Phi Liêm: Tý
- Hỷ Thần: Sửu
- Bệnh Phù: Dần
- Đại Hao: Mão
- Phục Binh: Thìn
- Quan Phủ: Tỵ
Canh
- Bác Sĩ: Thân
- Lực Sĩ: Dậu
- Thanh Long: Tuất
- Tiểu Hao: Hợi
- Tướng Quân: Tý
- Tấu Thư: Sửu
- Phi Liêm: Dần
- Hỷ Thần: Mão
- Bệnh Phù: Thìn
- Đại Hao: Tỵ
- Phục Binh: Ngọ
- Quan Phủ: Mùi
Tân
- Bác Sĩ: Dậu
- Lực Sĩ: Tuất
- Thanh Long: Hợi
- Tiểu Hao: Tý
- Tướng Quân: Sửu
- Tấu Thư: Dần
- Phi Liêm: Mão
- Hỷ Thần: Thìn
- Bệnh Phù: Tỵ
- Đại Hao: Ngọ
- Phục Binh: Mùi
- Quan Phủ: Thân
Nhâm
- Bác Sĩ: Hợi
- Lực Sĩ: Tý
- Thanh Long: Sửu
- Tiểu Hao: Dần
- Tướng Quân: Mão
- Tấu Thư: Thìn
- Phi Liêm: Tỵ
- Hỷ Thần: Ngọ
- Bệnh Phù: Mùi
- Đại Hao: Thân
- Phục Binh: Dậu
- Quan Phủ: Tuất
Quý
- Bác Sĩ: Tý
- Lực Sĩ: Sửu
- Thanh Long: Dần
- Tiểu Hao: Mão
- Tướng Quân: Thìn
- Tấu Thư: Tỵ
- Phi Liêm: Ngọ
- Hỷ Thần: Mùi
- Bệnh Phù: Thân
- Đại Hao: Dậu
- Phục Binh: Tuất
- Quan Phủ: Hợi
Thanh Long không có Tứ Hóa, nhưng ở chung cung với chính tinh đang hóa
Bảng Tứ Hóa theo can năm chỉ gọi tên mười bốn chính tinh cùng Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, và tùy phái mà thêm Thiên Phủ hoặc Thái Âm. Thanh Long không nằm trong bảng ấy, không tuổi nào làm nó hóa Lộc, Quyền, Khoa hay Kỵ. Sách không lập mục Tứ Hóa cho sao này, và Thầy cũng không bịa thêm.
Nhưng chính tinh đứng chung cung với Thanh Long vẫn hóa như thường, và với sao này thì cái hóa quyết định hầu hết sức nặng của lời luận, bởi bản thân Thanh Long chỉ là một lớp màu lành. Hóa Lộc: đây là chỗ hợp nhất và cũng là cái Lộc duy nhất Thanh Long gặp được, cho hỷ sự đi kèm tiền bạc thật, tin vui có nội dung chứ không chỉ là cảm giác. Hóa Quyền: tin mừng gắn với thăng tiến, với việc được giao thêm, hợp cho công danh. Hóa Khoa: hỷ sự mang màu danh tiếng, cưới hỏi có nghi lễ, thành tựu được ghi nhận. Hóa Kỵ: vui mà vướng, tin mừng tới kèm việc phải xử lý; lúc này đừng đọc Thanh Long là điềm lành đơn thuần mà hãy đọc là một chuyện có hai mặt.
Vì sao đọc Thanh Long phải đọc cả vòng. Bởi mười hai sao ấy không phải mười hai mảnh rời mà là một guồng quay có thứ tự, giống mười hai chặng của một đời làm việc: khởi bằng Bác Sĩ là học và biết, sang Lực Sĩ là ra sức, sang Thanh Long là gặp vận vui, rồi Tiểu Hao là hao vặt, rồi cầm quân, trình bày, tiếng dữ, tin mừng, mỏi mệt, hao lớn, ẩn phục, và khép lại ở Quan Phủ là kiện tụng. Thanh Long đứng ở chặng thứ ba, tức chặng sau khi đã học và đã làm, cho nên điềm lành của nó là điềm lành có công gieo ở phía trước, không phải may rủi từ trên trời rơi xuống. Thực dụng hơn: đã xác định được cung Lộc Tồn và biết chiều đếm, quý vị có toàn bộ mười hai sao của vòng ngay lập tức, không phải tra bảng lần nào nữa.
Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
Trước khi đọc hai cột dưới đây, xin nhớ quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Thanh Long là mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn, còn giáp hai bên là thế bao vây, nặng với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Riêng với Thanh Long thì có ba điều đã bị khóa cứng: Lộc Tồn, Kình Dương và Đà La vĩnh viễn không vào tam phương tứ chính; Lực Sĩ và Tiểu Hao vĩnh viễn giáp hai bên; Bệnh Phù vĩnh viễn xung chiếu. Đừng tìm ba nhóm ấy trong hai cột dưới đây, chúng không phải chuyện tra được.
Thanh Long rất thích gặp
- Hóa Lộc của chính tinh (đồng cung là đắc nhất, tam hợp cũng tốt): đây là cái Lộc duy nhất Thanh Long gặp được, và nó biến tin vui thành lợi ích thật. Không có nó thì hỷ khánh dễ dừng ở mức cảm giác.
- Hồng Loan, Thiên Hỷ, Đào Hoa (đồng cung mạnh nhất, tam hợp kế): cùng hướng hỷ sự và duyên may, làm rõ vế cưới hỏi và tin mừng.
- Long Trì, Phượng Các (đồng cung hoặc tam hợp): bộ sao lễ nghi và vinh hiển, hợp đúng tượng con rồng xanh, cho hỷ sự có danh có phận.
- Thiên Khôi, Thiên Việt (đồng cung hoặc giáp): quý nhân đưa cơ hội tới đúng lúc, đây là cách Thanh Long thường ứng nghiệm nhất trong đời thật.
- Thiên Đức, Nguyệt Đức, Giải Thần (đồng cung hoặc tam hợp): hóa bớt phần vướng, giữ cho điềm lành không bị việc nhỏ làm hỏng.
- Chính tinh miếu vượng, nhất là Tử Vi, Thiên Phủ, Thái Dương, Thái Âm sáng (đồng cung): nền đủ vững thì cơ hội mới đọng lại thành kết quả.
Thanh Long e ngại khi gặp
- Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung nặng nhất, xung chiếu kế): cơ hội tới rồi tan, tin vui hụt, việc tưởng chắc lại hỏng phút cuối. Đây là tổ hợp làm mất nghĩa Thanh Long nhiều nhất.
- Tuần và Triệt án ngữ (án ngay cung có Thanh Long là nặng nhất): hỷ sự bị hoãn, tin mừng tới muộn một nhịp. Tuần Triệt không xóa điềm lành, chỉ dời nó ra sau.
- Hóa Kỵ của chính tinh đồng cung (đồng cung): vui mà vướng, tin mừng kèm việc phải xử lý. Cưới hỏi thì rườm rà, thăng chức thì thêm gánh.
- Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung mạnh nhất): niềm vui bùng lên rồi tắt nhanh; quyết theo cảm hứng nên hay tiếc về sau.
- Kình Dương hoặc Đà La ở thế giáp (chỉ có thể giáp, không thể đồng cung hay chiếu): thế bao vây một bên, tùy chiều đếm mà là Kình hay Đà. Biểu hiện thường gặp là chuyện vui nào cũng có một cái vướng nhỏ đi kèm, không đủ hỏng nhưng đủ mệt.
- Chính tinh hãm địa đồng cung (đồng cung): Thanh Long không nâng nổi một chính tinh đã hãm, lúc ấy nó chỉ còn giữ được vế lạc quan, còn vế kết quả phải trông vào tam phương.
Tóm lại một câu cho dễ nhớ: với Thanh Long, vị thế quan trọng hơn danh sách. Cùng là Lộc Tồn, quý vị sẽ không bao giờ tìm thấy nó trong tam phương tứ chính của Thanh Long, nên đừng đi tìm; cái Lộc mà Thanh Long gặp được phải là Hóa Lộc của chính tinh, thứ đi theo can năm chứ không theo vòng. Cùng là sát tinh, đồng cung thì làm mờ điềm lành, còn tam hợp chiếu thì chỉ làm chậm. Tra hai cột trên, hãy hỏi sao ấy đứng ở đâu so với Thanh Long rồi mới định nặng nhẹ.
Thanh Long Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Đại vận đi vào cung có Thanh Long thường là mười năm dễ thở: cơ hội tới nhiều hơn, gặp người đỡ, việc khó có lối ra, và hay có một vài hỷ sự lớn trong đời như cưới hỏi, sinh con, mua nhà, đổi việc tốt. Nhưng phải nói ngay một điều mà cấu trúc bắt buộc: trong tam phương tứ chính của đại vận ấy luôn có Bệnh Phù xung chiếu, cùng Phi Liêm và Phục Binh tam hợp. Nghĩa là mười năm vui ấy đi kèm phần mỏi mệt và phần ngấm ngầm, không bao giờ là mười năm trống trải. Thầy vẫn dặn khách rằng đại vận Thanh Long là đại vận nên nắm lấy cơ hội chứ không phải đại vận nên nghỉ ngơi.
Có một điểm rất đáng chú ý về vị trí của chặng này. Vì Thanh Long cách Lộc Tồn hai cung, nên đại vận đi vào cung Thanh Long thì cách chặng Lộc Tồn đúng hai chặng, và ở giữa là chặng Lực Sĩ cùng một sát tinh. Đọc theo trục thời gian: chặng có nguồn nuôi, rồi chặng phải ra sức, rồi chặng gặp vận vui. Ai đi thuận thì thứ tự ấy đúng chiều đại vận; ai đi nghịch thì cũng vậy, vì cả vòng lẫn đại vận cùng theo một chiều. Đây là một nhịp rất tự nhiên, và biết trước nó thì biết chặng nào nên gieo, chặng nào nên gặt.
Thanh Long có bản lưu niên, và bản lưu ấy đổi chỗ mỗi năm
Đây là điểm phân biệt quan trọng giữa bốn vòng phụ tinh. Vòng Tràng Sinh an theo cục, mà cục cả đời không đổi, nên vòng Tràng Sinh không có bản lưu niên. Các sao an theo tháng sinh như Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Hình, hay theo giờ sinh như Xương Khúc, Không Kiếp, cũng vậy. Ngược lại, vòng Thái Tuế có bản lưu vì khởi từ chi năm, và vòng Bác Sĩ có bản lưu vì khởi từ Lộc Tồn mà Lộc Tồn tính theo thiên can. Mỗi năm can đổi một lần thì lưu Lộc Tồn dời cung, và lưu Thanh Long dời theo, vẫn giữ đúng khoảng cách hai cung.
Bảng dưới đây tính sẵn cho mười ba năm tới. Hai cột cuối là hai khả năng của lưu Thanh Long, quý vị chọn cột theo chiều đếm của mình.
2026 Bính Ngọ
- Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ: Tỵ
- Lưu Thanh Long nếu đếm thuận: Mùi
- Lưu Thanh Long nếu đếm nghịch: Mão
2027 Đinh Mùi
- Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ: Ngọ
- Lưu Thanh Long nếu đếm thuận: Thân
- Lưu Thanh Long nếu đếm nghịch: Thìn
2028 Mậu Thân
- Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ: Tỵ
- Lưu Thanh Long nếu đếm thuận: Mùi
- Lưu Thanh Long nếu đếm nghịch: Mão
2029 Kỷ Dậu
- Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ: Ngọ
- Lưu Thanh Long nếu đếm thuận: Thân
- Lưu Thanh Long nếu đếm nghịch: Thìn
2030 Canh Tuất
- Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ: Thân
- Lưu Thanh Long nếu đếm thuận: Tuất
- Lưu Thanh Long nếu đếm nghịch: Ngọ
2031 Tân Hợi
- Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ: Dậu
- Lưu Thanh Long nếu đếm thuận: Hợi
- Lưu Thanh Long nếu đếm nghịch: Mùi
2032 Nhâm Tý
- Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ: Hợi
- Lưu Thanh Long nếu đếm thuận: Sửu
- Lưu Thanh Long nếu đếm nghịch: Dậu
2033 Quý Sửu
- Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ: Tý
- Lưu Thanh Long nếu đếm thuận: Dần
- Lưu Thanh Long nếu đếm nghịch: Tuất
2034 Giáp Dần
- Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ: Dần
- Lưu Thanh Long nếu đếm thuận: Thìn
- Lưu Thanh Long nếu đếm nghịch: Tý
2035 Ất Mão
- Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ: Mão
- Lưu Thanh Long nếu đếm thuận: Tỵ
- Lưu Thanh Long nếu đếm nghịch: Sửu
2036 Bính Thìn
- Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ: Tỵ
- Lưu Thanh Long nếu đếm thuận: Mùi
- Lưu Thanh Long nếu đếm nghịch: Mão
2037 Đinh Tỵ
- Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ: Ngọ
- Lưu Thanh Long nếu đếm thuận: Thân
- Lưu Thanh Long nếu đếm nghịch: Thìn
2038 Mậu Ngọ
- Lưu Lộc Tồn và lưu Bác Sĩ: Tỵ
- Lưu Thanh Long nếu đếm thuận: Mùi
- Lưu Thanh Long nếu đếm nghịch: Mão
Cách dùng bảng rất gọn. Lưu Thanh Long rơi vào cung Phu Thê hoặc Tử Tức thì đó là năm đáng chú ý về hỷ sự trong nhà, hợp tính chuyện cưới hỏi hoặc chuyện con cái. Rơi vào Quan Lộc thì hợp nhận cơ hội mới, xin thăng tiến, nộp hồ sơ ứng tuyển. Rơi vào Tài Bạch thì hay có khoản ngoài dự tính, nhưng nhớ tách nó ra khỏi khoản chi thường. Rơi vào Thiên Di thì năm ấy nên đi, nên gặp, nên mở rộng quan hệ. Một câu phải kèm: lưu Thanh Long chỉ mở cửa, người bước qua cửa vẫn phải là quý vị.
Về chiều đếm của vòng lưu, sách không nói rõ và các phái không thống nhất: phần lớn thầy Việt giữ nguyên chiều của bản mệnh, một số phái đếm thuận cho mọi trường hợp. Với Thanh Long thì hai cách cho hai cung cách nhau bốn, tức khác hẳn nhau, nên phải nói rõ mình dùng cách nào. Cách Thầy vẫn làm là giữ nguyên chiều của bản mệnh cho thống nhất với đại vận.
Ngoài bản lưu của chính nó, cung có Thanh Long còn bị các lưu sao khác đi qua. Lưu Thái Tuế tới thì tin vui có phần chính danh, hợp việc phải đứng tên. Lưu Hồng Loan và lưu Thiên Hỷ tới trùng ô Thanh Long là dấu hiệu hỷ sự rõ nhất trong các tổ hợp của sao này. Lưu Kình Dương hoặc lưu Đà La chồng lên ô Thanh Long thì niềm vui năm ấy có vướng, thường là thủ tục và tiền bạc. Lưu Khôi Việt tới thì quý nhân xuất hiện đúng lúc. Cách xem chung là đặt lá số gốc xuống, chỉ ra ô có Thanh Long, rồi xem năm nay lưu sao nào rơi đúng ô ấy.
Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Thanh Long
Thanh Long không đi cùng Lộc Tồn, dù nhiều nơi viết như vậy
Đây là chỗ sai phổ biến nhất, và chính trang này trước đây cũng viết chưa chuẩn. Câu hay gặp là Thanh Long gặp Lộc Tồn thì hỷ khánh kèm tài lộc. Về cấu trúc thì không thể: Thanh Long cách Lộc Tồn đúng hai cung ở cả mười can và cả hai chiều đếm, mà hai cung thì không đồng cung, không xung chiếu, cũng không tam hợp. Máy chạy đủ mười can, không tìm được một trường hợp nào. Vậy câu đúng phải là: Thanh Long gặp Hóa Lộc thì hỷ khánh kèm tài lộc. Hai chữ Lộc khác nhau, và chỉ một trong hai là có thật với sao này.
Thanh Long không hứa may mắn, nó chỉ mở cửa
Thanh Long là phụ tinh nhỏ, loại sao gieo sắc thái chứ không quyết định. Thầy đã xem nhiều lá số Thanh Long thủ Mệnh mà đời rất chật, vì chính tinh hãm và Không Kiếp đồng cung, cơ hội tới bao nhiêu tan bấy nhiêu. Ngược lại cũng nhiều lá số Thanh Long nằm ở cung Nô Bộc, tưởng chỗ không đáng kể, mà người ấy cả đời được bạn bè đưa việc tốt tới. Thanh Long trả lời câu hỏi cơ hội đến theo ngả nào, không trả lời câu hỏi người này có thành hay không.
Thanh Long trong Tử Vi khác Thanh Long trong Phong Thủy
Trong Phong Thủy, Thanh Long là một trong tứ tượng, chỉ phía bên trái của thế đất, đi cùng Bạch Hổ, Chu Tước, Huyền Vũ, và người ta bàn về cao thấp dài ngắn của thế núi thế nhà. Trong Tử Vi Đẩu Số, Thanh Long chỉ là một phụ tinh đứng thứ ba của vòng Bác Sĩ, an theo Lộc Tồn, chủ hỷ khánh và tài lộc. Hai thứ trùng tên mà khác hệ, không suy từ cái này sang cái kia được. Cũng xin phân biệt với Long Trì, một sao khác an theo chi năm, và với Long Đức của vòng Thái Tuế.
Điềm lành của Thanh Long không phải là điềm lành trống trải
Nhiều người đọc tới chữ cát tinh là yên tâm. Nhưng cấu trúc vòng nói khác: tam phương tứ chính của Thanh Long luôn có Bệnh Phù xung chiếu, Phi Liêm và Phục Binh tam hợp, ba sao thuộc loại mỏi mệt và ngấm ngầm. Đây không phải điều xấu, chỉ là điều thật: niềm vui trong đời người luôn nằm cạnh phần mệt và phần chưa nói ra. Hiểu như vậy thì lời luận về Thanh Long vừa lành vừa thực, không thành lời tâng bốc.
Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải
Thanh Long là cát tinh, không phải sao cần trấn, cần yểm, cần cúng. Việc của quý vị với sao này không phải hóa giải nó mà là đừng bỏ lỡ nó. Cơ hội của Thanh Long thường tới dưới dạng một lời mời, một lời giới thiệu, một cuộc gặp tình cờ, và chúng có đặc điểm chung là không chờ lâu. Dưới đây là những điều Thầy vẫn dặn khách có Thanh Long nổi bật trong lá số.
Trả lời sớm, và giữ lời với người đã giới thiệu mình
Thầy để ý những khách có Thanh Long mà giữ được nếp trả lời nhanh, cảm ơn đúng lúc, làm xong thì báo lại, thì cơ hội cứ nối nhau mà tới. Người để lời mời nằm im vài tuần thì sao ấy gần như không phát huy. Điềm lành của Thanh Long đi qua tay người khác, nên giữ quan hệ chính là giữ sao.
Biến tin vui thành việc có kết quả đo được
Vì Lộc Tồn không bao giờ vào tam phương của Thanh Long, cái sao này thiếu nhất là tính bền và nguồn nuôi. Cho nên mỗi lần có cơ hội, hãy quy nó về một việc cụ thể có mốc và có kết quả đo được, thay vì để nó ở dạng một khả năng dễ chịu. Người có Thanh Long mà thêm được nếp làm việc có kỷ luật thì mạnh hơn hẳn, vì phần thiếu đã được bù bằng thói quen.
Đừng chủ quan về sức khỏe chỉ vì ít ốm
Thanh Long tại Tật Ách thường cho người ít bệnh vặt, hồi phục nhanh, tinh thần lạc quan. Chính vì thế mà hay bỏ khám định kỳ. Đây là chỗ Thầy nhắc kỹ: điềm lành trên lá số không thay được một lần xét nghiệm. Giữ nếp khám mỗi năm một lần là cách dùng sao này khôn ngoan nhất.
Nhận rằng vui và mệt vốn đi cạnh nhau
Cấu trúc vòng đã nói rõ: Bệnh Phù luôn xung chiếu, Phi Liêm và Phục Binh luôn tam hợp. Nghĩa là chặng vui nào cũng có phần mỏi và phần chưa nói ra. Biết trước điều ấy thì không hụt hẫng khi niềm vui đi kèm một khoản phải chi hoặc một việc phải xử lý. Cách quản thiết thực nhất là mỗi lần nhận cơ hội, hỏi luôn một câu: việc này đòi mình thêm bao nhiêu thời gian và bao nhiêu tiền.
Phong thủy bổ trợ, chỉ là gợi ý chung
Thầy gợi ý những việc rất đời thường: giữ lối vào nhà thoáng và sáng, vì đây là nơi cơ hội và khách quý đi qua; có một chỗ tiếp khách tử tế dù nhỏ; và giữ một cuốn sổ ghi lại những người đã giúp mình để không quên trả lễ. Đây là gợi ý chung cho người sống bằng quan hệ và cơ hội, không phải phép thuật gắn với sao Thanh Long, và không thay được việc làm thật, giữ lời thật, khám sức khỏe thật.
Câu hỏi thường gặp
Thanh Long là sao thứ ba của vòng Bác Sĩ trong Tử Vi Đẩu Số, lấy hình con rồng xanh, biểu tượng điềm lành phương Đông. Đây là cát tinh chủ hỷ khánh, tài lộc, may mắn và những tin vui.
Thanh Long đứng thứ ba trong vòng Bác Sĩ, an theo Lộc Tồn và đi theo chiều thuận hoặc nghịch tùy âm dương nam nữ.
Thanh Long ở Tài Bạch báo tài lộc hanh thông, có cơ hội tốt và hỷ sự liên quan tiền bạc, nhất là khi đi cùng Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc.
Trong lưu niên, cung gặp Thanh Long thường có hỷ sự, tin vui, tài lộc hoặc cơ hội tốt trong năm, là một sao báo điềm lành đáng mong.
Chỉ ở thế giáp, tức đứng ở cung liền kề, chứ không bao giờ đồng cung, xung chiếu hay tam hợp. Người đếm thuận thì Kình Dương nằm ở cung liền trước Thanh Long còn Đà La cách ba cung; người đếm nghịch thì Đà La nằm ở cung liền trước còn Kình Dương cách ba cung. Nói gọn: trong tam phương tứ chính của Thanh Long không bao giờ có mặt Lộc Tồn, Kình Dương hay Đà La. Trong ba sao đầu vòng, Thanh Long là sao duy nhất thoát trọn khỏi bộ ba ấy.
Có. Vòng Bác Sĩ khởi từ Lộc Tồn mà Lộc Tồn an theo thiên can, nên mỗi năm can đổi thì lưu Lộc Tồn dời cung và lưu Thanh Long dời theo, vẫn giữ đúng khoảng cách hai cung. Đây là điểm khác với vòng Tràng Sinh vốn an theo cục nên cả đời không đổi, và khác với các sao an theo tháng sinh hay giờ sinh vốn cũng không có bản lưu. Năm nào lưu Thanh Long rơi vào cung Phu Thê, Tử Tức hay Quan Lộc thì đáng chú ý về hỷ sự và cơ hội.
Không, hai thứ trùng tên mà khác hệ. Trong Phong Thủy, Thanh Long là một trong tứ tượng, chỉ phía bên trái của thế đất, đi cùng Bạch Hổ, Chu Tước và Huyền Vũ. Trong Tử Vi Đẩu Số, Thanh Long là một phụ tinh nhỏ đứng thứ ba của vòng Bác Sĩ, an theo Lộc Tồn, chủ hỷ khánh và tài lộc. Không suy từ hệ này sang hệ kia được. Cũng nên phân biệt với sao Long Trì an theo chi năm và sao Long Đức của vòng Thái Tuế.