Tử Vi

Sao Thiên Giải: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung

Tìm hiểu sao Thiên Giải trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.

Đạo Quán46 phút đọc

Tổng quan về sao Thiên Giải

Thiên Giải là một giải tinh của lá số Tử Vi, ngũ hành Hỏa, thuộc nhóm giải tinh cùng Địa Giải và Giải Thần. Tên Thiên Giải nghĩa là sự hóa giải từ trời, nên sao gắn với việc tháo gỡ tai ách, bệnh tật.

  • Ngũ hành: Hỏa
  • Nhóm: Phụ Tinh Giải Cứu
  • Cách an: Thiên giải an theo tháng sinh, thuộc nhóm giải tinh cùng địa giải và giải thần
  • Cai quản: đức độ, khoan hòa, giải trừ tai ách
  • Tính chất: Giải cứu, hóa ách

Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.

Ý nghĩa tại cung Mệnh

  • Thiên Giải đắc thế, chính tinh sáng hoặc có Hóa Khoa nâng: Tính khoan hòa, nhân hậu, không thích đẩy chuyện tới cùng. Gặp khó thường tìm ra lối hoặc có người đứng ra dàn xếp. Hay được nhờ làm trung gian, và làm việc ấy khá mát tay. Có Tả Phụ tam hợp nên quanh mình luôn có người đỡ tay.
  • Thiên Giải thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Hiền thành nhu nhược, việc gì cũng cho qua nên không dứt điểm được cái nào. Lấy sự dàn xếp thay cho việc giải quyết, để một chuyện kéo dài nhiều năm. Thiên Hình ở cung liền sau dễ ứng thành cảnh bị người khác đặt điều kiện.

Ý nghĩa ở các cung khác

Đối chiếu ý nghĩa của Thiên Giải với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.

Cung Phụ Mẫu

  • Thiên Giải đắc thế, chính tinh sáng hoặc có Hóa Khoa nâng: Cha mẹ ốm đau thì thường qua được, gặp đúng thầy. Mâu thuẫn với người trên hay được bỏ qua. Có chuyện gì thì trong nhà tự dàn xếp, ít khi đưa ra ngoài.
  • Thiên Giải thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Chuyện trong nhà giữ kín cho êm nên con cái biết muộn. Việc giấy tờ thừa kế hay để chậm rồi mới lo, mà cung liền sau lại có Thiên Hình nên chuyện giấy tờ dễ thành chuyện pháp lý.

Cung Phúc Đức

  • Thiên Giải đắc thế, chính tinh sáng hoặc có Hóa Khoa nâng: Tinh thần dễ hồi phục sau chuyện buồn, ít để bụng lâu. Trong họ có nếp bỏ qua cho nhau, có người tu tâm làm phúc. Người này ít khi rơi vào bế tắc kéo dài.
  • Thiên Giải thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Nỗi buồn được xoa dịu nhanh nên không được nhìn thẳng, tích lại thành cái nặng ngầm. Hay tự nhủ rồi cũng qua thôi, và vì thế không chịu đi tìm cách chữa thật.

Cung Điền Trạch

  • Thiên Giải đắc thế, chính tinh sáng hoặc có Hóa Khoa nâng: Nhà cửa có vướng mắc giấy tờ thì gỡ được, mua bán trắc trở rồi cũng xong. Trong họ hay có người đứng ra lo phần thủ tục.
  • Thiên Giải thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Cũng như cung Tài Bạch, đây là chỗ cái trôi thành cái hại. Nhà đất có mà không giữ lâu, hoặc mua rồi bán, hoặc sửa sang tốn kém. Không nên coi bất động sản là kênh tích lũy chính.

Cung Quan Lộc

  • Thiên Giải đắc thế, chính tinh sáng hoặc có Hóa Khoa nâng: Công việc có sự cố thì thường hạ cánh mềm. Rất hợp nghề xử lý khủng hoảng, hòa giải, pháp lý, y tế, bảo hiểm, công tác xã hội, nghề phải gỡ rối cho người khác. Thiên Hình ở cung liền sau càng làm nghề ấy có khuôn phép.
  • Thiên Giải thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Nghề cứ trôi mà không lên, hết việc này tới việc khác được cho qua nên không tích được thành tựu. Gặp Tuần Triệt thì mất luôn cả cái đỡ ấy, thành ra vừa không lên vừa không yên.

Cung Nô Bộc

  • Thiên Giải đắc thế, chính tinh sáng hoặc có Hóa Khoa nâng: Bạn bè cấp dưới có va chạm thì có người đứng ra hòa giải, ít khi mất bạn vì một chuyện. Hay được bạn cũ giúp đúng lúc, nhất là khi Tả Phụ chiếu về.
  • Thiên Giải thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Mọi mâu thuẫn đều được xoa cho qua nên không ai biết ai nghĩ gì. Dễ bị lợi dụng lòng tốt, cho vay rồi ngại đòi.

Cung Thiên Di

  • Thiên Giải đắc thế, chính tinh sáng hoặc có Hóa Khoa nâng: Ra ngoài gặp trục trặc thì có người gỡ hộ. Đi xa ít khi mắc kẹt, lỡ chuyến lỡ việc rồi cũng có đường. Hợp nghề phải xử lý sự cố ở xa, hợp việc đi công tác nhiều.
  • Thiên Giải thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Việc gỡ được nên không rút ra bài học, cứ lặp lại cùng một kiểu sơ suất. Ra ngoài quen dựa vào may, không chuẩn bị kỹ, tới lúc gặp cảnh không ai đỡ thì lúng túng.

Cung Tật Ách

  • Thiên Giải đắc thế, chính tinh sáng hoặc có Hóa Khoa nâng: Đây là cung Thiên Giải có ích nhất và cũng là chỗ sách khen nhất. Bệnh tới thường phát hiện sớm, gặp đúng thầy đúng thuốc, mổ xẻ thuận, tai nạn có mà ít khi tới mức nặng. Việc gì cần chữa thì hay chữa được.
  • Thiên Giải thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Vẫn có nghĩa đỡ nhưng không đủ chống lại một cung Tật Ách nhiều sát tinh. Nguy nhất là tâm lý chủ quan: thấy có sao giải nên bỏ khám định kỳ, bỏ dở thuốc, đó là lúc Thiên Giải thành cái hại chứ không phải cái lợi.

Cung Tài Bạch

  • Thiên Giải đắc thế, chính tinh sáng hoặc có Hóa Khoa nâng: Tiền có lúc kẹt thì xoay được, vay mượn dễ, có người đứng ra bảo lãnh. Hợp kiểu kiếm tiền bằng việc gỡ rối cho người khác: tư vấn, môi giới, dịch vụ xử lý sự cố.
  • Thiên Giải thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Đây là cung phải dè. Bản chất của sao giải là làm cho mọi thứ trôi đi, mà tiền thì cần giữ lại. Người có Thiên Giải ở Tài rất giỏi xoay xở lúc ngặt mà rất khó tích lũy lúc dư, tiền vào ra như nước, hay tiêu vào việc giúp người.

Cung Tử Tức

  • Thiên Giải đắc thế, chính tinh sáng hoặc có Hóa Khoa nâng: Việc sinh nở và nuôi con gặp trắc trở thì thường qua được. Con ốm đau hay gặp đúng thầy đúng thuốc. Con cái tính dễ chịu, ít gây chuyện lớn, và biết xin lỗi.
  • Thiên Giải thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Cha mẹ quen dọn dẹp hậu quả cho con nên con lớn lên thiếu tính chịu trách nhiệm. Cái giải ở cung này rất dễ hóa thành sự bao che, đó là mặt hại ít ai nói tới.

Cung Phu Thê

  • Thiên Giải đắc thế, chính tinh sáng hoặc có Hóa Khoa nâng: Vợ chồng cãi nhau rồi làm lành nhanh, ít khi để qua đêm. Sóng gió trong nhà thường có đường lùi. Bạn đời tính dễ chịu, biết nhường, và hay là người chủ động hòa.
  • Thiên Giải thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Làm lành nhanh mà không giải quyết, nên vấn đề thật bị đẩy xuống dưới. Đây là kiểu hôn nhân êm bề mặt mà mỏi ở bên trong, phải xem thêm Thiên Riêu ở cung cách bảy để biết có chuyện ngầm không.

Cung Huynh Đệ

  • Thiên Giải đắc thế, chính tinh sáng hoặc có Hóa Khoa nâng: Anh em bạn bè có chuyện thì tự thu xếp được, ít khi để vỡ ra ngoài. Trong nhà thường có một người đứng ra làm trung gian, và người ấy hay chính là quý vị.
  • Thiên Giải thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án ngữ: Chuyện cũ được xoa cho qua chứ không nói tới gốc, nên cùng một mâu thuẫn lặp lại nhiều lần. Không ai chịu nói thẳng, đến lúc vỡ thì vỡ hẳn.

Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc

Thiên Giải an theo tháng sinh âm lịch, và đếm thuận. Phép an chỉ có một dòng: đặt ngón tay vào cung Thân rồi đếm xuôi chiều kim đồng hồ đi số bước bằng tháng sinh trừ một. Người sinh tháng giêng thì Thiên Giải đứng nguyên ở Thân, tháng hai bước sang Dậu, tháng ba sang Tuất, cứ thế cho tới tháng chạp thì về Mùi. Tham số duy nhất là tháng sinh, nên vị trí Thiên Giải cố định suốt đời: không đổi theo giới tính, không đổi theo Cục, không đổi theo giờ sinh, và hai người sinh cùng một tháng âm lịch thì Thiên Giải luôn đóng cùng một cung địa chi, dù cách nhau bao nhiêu tuổi.

Điều phải nói ngay, vì nó chi phối toàn bộ bài này: Địa Giải dùng đúng phép đếm ấy nhưng khởi từ cung Mùi, tức khởi trước Thiên Giải đúng một cung. Hai sao chạy song song suốt mười hai tháng, chênh nhau đúng một bước, không tháng nào bằng nhau và không tháng nào chênh khác đi. Quý vị đối chiếu hai cột của bảng dưới đây sẽ thấy cột Thiên Giải chỉ là cột Địa Giải trượt xuống một dòng.

Tháng 1

  • Thiên Giải: Thân
  • Địa Giải: Mùi

Tháng 2

  • Thiên Giải: Dậu
  • Địa Giải: Thân

Tháng 3

  • Thiên Giải: Tuất
  • Địa Giải: Dậu

Tháng 4

  • Thiên Giải: Hợi
  • Địa Giải: Tuất

Tháng 5

  • Thiên Giải: Tý
  • Địa Giải: Hợi

Tháng 6

  • Thiên Giải: Sửu
  • Địa Giải: Tý

Tháng 7

  • Thiên Giải: Dần
  • Địa Giải: Sửu

Tháng 8

  • Thiên Giải: Mão
  • Địa Giải: Dần

Tháng 9

  • Thiên Giải: Thìn
  • Địa Giải: Mão

Tháng 10

  • Thiên Giải: Tỵ
  • Địa Giải: Thìn

Tháng 11

  • Thiên Giải: Ngọ
  • Địa Giải: Tỵ

Tháng 12

  • Thiên Giải: Mùi
  • Địa Giải: Ngọ

Từ một bảng giản dị như vậy mà rút ra được rất nhiều điều chắc chắn, và đó là chỗ đáng đọc nhất của một phụ tinh nhỏ. Sức nặng của Thiên Giải không nằm ở bản thân nó, nó nằm ở chỗ nó bị cấu trúc gài vào giữa những ngôi sao nào.

Bảy điều bất biến của Thiên Giải, đã chạy đủ mười hai tháng bằng máy

  • Thiên Giải đi được cả mười hai cung, không kiêng cung nào. Mười hai tháng cho mười hai cung khác nhau là Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi. Phủ kín địa bàn, nên mọi lá số đều có Thiên Giải. Đây là điều phải nhớ trước tiên khi nghe nói tới sao giải trừ tai ách: nếu chỉ cần có nó là qua nạn thì không ai gặp nạn cả.
  • Thiên Giải luôn đứng liền sau Địa Giải, cách đúng một cung. Không tháng nào hai sao trùng nhau, không tháng nào chúng cách sáu cung hay bốn cung. Nghĩa là hai sao giải vĩnh viễn không hội chiếu được cho nhau, chúng chỉ giáp nhau. Cái gọi là bộ giải tinh kép, nếu hiểu theo nghĩa hai sao ngồi chung một cung, là một bộ không tồn tại.
  • Thiên Giải luôn có Thiên Hình đứng liền sau, cũng cách đúng một cung. Thiên Hình khởi từ cung Dậu, tức sau Thân một bước, nên nó bám theo Thiên Giải suốt mười hai tháng. Cộng với điều trên, mọi lá số đều có một chuỗi ba cung liền nhau: Địa Giải, rồi Thiên Giải, rồi Thiên Hình. Thiên Giải luôn bị giáp một bên bởi một sao giải, một bên bởi một sao hình.
  • Thiên Giải luôn tam hợp chiếu Tả Phụ. Tả Phụ khởi từ cung Thìn nên luôn cách Thiên Giải đúng bốn cung, mười hai trên mười hai tháng. Đây là sao cát duy nhất mà Thiên Giải chắc chắn hội được, và cũng là chỗ đỡ cố định của nó: Thiên Giải nói rằng có đường gỡ, Tả Phụ nói rằng có người đỡ tay.
  • Thiên Giải vĩnh viễn không hội chiếu được Thiên Y và Thiên Riêu. Hai sao ấy trùng cung nhau, cùng khởi từ Sửu, nên đều cách Thiên Giải đúng bảy cung ở mọi tháng. Bảy là số lẻ, mà mọi thế hội chiếu đều cần khoảng cách chẵn. Câu Thiên Giải đi cùng Thiên Y thì bệnh mau khỏi, chép trên rất nhiều tài liệu, không dựng được theo cách an này.
  • Với Hữu Bật thì gặp theo tháng, vì Hữu Bật an nghịch. Thiên Giải đồng cung Hữu Bật ở tháng hai tại Dậu và tháng tám tại Mão; xung chiếu ở tháng năm trên trục Tý Ngọ và tháng mười một trên trục Ngọ Tý; tam hợp ở các tháng tư, sáu, mười, chạp; còn tháng giêng, ba, bảy, chín thì hai sao nằm ngoài tầm với của nhau.
  • Không một chính tinh nào bị cấm đứng cùng Thiên Giải. Chạy đủ mười hai thế Tử Vi cho từng vị trí thì cả mười bốn chính tinh đều có thể đồng cung với Thiên Giải, tại bất cứ cung nào trong mười hai cung, và cung ấy cũng có thể trống không. Sức của Thiên Giải vì thế phụ thuộc hẳn vào chính tinh ngồi cùng, chứ nó không tự định được điều gì.

Tháng 1

  • Địa Giải: Mùi
  • Thiên Giải: Thân
  • Thiên Hình: Dậu
  • Thiên Riêu: Sửu
  • Thiên Y: Sửu
  • Tả Phụ: Thìn
  • Hữu Bật: Tuất

Tháng 2

  • Địa Giải: Thân
  • Thiên Giải: Dậu
  • Thiên Hình: Tuất
  • Thiên Riêu: Dần
  • Thiên Y: Dần
  • Tả Phụ: Tỵ
  • Hữu Bật: Dậu

Tháng 3

  • Địa Giải: Dậu
  • Thiên Giải: Tuất
  • Thiên Hình: Hợi
  • Thiên Riêu: Mão
  • Thiên Y: Mão
  • Tả Phụ: Ngọ
  • Hữu Bật: Thân

Tháng 4

  • Địa Giải: Tuất
  • Thiên Giải: Hợi
  • Thiên Hình: Tý
  • Thiên Riêu: Thìn
  • Thiên Y: Thìn
  • Tả Phụ: Mùi
  • Hữu Bật: Mùi

Tháng 5

  • Địa Giải: Hợi
  • Thiên Giải: Tý
  • Thiên Hình: Sửu
  • Thiên Riêu: Tỵ
  • Thiên Y: Tỵ
  • Tả Phụ: Thân
  • Hữu Bật: Ngọ

Tháng 6

  • Địa Giải: Tý
  • Thiên Giải: Sửu
  • Thiên Hình: Dần
  • Thiên Riêu: Ngọ
  • Thiên Y: Ngọ
  • Tả Phụ: Dậu
  • Hữu Bật: Tỵ

Tháng 7

  • Địa Giải: Sửu
  • Thiên Giải: Dần
  • Thiên Hình: Mão
  • Thiên Riêu: Mùi
  • Thiên Y: Mùi
  • Tả Phụ: Tuất
  • Hữu Bật: Thìn

Tháng 8

  • Địa Giải: Dần
  • Thiên Giải: Mão
  • Thiên Hình: Thìn
  • Thiên Riêu: Thân
  • Thiên Y: Thân
  • Tả Phụ: Hợi
  • Hữu Bật: Mão

Tháng 9

  • Địa Giải: Mão
  • Thiên Giải: Thìn
  • Thiên Hình: Tỵ
  • Thiên Riêu: Dậu
  • Thiên Y: Dậu
  • Tả Phụ: Tý
  • Hữu Bật: Dần

Tháng 10

  • Địa Giải: Thìn
  • Thiên Giải: Tỵ
  • Thiên Hình: Ngọ
  • Thiên Riêu: Tuất
  • Thiên Y: Tuất
  • Tả Phụ: Sửu
  • Hữu Bật: Sửu

Tháng 11

  • Địa Giải: Tỵ
  • Thiên Giải: Ngọ
  • Thiên Hình: Mùi
  • Thiên Riêu: Hợi
  • Thiên Y: Hợi
  • Tả Phụ: Dần
  • Hữu Bật: Tý

Tháng 12

  • Địa Giải: Ngọ
  • Thiên Giải: Mùi
  • Thiên Hình: Thân
  • Thiên Riêu: Tý
  • Thiên Y: Tý
  • Tả Phụ: Mão
  • Hữu Bật: Hợi

Đọc bảng theo cột thì thấy ngay ba cột Địa Giải, Thiên Giải, Thiên Hình trượt đều nhau, cách nhau đúng một dòng. Cột Thiên Riêu và cột Thiên Y trùng khít nhau từng ô. Cột Tả Phụ luôn lùi bốn dòng so với cột Thiên Giải. Chỉ có cột Hữu Bật là chạy ngược, nên nó cắt ngang các cột kia và cho ra những thế gặp gỡ khác nhau tùy tháng.

Địa Giải

  • Sao ấy là gì: sao giải trừ từ đất, cùng nhóm giải tinh
  • Khoảng cách với Thiên Giải: Luôn cách đúng một cung, Thiên Giải đứng liền sau Địa Giải theo chiều thuận
  • Kết quả hội chiếu: Chỉ giáp nhau, vĩnh viễn không đồng cung, không xung chiếu, không tam hợp

Thiên Hình

  • Sao ấy là gì: sao hình thương, kỷ luật, pháp luật, dao kéo
  • Khoảng cách với Thiên Giải: Luôn cách đúng một cung, Thiên Hình đứng liền sau Thiên Giải theo chiều thuận
  • Kết quả hội chiếu: Chỉ giáp nhau, vĩnh viễn không hội chiếu được

Thiên Riêu

  • Sao ấy là gì: sao tư tình, mê đắm, ngầm ẩn
  • Khoảng cách với Thiên Giải: Luôn cách đúng bảy cung
  • Kết quả hội chiếu: Bảy là số lẻ nên vĩnh viễn không hội chiếu được

Thiên Y

  • Sao ấy là gì: sao thuốc thang, chữa trị
  • Khoảng cách với Thiên Giải: Luôn cách đúng bảy cung, vì Thiên Y và Thiên Riêu trùng cung nhau
  • Kết quả hội chiếu: Bảy là số lẻ nên vĩnh viễn không hội chiếu được

Tả Phụ

  • Sao ấy là gì: sao phù tá, người đỡ tay bên tả
  • Khoảng cách với Thiên Giải: Luôn cách đúng bốn cung
  • Kết quả hội chiếu: Luôn tam hợp chiếu, đúng mười hai trên mười hai tháng

Hữu Bật

  • Sao ấy là gì: sao phù tá, người đỡ tay bên hữu, an nghịch
  • Khoảng cách với Thiên Giải: Khoảng cách đổi theo tháng vì Hữu Bật đếm nghịch
  • Kết quả hội chiếu: Đồng cung tháng 2 và tháng 8, xung chiếu tháng 5 và tháng 11, tam hợp tháng 4, 6, 10, 12, ngoài tầm ở tháng 1, 3, 7, 9

Thầy dừng lại ở hai dòng làm đổi hẳn cách luận. Dòng Thiên Y: đây là sao thuốc thang chữa trị, được nhắc chung với Thiên Giải trong gần như mọi tài liệu phổ thông, kể cả bản cũ của chính trang này. Máy nói rằng chúng không bao giờ gặp nhau. Vậy khi cần tìm sức chữa trị cho một cung thì đừng cộng Thiên Y vào cung Thiên Giải, hãy tìm nó ở chỗ của nó, cách đúng bảy cung. Dòng Tả Phụ: đây mới là bạn đồng hành thật của Thiên Giải, cố định mười hai trên mười hai tháng, mà lại ít ai nói tới. Cung nào có Thiên Giải thì tam phương của cung ấy chắc chắn có một bàn tay đỡ.

Một hệ quả nhỏ mà tiện dùng: vì Thiên Giải khởi từ Thân là cung dương và đếm thuận theo tháng, nên tháng lẻ cho cung dương, tháng chẵn cho cung âm. Người sinh tháng giêng, ba, năm, bảy, chín, một một thì Thiên Giải nằm trong sáu cung dương Thân, Tuất, Tý, Dần, Thìn, Ngọ; người sinh tháng chẵn thì nằm trong sáu cung âm Dậu, Hợi, Sửu, Mão, Tỵ, Mùi. Địa Giải thì ngược lại vì nó khởi từ Mùi là cung âm. Chỉ nhìn tháng sinh là biết ngay Thiên Giải đứng ở cung âm hay cung dương, chưa cần tra bảng.

Cách An Và Đặc Tính Cơ Bản

Thiên Giải an theo tháng sinh, thuộc nhóm giải tinh cùng Địa Giải và Giải Thần.

Vì là phụ tinh, Thiên Giải làm rõ hoặc tô đậm tính chất của chính tinh đồng cung và của cung nó tọa thủ, chứ không tự quyết định cục diện một mình.

Đặc Tính Và Sức Giải Theo Thư Tịch

Theo Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, Thiên Giải cùng Địa Giải và Giải Thần chủ sự có đức độ, khoan hòa, nhân hậu, từ thiện, cứu khốn phò nguy, giải trừ bệnh tật tai họa, gia tăng phúc thọ. Đây là một trong các sao chuyên hóa giải hung họa.

Thiên Giải đi cùng Thiên Đức, Nguyệt Đức, Thiên Y, Thiên Lương thì khả năng giải ách càng mạnh. Là sao phụ, Thiên Giải quý nhất ở cung Tật Ách và khi lá số có nhiều hung tinh cần được hóa giải.

Quan Hệ Cố Định Của Thiên Giải Với Các Sao Cùng An Theo Tháng Sinh

Thiên Giải không thuộc vòng sao nào. Bốn vòng lớn của Tử Vi Đẩu Số gồm vòng Thái Tuế mười hai sao đếm theo chi năm sinh, vòng Bác Sĩ mười hai sao đếm từ Lộc Tồn tức theo can năm sinh, vòng Tràng Sinh mười hai sao đếm theo Cục, và vòng thần sát mười hai sao đếm theo tam hợp chi năm sinh. Thiên Giải không có tên trong bốn danh sách ấy. Nó là một sao lẻ, an bằng một phép đếm riêng, và vì thế mục này không đọc vòng mà đọc nhóm sao cùng tham số: sáu ngôi sao còn lại cùng lấy tháng sinh làm gốc. Với những sao ấy thì quan hệ của Thiên Giải là bất biến hoặc gần bất biến, tính bằng máy chứ không phải đoán.

Vì sao nhóm sao theo tháng lại đọc được thành một khối

Tháng sinh là tham số thô nhất trong bốn tham số của lá số: nó chỉ có mười hai giá trị và ai cũng biết ngay tháng mình sinh. Cổ nhân gắn vào tham số ấy một nhóm sao nói về hoàn cảnh sống và cách người khác đối xử với mình: Tả Phụ Hữu Bật là người đỡ tay hai bên, Thiên Hình là kỷ luật và pháp luật, Thiên Riêu là chuyện tư tình ngầm, Thiên Y là thuốc thang, Thiên Giải và Địa Giải là sự tháo gỡ. Đọc riêng từng sao thì mờ nhạt; đọc cả bảy sao trên một lá số thì hiện ra một bức tranh khá rõ về việc người này khi gặp chuyện thì được đỡ ở đâu, bị siết ở đâu, và gỡ được bằng đường nào.

Thầy dùng một mẹo rất giản dị khi mở lá số. Vì ba sao Địa Giải, Thiên Giải, Thiên Hình đứng liền ba cung, nên chỉ cần tìm ra Thiên Hình là biết ngay hai sao kia; và ngược lại, hễ thấy Thiên Giải thì phải đưa mắt sang cung liền sau để xem Thiên Hình đang đè lên cung chức nào. Rất nhiều lần cái đáng nói của lá số không nằm ở cung Thiên Giải mà nằm ở cung Thiên Hình bên cạnh nó.

Ba cung liền nhau: Địa Giải, Thiên Giải, Thiên Hình

Đây là cấu trúc đáng nhớ nhất của bài. Trên mọi lá số, ba ngôi sao ấy nằm ở ba cung liên tiếp theo chiều thuận, không bao giờ khác. Vì hai cung kề của một cung chính là thế giáp, nên nói cách khác: cung có Thiên Giải luôn bị giáp bởi Địa Giải và Thiên Hình. Giáp là thế bao vây, nó ứng vào hoàn cảnh chứ ít khi ứng thành sự việc; nhưng vì nó có mặt trên mọi lá số nên người luận phải quen với nó như quen một nếp nhà.

Đọc ra lời thường thì thế này. Cung có Thiên Giải là cung mà quý vị được tháo gỡ, nhưng sự tháo gỡ ấy luôn kẹp giữa hai thứ: một bên là cái đỡ từ dưới đất, chậm và chắc, đó là Địa Giải; một bên là cái siết của kỷ luật, luật lệ, hợp đồng, dao kéo, đó là Thiên Hình. Thầy thấy hình ảnh ấy đúng một cách kỳ lạ ở những người làm nghề phải gỡ rối cho người khác: nghề y, nghề luật, nghề bảo hiểm, nghề hòa giải. Họ gỡ được là vì có luật đứng cạnh, chứ không phải vì lòng tốt suông.

Cần phân biệt cho rõ để khỏi nói quá. Giáp không phải hội chiếu. Địa Giải không cộng sức giải vào cung Thiên Giải, Thiên Hình cũng không đem sát khí vào cung ấy. Ba sao chỉ đứng cạnh nhau. Khi luận thì cái quyết định vẫn là chính tinh của cung, Tứ Hóa của cung, và số sát tinh đóng ngay trong cung ấy; thế giáp chỉ tô thêm sắc thái.

Tả Phụ, chỗ đỡ cố định trong tam giác của Thiên Giải

Trong bảy sao theo tháng, chỉ có Tả Phụ là hội chiếu được với Thiên Giải một cách bất biến, cách đúng bốn cung ở cả mười hai tháng. Đây là một tin tốt và đáng nói với người xem, vì Tả Phụ là một trong lục cát tinh, có lực thật chứ không phải sao nhỏ. Tam phương của cung Thiên Giải luôn có ít nhất một bàn tay đỡ.

Cách dùng thực tế: khi một cung có Thiên Giải mà đang gặp chuyện, Thầy bảo người xem đi tìm người chứ đừng ngồi chờ. Cấu trúc đã hứa sẵn là có người đỡ tay ở tam hợp, nhưng Tả Phụ chỉ ứng khi mình mở lời nhờ; nó không tự tìm tới. Còn Hữu Bật thì tùy tháng: người sinh tháng hai và tháng tám có Hữu Bật ngồi ngay cùng cung với Thiên Giải, ấy là thế đủ đôi tay, gặp việc gì cũng có người xúm vào; người sinh tháng giêng, ba, bảy, chín thì Hữu Bật nằm ngoài tầm, chỉ có một bên đỡ.

Hai ngôi sao mà Thiên Giải vĩnh viễn không gặp

Thiên Y và Thiên Riêu trùng cung nhau và cùng cách Thiên Giải đúng bảy cung, nên cả hai đều nằm ngoài mọi thế hội chiếu. Với Thiên Riêu thì đây là điều mừng: Thiên Riêu chủ chuyện tư tình ngầm, mê đắm, không hợp với khí khoan hòa của một sao giải, và cấu trúc đã tách chúng ra sẵn. Với Thiên Y thì đây là điều phải sửa lại trong lối luận: bộ Thiên Giải cộng Thiên Y không tồn tại.

Vậy khi cần tìm sức cứu giải thật cho một cung thì tìm ở đâu. Thầy xếp theo thứ tự lực từ mạnh xuống nhẹ: Hóa Khoa trước hết, vì nó đi theo chính tinh nên có lực thật; rồi tới Thiên Lương nếu chính tinh của cung ấy là Thiên Lương hoặc Thiên Lương chiếu về, vì Tân Biên xếp Thiên Lương là sao ấm che chủ cứu nạn; rồi tới Thiên Đức, Nguyệt Đức, Long Đức nếu tuổi ấy cho chúng rơi đúng chỗ, ba sao này an theo chi năm sinh nên không có quan hệ cố định với Thiên Giải, có lá số gặp có lá số không; sau cùng mới tới Thiên Giải và Địa Giải như hai lớp phụ mỏng. Ai đảo ngược thứ tự ấy là đang trấn an người xem chứ không phải đang luận mệnh.

Thiên Giải và bảng Tứ Hóa

Thiên Giải không nằm trong bảng Tứ Hóa ở cả Nam phái lẫn Bắc phái. Không tuổi can nào làm nó hóa Lộc, Quyền, Khoa hay Kỵ, và nó cũng không tự phát hóa để bay sang cung khác. Nhưng vì bản thân nó là một sao giải, nên cách nó phản ứng với hóa của chính tinh đồng cung là phần đáng đọc nhất, và bốn hóa cho bốn kết quả khác hẳn nhau.

  • Đồng cung với chính tinh hóa Kỵ: đây là thế người ta cần tới sao giải nhất, và cũng là thế phải nói thật nhất. Hóa Kỵ chủ vướng mắc, dây dưa, mất mát. Thiên Giải làm cho cái vướng ấy bớt gắt, tới chậm hơn, kéo dài mà chưa vỡ, và thường có người xuất hiện để dàn xếp. Nhưng nút vẫn còn nguyên. Thầy hay nói một câu cho dễ nhớ: Hóa Kỵ là cái gai trong chân, Thiên Giải chỉ là miếng băng dán ngoài.
  • Đồng cung với chính tinh hóa Khoa: đây mới là thế mạnh thật, vì Hóa Khoa vốn là sao cứu giải mạnh nhất của khoa Tử Vi, lại đi theo chính tinh nên có lực. Hai lớp cùng chiều cộng vào nhau: Hóa Khoa đem tới quý nhân, giấy tờ, tiếng nói có trọng lượng; Thiên Giải làm cho quá trình ấy êm và ít va chạm. Người có thế này gặp nạn thường có người đứng ra bảo lãnh.
  • Đồng cung với chính tinh hóa Quyền: người cầm việc mà biết lúc nào nên dừng, ít đẩy sự việc tới chỗ vỡ. Quyền có phần mềm nên ít gây thù. Mặt trái là dễ mềm quá hóa nể, ra quyết định chậm.
  • Đồng cung với chính tinh hóa Lộc: tiền bạc và cơ hội tới thuận, có trục trặc thì gỡ được. Nhưng phải xét kỹ hai cung Tài Bạch và Điền Trạch, vì bản chất của một sao giải là làm cho mọi thứ trôi đi, mà tiền và nhà đất thì cần giữ lại chứ không cần trôi. Thầy thấy nhóm người có sao giải ở hai cung ấy rất giỏi xoay xở lúc ngặt mà khó tích lũy lúc dư.

Vì sao đọc Thiên Giải phải đọc cả nhóm. Bản thân nó là một cát tinh nhỏ, cái nó cho là sự tháo gỡ ở phần ngọn chứ không phải sức mạnh đổi cục diện. Vị trí của nó bị cấu trúc gài chặt: một bên Địa Giải, một bên Thiên Hình, tam hợp có Tả Phụ, còn Thiên Y và Thiên Riêu thì vĩnh viễn nằm ngoài. Đọc một mình Thiên Giải thì chỉ được một câu chung chung là có đức, khoan hòa, hay giúp người. Đọc cả nhóm bảy sao theo tháng thì mới ra được câu có ích: người này gặp chuyện thì được ai đỡ, bị cái gì siết, và gỡ theo lối nào.

Hội Họp Các Sao Và Bộ Giải Tinh

Thiên Giải phối với các sao giải cứu:

Địa Giải, Giải Thần

  • Ý nghĩa kết hợp: Bộ giải tinh, hóa giải mạnh hơn.

Thiên Đức, Nguyệt Đức, Thiên Y

  • Ý nghĩa kết hợp: Bộ giải cứu, bệnh tật mau khỏi.

Thiên Lương, Hóa Khoa

  • Ý nghĩa kết hợp: Tăng khả năng giải ách, cứu nguy.

Sát tinh, Hóa Kỵ

  • Ý nghĩa kết hợp: Làm dịu phần hung, đỡ tai họa.

Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế

Trước khi đọc hai cột dưới đây xin nhớ quy tắc về lực, vì cùng một ngôi sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho hai kết quả khác nhau. Đồng cung mạnh nhất, hai sao ngồi chung thì tính chất trộn hẳn vào nhau. Xung chiếu mạnh nhì, cung đối diện chiếu thẳng sang, thường ứng thành sự việc đến từ bên ngoài. Tam hợp chiếu nhẹ hơn, có ảnh hưởng mà không quyết định. Giáp là thế bao vây, hai cung hai bên kẹp lại, ứng vào hoàn cảnh chứ ít khi thành sự việc. Riêng với Thiên Giải thì cấu trúc đã khóa sẵn bốn thế: Địa Giải và Thiên Hình chỉ có thể giáp, Tả Phụ chỉ có thể tam hợp, còn Thiên Y và Thiên Riêu thì không thể gặp bằng bất cứ đường nào. Đừng đi tìm những thế không tồn tại.

Thiên Giải phát huy được khi gặp

  • Hóa Khoa (đồng cung mạnh nhất, xung chiếu và tam hợp vẫn có tác dụng): đây là sao hợp với Thiên Giải nhất trong cả lá số. Hóa Khoa cũng chủ cứu giải mà lại đi theo chính tinh nên có lực thật. Hai lớp cứu giải cộng vào nhau, một lớp có sức, một lớp làm mềm.
  • Thiên Lương (đồng cung mạnh nhất): Tân Biên xếp Thiên Lương là sao ấm che, chủ cứu nạn và giải trừ. Đây là chính tinh hợp nhất với Thiên Giải, và vì là chính tinh nên nó mang được cái mà một phụ tinh không mang nổi.
  • Tả Phụ (luôn tam hợp chiếu, mười hai trên mười hai tháng): bạn đồng hành cố định. Thiên Giải nói rằng có đường gỡ, Tả Phụ chỉ ra rằng có người đỡ tay. Đây là thế duy nhất trong nhóm sao theo tháng mà quý vị chắc chắn có.
  • Hữu Bật (đồng cung ở tháng hai và tháng tám, xung chiếu ở tháng năm và tháng mười một, tam hợp ở tháng tư, sáu, mười và chạp): khi có đủ cả Tả Phụ lẫn Hữu Bật thì thành thế hai tay cùng đỡ, việc gì cũng có người xúm vào.
  • Thiên Đức, Nguyệt Đức, Long Đức (an theo chi năm sinh nên không có quan hệ cố định với Thiên Giải, có tuổi gặp có tuổi không): các sao mang khí đức, cùng hướng cứu giải. Khi gặp được thì cung ấy thật sự nhẹ đi.
  • Thiên Khôi, Thiên Việt (đồng cung hoặc chiếu; an theo can năm nên không cố định): quý nhân có thật, đứng ra dàn xếp được. Thiên Giải nói rằng có đường gỡ, Khôi Việt chỉ ra ai là người gỡ.
  • Thiên Đồng, Thiên Tướng, Thiên Phủ (đồng cung): các chính tinh mang khí phúc và khí che chở, cùng loại nên cộng vào nhau thuận.
  • Chính tinh miếu vượng (đồng cung): điều kiện cần để Thiên Giải nói được. Một sao nhỏ đứng cùng chính tinh sáng thì tiếng nói của nó mới tới; đứng cùng chính tinh hãm thì gần như không.

Thiên Giải e ngại khi gặp

  • Tuần, Triệt án ngữ (đóng ngay tại cung có Thiên Giải là nặng nhất): đây là thế Thầy dặn kỹ nhất, vì Tuần Triệt che luôn cả phần cứu giải. Người có Thiên Giải bị Tuần Triệt nên làm mọi việc theo lối chuẩn bị kỹ, bảo hiểm đầy đủ, giấy tờ rõ ràng, khám sức khỏe định kỳ, chứ đừng trông vào việc rồi sẽ có cách.
  • Từ hai sát tinh trở lên trong cùng một cung (Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp): đây là ranh giới thật của Thiên Giải. Một sát tinh thì nó còn làm dịu được; hai sát tinh trở lên thì coi như cung ấy không có sao giải, phải luận và phòng bị theo lối bình thường.
  • Hóa Kỵ đồng cung: Thiên Giải làm cho cái vướng bớt gắt và tới chậm hơn chứ không gỡ được nút. Đừng vì thấy có sao giải mà hoãn việc phải làm ngay.
  • Ở cung Tài Bạch và cung Điền Trạch: đây là chỗ duy nhất mà bản thân vị trí, chứ không phải sao đi kèm, làm cho Thiên Giải thành bất lợi. Cái gì cũng trôi thì tiền và nhà đất cũng trôi theo.
  • Chính tinh hãm địa (đồng cung): Thiên Giải không nâng nổi một chính tinh hãm. Nó chỉ làm cho cái hãm ấy diễn ra chậm hơn và bớt gắt hơn, không đổi được bản chất.
  • Thiên Hình ở cung liền sau khi cung ấy là Phu Thê hoặc Tật Ách (thế giáp cố định): giáp không mạnh, nhưng nó nhắc rằng chuyện của cung ấy dễ dính tới luật lệ hoặc dao kéo. Nên chủ động làm cho rõ ràng từ đầu.
  • Đại vận và lưu niên cùng xấu dồn vào một cung: Thiên Giải là sao cố định của lá số gốc, sức của nó không tăng theo vận. Khi hai ba lớp xấu chồng lên nhau thì tỷ trọng của nó nhỏ đi rất nhanh.
  • Tâm lý ỷ vào sao giải: đây không phải một ngôi sao mà là cái hại lớn nhất Thầy gặp. Nhiều người biết mình có Thiên Giải rồi sinh chủ quan, bỏ khám, bỏ hợp đồng, bỏ dự phòng. Một sao nhỏ không gánh nổi những việc ấy.

Tóm lại, Thiên Giải là phụ tinh: đi với chính tinh và cát tinh hợp cách thì phát huy mặt hay, gặp sát tinh và hung cách thì lộ mặt yếu. Luôn xét cả lá số.

Thiên Giải Trong Đại Vận Và Lưu Niên

Mọi mục phía trên nói về Thiên Giải tĩnh. Mục này nói về Thiên Giải động, tức chuyện nó chạm vào đời quý vị lúc nào. Với một sao chủ giải trừ thì đây là mục quan trọng nhất, vì người ta chỉ cần tới sao giải khi có hạn xấu.

Đại vận đi vào cung có Thiên Giải

Khi đại vận chuyển tới đúng cung có Thiên Giải bản mệnh thì mười năm ấy mang một sắc thái mà Thầy hay gọi là quãng tháo nút. Không nhất thiết là quãng thịnh, nhưng là quãng mà những việc treo lâu năm có cơ hội được dứt điểm: bệnh cũ chữa được, chuyện dây dưa dàn xếp xong, món nợ cũ trả xong, một quan hệ mắc kẹt được nói ra. Ai biết mình đang ở đại vận này thì nên chủ động lấy việc cũ ra giải quyết, đừng chờ, vì cái đỡ của quãng ấy có hạn về thời gian.

Năm điều phải xét thêm khi đại vận vào cung Thiên Giải. Thứ nhất, cung liền sau luôn có Thiên Hình, mà đại vận đi thuận thì cung Thiên Hình chính là cung của đại vận kế tiếp đối với người an vận thuận; nên quãng tháo nút này rất hay nối tiếp bằng một quãng phải giữ khuôn phép. Thứ hai, tam phương của đại vận luôn có Tả Phụ, tức luôn có người đỡ tay, nên đây là mười năm nên mở lời nhờ vả chứ đừng gồng một mình. Thứ ba, phải xem đại vận đem Tứ Hóa gì vào cung: Hóa Khoa tới thì sức giải mạnh lên rõ rệt, Hóa Kỵ tới thì Thiên Giải chỉ đủ giữ cho không vỡ chứ không đủ để yên. Thứ tư, phải đếm sát tinh của cung đại vận cộng với sát tinh lưu; từ hai sao trở lên thì đừng trông vào Thiên Giải nữa. Thứ năm, xem Tuần Triệt có đóng vào cung ấy không, vì Tuần Triệt che luôn phần giải.

Mặt trái phải nói rõ, và với sao này thì mặt trái quan trọng hơn mặt phải. Đại vận vào cung Thiên Giải rất dễ thành mười năm được cho qua: chuyện gì cũng có cách xoa dịu, nên người ta không đau đủ để thay đổi. Thầy gặp không ít người tới cuối đại vận mới nhận ra mình vừa hoãn mọi việc lớn trong mười năm. Cách xử là tự đặt hạn cho mình: dứt điểm một việc mỗi năm, viết ra giấy, có ngày cụ thể, có người làm chứng.

Thiên Giải có bản lưu niên không

Phải trả lời dứt khoát vì đây là chỗ nhiều người nhầm. Thiên Giải không có bản lưu niên, và không thể có. Lý do nằm ngay ở tham số: nó an theo tháng sinh âm lịch, mà tháng sinh là một con số cố định suốt đời, không đổi theo năm. Muốn có bản lưu thì tham số phải đổi mỗi năm.

Nói cho đủ để quý vị phân biệt. Có bản lưu niên: cả vòng Thái Tuế mười hai sao vì an theo chi năm, nên mỗi năm có lưu Thái Tuế, lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ, lưu Tuế Phá; cả vòng Bác Sĩ mười hai sao vì an theo can năm qua Lộc Tồn, nên mỗi năm có lưu Lộc Tồn, lưu Kình Dương, lưu Đà La; cùng với lưu Khôi Việt, lưu Xương Khúc, lưu Thiên Mã, lưu Khốc Hư. Không có bản lưu niên: vòng Tràng Sinh vì an theo Cục mà Cục là con số cố định của lá số; Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Hình, Thiên Riêu, Thiên Y, Địa Giải và Thiên Giải vì an theo tháng sinh; Văn Xương Văn Khúc, Địa Không Địa Kiếp, Thai Phụ Phong Cáo vì an theo giờ sinh. Ba tham số ấy cố định suốt đời nên không sinh ra bản lưu.

Hệ quả thực dụng, và Thầy muốn nói cho rõ. Cung Thiên Giải của quý vị đứng yên một chỗ suốt đời. Nó không chạy tới cứu quý vị ở cung khác trong một năm cụ thể. Nếu năm nay hạn xấu rơi vào một cung mà Thiên Giải không đóng ở đó và cũng không chiếu tới đó, thì năm ấy Thiên Giải hoàn toàn không có tiếng nói. Người luận phải nói thẳng điều này thay vì lấy một sao cố định ra trấn an cho mọi năm.

Các lưu sao chạm vào cung Thiên Giải

Vì bản thân Thiên Giải đứng yên, cái động là các lưu sao đi ngang qua nó. Bảng dưới đây in sẵn vị trí lưu Lộc Tồn, lưu Kình Dương, lưu Đà La, lưu Tang Môn và lưu Bạch Hổ của tám năm tới, để quý vị tra xem năm nào chúng rơi vào đúng cung Thiên Giải của mình.

2026 Bính Ngọ

  • Lưu Lộc Tồn: Tỵ
  • Lưu Kình Dương: Ngọ
  • Lưu Đà La: Thìn
  • Lưu Tang Môn: Thân
  • Lưu Bạch Hổ: Dần

2027 Đinh Mùi

  • Lưu Lộc Tồn: Ngọ
  • Lưu Kình Dương: Mùi
  • Lưu Đà La: Tỵ
  • Lưu Tang Môn: Dậu
  • Lưu Bạch Hổ: Mão

2028 Mậu Thân

  • Lưu Lộc Tồn: Tỵ
  • Lưu Kình Dương: Ngọ
  • Lưu Đà La: Thìn
  • Lưu Tang Môn: Tuất
  • Lưu Bạch Hổ: Thìn

2029 Kỷ Dậu

  • Lưu Lộc Tồn: Ngọ
  • Lưu Kình Dương: Mùi
  • Lưu Đà La: Tỵ
  • Lưu Tang Môn: Hợi
  • Lưu Bạch Hổ: Tỵ

2030 Canh Tuất

  • Lưu Lộc Tồn: Thân
  • Lưu Kình Dương: Dậu
  • Lưu Đà La: Mùi
  • Lưu Tang Môn: Tý
  • Lưu Bạch Hổ: Ngọ

2031 Tân Hợi

  • Lưu Lộc Tồn: Dậu
  • Lưu Kình Dương: Tuất
  • Lưu Đà La: Thân
  • Lưu Tang Môn: Sửu
  • Lưu Bạch Hổ: Mùi

2032 Nhâm Tý

  • Lưu Lộc Tồn: Hợi
  • Lưu Kình Dương: Tý
  • Lưu Đà La: Tuất
  • Lưu Tang Môn: Dần
  • Lưu Bạch Hổ: Thân

2033 Quý Sửu

  • Lưu Lộc Tồn: Tý
  • Lưu Kình Dương: Sửu
  • Lưu Đà La: Hợi
  • Lưu Tang Môn: Mão
  • Lưu Bạch Hổ: Dậu
  • Lưu Kình Dương và lưu Đà La, an theo can của năm xem qua lưu Lộc Tồn. Đây là cặp lưu sao đáng ngại nhất với Thiên Giải: hai sát tinh cùng lúc thì sức giải gần như mất. Năm có thế này nên chủ động phòng bị chứ đừng trông vào cái đỡ. Nhớ rằng lưu Kình luôn ở cung liền sau lưu Lộc Tồn và lưu Đà ở cung liền trước, nên hễ lưu Lộc Tồn tới sát cung Thiên Giải là một trong hai sát tinh ấy đã đứng ngay trên đầu.
  • Lưu Tang Môn và lưu Bạch Hổ. Năm nào hai sao ấy rơi đúng cung Thiên Giải bản mệnh thì cái cần giải và cái gây nạn dồn vào một chỗ. Thiên Giải làm nhẹ được phần gắt nhưng không xóa được sự việc; phải xem thêm cung Tật Ách và cung Phụ Mẫu của năm ấy.
  • Lưu Thái Tuế. Năm nào lưu Thái Tuế đóng vào cung Thiên Giải thì đó thường là năm mà chuyện cũ được đưa ra ánh sáng để giải quyết, vì Thái Tuế chủ sự chính danh và sự đối diện. Kết hợp với khí tháo gỡ của Thiên Giải thì đây là năm nên đứng ra nói cho rõ ràng.
  • Lưu Khôi Việt và lưu Xương Khúc, an theo can năm xem. Đây là nhóm lưu sao đáng mừng nhất với Thiên Giải: Khôi Việt đem quý nhân tới, Xương Khúc đem chữ nghĩa giấy tờ tới, cả hai đều biến cái đường gỡ trừu tượng thành một người cụ thể hoặc một tờ giấy cụ thể.
  • Lưu Thiên Mã. Khi lưu Mã chạm cung Thiên Giải thì việc gỡ thường gắn với sự di chuyển: đổi chỗ ở, đổi nơi làm, đi xa chữa bệnh, chuyển hồ sơ sang nơi khác. Đây là năm mà lối gỡ nằm ở chỗ khác chứ không nằm tại chỗ.

Một câu dặn cuối cho mục này, và Thầy muốn nói nặng một chút. Thiên Giải là sao nhỏ. Khi luận hạn, thứ tự đúng là: xem cung đại vận và cung lưu niên trước, xem chính tinh và Tứ Hóa của hai cung ấy, đếm sát tinh và xem Tuần Triệt, rồi mới cộng Thiên Giải vào để chỉnh sắc thái. Ai lấy Thiên Giải ra để trấn an người đang có hạn nặng thì người ấy đang làm hại người xem, chứ không phải đang luận mệnh.

Ranh Giới: Sức Giải Của Thiên Giải Tới Đâu Và Không Tới Đâu

Đây là mục quan trọng nhất của cả bài. Thiên Giải mang một cái tên rất mạnh là sự hóa giải từ trời, và cái tên ấy đã sinh ra nhiều lời nói quá. Bốn hiểu lầm dưới đây Thầy gặp gần như hàng tuần, và cái thứ nhất là cái nguy hiểm nhất.

Hiểu lầm một: có Thiên Giải thì tai qua nạn khỏi

Không. Trước hết, vì Thiên Giải an theo tháng sinh nên mọi lá số đều có Thiên Giải, mười hai tháng phủ kín mười hai cung, không sót ai. Nếu chỉ cần có Thiên Giải là qua nạn thì trên đời không ai gặp nạn cả. Điều Tân Biên nói là Thiên Giải cùng Địa Giải và Giải Thần chủ đức độ, khoan hòa, nhân hậu, cứu khốn phò nguy, giải trừ bệnh tật tai họa, gia tăng phúc thọ. Chữ giải trừ ở đây nghĩa là làm nhẹ, không phải xóa bỏ.

Thầy nói cho rõ ranh giới ấy bằng lời thường. Thiên Giải giải được: làm cho việc dữ tới chậm hơn, tới nhẹ hơn, tới mà có đường lùi; làm cho có người xuất hiện đúng lúc để dàn xếp; làm cho một chuyện tưởng vỡ thì lại hòa; làm cho bệnh được phát hiện sớm và gặp đúng thầy. Thiên Giải không giải được: một cung có chính tinh hãm cộng từ hai sát tinh trở lên; một hung cách đã thành như Kình Đà giáp Mệnh, Không Kiếp thủ Mệnh, Hỏa Linh cùng Kỵ dồn vào một cung; một Hóa Kỵ nặng ở cung xung chiếu. Với những cách ấy, Thiên Giải chỉ là một sao nhỏ đứng bên cạnh; nó làm cho câu chuyện bớt gắt chứ không làm cho câu chuyện khác đi.

Có một cách kiểm rất giản dị mà Thầy đưa cho quý vị dùng ngay. Đếm số sát tinh đóng trong cung có Thiên Giải, gồm Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, cộng thêm Hóa Kỵ nếu có. Một sao thì Thiên Giải còn làm dịu được. Hai sao thì tác dụng còn rất mỏng. Từ ba sao trở lên, hoặc có Tuần Triệt án ngữ, thì coi như cung ấy không có sao giải, phải luận và phòng bị đúng như một cung không có gì đỡ. Đây là kinh nghiệm của Thầy, không phải lời sách, nên quý vị hãy tự kiểm trên lá số mình biết rõ.

Hiểu lầm hai: Thiên Giải với Địa Giải hợp thành bộ giải tinh kép

Câu này được chép lại nhiều nhất, kể cả trên bản cũ của chính trang này, và máy nói rằng nó không đúng theo nghĩa người ta vẫn hiểu. Thiên Giải và Địa Giải luôn cách nhau đúng một cung ở cả mười hai tháng, nên chúng vĩnh viễn không đồng cung, không xung chiếu, không tam hợp. Hai sao chỉ giáp nhau. Nếu bộ giải tinh kép nghĩa là hai sao ngồi chung một cung để cộng lực, thì đó là một bộ không tồn tại trên bất kỳ lá số nào.

Vậy nên hiểu lại thế nào cho đúng. Hai sao ấy đúng là một cặp, nhưng là cặp kề nhau chứ không phải cặp chồng lên nhau, và nghĩa của nó khá đẹp nếu đọc cho đúng tượng: một cái giải tới từ trời, một cái giải tới từ đất, chúng phủ hai cung liền nhau nên tạo ra một dải hai cung có khí tháo gỡ. Trên lá số thật thì điều này ứng vào chuyện quý vị có hai lĩnh vực đời sống liền nhau tương đối dễ xoay xở. Còn để cứu một cung đang nguy thì phải tìm sức mạnh ở chỗ khác, đứng đầu là Hóa Khoa và Thiên Lương.

Hiểu lầm ba: Thiên Giải gặp Thiên Y thì bệnh mau khỏi

Không dựng được. Thiên Y an từ cung Sửu đếm thuận theo tháng sinh, Thiên Giải an từ cung Thân đếm thuận theo tháng sinh, nên hai sao luôn cách nhau đúng bảy cung ở cả mười hai tháng. Bảy là số lẻ, mà đồng cung là cách không, xung chiếu là cách sáu, tam hợp là cách bốn hoặc tám, toàn số chẵn. Kết luận rất gọn: Thiên Giải không bao giờ hội chiếu được Thiên Y. Cùng lý do ấy, nó cũng không bao giờ hội chiếu được Thiên Riêu, vì Thiên Riêu trùng cung Thiên Y.

Điều này bắt phải sửa lối luận, chứ không phải một ghi chú cho vui. Khi luận cung Tật Ách mà muốn tìm sức chữa trị, đừng gộp Thiên Giải với Thiên Y thành một bộ. Hãy tìm ba thứ theo thứ tự: Hóa Khoa của cung ấy, Thiên Lương nếu có, rồi mới tới sao giải nào thật sự đóng hoặc chiếu tới. Một tin an ủi nhỏ: Thiên Riêu vốn chủ chuyện tư tình ngầm, không hợp khí khoan hòa, mà cấu trúc đã tách nó khỏi Thiên Giải sẵn rồi, nên cung Thiên Giải bao giờ cũng sạch khí Riêu.

Hiểu lầm bốn: Thiên Giải là sao của người hiền nên cung nào cũng tốt

Sai ở hai chỗ. Chỗ thứ nhất là chuyện cung: ở Tài Bạch và Điền Trạch, cái tính làm cho mọi thứ trôi đi lại thành dấu trừ, vì tiền và nhà đất cần giữ lại. Chỗ thứ hai là chuyện tính người: khoan hòa quá mức thì thành nhu nhược. Người có Thiên Giải thủ Mệnh mà chính tinh không đủ cứng rất dễ rơi vào nếp lấy sự dàn xếp thay cho việc giải quyết, để một chuyện kéo mười năm mà vẫn thấy mình là người tử tế. Thầy gặp cảnh ấy nhiều lần, và cách chữa không nằm ở phong thủy mà nằm ở thói quen: mỗi năm chọn đúng một việc treo lâu nhất, ấn định ngày dứt điểm, nói ra cho người thân biết.

Lời Khuyên Cho Người Có Thiên Giải Đóng Ở Cung Trọng

Lời khuyên cho một sao giải phải đi ngược với trực giác, vì cái hại của nó không nằm ở chỗ nó yếu, mà nằm ở chỗ người ta tin nó mạnh. Bốn việc dưới đây Thầy đưa cho người xem có Thiên Giải ở Mệnh, ở Tật Ách hoặc ở Quan Lộc, và đều là việc làm được ngay chứ không phải chuyện cúng bái.

Việc thứ nhất, dứt điểm thay vì dàn xếp. Đây là việc quan trọng nhất. Người có Thiên Giải rất giỏi làm cho chuyện dịu đi, và chính vì giỏi nên hay dừng lại ở chỗ dịu mà không đi tới chỗ xong. Mỗi năm hãy chọn đúng một việc treo lâu nhất, ấn định ngày dứt điểm, viết ra giấy và nói cho một người thân biết. Một việc mỗi năm là đủ, nhưng phải là việc thật.

Việc thứ hai, biến cái đỡ trừu tượng thành người cụ thể. Cấu trúc đã hứa sẵn là tam phương của cung Thiên Giải luôn có Tả Phụ, tức luôn có người đỡ tay. Nhưng Tả Phụ không tự tìm tới, nó chỉ ứng khi mình mở lời. Thầy khuyên giữ sẵn ba mối: một người biết việc trong nghề, một người biết luật, một người biết thuốc. Ba cái tên ấy đáng giá hơn mọi lá bùa.

Việc thứ ba, làm rõ ràng phần giấy tờ. Vì Thiên Hình luôn đứng ngay cung liền sau, mọi việc của cung Thiên Giải sớm muộn đều chạm tới khuôn phép, hợp đồng, quy định. Người khoan hòa hay ngại làm giấy tờ với người quen, và đó chính là chỗ họ mất mát. Hãy làm ngược lại: càng thân càng phải viết rõ, vì viết rõ mới giữ được sự thân.

Việc thứ tư, giữ riêng một khoản không đụng tới. Nếu Thiên Giải đóng ở Tài Bạch hoặc Điền Trạch thì việc này thành bắt buộc. Cái tính làm cho mọi thứ trôi đi rất dễ ứng vào tiền: xoay xở lúc ngặt thì giỏi, tích lũy lúc dư thì khó. Cách chữa giản dị là tách một khoản cố định ngay khi tiền vào, để ở nơi khó rút, và coi như khoản ấy không tồn tại.

Những gợi ý dưới đây là gợi ý chung cho người muốn tạo nếp sống hợp với khí khoan hòa của một sao giải, không phải phép trấn yểm, không thay được việc thật phải làm. UK MASTER ACADEMY không bán vật phẩm và không khuyên ai mua vật phẩm để đổi vận. Thiên Giải thuộc hành Hỏa nên hợp sắc đỏ, hồng, cam nhạt và sắc mộc là xanh lá, vì mộc sinh hỏa; chỗ ngồi làm việc nên thoáng và có ánh sáng tự nhiên. Giữ nếp làm việc thiện nhỏ mà đều, giúp người trong tầm tay mình chứ đừng ôm việc quá sức. Học lấy một nghề hoặc một kỹ năng có thể gỡ rối cho người khác, dù chỉ là sơ cứu hay hiểu biết pháp lý cơ bản, vì đó là cách vững nhất để một sao giải trên lá số thành sức giải trong đời thật.

Câu cuối Thầy muốn nói với quý vị. Thiên Giải là ngôi sao dễ được yêu nhất trong nhóm phụ tinh, vì cái tên của nó cho người ta chỗ để bám. Nhưng đúng vì thế mà nó dễ bị dùng sai nhất: dùng để hoãn, để trấn an, để tự cho phép mình không làm việc phải làm. Người hiểu đúng ngôi sao này sẽ làm ngược lại, tức lấy nó làm lời nhắc rằng mình vốn có sẵn một chút phúc để tháo gỡ, vậy thì đừng phí cái phúc ấy vào việc trì hoãn.

Câu hỏi thường gặp

Thiên Giải là một giải tinh của Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Hỏa, thuộc nhóm giải tinh cùng Địa Giải và Giải Thần. Sao chủ đức độ, khoan hòa, cứu khốn phò nguy, giải trừ bệnh tật tai họa và tăng phúc thọ.

Cả ba cùng là giải tinh, chung tính hóa giải tai ách, bệnh tật. Chúng khác nhau ở cách an (Thiên Giải, Địa Giải theo tháng; Giải Thần theo chi năm), và khi hội đủ thì sức giải càng mạnh.

Thiên Giải ở Tật Ách rất quý, giúp giải trừ bệnh tật, tai họa, tai qua nạn khỏi, nhất là khi đi cùng Thiên Đức, Nguyệt Đức, Thiên Y và Thiên Lương.

Thiên Giải an theo tháng sinh, thuộc nhóm giải tinh trong lá số.

Không bao giờ, và đây là kết quả bất ngờ nhất khi chạy máy. Thiên Y an từ cung Sửu đếm thuận theo tháng sinh, Thiên Giải an từ cung Thân đếm thuận theo tháng sinh, nên khoảng cách giữa hai sao luôn đúng bảy cung ở cả mười hai tháng. Bảy là số lẻ, mà mọi thế hội chiếu đều cần khoảng cách chẵn. Kết luận: Thiên Giải không đồng cung, không xung chiếu, không tam hợp với Thiên Y trên bất kỳ lá số nào. Câu Thiên Giải đi cùng Thiên Y thì bệnh mau khỏi, vốn có trên bản cũ của chính trang này và trên nhiều tài liệu khác, là câu không dựng được về mặt cấu trúc. Sao thật sự luôn nằm trong tam giác của Thiên Giải là Tả Phụ, cách đúng bốn cung ở cả mười hai tháng.

Vì Thiên Hình an từ cung Dậu đếm thuận theo tháng sinh, mà Thiên Giải an từ cung Thân, tức Thiên Hình luôn đứng đúng một cung phía sau Thiên Giải theo chiều thuận. Cộng với việc Địa Giải luôn đứng một cung phía trước, ta có một chuỗi ba cung liền nhau cố định trên mọi lá số: Địa Giải, rồi Thiên Giải, rồi Thiên Hình. Nói cách khác Thiên Giải vĩnh viễn bị giáp một bên bởi một sao giải và một bên bởi một sao hình. Đây là hình ảnh Thầy cho là rất đúng tượng: sự tháo gỡ và sự trừng phạt luôn đứng cạnh nhau, chỉ cách một bước. Giáp không mạnh bằng đồng cung hay xung chiếu, nó ứng vào hoàn cảnh chứ ít khi ứng thành sự việc, nhưng nó có mặt trên mọi lá số nên đáng nhớ.

Không. Thiên Giải an theo tháng sinh, mười hai tháng phủ kín mười hai cung, nên mọi lá số đều có Thiên Giải, không sót ai. Nếu chỉ cần có Thiên Giải là qua nạn thì trên đời không ai gặp nạn. Điều Tân Biên nói là Thiên Giải chủ đức độ, khoan hòa, cứu khốn phò nguy, giải trừ bệnh tật tai họa, nghĩa là nó làm nhẹ chứ không xóa. Thầy đo trên lá số thật thì thấy ranh giới khá rõ: một sát tinh trong cung thì Thiên Giải còn làm dịu được, hai sát tinh thì tác dụng đã rất mỏng, từ ba sát tinh trở lên hoặc gặp Tuần Triệt án ngữ thì coi như cung ấy không có sao giải. Với một hung cách đã thành như Kình Đà giáp Mệnh hay Không Kiếp thủ Mệnh thì một phụ tinh nhỏ không đổi được cục diện.