Tử Vi
Sao Thiên Hư: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung
Tìm hiểu sao Thiên Hư trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.
Tổng quan về sao Thiên Hư
Thiên Hư là một bại tinh của lá số Tử Vi, ngũ hành Thủy, đi cặp với Thiên Khốc. Tên Thiên Hư gợi sự trống rỗng, hư hao, nên sao mang sắc thái thiếu thực, dễ hao tổn, cùng nét đa cảm như Thiên Khốc.
- Ngũ hành: Thủy (bại tinh)
- Nhóm: Phụ Tinh Khốc Hư
- Cách an: Thiên hư an theo địa chi năm sinh, khởi từ cung ngọ rồi đếm tới tuổi, đi cặp với thiên khốc
- Cai quản: hư hao, trống trải, đa cảm, tiên trở hậu thành
- Tính chất: Hư hao, trống trải
Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.
Ý nghĩa tại cung Mệnh
- Khi Thiên Hư đắc địa, gặp chính tinh sáng và cát tinh: Nội tâm sâu, không dễ thỏa mãn nên luôn tìm cái mới; biết mình thiếu gì nên chịu học. Lời nói có chiều, nói ít mà người nghe nhớ lâu.
- Khi Thiên Hư hãm địa, gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Lúc nào cũng thấy thiếu dù bên ngoài đủ; hay hụt hẫng sau khi đạt được điều mình muốn, dễ bỏ dở việc đang tốt để đi tìm thứ khác.
Ý nghĩa ở các cung khác
Đối chiếu ý nghĩa của Thiên Hư với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.
Cung Phụ Mẫu
- Khi Thiên Hư đắc địa, gặp chính tinh sáng và cát tinh: Người trên dạy bằng cách để mình tự lo, nhờ vậy sớm tự lập.
- Khi Thiên Hư hãm địa, gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Sự nâng đỡ từ bậc trên mỏng hơn mong đợi, hoặc có mà không đúng lúc cần; nên chủ động thay vì chờ.
Cung Phúc Đức
- Khi Thiên Hư đắc địa, gặp chính tinh sáng và cát tinh: Cung Thiên Hư nói được nhiều nhất theo hướng tốt. Biết đủ theo lối của người đã nhìn thấy cái vô thường, hợp thiền, hợp kinh sách, hợp việc buông bớt.
- Khi Thiên Hư hãm địa, gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Trống trải kéo dài, ngồi giữa người thân vẫn thấy một mình, hay đặt câu hỏi sống để làm gì. Đây là chỉ dấu để chăm sóc sức khỏe tinh thần chứ không phải để phán mệnh khổ.
Cung Điền Trạch
- Khi Thiên Hư đắc địa, gặp chính tinh sáng và cát tinh: Chỗ ở gọn, ít đồ, không thích chật; hợp người thuê nhà linh hoạt hoặc hay đổi chỗ theo công việc.
- Khi Thiên Hư hãm địa, gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Nhà rộng mà vắng, hoặc tài sản nhà đất vào rồi ra; giấy tờ nhà cửa nên soát kỹ, đừng để trống chỗ nào.
Cung Quan Lộc
- Khi Thiên Hư đắc địa, gặp chính tinh sáng và cát tinh: Hợp nghề làm việc với cái vô hình và cái chưa có: nghiên cứu, sáng tác, thiết kế, tôn giáo, tâm lý, phân tích, khởi tạo cái mới. Cũng hợp nghề đi lại nhiều vì Thiên Hư luôn đi với Thiên Mã.
- Khi Thiên Hư hãm địa, gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Việc buổi đầu trống, chưa có gì trong tay, đúng chữ tiên trở hậu thành; dễ nản khi chưa thấy kết quả, hay đổi việc.
Cung Nô Bộc
- Khi Thiên Hư đắc địa, gặp chính tinh sáng và cát tinh: Bạn không nhiều nhưng biết chọn, quan hệ nhẹ nhàng không ràng buộc.
- Khi Thiên Hư hãm địa, gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Đông người quen mà ít người thân; nhờ vả thì khó, giúp người thì nhiều. Cẩn thận việc đứng tên hộ.
Cung Thiên Di
- Khi Thiên Hư đắc địa, gặp chính tinh sáng và cát tinh: Ra ngoài dễ thích nghi, đi xa không thấy lạ; hợp người làm việc nhiều nơi, nhiều nước.
- Khi Thiên Hư hãm địa, gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Đi xa mà không đọng lại gì, hoặc ra ngoài thấy lạc lõng; nên có một chỗ cố định để quay về.
Cung Tật Ách
- Khi Thiên Hư đắc địa, gặp chính tinh sáng và cát tinh: Thể trạng nhẹ, ít bệnh nặng, hợp các phép dưỡng sinh mềm như đi bộ, tập thở.
- Khi Thiên Hư hãm địa, gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Lưu ý các chứng thuộc thủy và thuộc hư nhược: khí huyết kém, thiếu máu, suy nhược, mất ngủ, tiêu hóa yếu, hay chóng mặt. Đây là chỉ dấu để đi khám định kỳ, không phải để phán bệnh.
Cung Tài Bạch
- Khi Thiên Hư đắc địa, gặp chính tinh sáng và cát tinh: Tiền vào ra linh hoạt, biết dùng tiền để đổi lấy cơ hội; hợp nghề thu nhập theo dự án.
- Khi Thiên Hư hãm địa, gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Cung Thiên Hư đáng ngại nhất về mặt vật chất. Tiền vào rồi hụt, hay có khoản chi không tên; nên ghi chép thay vì nhớ trong đầu, và giữ một quỹ dự phòng cố định.
Cung Tử Tức
- Khi Thiên Hư đắc địa, gặp chính tinh sáng và cát tinh: Con cái tự lập sớm, không bám; cũng chủ những việc mình khởi tạo từ chỗ chưa có gì.
- Khi Thiên Hư hãm địa, gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Đường con muộn hoặc ít, hoặc con ở xa; khoảng cách giữa hai thế hệ cần được lấp bằng việc gọi điện đều đặn.
Cung Phu Thê
- Khi Thiên Hư đắc địa, gặp chính tinh sáng và cát tinh: Bạn đời tôn trọng khoảng riêng của nhau, hôn nhân không ngột ngạt.
- Khi Thiên Hư hãm địa, gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Ở cạnh nhau mà thấy xa, hoặc duyên tới muộn; dễ có giai đoạn sống mỗi người một nơi. Cung này phải xét đủ tam phương chứ không xét một sao.
Cung Huynh Đệ
- Khi Thiên Hư đắc địa, gặp chính tinh sáng và cát tinh: Anh chị em ai lo phận nấy mà vẫn quý nhau, không ràng buộc.
- Khi Thiên Hư hãm địa, gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Anh em xa cách, việc chung ít ai nhận; thường không thành chuyện lớn nhưng cũng không gần.
Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Thiên Hư an theo địa chi năm sinh, phép an gọn trong một câu: khởi từ cung Ngọ, đếm thuận chiều kim đồng hồ cho tới tuổi. Đặt Tý vào cung Ngọ, tiến một cung là Sửu, tiến hai cung là Dần, cứ thế cho tới khi gặp chi năm sinh; dừng ở đâu thì Thiên Hư an ở đó. Tuổi Tý thì Hư tại Ngọ, tuổi Dậu thì Hư tại Mão, tuổi Ngọ thì Hư tại Tý. Không phân biệt nam nữ, không phụ thuộc can, tháng hay giờ sinh.
Sao Thiên Khốc đi cặp với nó dùng đúng điểm khởi ấy nhưng đếm ngược lại, tức khởi từ Ngọ đếm nghịch. Hai phép đếm cùng một điểm xuất phát, ngược chiều nhau, nên toàn bộ bộ Khốc Hư là một hình đối xứng gương qua trục Tý Ngọ. Bảng dưới sinh thẳng từ thuật toán an sao của trang, đặt hai sao cạnh nhau để thấy rõ thế đối xứng ấy.
Tý
- Thiên Khốc: Ngọ
- Thiên Hư: Ngọ
Sửu
- Thiên Khốc: Tỵ
- Thiên Hư: Mùi
Dần
- Thiên Khốc: Thìn
- Thiên Hư: Thân
Mão
- Thiên Khốc: Mão
- Thiên Hư: Dậu
Thìn
- Thiên Khốc: Dần
- Thiên Hư: Tuất
Tỵ
- Thiên Khốc: Sửu
- Thiên Hư: Hợi
Ngọ
- Thiên Khốc: Tý
- Thiên Hư: Tý
Mùi
- Thiên Khốc: Hợi
- Thiên Hư: Sửu
Thân
- Thiên Khốc: Tuất
- Thiên Hư: Dần
Dậu
- Thiên Khốc: Dậu
- Thiên Hư: Mão
Tuất
- Thiên Khốc: Thân
- Thiên Hư: Thìn
Hợi
- Thiên Khốc: Mùi
- Thiên Hư: Tỵ
Những điều bất biến của Thiên Hư
- Thiên Hư đi đủ mười hai cung, không kiêng cung nào. Chạy đủ mười hai tuổi chi thì Hư rơi đúng mười hai địa chi khác nhau, mỗi tuổi một cung. Mọi câu kiểu Thiên Hư không bao giờ tới cung này đều sai.
- Mọi chính tinh đều có thể đứng cùng cung với Thiên Hư. Chạy đủ mười hai thế Tử Vi cho từng vị trí, cả mười bốn chính tinh đều có thể đồng cung tại bất kỳ địa chi nào. Cấu trúc không cấm cặp nào.
- Thiên Hư luôn luôn đồng cung với Tuế Phá, không trừ một tuổi nào. Đây là phát hiện cấu trúc quan trọng nhất của trang này và đã kiểm bằng máy trên đủ mười hai tuổi chi: cả 12 trên mười hai tuổi đều cho Thiên Hư và Tuế Phá cùng một cung. Lý do rất giản dị khi đã thấy: Tuế Phá đóng ở cung xung chiếu Thái Tuế, tức cách chi năm sinh sáu cung, mà Thiên Hư khởi từ Ngọ đếm thuận cũng rơi đúng vào đó. Hai phép an khác nhau về hình thức nhưng trùng nhau về kết quả.
- Hệ quả trực tiếp: Thiên Hư vĩnh viễn xung chiếu Thái Tuế. Vì ngồi đúng ghế Tuế Phá nên Thiên Hư không bao giờ đồng cung, không bao giờ tam hợp với Thái Tuế; nó luôn ở cung đối diện. Đây là điểm khác hẳn Thiên Khốc, vốn có tuổi đồng cung, tuổi xung, tuổi tam hợp và tuổi rời hẳn với Thái Tuế.
- Luôn tam hợp với Tang Môn và Điếu Khách, luôn kề Long Đức và Tử Phù. Vì đã trùng vị trí Tuế Phá, Thiên Hư thừa hưởng nguyên bộ quan hệ của Tuế Phá trong vòng Thái Tuế: Tử Phù ở cung liền trước, Long Đức ở cung liền sau, Tang Môn và Điếu Khách ở hai cung tam hợp. Sao Nguyệt Đức cũng luôn nằm chung cung với Tử Phù nên cũng luôn kề trước Thiên Hư.
- Luôn đồng cung hoặc tam hợp với Thiên Mã, không tuổi nào rời. Bốn tuổi Dần, Tỵ, Thân, Hợi thì Thiên Hư và Thiên Mã cùng một cung; tám tuổi còn lại thì tam hợp chiếu. Sao chủ cái trống và sao chủ sự di động dính lấy nhau ở mọi lá số, đây là chỗ để hiểu vì sao Thiên Hư hay được nói tới cùng chuyện đi lại, thay đổi và hao hụt.
- Khoảng cách Khốc Hư luôn là số chẵn. Khốc lùi bao nhiêu bước thì Hư tiến đúng bấy nhiêu bước từ cùng một điểm, nên khoảng cách giữa hai sao chỉ nhận sáu giá trị: không, hai, bốn, sáu, tám, mười. Hệ quả: Thiên Hư và Thiên Khốc không bao giờ nằm ở hai cung liền kề nhau.
- Chỉ hai tuổi cho Khốc Hư đồng cung, và chỉ hai tuổi cho chúng xung chiếu. Đồng cung ở tuổi Tý, cả hai tại Ngọ, và ở tuổi Ngọ, cả hai tại Tý. Xung chiếu ở tuổi Mão và tuổi Dậu, trên trục Mão Dậu. Tám tuổi còn lại chia đều: tam hợp ở tuổi Dần, Thân, Thìn, Tuất; giáp một cung ở tuổi Sửu, Mùi, Tỵ, Hợi.
- Vĩnh viễn không gặp Hồng Loan, Thiên Hỷ, Đào Hoa và Long Trì. Chạy đối chiếu đủ mười hai tuổi, Thiên Hư không có một vị thế nào với bốn sao ấy, cũng như với Bạch Hổ, Quan Phù, Phúc Đức, Trực Phù, Thiên Không, Thiếu Dương, Thiếu Âm. Sao chủ cái trống rỗng và các sao chủ niềm vui không có đường gặp nhau.
Điều thứ ba ở trên là chỗ Thầy dừng lại lâu nhất khi soạn trang này. Nhiều người luận Thiên Hư như một sao, rồi luận Tuế Phá như một sao khác, rồi cộng hai lời luận vào nhau. Trên địa bàn thì đó là một cung duy nhất mang hai cái tên, cộng vào là đếm hai lần cùng một thứ. Cách đọc đúng là coi cung ấy như một cung có hai lớp nghĩa chồng nhau: lớp Tuế Phá nói tới sự phá vỡ cái đang có, lớp Thiên Hư nói tới cái trống còn lại sau khi phá.
Đặc Tính Và Bảng Đắc Hãm Của Thiên Hư
Theo Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, Thiên Hư cùng Thiên Khốc đắc địa ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu, Sửu, Mùi. Tính chất chung: đa sầu, đa cảm, buồn rầu, hoảng hốt, hay suy nghĩ xa xôi, gây bệnh tật, tang thương, ngăn trở công việc buổi đầu, tức tiên trở hậu thành; đắc địa thì lời nói thêm đanh thép.
Riêng Thiên Hư nghiêng về nét hư hao, trống trải, thiếu thực chất, dễ mất mát. Đắc địa thì sự trống ấy thành chiều sâu nội tâm và lời nói có uy; hãm địa thì hư hao, cô quạnh. Là sao phụ, cần xem đắc hãm và chính tinh.
Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
Trước khi đọc hai cột dưới, cần nhớ quy tắc về lực: đồng cung là mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn, giáp hai bên là thế bao vây. Với Thiên Hư phải nhớ thêm một tầng: rất nhiều sao đã bị cấu trúc khóa cứng vị thế. Tuế Phá mãi mãi đồng cung, Thái Tuế mãi mãi xung chiếu, Tang Môn và Điếu Khách mãi mãi tam hợp, Long Đức mãi mãi kề sau, còn Hồng Loan, Thiên Hỷ, Đào Hoa, Long Trì, Bạch Hổ thì mãi mãi không gặp.
Thiên Hư hợp khi gặp
- Vị trí đắc địa Tý, Ngọ, Mão, Dậu, Sửu, Mùi (điều kiện nền, quyết định trước mọi thứ khác): Tân Biên chép đắc địa thì lời nói thêm đanh thép. Đây là thứ phải xem đầu tiên khi thấy Thiên Hư trên lá số.
- Thiên Khốc đồng cung tại Tý hoặc Ngọ (chỉ xảy ra với tuổi Tý và tuổi Ngọ): cả hai cùng đắc, dồn thành một khối, cho chiều sâu và sức nặng của lời nói. Thế đẹp nhất mà bộ Khốc Hư có được, tuy cung ấy đồng thời là cung Tuế Phá nên cần giữ.
- Hóa Khoa của chính tinh đồng cung (đồng cung mạnh nhất): cái trống được đổ đầy bằng hiểu biết. Thế đẹp nhất của Thiên Hư theo tầng Tứ Hóa.
- Văn Xương, Văn Khúc (đồng cung khi sinh đúng giờ tương ứng, chiếu cũng tính): cái trống có chỗ chảy ra thành chữ, đây là tổ hợp hay gặp ở người viết và người nghiên cứu.
- Long Đức (luôn luôn ở cung liền sau, không bao giờ đồng cung): phúc tinh chủ giải trừ mà cấu trúc cấp sẵn ngay bên cạnh Thiên Hư. Đừng đi tìm thế đồng cung, cấu trúc không cho.
- Thiên Quan, Thiên Phúc, Giải Thần (đồng cung hoặc chiếu, tùy can và chi): các sao giải cứu, hợp với một bại tinh vốn cần chỗ lấp.
Thiên Hư e ngại khi gặp
- Vị trí hãm địa (điều kiện nền): ngoài sáu cung đắc kể trên thì Thiên Hư hãm, và mặt hư hao, cô quạnh nổi lên trước.
- Đại Hao và Tiểu Hao (đồng cung nặng nhất, tam hợp cũng tính): hư gặp hao là hai chữ cùng nghĩa dồn vào một chỗ. Đây là thế đáng chú ý nhất ở cung Tài Bạch và cung Điền Trạch.
- Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung nặng nhất, xung chiếu kế): cái trống gặp cái không, dễ thành trắng tay hoặc thành người bỏ hết đi tìm cái vô hình.
- Tuế Phá (vĩnh viễn đồng cung, không lá số nào khác): không phải để e ngại thêm mà để đọc cho đúng. Cung ấy vốn đã mang nghĩa phá của năm; nhớ rằng đây là một cung hai tên, đừng cộng hai lời luận vào nhau.
- Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung nặng nhất, giáp cũng đáng kể): cái trống bị cứa thì thành cái mất thật, và chữ tiên trở của sách nặng thêm.
- Hóa Kỵ của chính tinh đồng cung (đồng cung): cái trống thành cái hụt thật, dễ mất mát về tiền hoặc về người. Thế nặng nhất của Thiên Hư.
Tóm lại, cùng một sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho kết quả khác nhau, và với Thiên Hư còn thêm hai tầng nữa: đắc hay hãm quyết định trước, rồi tới việc nó luôn ngồi chung cung với Tuế Phá. Đọc hai cột trên phải đọc kèm vị thế ghi trong ngoặc, và luôn xét cả lá số.
Thiên Hư Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Khi đại vận đi vào cung có Thiên Hư
Khi cung đại vận có Thiên Hư, mười năm ấy thường mang một chất chung: cái gì cũng chưa thấy đủ. Đây không hẳn là vận mất mát, mà là vận mà thước đo bên trong luôn cao hơn cái đang có. Nếu Hư đắc địa và cung ấy có chính tinh sáng cùng văn tinh thì cái thiếu ấy thành động lực học và làm, đây là vận rất hợp cho việc đi học lại, đổi nghề, khởi tạo cái chưa có, đi xa. Nếu Hư hãm và cung ấy tụ sát tinh, Đại Hao hoặc Hóa Kỵ thì cái thiếu thành cái hụt thật: tiền vào rồi ra, người tới rồi đi, và cảm giác trống trải kéo dài.
Vì Thiên Hư luôn ngồi ghế Tuế Phá, một vận Thiên Hư còn có thêm một nét mà các vận khác không có: nó là vận dễ có sự đứt gãy với cái cũ, đổi nhà, đổi việc, đổi vai trò trong gia đình. Thầy không coi đó là điều xấu. Lời khuyên cụ thể cho vận này là chủ động chọn cái để bỏ, thay vì để hoàn cảnh chọn hộ. Người biết trước mình đang ở vận buông thì buông có thứ tự; người không biết thì bị mất theo lối bất ngờ.
Thiên Hư có bản lưu niên
Nguyên tắc chung rất rõ: sao nào an theo can hoặc chi năm sinh thì tính được bản lưu, vì chỉ cần thay can chi năm sinh bằng can chi của năm đang xem. Vòng Thái Tuế và vòng Bác Sĩ là hai vòng có bản lưu đầy đủ. Ngược lại, vòng Tràng Sinh không có bản lưu vì nó an theo Cục mà Cục cố định trọn đời; các sao an theo tháng sinh như Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Hình, Thiên Riêu và các sao an theo giờ sinh như Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp cũng không có.
Thiên Hư an theo chi năm sinh nên có bản lưu: khởi Ngọ đếm thuận tới chi của năm đang xem ra lưu Thiên Hư, đếm nghịch ra lưu Thiên Khốc. Lưu Hư tiến đúng một cung mỗi năm và quay trọn vòng trong mười hai năm. Vì Thiên Hư luôn trùng Tuế Phá nên lưu Thiên Hư cũng luôn trùng lưu Tuế Phá, tức luôn đóng ở cung xung chiếu lưu Thái Tuế; nếu tính ra hai chỗ khác nhau là đã tính sai.
2024
- Can chi năm: Giáp Thìn
- Lưu Hư tại: Tuất
- Lưu Khốc tại: Dần
- Vị thế hai sao: tam hợp
2025
- Can chi năm: Ất Tỵ
- Lưu Hư tại: Hợi
- Lưu Khốc tại: Sửu
- Vị thế hai sao: giáp một cung
2026
- Can chi năm: Bính Ngọ
- Lưu Hư tại: Tý
- Lưu Khốc tại: Tý
- Vị thế hai sao: đồng cung
2027
- Can chi năm: Đinh Mùi
- Lưu Hư tại: Sửu
- Lưu Khốc tại: Hợi
- Vị thế hai sao: giáp một cung
2028
- Can chi năm: Mậu Thân
- Lưu Hư tại: Dần
- Lưu Khốc tại: Tuất
- Vị thế hai sao: tam hợp
2029
- Can chi năm: Kỷ Dậu
- Lưu Hư tại: Mão
- Lưu Khốc tại: Dậu
- Vị thế hai sao: xung chiếu
2030
- Can chi năm: Canh Tuất
- Lưu Hư tại: Thìn
- Lưu Khốc tại: Thân
- Vị thế hai sao: tam hợp
2031
- Can chi năm: Tân Hợi
- Lưu Hư tại: Tỵ
- Lưu Khốc tại: Mùi
- Vị thế hai sao: giáp một cung
2032
- Can chi năm: Nhâm Tý
- Lưu Hư tại: Ngọ
- Lưu Khốc tại: Ngọ
- Vị thế hai sao: đồng cung
2033
- Can chi năm: Quý Sửu
- Lưu Hư tại: Mùi
- Lưu Khốc tại: Tỵ
- Vị thế hai sao: giáp một cung
Đọc bảng sẽ thấy hai năm đáng chú ý: năm 2026 Bính Ngọ, lưu Hư và lưu Khốc cùng đóng tại Tý, và năm 2032 Nhâm Tý, cả hai cùng đóng tại Ngọ. Đó là hai năm trong mỗi mười hai năm mà bộ lưu Khốc Hư dồn vào một cung, và cả hai cung ấy đều là vị trí đắc địa theo Tân Biên. Với người có cung ấy là Mệnh hoặc Phúc Đức, đó là năm nội tâm dày lên rõ rệt, hợp việc viết, việc học, việc nói ra điều lâu nay giữ trong lòng, nhưng cũng là năm cần giữ giấc ngủ và giữ tiền.
Các lưu sao khác chạm vào cung Thiên Hư
Lưu Thái Tuế mười hai năm một lần đóng đúng cung Thiên Hư bản mệnh: năm cái trống được gọi tên, thường phải quyết một việc đã trì hoãn lâu. Lưu Đại Hao và lưu Tiểu Hao ghé vào là năm cần chặt chẽ về tiền, vì hư gặp hao là hai chữ cùng nghĩa. Lưu Kình Dương và lưu Đà La ghé vào thì cái trống bị cứa, chuyện nhỏ hóa gai. Lưu Khôi Việt và lưu Xương Khúc ghé vào thì cái trống được lấp bằng chữ nghĩa và bằng quý nhân, hợp thi cử và việc trình bày.
Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Thiên Hư
Tên sao không phải là điều sẽ xảy ra
Đây là ranh giới quan trọng nhất của trang này. Thiên Hư nghĩa là cái trống, cái hư hao, nên nhiều người vừa thấy sao này đã nghĩ tới mất của, mất người. Thiên Hư là một phụ tinh nhỏ, không phải một lời báo mất. Nó mô tả một chất trong con người, tức cảm giác chưa đủ và cái nhìn hướng vào phần còn thiếu, chứ không mô tả một sự việc sẽ tới. Ngay Tân Biên khi chép bộ Khốc Hư cũng đặt tính chất lên trước: đa sầu, đa cảm, hay suy nghĩ xa xôi; rồi mới nói tới việc ngăn trở công việc buổi đầu. Không có câu nào trong sách cho phép nhìn một sao rồi phán một cái mất. Ai làm vậy là đang bán nỗi sợ.
Thiên Hư và Tuế Phá là một cung hai tên, không phải hai lần xấu
Chạy đối chiếu bằng máy trên đủ mười hai tuổi chi thì Thiên Hư và Tuế Phá luôn đóng chung một cung, không trừ tuổi nào. Rất nhiều lời luận trên mạng kể tội Thiên Hư một lần rồi kể tội Tuế Phá thêm một lần nữa cho cùng một cung, khiến người đọc tưởng cung ấy hỏng nặng. Đó là đếm hai lần cùng một chỗ. Cách đọc đúng là coi cung ấy như một cung có hai lớp nghĩa chồng nhau: lớp Tuế Phá nói tới sự phá vỡ cái đang có, lớp Thiên Hư nói tới cái trống còn lại sau khi phá. Một cung, hai chữ, một sức nặng. Và vì cung ấy luôn xung chiếu Thái Tuế, nó cũng luôn là cung mà mọi lá số đều có, ở mọi tuổi, nên tự nó không dùng để phân biệt người này với người kia được.
Bộ Khốc Hư không phải lúc nào cũng đi cùng nhau
Vì sách chép chung một mục và người đời quen gọi là bộ, nhiều người tưởng Khốc và Hư luôn ngồi cạnh nhau. Chạy máy đủ mười hai tuổi chi thì chỉ có hai tuổi cho hai sao đồng cung, là tuổi Tý và tuổi Ngọ. Hai tuổi khác cho chúng xung chiếu là Mão và Dậu. Tám tuổi còn lại chúng tam hợp hoặc giáp một cung. Và vì khoảng cách giữa chúng luôn là số chẵn, hai sao này không bao giờ nằm ở hai cung liền kề. Muốn nói tới bộ Khốc Hư của một người thì phải nói kèm vị thế, nếu không thì câu nói rỗng.
Đắc địa không có nghĩa là tốt, và hư không có nghĩa là nghèo
Tân Biên chép Khốc Hư đắc địa ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu, Sửu, Mùi, và đắc địa thì lời nói thêm đanh thép. Chữ đắc ở đây nói tới việc cái chất của sao được dùng đúng chỗ, chứ không nói tới việc đời sẽ dễ. Người có Hư đắc địa vẫn thấy chưa đủ, chỉ khác ở chỗ cái chưa đủ ấy trở thành động lực và trở thành chiều sâu thay vì thành nỗi hụt. Cũng phải nói thẳng chuyện tiền: Thiên Hư ở Tài Bạch là một chỉ dấu để quý vị ghi chép và lập quỹ dự phòng, không phải một lời tuyên bố rằng quý vị sẽ nghèo. Thầy đã gặp không ít người có Thiên Hư ở Tài Bạch mà rất khá, điểm chung của họ là đều có thói quen ghi sổ và đều có một khoản không đụng tới.
Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải
Thiên Hư là bại tinh, nhưng cách xử lý đúng không phải là trấn yểm mà là đổ đầy cái trống bằng thứ có thật. Cái trống của sao này không nguy hiểm khi nó được dùng làm chỗ chứa cho tri thức, cho nghề, cho một việc tử tế làm đều đặn; nó chỉ hóa nặng khi bị để không.
Ba việc rất đời thường
Thầy hay dặn khách có Thiên Hư đậm ba việc, đều làm được ngay. Một, ghi sổ thu chi. Đây là việc quan trọng nhất và cũng là việc bị bỏ nhiều nhất. Chữ hư hao của sách phần lớn hiện ra thành những khoản chi không tên; ghi ra là đã chặn được nửa. Hai, giữ một quỹ không đụng tới. Không cần lớn, chỉ cần cố định và không rút. Người có Thiên Hư đậm cần một chỗ đầy để nhìn vào. Ba, làm cho xong một việc trước khi bắt việc mới. Sao này giỏi khởi đầu và hay chán giữa chừng; một danh sách toàn việc dở dang chính là hình ảnh cụ thể nhất của chữ hư.
Với người có Thiên Hư ở cung Phúc Đức
Cung Phúc Đức nói tới đời sống bên trong, mà Thiên Hư lại đúng là sao của phần bên trong. Người có bố cục này thường không thiếu gì cụ thể nhưng vẫn thấy trống. Lời khuyên: chọn một việc phụng sự nhỏ và làm đều đặn, dạy kèm một đứa trẻ, phụ một nhóm thiện nguyện, chăm một khu vườn. Cái trống được lấp bằng việc làm, không lấp được bằng suy nghĩ. Thầy nói thẳng: nếu quý vị thấy trống trải kéo dài nhiều tuần, mất ngủ, ăn không ngon, không còn thấy vui với thứ trước đây từng thích, thì việc cần làm là đi gặp bác sĩ hoặc chuyên gia sức khỏe tâm thần, chứ không phải đi cúng sao. Lá số nói cho quý vị biết mình thuộc mẫu người dễ thấy thiếu; phần chăm sóc thì thuộc về y khoa.
Phong thủy bổ trợ, ghi rõ là gợi ý chung: những việc dưới đây thuộc loại điều chỉnh nếp sống và bài trí, không phải trấn yểm, không thay thế được nỗ lực của bản thân và cũng không sửa được lá số. Người có Thiên Hư đậm thường hợp chỗ ở gọn và ấm, đủ sáng, tránh những khoảng trống lớn không dùng tới, vì bản thân sao đã thiên về cái rỗng. Nên có một chỗ trong nhà luôn đầy và luôn gọn, dù chỉ là một kệ sách hoặc một bàn ăn dọn sẵn. Phòng ngủ tránh để trống dưới gầm giường và tránh để đồ hỏng trong nhà. Về màu sắc, sắc ấm và sắc đất thường dễ chịu hơn sắc lạnh. Ai muốn chỉnh theo đúng lá số của mình thì nên xem cung Điền Trạch và cung Tài Bạch rồi hãy quyết.
Câu hỏi thường gặp
Thiên Hư là một bại tinh của Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Thủy, đi cặp với Thiên Khốc. Sao chủ sự hư hao, trống trải, đa cảm; đắc địa ở Tý Ngọ Mão Dậu Sửu Mùi thì lời nói đanh thép, nội tâm sâu.
Hai sao cùng bộ Khốc Hư, chung tính đa sầu đa cảm. Thiên Khốc nghiêng về nỗi buồn, tiếng khóc; Thiên Hư nghiêng về sự hư hao, trống rỗng, thiếu thực chất.
Thiên Hư ở Tài Bạch hay Điền Trạch nhắc đề phòng hư hao, hụt hẫng tài sản, nhất là khi đi cùng Đại Hao, Không Kiếp và sát tinh.
Thiên Hư an theo địa chi năm sinh, khởi từ cung Ngọ rồi đếm tới tuổi, đi cặp với Thiên Khốc trong lá số.
Có, và đây là điều đã kiểm bằng thuật toán an sao trên đủ mười hai tuổi chi: cả mười hai tuổi đều cho Thiên Hư và Tuế Phá đóng chung một cung, không sót tuổi nào. Lý do là Tuế Phá đóng ở cung xung chiếu Thái Tuế, tức cách chi năm sinh sáu cung, mà Thiên Hư khởi từ Ngọ đếm thuận cũng rơi đúng vào đó. Hệ quả là Thiên Hư vĩnh viễn xung chiếu Thái Tuế, luôn tam hợp Tang Môn và Điếu Khách, luôn có Long Đức ở cung liền sau. Khi luận thì nhớ đây là một cung mang hai tên, đừng cộng hai lời luận vào nhau.
Đồng cung ở đúng hai tuổi: tuổi Tý thì cả hai cùng đóng tại Ngọ, tuổi Ngọ thì cả hai cùng đóng tại Tý. Xung chiếu ở đúng hai tuổi: tuổi Mão và tuổi Dậu, trên trục Mão Dậu. Tám tuổi còn lại thì tam hợp ở tuổi Dần, Thân, Thìn, Tuất và giáp một cung ở tuổi Sửu, Mùi, Tỵ, Hợi. Vì Khốc đếm nghịch còn Hư đếm thuận từ cùng cung Ngọ nên khoảng cách giữa hai sao luôn là số chẵn, do đó chúng không bao giờ nằm ở hai cung liền kề nhau.
Không. Thiên Hư ở Tài Bạch là một chỉ dấu để ghi chép và lập quỹ dự phòng, không phải một lời tuyên bố về mức giàu nghèo. Chữ hư hao của sách thường hiện ra thành những khoản chi không tên và thói quen tiền vào rồi ra, cả hai đều là thứ sửa được bằng nếp sinh hoạt. Muốn xét đường tài chính thì phải xem chính tinh của cung Tài Bạch, Tứ Hóa của tuổi can, bộ Lộc Tồn Hóa Lộc, bộ Đại Hao Tiểu Hao và cả cung Điền Trạch, chứ không xem một sao.
Có. Thiên Hư an theo chi năm sinh nên chỉ cần thay chi năm sinh bằng chi của năm đang xem: khởi cung Ngọ đếm thuận tới chi năm ấy. Lưu Hư tiến đúng một cung mỗi năm và quay trọn vòng trong mười hai năm, và vì Thiên Hư luôn trùng Tuế Phá nên lưu Thiên Hư cũng luôn đóng ở cung xung chiếu lưu Thái Tuế, đây là mẹo kiểm nhanh. Hai năm đáng chú ý gần đây là 2026 Bính Ngọ khi lưu Hư và lưu Khốc cùng đóng tại Tý, và 2032 Nhâm Tý khi cả hai cùng đóng tại Ngọ.