Tử Vi
Sao Thiên Mã: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung
Tìm hiểu sao Thiên Mã trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.
Tổng quan về sao Thiên Mã
Thiên Mã là dịch tinh của Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Hỏa, an theo chi năm sinh. Đây là ngôi sao của chuyển động: nó chủ sự di chuyển, đi xa, xuất ngoại, thay cũ đổi mới, và mọi việc liên quan tới chân tay, xe cộ, đường sá.
Thiên Mã luôn đóng ở một trong bốn cung Tứ Sinh là Dần, Thân, Tỵ, Hợi, không bao giờ nằm yên ở cung khác. Có Thiên Mã trong Mệnh hay Thân thường là người ưa hoạt động, không thích ngồi một chỗ.
- Ngũ hành: Hỏa
- Loại sao: Dịch tinh (di chuyển)
- Cách an: Theo chi năm sinh
- Vị trí: Luôn ở Tứ Sinh: Dần, Thân, Tỵ, Hợi
- Cai quản: Di chuyển, xuất ngoại, thay đổi
- Hợp gặp: Lộc Tồn, Hóa Lộc (Lộc Mã), Tử Phủ
- Kỵ: Tuần Triệt, Đà La, Tuyệt; đóng Hợi
Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.
Ý nghĩa tại cung Mệnh
- Mã đắc thế, gặp Lộc và cát tinh: Người tháo vát, nhanh nhẹn, ngồi không yên, đa tài, tuổi trẻ đã đi xa; hợp việc phải xoay chuyển liên tục.
- Mã thất thế, gặp Không Kiếp, Đà La, Tuần Triệt: Bôn ba mà không tới đích, đổi việc đổi chỗ liên miên, sức lực tiêu vào đường đi hơn là vào việc.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Mã đồng cung Lộc Tồn tại Dần hoặc Thân là Chiết tiễn mã, chỉ có ở tuổi Giáp và Canh, nhưng luôn bị Kình Đà giáp hai bên. Mã đồng cung Thất Sát tại tứ sinh là người xông pha, hợp nghề nặng và nghề nguy hiểm.
Theo Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, người có Thiên Mã thường tháo vát, may mắn, nhanh nhẹn, hay đi xa. Sao này có ảnh hưởng nhiều tới công danh, tài lộc và phúc thọ. Mệnh hoặc Thân có Mã tọa thủ, gọi là Dịch Mã, là người đa tài, hoạt bát.
Thiên Mã đắc địa ở Tỵ và Dần thì sức chạy tốt nhất. Tuy nhiên Mã cần có chỗ tới và có sao đi cùng phù hợp, kẻo thành con ngựa chạy hoang. Vì vậy ý nghĩa của Thiên Mã thay đổi rất nhiều tùy nó gặp sao nào.
Ý nghĩa ở các cung khác
Đối chiếu ý nghĩa của Thiên Mã với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.
Cung Phụ Mẫu
- Mã đắc thế, gặp Lộc và cát tinh: Cha mẹ từng đi xa lập nghiệp, gia đình có gốc chuyển cư; mình được thừa hưởng cái chí đi.
- Mã thất thế, gặp Không Kiếp, Đà La, Tuần Triệt: Sớm xa cha mẹ, ít được kề cận chăm sóc; hoặc cha mẹ vất vả vì đường đi nước bước.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Mã gặp Kình Dương ở thế giáp cung Phụ Mẫu là tổ hợp cần để ý sức khỏe cha mẹ vào những năm lưu Mã và lưu Kình cùng chạm tới.
Cung Phúc Đức
- Mã đắc thế, gặp Lộc và cát tinh: Tâm tính phóng khoáng, ưa cái mới, đời sống tinh thần rộng mở nhờ đi và thấy nhiều.
- Mã thất thế, gặp Không Kiếp, Đà La, Tuần Triệt: Trong lòng không yên, hay sốt ruột, khó ngồi tĩnh; phúc phần tổ tiên ở xa quê.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Mã tại Phúc Đức gặp Tuần hoặc Triệt lại có mặt hay: cái nôn nóng bị hãm bớt, người trầm tính hơn thấy rõ.
Cung Điền Trạch
- Mã đắc thế, gặp Lộc và cát tinh: Có nhà đất ở nhiều nơi, hoặc mua bán nhà đất mà có lời; ở đâu cũng nhanh quen.
- Mã thất thế, gặp Không Kiếp, Đà La, Tuần Triệt: Nhà cửa không cố định, dọn đi dọn lại, khó giữ được một chỗ lâu dài.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Mã gặp Địa Không hoặc Địa Kiếp tại Điền Trạch thì tài sản khó tụ, mua rồi lại bán. Mã gặp Lộc tại Điền thì đổi chỗ ở lần nào cũng khá hơn lần trước.
Cung Quan Lộc
- Mã đắc thế, gặp Lộc và cát tinh: Nghề gắn với di chuyển: vận tải, giao thương, ngoại giao, du lịch, hàng hải, hàng không, thương mại quốc tế.
- Mã thất thế, gặp Không Kiếp, Đà La, Tuần Triệt: Công việc xáo trộn liên tục, nhảy việc nhiều, khó tích lũy chuyên môn ở một chỗ.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Mã gặp chính tinh hóa Quyền tại Quan là người quản việc ở xa, phụ trách vùng hoặc chi nhánh. Mã gặp Thất Sát tại Quan hợp nghề cần quyết đoán và chịu áp lực hiện trường.
Cung Nô Bộc
- Mã đắc thế, gặp Lộc và cát tinh: Bạn bè rộng khắp nơi, quen biết nhiều vùng, có người ở xa giúp được việc lớn.
- Mã thất thế, gặp Không Kiếp, Đà La, Tuần Triệt: Bạn đến rồi đi, không ai ở lại lâu; cấp dưới hay nghỉ việc, đội ngũ khó ổn định.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Mã gặp Tả Hữu tại Nô Bộc là người có mạng lưới quan hệ trải rộng, rất hợp nghề môi giới và kết nối.
Cung Thiên Di
- Mã đắc thế, gặp Lộc và cát tinh: Đây là chỗ Thiên Mã thích nhất: ra ngoài gặp may, xuất ngoại thuận, đổi vùng đất là đổi vận.
- Mã thất thế, gặp Không Kiếp, Đà La, Tuần Triệt: Ra ngoài vất vả, đi xa mà không gặp thời, hay hỏng việc dọc đường, nên bớt đi lại đường dài.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Mã tại Thiên Di mà Lộc Tồn ở Mệnh xung chiếu sang là Lộc Mã giao trì đúng nghĩa, tuổi Giáp và tuổi Canh mới có. Mã tại Di gặp Tuần hoặc Triệt là ngựa bị chặn ngay cửa, đi xa nên cân nhắc kỹ.
Cung Tật Ách
- Mã đắc thế, gặp Lộc và cát tinh: Thể chất bền, dẻo dai, hồi phục nhanh; hợp vận động, đi bộ, thể thao ngoài trời.
- Mã thất thế, gặp Không Kiếp, Đà La, Tuần Triệt: Bệnh ở chân tay và gân cốt, hay đau lưng đau khớp do đi lại nhiều; cẩn thận tai nạn giao thông.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Mã gặp Đà La tại Tật Ách là tổ hợp Thầy dặn kỹ nhất về chân và khớp gối. Mã gặp Thiên Hình tại Tật thì phải để ý thương tích do va chạm khi di chuyển.
Cung Tài Bạch
- Mã đắc thế, gặp Lộc và cát tinh: Tiền tới từ chỗ xa: buôn chuyến, xuất khẩu, khách tỉnh khác, việc phải di chuyển mới có thu.
- Mã thất thế, gặp Không Kiếp, Đà La, Tuần Triệt: Tiền vào nhanh ra nhanh, kiếm ở xa mà tiêu hết dọc đường; đầu tư theo phong trào rồi mất vốn.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Lộc Mã đồng cung tại Tài là thế tài lộc quý nhất của sao này, chỉ tuổi Giáp và tuổi Canh có. Mã gặp Địa Không tại Tài thì tiền như ngựa chạy vào chỗ trống, phải có kho mới giữ được.
Cung Tử Tức
- Mã đắc thế, gặp Lộc và cát tinh: Con cái năng động, sớm tự lập, có duyên đi học xa hoặc lập nghiệp nơi khác.
- Mã thất thế, gặp Không Kiếp, Đà La, Tuần Triệt: Con ở xa cha mẹ, ít gần gũi; hoặc muộn con vì hai vợ chồng bận đi lại.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Mã gặp chính tinh hóa Khoa tại Tử Tức thường ứng vào chuyện con du học hoặc con có tiếng trong nghề ở nơi xa.
Cung Phu Thê
- Mã đắc thế, gặp Lộc và cát tinh: Bạn đời quen nhau ở xa hoặc khác quê, một trong hai người hay đi công tác; xa mà vẫn bền.
- Mã thất thế, gặp Không Kiếp, Đà La, Tuần Triệt: Vợ chồng ly cách vì công việc, tình cảm nguội dần theo quãng đường; dễ có giai đoạn sống hai nơi.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Mã gặp chính tinh hóa Kỵ tại Phu Thê là thế đáng lưu tâm nhất: đi xa rồi lòng cũng đi theo. Mã gặp Thiên Riêu tại cung này thì tình cảm dễ phát sinh trên đường, cần giữ.
Cung Huynh Đệ
- Mã đắc thế, gặp Lộc và cát tinh: Anh em ở xa mà vẫn giúp nhau, có người thành đạt nơi khác; bạn cùng làm ăn là người hay đi.
- Mã thất thế, gặp Không Kiếp, Đà La, Tuần Triệt: Anh em mỗi người một phương, ít gặp; hoặc có người trong nhà đi rồi biệt tin.
- Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Mã gặp Tả Phụ hoặc Hữu Bật ở cung này thì anh em và cộng sự đưa mình đi xa được. Mã gặp Đà La thì có người trong nhà đi mà lận đận.
Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Thiên Mã an theo địa chi năm sinh, không theo can, không theo tháng, không theo giờ. Quy tắc gói gọn trong một dòng: lấy tam hợp của chi năm sinh, tìm chi đứng đầu tam hợp ấy, rồi an Thiên Mã vào cung xung chiếu với chi đứng đầu. Tuổi Thân Tý Thìn có chi đầu là Thân, Mã an tại Dần. Tuổi Dần Ngọ Tuất chi đầu là Dần, Mã an tại Thân. Tuổi Tỵ Dậu Sửu chi đầu là Tỵ, Mã an tại Hợi. Tuổi Hợi Mão Mùi chi đầu là Hợi, Mã an tại Tỵ. Vì bốn chi đứng đầu của bốn tam hợp chính là bốn cung tứ sinh, nên cung xung chiếu của chúng cũng là tứ sinh, và đó là lý do sâu xa khiến Thiên Mã chỉ có bốn chỗ đứng trong cả mười hai cung.
Thân, Tý, Thìn
- Chi đầu của tam hợp: Thân
- Thiên Mã an tại: Dần
- Quan hệ: Thân xung Dần
Dần, Ngọ, Tuất
- Chi đầu của tam hợp: Dần
- Thiên Mã an tại: Thân
- Quan hệ: Dần xung Thân
Tỵ, Dậu, Sửu
- Chi đầu của tam hợp: Tỵ
- Thiên Mã an tại: Hợi
- Quan hệ: Tỵ xung Hợi
Hợi, Mão, Mùi
- Chi đầu của tam hợp: Hợi
- Thiên Mã an tại: Tỵ
- Quan hệ: Hợi xung Tỵ
Nói cho dễ nhớ: con ngựa bao giờ cũng quay lưng lại với chính cái nhóm tuổi của mình. Người tuổi Thân Tý Thìn thì Mã ở Dần, tức ngựa đứng đúng cung đối diện với Thân. Cái tượng ấy rất hợp với nghĩa của sao: Thiên Mã là dịch tinh, là cái đẩy người ta rời khỏi chỗ mình vốn thuộc về. Ngựa không bao giờ đứng trong sân nhà, nó luôn đứng ở cổng, mặt hướng ra đường.
Tý
- Thiên Mã an tại: Dần
Sửu
- Thiên Mã an tại: Hợi
Dần
- Thiên Mã an tại: Thân
Mão
- Thiên Mã an tại: Tỵ
Thìn
- Thiên Mã an tại: Dần
Tỵ
- Thiên Mã an tại: Hợi
Ngọ
- Thiên Mã an tại: Thân
Mùi
- Thiên Mã an tại: Tỵ
Thân
- Thiên Mã an tại: Dần
Dậu
- Thiên Mã an tại: Hợi
Tuất
- Thiên Mã an tại: Thân
Hợi
- Thiên Mã an tại: Tỵ
Sáu điều bất biến của Thiên Mã
- Thiên Mã chỉ ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Tám cung còn lại là Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất, Thiên Mã không bao giờ đặt chân tới. Ai luận "Thiên Mã tại Ngọ" hay "Mã cư Tý" là đã an sai lá số, không phải dị bản.
- Mã chỉ gặp được những sao cũng vào được tứ sinh. Đây là hệ quả lớn nhất, và nó cắt bỏ ngay một loạt tổ hợp mà người mới hay tưởng tượng ra. Bảng bên dưới liệt kê rõ sao nào vào được, sao nào không.
- Kình Dương không bao giờ đồng cung, xung chiếu hay tam hợp với Thiên Mã. Kình Dương an theo can năm và chỉ có thể rơi vào Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất. Bốn cung tứ sinh nằm ngoài tầm với của nó. Mà tam hợp và xung chiếu của một cung tứ sinh cũng đều là cung tứ sinh, nên Kình Dương chỉ còn một cách chạm vào Mã: đứng kề bên, tức thế giáp.
- Đào Hoa không bao giờ gặp Thiên Mã. Đào Hoa an theo tam hợp chi năm và chỉ đóng ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu, tức bốn cung tứ chính. Chạy đủ mười hai tuổi chi thì Đào Hoa luôn cách Thiên Mã bảy cung, không đồng cung, không xung, không tam hợp, không giáp. Cái gọi là "Mã ngộ Đào Hoa" trên bản mệnh là điều không tồn tại.
- Hồng Loan cũng không gặp được Mã. Hồng Loan có vào tứ sinh (tuổi Sửu, Thìn, Mùi, Tuất), nhưng chạy đủ mười hai tuổi thì Hồng Loan luôn cách Mã ba cung, tức chỉ có thể là hàng xóm cách một nhà, không bao giờ đồng cung hay chiếu.
- Mã đồng cung Lộc Tồn thì tất yếu bị Kình Đà giáp. Lộc Tồn luôn bị Kình Dương ở cung sau và Đà La ở cung trước kẹp lại. Vậy hễ có Lộc Mã đồng cung thì con ngựa ấy đứng giữa hai lưỡi dao. Đây là điều Thầy nhắc học trò kỹ nhất, vì nhiều người thấy Lộc Mã là mừng mà quên mất cái thế giáp.
Bảng sau trả lời câu hỏi thực tế nhất khi luận Thiên Mã: sao nào có cửa vào tứ sinh để gặp được Mã. Cột điều kiện ghi rõ tuổi nào, tháng nào, giờ nào thì sao ấy mới lọt vào bốn cung của con ngựa.
Lộc Tồn
- An theo: Thiên can năm sinh
- Vào được tứ sinh?: Có
- Điều kiện: Tuổi Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm thì Lộc Tồn vào tứ sinh
Kình Dương
- An theo: Thiên can năm sinh
- Vào được tứ sinh?: KHÔNG BAO GIỜ
- Điều kiện: Kình Dương chỉ có thể ở Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất, tức tám cung tứ chính và tứ mộ
Đà La
- An theo: Thiên can năm sinh
- Vào được tứ sinh?: Có
- Điều kiện: Tuổi Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý thì Đà La vào tứ sinh
Đào Hoa
- An theo: Địa chi năm sinh
- Vào được tứ sinh?: KHÔNG BAO GIỜ
- Điều kiện: Đào Hoa chỉ ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu, luôn cách Thiên Mã bảy cung
Hồng Loan
- An theo: Địa chi năm sinh
- Vào được tứ sinh?: Có, nhưng không bao giờ gặp Mã
- Điều kiện: Tuổi Sửu, Thìn, Mùi, Tuất thì Hồng Loan vào tứ sinh, song luôn cách Mã ba cung
Văn Xương
- An theo: Giờ sinh
- Vào được tứ sinh?: Có
- Điều kiện: Giờ Dần, Tỵ, Thân, Hợi thì Văn Xương vào tứ sinh
Văn Khúc
- An theo: Giờ sinh
- Vào được tứ sinh?: Có
- Điều kiện: Giờ Sửu, Thìn, Mùi, Tuất thì Văn Khúc vào tứ sinh
Địa Không, Địa Kiếp
- An theo: Giờ sinh
- Vào được tứ sinh?: Có
- Điều kiện: Bốn giờ Tý, Mão, Ngọ, Dậu là các giờ Không hoặc Kiếp rơi vào tứ sinh
Thiên Khôi
- An theo: Thiên can năm sinh
- Vào được tứ sinh?: Có
- Điều kiện: Chỉ tuổi Bính và Đinh, Khôi an tại Hợi
Thiên Việt
- An theo: Thiên can năm sinh
- Vào được tứ sinh?: Có
- Điều kiện: Tuổi Ất, Kỷ tại Thân; tuổi Canh, Tân tại Dần; tuổi Nhâm, Quý tại Tỵ
Tả Phụ
- An theo: Tháng sinh âm lịch
- Vào được tứ sinh?: Có
- Điều kiện: Tháng 2 tại Tỵ, tháng 5 tại Thân, tháng 8 tại Hợi, tháng 11 tại Dần
Hữu Bật
- An theo: Tháng sinh âm lịch
- Vào được tứ sinh?: Có
- Điều kiện: Tháng 3 tại Thân, tháng 6 tại Tỵ, tháng 9 tại Dần, tháng 12 tại Hợi
Thiên Hình
- An theo: Tháng sinh âm lịch
- Vào được tứ sinh?: Có
- Điều kiện: Tháng 3 tại Hợi, tháng 6 tại Dần, tháng 9 tại Tỵ, tháng 12 tại Thân
Thiên Riêu
- An theo: Tháng sinh âm lịch
- Vào được tứ sinh?: Có
- Điều kiện: Tháng 2 tại Dần, tháng 5 tại Tỵ, tháng 8 tại Thân, tháng 11 tại Hợi
Đọc bảng trên sẽ thấy một điều lý thú: các sao an theo tháng và theo giờ đều có bốn cửa vào tứ sinh, nghĩa là cứ một phần ba số người sinh ra là có cơ hội để Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Hình hay Thiên Riêu đứng chung cung với Mã. Còn các sao an theo can năm thì kén hơn nhiều, và Kình Dương thì tuyệt đối không có cửa. Vì thế, khi khách nói "thầy xem giúp con Mã của con gặp sao gì", câu hỏi đầu tiên phải hỏi lại là tháng sinh và giờ sinh, chứ không phải tuổi.
Lộc Tồn gặp Mã: chỉ hai tuổi can trong cả sáu mươi hoa giáp
Đây là phát hiện đáng giá nhất khi chạy đối chiếu bằng thuật toán, và nó đính chính một hiểu lầm rất phổ biến. Lộc Tồn vào được tứ sinh với năm tuổi can là Giáp (tại Dần), Bính và Mậu (tại Tỵ), Canh (tại Thân), Nhâm (tại Hợi). Nghe qua tưởng năm tuổi ấy đều có cơ hội Lộc Mã. Nhưng can và chi không ghép tự do: can dương chỉ ghép với chi dương, can âm chỉ ghép với chi âm. Chạy đủ sáu mươi hoa giáp thì ra kết quả như sau.
Lộc Mã đồng cung
- Tuổi: Giáp Tý, Giáp Thìn, Giáp Thân
- Vị trí: cùng tại Dần
- Ghi chú: Tân Biên gọi riêng thế đồng cung này là Chiết tiễn mã
Lộc Mã đồng cung
- Tuổi: Canh Dần, Canh Ngọ, Canh Tuất
- Vị trí: cùng tại Thân
- Ghi chú: như trên
Lộc Mã xung chiếu
- Tuổi: Giáp Dần, Giáp Ngọ, Giáp Tuất
- Vị trí: Lộc Dần, Mã Thân
- Ghi chú: đây mới đúng nghĩa chữ giao trì
Lộc Mã xung chiếu
- Tuổi: Canh Tý, Canh Thìn, Canh Thân
- Vị trí: Lộc Thân, Mã Dần
- Ghi chú: như trên
Lộc và Mã không gặp nhau
- Tuổi: Bính, Mậu, Nhâm và mọi tuổi can âm
- Vị trí: luôn cách nhau ba cung hoặc hơn
- Ghi chú: Lộc ở tứ sinh mà vẫn không tới được chỗ Mã
Nghĩa là chỉ người tuổi Giáp và tuổi Canh mới có Lộc Mã giao trì trên bản mệnh, đúng mười hai tuổi trong sáu mươi hoa giáp, và điều đặc biệt là cả mười hai tuổi ấy đều thành cách: hoặc đồng cung, hoặc xung chiếu, không có trường hợp lỡ dở. Người tuổi Bính, Mậu, Nhâm tuy có Lộc Tồn đứng ngay trong tứ sinh nhưng lại luôn lệch với Mã ba cung, con ngựa nhìn thấy kho lộc mà không tới được. Còn năm tuổi can âm là Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý thì Lộc Tồn ở tứ chính hoặc tứ mộ, hoàn toàn ngoài cuộc. Với những tuổi ấy, muốn có Lộc đi cùng Mã thì phải trông vào Hóa Lộc của chính tinh đồng cung, đó là chuyện của mục Tứ Hóa bên dưới.
Chính tinh nào có thể ngồi cùng cung với con ngựa
Vì Mã chỉ ở tứ sinh nên nó cũng chỉ gặp được những thế chính tinh có thể đóng ở tứ sinh. Chạy đủ mười hai thế Tử Vi cho ra bảng sau, và bảng này giải thích luôn vì sao cổ thư đặt tên các cách của Thiên Mã theo đúng những chính tinh ấy chứ không phải sao khác.
Dần
- Số thế có thể: 10
- Chính tinh có thể đồng cung với Thiên Mã: Phá Quân · cung trống · Tử Vi, Thiên Phủ · Thiên Cơ, Thái Âm · Tham Lang · Thái Dương, Cự Môn · Vũ Khúc, Thiên Tướng · Thiên Đồng, Thiên Lương · Thất Sát · Liêm Trinh
Tỵ
- Số thế có thể: 12
- Chính tinh có thể đồng cung với Thiên Mã: Thái Âm · Liêm Trinh, Tham Lang · Cự Môn · Thiên Tướng · Thiên Lương · Tử Vi, Thất Sát · Thiên Cơ · cung trống · Thái Dương · Vũ Khúc, Phá Quân · Thiên Đồng · Thiên Phủ
Thân
- Số thế có thể: 10
- Chính tinh có thể đồng cung với Thiên Mã: Vũ Khúc, Thiên Tướng · Thiên Đồng, Thiên Lương · Thất Sát · cung trống · Liêm Trinh · Phá Quân · Tử Vi, Thiên Phủ · Thiên Cơ, Thái Âm · Tham Lang · Thái Dương, Cự Môn
Hợi
- Số thế có thể: 12
- Chính tinh có thể đồng cung với Thiên Mã: Thiên Cơ · cung trống · Thái Dương · Vũ Khúc, Phá Quân · Thiên Đồng · Thiên Phủ · Thái Âm · Liêm Trinh, Tham Lang · Cự Môn · Thiên Tướng · Thiên Lương · Tử Vi, Thất Sát
Từ bảng rút ra ba điều nên nhớ. Thứ nhất, tại Dần và Thân, Tử Vi luôn đi cùng Thiên Phủ, nên thế Mã gặp Tử Vi ở hai cung này bao giờ cũng là Mã gặp cả Tử lẫn Phủ, đúng như tên cách Phù dư mã mà Tân Biên chép. Thứ hai, tại Tỵ và Hợi, Tử Vi luôn đi cùng Thất Sát, nên Mã gặp Tử Vi ở đây là gặp một cỗ xe hoàn toàn khác: xe chiến chứ không phải xe vua. Thứ ba, Dần và Thân mỗi cung chỉ có mười thế chính tinh có thể xảy ra, còn Tỵ và Hợi có đủ mười hai, vì Dần Thân là nơi các cặp sao hay chụm lại. Cung trống cũng là một khả năng thật: khi ấy Mã đứng một mình, phải mượn sao cung xung chiếu mà luận, và cung xung chiếu ấy chắc chắn cũng là một cung tứ sinh.
Thiên Mã Và Tứ Hóa Theo Tuổi Can
Nhưng không hóa không có nghĩa là không dính dáng. Thiên Mã là cái chân, không phải cái đầu. Nó không tự quyết định đi đâu, nó chỉ làm cho việc của sao đồng cung chạy nhanh hơn và đi xa hơn. Vì thế Tứ Hóa rơi vào chính tinh đứng cùng cung với Mã thì cũng là Tứ Hóa rơi lên lưng con ngựa, và cái hóa ấy sẽ được nhân lên theo khoảng cách. Đây mới là cách đọc Tứ Hóa của Thiên Mã cho đúng.
Mã gặp chính tinh hóa Lộc
Bốn cung tứ sinh cho phép những chính tinh nào hóa Lộc mà gặp Mã? Chạy đối chiếu thì thấy cả mười bốn chính tinh đều có cơ hội, vì mỗi cung tứ sinh đều có thể là chỗ đứng của bất cứ chính tinh nào tùy thế Tử Vi. Nhưng thực tế hay gặp nhất là bốn thế: Liêm Trinh hóa Lộc tuổi Giáp gặp Mã, Thiên Cơ hóa Lộc tuổi Ất gặp Mã, Thiên Đồng hóa Lộc tuổi Bính gặp Mã, và Vũ Khúc hóa Lộc tuổi Kỷ gặp Mã. Thế Cơ Lộc gặp Mã là Cơ Mã, sách xưa gọi là ngựa và bánh xe cùng lăn, chủ người đổi việc luôn tay mà lần nào đổi cũng có lợi hơn lần trước. Thế Vũ Lộc gặp Mã là tiền lớn tới từ xa, nhưng Vũ Khúc là sao cứng nên phải đi nhiều mới có.
Mã gặp chính tinh hóa Quyền
Hóa Quyền là cái nắm được, là quyền chỉ huy. Ngựa chở quyền thì thành ngựa của người cầm quân: người ấy quản việc ở xa, quản chi nhánh, quản đội ngoài hiện trường, hoặc làm nghề vừa đi vừa ra lệnh. Thầy hay thấy thế này ở lá số của quản đốc công trường, người phụ trách vùng, người điều hành đội xe, đội giao nhận, và cả người làm nghề dẫn đoàn. Mặt cần giữ là quyền đi cùng chân thì dễ sinh nóng: quyết nhanh, đi nhanh, và cũng dễ sai nhanh. Nếu cung ấy lại có Kình Dương giáp bên thì càng phải cẩn thận lời ăn tiếng nói khi ở xa nhà.
Mã gặp chính tinh hóa Khoa
Hóa Khoa là danh tiếng và cái tiếng lành, là bằng cấp, là chữ nghĩa. Mã chở Khoa là tiếng lành đồn xa: người ấy được biết đến ở nơi mình không ở, hợp việc đi giảng, đi trình bày, đi thi, đi công bố, đi giao lưu. Đây là thế êm nhất trong bốn hóa khi đi cùng Thiên Mã, vì Khoa làm chậm lại và làm sạch cái xô bồ của sự dịch chuyển. Với người trẻ, Mã gặp Khoa ở cung Quan Lộc hoặc Thiên Di thường ứng vào việc du học hoặc đi làm xa mà có bằng, có chứng chỉ, có tên tuổi trong nghề.
Mã gặp chính tinh hóa Kỵ
Hóa Kỵ là cái vướng, cái mắc kẹt. Đặt lên lưng con ngựa thì thành ngựa mang gánh nặng: đi mà không tới, dời chỗ mà không đổi được cảnh, càng chạy càng rối. Đây là thế Thầy dặn phải nói thật với khách. Người có Mã đồng cung với chính tinh hóa Kỵ thường có tật hay đổi: đổi việc, đổi nhà, đổi bạn làm ăn, mà lần sau không khá hơn lần trước, vì cái vướng nằm trong người chứ không nằm ở nơi chốn. Cách hóa giải của Thầy rất giản dị và không hề huyền bí: giới hạn số lần đổi trong một khoảng thời gian, đặt ra một mốc phải ở lại đủ lâu trước khi được phép đi tiếp. Ngựa mang Kỵ cần dây cương chứ không cần roi.
Nặng nhất là khi Kỵ ấy rơi đúng vào cung Thiên Di hoặc cung Điền Trạch có Mã. Thiên Di có Mã và Kỵ là ra đường hay gặp chuyện, phải cẩn thận xe cộ và giấy tờ đi lại. Điền Trạch có Mã và Kỵ là nhà cửa không yên, dọn đi dọn lại mà chỗ nào cũng có việc.
Hóa bay tới từ cung khác, và tuổi nào tạo tổ hợp đáng chú ý với Mã
Thiên Mã đứng ở tứ sinh nên tam phương tứ chính của nó cũng toàn là cung tứ sinh. Hóa của các chính tinh ở ba cung tứ sinh còn lại đều có đường bay tới chỗ con ngựa. Ba tình huống hay gặp nhất:
- Tuổi Giáp và tuổi Canh: hai tuổi duy nhất có Lộc Tồn gặp được Mã trên bản mệnh. Tuổi Giáp còn có Liêm Trinh hóa Lộc, Phá Quân hóa Quyền, hai sao này đều đóng được ở tứ sinh, nên tuổi Giáp là tuổi dễ có cả Lộc Tồn lẫn Hóa Lộc cùng chầu về chỗ Mã. Tuổi Canh có Thái Dương hóa Lộc và Vũ Khúc hóa Quyền, cả hai cũng vào được tứ sinh, thành thế ngựa vừa có lộc vừa có quyền.
- Tuổi Đinh, Kỷ, Quý: ba tuổi có Đà La rơi vào tứ sinh đúng chỗ Mã, thành Chiết túc mã trên bản mệnh. Tuổi Đinh còn có Cự Môn hóa Kỵ, mà Cự Môn đóng được ở cả bốn cung tứ sinh, nên tuổi Đinh cần xem kỹ: nếu Cự Kỵ đúng cung có Mã và Đà thì đó là thế ngựa què lại còn phải cãi nhau dọc đường.
- Tuổi Bính, Mậu, Nhâm: Lộc Tồn có vào tứ sinh nhưng luôn lệch Mã ba cung. Với ba tuổi này, Lộc đến với con ngựa chỉ có thể qua đường Hóa Lộc của chính tinh đồng cung, hoặc qua Hóa Lộc chiếu về từ cung tứ sinh khác. Đây là chỗ nhiều người luận sai vì thấy tuổi Nhâm Lộc Tồn ở Hợi, Mã cũng có thể ở Hợi, rồi kết luận vội. Thực ra tuổi Nhâm chỉ ghép với chi dương, mà chi dương thì Mã luôn ở Dần hoặc Thân, không bao giờ ở Hợi.
Tứ Hóa lưu niên bay tới chỗ Mã còn quan trọng hơn nữa, vì nó đổi mỗi năm. Phần ấy để riêng ở mục đại vận và lưu niên bên dưới. Trên trang an lá số, chọn năm xem rồi bấm vào cung có Thiên Mã là đọc được cả hóa bản mệnh lẫn hóa lưu niên đang phủ lên cung ấy.
Các Cách Cục Của Thiên Mã Và Điều Kiện Thành Cách
Cách quý nhất của Thiên Mã là Lộc Mã giao trì, tức Mã gặp Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc, chủ tài lộc tới từ phương xa, làm ăn xuất ngoại, mọi việc hanh thông. Phù dư mã là Mã cùng Tử Vi Thiên Phủ ở Dần Thân, một cách đại quý chủ giàu sang uy quyền. Thư hùng mã là Mã gặp Nhật Nguyệt sáng, chủ đa tài vinh hiển.
Các thế cần tránh đều xoay quanh việc con ngựa bị cản hoặc chết: Chiết túc mã (gặp Đà La), Tử mã (gặp Tuần Triệt), cùng đồ mã (gặp Tuyệt hay ở Hợi). Vì vậy khi luận Thiên Mã, điều quan trọng nhất là xem con ngựa ấy đang được cưỡi, được tiếp sức, hay đang bị què, bị chặn.
Thiên Mã là sao mà tên cách nhiều hơn hầu hết phụ tinh khác, vì cổ nhân đặt tên theo tình cảnh của con ngựa: ngựa kéo xe vua, ngựa chở lộc, ngựa gãy chân, ngựa chết, ngựa cùng đường. Mỗi cách dưới đây ghi rõ điều kiện thành, điều kiện làm cách đẹp thêm hoặc đáng ngại thêm, và điều kiện phá. Riêng với Thiên Mã, có một điều kiện ngầm áp cho mọi cách mà ít sách nói ra: mọi cách của Thiên Mã đều chỉ xảy ra tại Dần, Thân, Tỵ hoặc Hợi, vì con ngựa không có chỗ đứng nào khác.
Lộc Mã giao trì
Thành cách: Thiên Mã gặp Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc, đồng cung hoặc xung chiếu. Tân Biên chép riêng thế Mã đồng cung Lộc Tồn là Chiết tiễn mã, tức bẻ roi mà đánh ngựa, còn thế xung chiếu mới đúng chữ giao trì. Cả hai đều chủ mọi việc chóng thành, tài quan song mỹ, tiền tới từ phương xa. Đủ đẹp: theo thuật toán an sao, Lộc Tồn chỉ gặp được Mã ở tuổi Giáp và tuổi Canh, đúng mười hai tuổi trong sáu mươi hoa giáp. Giáp Tý, Giáp Thìn, Giáp Thân thì Lộc và Mã cùng ở Dần. Canh Dần, Canh Ngọ, Canh Tuất thì cùng ở Thân. Giáp Dần, Giáp Ngọ, Giáp Tuất và Canh Tý, Canh Thìn, Canh Thân thì Lộc một bên Mã một bên, xung chiếu nhau. Cách đẹp thêm khi cung ấy có chính tinh đắc địa và có Tả Hữu hoặc Khôi Việt chầu. Phá cách: ba đường. Một là Tuần hoặc Triệt án ngay cung có Lộc Mã. Hai là Địa Không, Địa Kiếp đồng cung, lộc chảy vào chỗ trống. Ba là thế giáp: vì Lộc Tồn luôn bị Kình Dương và Đà La kẹp hai bên, nên Lộc Mã đồng cung bao giờ cũng đứng giữa hai sát tinh, cái quý có nhưng đường đi không êm. Thầy vẫn nói với học trò rằng Lộc Mã đồng cung là con ngựa chở vàng đi giữa hai tên cướp, còn Lộc Mã xung chiếu là kho vàng ở nhà mà ngựa đi lấy hàng, thế sau thong dong hơn thế trước.
Phù dư mã
Thành cách: Thiên Mã đồng cung với Tử Vi và Thiên Phủ tại Dần hoặc Thân, tức ngựa kéo xe cho vua, chủ tài giỏi, uy quyền, giàu sang bậc nhất trong các cách của Thiên Mã. Đây là cách được thuật toán xác nhận trọn vẹn: chạy đủ mười hai thế Tử Vi thì Tử Vi và Thiên Phủ chỉ đồng cung với nhau tại đúng hai cung Dần và Thân, mà Dần Thân lại nằm trong bốn cung của Thiên Mã. Vậy tên cách của cổ nhân không phải đặt cho vui, nó là mô tả một cấu trúc có thật và duy nhất. Người tuổi Thân Tý Thìn thì Mã ở Dần nên cần Tử Phủ tại Dần; người tuổi Dần Ngọ Tuất thì Mã ở Thân nên cần Tử Phủ tại Thân. Đủ đẹp: thêm Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc vào cùng cung thì thành thế xe vua chở đầy của. Phá cách: Tuần Triệt án ngữ, hoặc Không Kiếp đồng cung; khi ấy vẫn là người có tài và có tướng nhưng cái quý đến muộn và không trọn.
Nhật Mã và Nguyệt Mã, gộp lại là Thư hùng mã
Thành cách: Thiên Mã gặp Thái Dương hoặc Thái Âm sáng sủa. Tân Biên gọi chung thế Mã gặp Nhật Nguyệt sáng là Thư hùng mã, chủ đa tài, vinh hiển. Chia nhỏ ra thì Nhật Mã là Mã đồng cung Thái Dương, Nguyệt Mã là Mã đồng cung Thái Âm, và thuật toán cho biết hai thế này rơi vào đâu. Nhật Mã có bốn khả năng: tại Dần và Thân thì Thái Dương đi cùng Cự Môn, tại Tỵ thì Thái Dương độc tọa và đang ở chỗ sáng nhất của nó, tại Hợi thì Thái Dương đã lặn. Vậy Nhật Mã đẹp nhất là Mã tại Tỵ gặp Thái Dương, tức người tuổi Hợi, Mão, Mùi, mặt trời giữa ban ngày mà lại có ngựa, chủ danh tiếng lan ra xa, hợp nghề đi và nói. Nguyệt Mã cũng có bốn khả năng, và có một nghịch lý đáng nói: Thái Âm sáng nhất ở Hợi, mà Hợi lại đúng là cung mà cổ thư gọi là cùng đồ mã. Người tuổi Tỵ, Dậu, Sửu có Mã tại Hợi gặp Thái Âm miếu là thế trăng sáng mà ngựa hết đường: tài hoa, tình cảm, tiền của có, nhưng cái chí đi thì bị chặn, thường ứng vào người muốn đi xa mà cứ vướng việc nhà. Phá cách: Thái Dương hoặc Thái Âm hóa Kỵ, hoặc sao ấy hãm địa, khi ấy Thư hùng mã không thành, chỉ còn là người vất vả vì đi lại.
Chiến mã
Thành cách theo Tân Biên: Thiên Mã gặp Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh, chủ quân sự, binh quyền. Đây là bản mà trang này vẫn dẫn từ trước. Một cách hiểu khác đang lưu hành là Chiến mã tức Mã gặp Kình Dương hoặc Thất Sát, lấy ý ngựa ra trận. Với cách hiểu này phải nói rõ một điều mà thuật toán chỉ ra dứt khoát: Kình Dương không bao giờ đồng cung với Thiên Mã trên bản mệnh, cũng không bao giờ xung chiếu hay tam hợp, vì Kình Dương chỉ an được ở tám cung tứ chính và tứ mộ. Kình Dương chỉ có thể giáp Mã, và điều đó xảy ra với mười hai tuổi là Giáp, Ất, Canh, Tân. Vậy nếu ai luận Chiến mã theo nghĩa Mã ngộ Kình Dương đồng cung thì hoặc là đang nói về lưu Kình Dương của một năm cụ thể, hoặc là đã an sai. Còn Thất Sát thì khác: Thất Sát đóng được ở cả bốn cung tứ sinh, nên Mã đồng cung Thất Sát là thế có thật và khá hay gặp, ứng vào người xông pha, hợp nghề nặng, nghề hiện trường, nghề có rủi ro. Đủ đẹp: có Hóa Quyền hoặc Lộc Tồn cùng cung thì cái xông pha ấy sinh ra công trạng. Đáng ngại: Mã, Thất Sát mà thêm Địa Không Địa Kiếp hoặc Đà La thì thành liều mà không có đường lui.
Chiết túc mã, ngựa gãy chân
Thành cách theo Tân Biên: Thiên Mã gặp Đà La, chủ suy bại, trở ngại; và Mã bị Tuần Triệt án ngữ thì sách gọi là Tử mã, ngựa chết, chủ bại hoại. Một cách gọi khác gộp chung mọi thế làm con ngựa mất sức vào tên Chiết túc mã, gồm cả Mã gặp Tuần, gặp Triệt và gặp Địa Không. Bài này ghi cả hai lối gọi để quý vị đọc sách nào cũng hiểu, còn khi luận thì cái quan trọng không phải tên mà là cơ chế: Đà La là cái níu chân làm ngựa đi chậm và đi lệch, Tuần Triệt là cái chặn ngang làm ngựa không xuất phát được, Địa Không là cái hố làm ngựa sa chân. Điều kiện thật, kiểm bằng thuật toán: Đà La chỉ vào được tứ sinh với năm tuổi can âm là Ất tại Dần, Đinh và Kỷ tại Tỵ, Tân tại Thân, Quý tại Hợi. Nhưng can âm chỉ ghép với chi âm, mà chi âm thì Mã luôn ở Tỵ hoặc Hợi. Chạy đủ sáu mươi hoa giáp thì Đà La đồng cung Thiên Mã chỉ xảy ra với chín tuổi: Đinh Mão, Đinh Mùi, Đinh Hợi, Kỷ Mão, Kỷ Mùi, Kỷ Hợi cùng tại Tỵ, và Quý Sửu, Quý Tỵ, Quý Dậu cùng tại Hợi. Tuổi Ất và tuổi Tân tuy có Đà La ở tứ sinh nhưng không bao giờ trùng chỗ với Mã. Giải cách: Thầy không dùng chữ hóa giải theo lối bùa chú. Cái giải thật của Chiết túc mã là giảm số lần đi và tăng chất lượng mỗi lần đi: chọn ít việc mà làm cho xong, chọn một nơi mà ở cho đủ lâu. Ngựa gãy chân thì đừng bắt nó chạy đua, hãy để nó kéo xe gần. Ngoài ra nếu cung ấy có Hóa Khoa hoặc Thiên Lương thì cái trở ngại được đỡ đi đáng kể.
Phù thi mã
Thành cách theo Tân Biên: Thiên Mã gặp Thiên Hình, sách xếp vào loại rất xấu. Thiên Hình an theo tháng sinh và vào được tứ sinh ở bốn tháng là tháng ba tại Hợi, tháng sáu tại Dần, tháng chín tại Tỵ, tháng mười hai tại Thân, nên đây là thế có thật và không hiếm. Một cách gọi khác cho Phù thi mã là Thiên Mã gặp Tử Phù hoặc Đại Hao. Thầy ghi lại lối gọi này để quý vị biết, nhưng phải nói thẳng: tên gọi ấy Thầy chưa kiểm được trong Tân Biên hay Toàn Thư, và vị trí của Tử Phù, Đại Hao cũng không nằm trong bộ cấu trúc đã kiểm bằng thuật toán của bài này, nên đoạn này chỉ đặt ở mức suy luận. Xét theo nghĩa chữ thì hợp lý: phù thi là xác trôi, Tử Phù thuộc vòng Thái Tuế mang nghĩa tang chế, Đại Hao mang nghĩa hao tán, ngựa mà đi cùng hai sao ấy thì đi mà không mang được gì về. Ở tầng lưu niên thì thế này rõ hơn nhiều: năm mà lưu Tử Phù hoặc lưu Đại Hao chạm vào cung có Thiên Mã bản mệnh, nhất là khi cung ấy đang là cung Thiên Di hoặc Tài Bạch, thường là năm nên hoãn những chuyến đi lớn và những khoản đầu tư xa nhà. Giải cách: có Hóa Khoa, Thiên Lương hoặc Thiên Đức chầu về thì nhẹ đi; quan trọng hơn cả là năm ấy đừng khởi sự ở nơi mình không quen.
Cùng đồ mã, ngựa cùng đường
Thành cách: Thiên Mã đóng tại Hợi, hoặc Thiên Mã gặp sao Tuyệt của vòng Trường Sinh. Hợi là cuối của mười hai chi, ngựa chạy tới đó là hết đường; Tuyệt là chặng tận cùng của vòng sinh vượng. Cả hai đều là tượng hết lối. Ai rơi vào: Mã tại Hợi là người tuổi Tỵ, Dậu hoặc Sửu, không trừ ai. Nhưng đừng vội lo, vì cùng đồ mã là một thế chứ chưa phải một kết luận. Cùng cung Hợi ấy, nếu có Thiên Phủ, có Thái Âm miếu, có Lộc Tồn của người tuổi Nhâm chiếu tới, thì con ngựa tuy hết đường chạy nhưng đứng trong sân đẹp. Thầy gặp nhiều lá Mã cư Hợi mà đời rất yên: họ là người đi đủ rồi về, hoặc là người chọn một nghề tại chỗ mà làm cho sâu. Cái hại của cùng đồ mã chỉ lộ ra khi người ấy cố đi khi không còn đường, tức cố xoay chuyển vào lúc thế đã cạn. Giải cách: cung Hợi có cát tinh đắc địa, hoặc đại vận chuyển sang cung có Lộc; và về hành xử thì đổi mục tiêu từ đi xa hơn sang đi sâu hơn.
Mã ngộ Không vong
Thành cách: Thiên Mã gặp Tuần Không, Triệt Không, Địa Không hoặc Thiên Không. Đây là nhóm thế mà cổ thư xếp chung là ngựa chạy vào chỗ không có gì. Thuật toán cho biết Địa Không và Địa Kiếp an theo giờ sinh và mỗi sao có bốn giờ rơi vào tứ sinh, cụ thể là các giờ Tý, Mão, Ngọ, Dậu. Nghĩa là người sinh vào bốn giờ chính ấy có nhiều khả năng gặp thế Mã và Không Kiếp cùng cung nhất, còn đúng hay không thì phải đối chiếu với chi năm sinh. Về cách đọc, Thầy phân biệt rạch ròi hai chiều. Với người làm ăn và giữ của thì Mã ngộ Không vong là điều phải cảnh báo: tiền và công sức đổ vào những chuyến đi không có đích, dự án ở xa nghe hay mà rỗng. Với người tu học, làm nghề tinh thần, nghiên cứu, sáng tác thì thế này lại không xấu, vì Không vong làm cho cái động của Thiên Mã hướng vào bên trong: người ấy đi nhiều nơi mà không bám vào nơi nào, và đó chính là chất của người làm việc với ý tưởng. Phá cách hay giải cách tùy chỗ đứng: nếu Mã và Không vong ở Tài Bạch hay Điền Trạch thì cần kho, cần người giữ sổ, cần quy tắc chi tiêu. Nếu ở Phúc Đức hay Thiên Di thì để yên, đừng cố sửa, vì đó là chỗ nó phát huy.
Nhìn chung về các cách của Thiên Mã
Cả tám cách trên chỉ nói một chuyện: con ngựa tự nó không tốt cũng không xấu, cái quyết định là ai cưỡi, chở gì, và đường có thông không. Lộc Tồn và Hóa Lộc là hàng quý trên lưng ngựa. Tử Phủ, Nhật Nguyệt sáng là người cưỡi giỏi. Đà La, Tuần Triệt, Không Kiếp là chân đau và đường tắc. Vì vậy khi luận Thiên Mã, thứ tự đúng là xem chỗ đứng trước, xem sao đồng cung sau, rồi mới xem sao chiếu, cuối cùng mới gọi tên cách. Gọi tên trước rồi mới tìm điều kiện là lối làm ngược, và đó là nguồn gốc của phần lớn những lời luận sai về sao này.
Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
Trước khi đọc hai cột dưới, xin nhớ quy tắc về lực: đồng cung là mạnh nhất vì hai sao ngồi chung một chỗ, xung chiếu mạnh nhì vì nhìn thẳng mặt nhau, tam hợp chiếu nhẹ hơn vì góc xa, còn giáp là thế bao vây, mạnh với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Với riêng Thiên Mã có một điều đặc biệt phải nhớ thêm: tam hợp và xung chiếu của cung tứ sinh cũng đều là cung tứ sinh. Cho nên sao nào không vào được tứ sinh thì cũng không thể chiếu tới Mã bằng tam hợp hay xung, nó chỉ còn cửa giáp. Đây là lý do Kình Dương và Đào Hoa gần như vắng mặt trong danh sách dưới đây.
Thiên Mã mừng khi gặp
- Lộc Tồn (đồng cung là Chiết tiễn mã, xung chiếu là Lộc Mã giao trì): thế quý nhất của sao này, nhưng chỉ tuổi Giáp và tuổi Canh mới có. Đồng cung thì đậm mà bị Kình Đà giáp; xung chiếu thì thong dong hơn.
- Hóa Lộc của chính tinh đồng cung (đồng cung mạnh nhất): mở đường cho mọi tuổi khác có được thế Lộc Mã, nhất là năm tuổi can âm vốn không có cửa Lộc Tồn.
- Tử Vi và Thiên Phủ (đồng cung, chỉ tại Dần và Thân): Phù dư mã, ngựa kéo xe vua, cách quý bậc nhất.
- Thái Dương sáng (đồng cung, đẹp nhất tại Tỵ): Nhật Mã, danh tiếng lan xa, hợp nghề vừa đi vừa nói.
- Thái Âm sáng (đồng cung, sáng nhất tại Hợi): Nguyệt Mã, tài hoa và tiền của, nhưng ở Hợi thì phải đọc kèm thế cùng đồ.
- Tả Phụ, Hữu Bật (đồng cung, tùy tháng sinh; giáp cũng tốt): có người đi cùng, có kẻ đỡ đần dọc đường, con ngựa không đi một mình.
- Thiên Khôi, Thiên Việt (đồng cung, tùy tuổi can): quý nhân gặp ở nơi xa, đi đến đâu cũng có người mở lối.
- Văn Xương, Văn Khúc (đồng cung, tùy giờ sinh): đi mà học được, đi mà viết được; hợp nghề khảo cứu, báo chí, giảng dạy lưu động.
Thiên Mã e ngại khi gặp
- Đà La (đồng cung, chỉ ở chín tuổi thuộc can Đinh, Kỷ, Quý): Chiết túc mã, ngựa gãy chân, đi chậm và đi lệch; nặng nhất khi ở Tật Ách hoặc Thiên Di.
- Tuần và Triệt án ngữ (án ngay cung có Mã): Tử mã theo Tân Biên, ngựa không xuất phát được. Ở cung Phúc Đức thì lại có mặt hay vì hãm bớt cái nôn nóng.
- Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung mạnh nhất, giáp cũng đáng ngại): Mã ngộ Không vong, chạy vào chỗ trống. Xấu cho người giữ của, không xấu cho người làm việc tinh thần.
- Chính tinh đồng cung hóa Kỵ (đồng cung): ngựa mang gánh nặng, đổi hoài mà không khá hơn; cần dây cương chứ không cần roi.
- Thiên Hình (đồng cung, tùy tháng sinh): Phù thi mã theo Tân Biên, cẩn thận thương tích và giấy tờ khi đi xa.
- Thiên Riêu (đồng cung, tùy tháng sinh): chuyện tình cảm phát sinh trên đường, đáng lưu ý nhất khi Mã ở cung Phu Thê.
- Kình Dương (chỉ có thể giáp, không bao giờ đồng cung hay chiếu): thế bao vây, ứng vào va chạm và tranh chấp ở dọc đường chứ không ở đích đến. Muốn có Kình đồng cung với Mã thì chỉ có lưu Kình của một năm cụ thể.
- Sao Tuyệt của vòng Trường Sinh, và chỗ đứng tại Hợi: không phải sao xấu mà là thế hết đường, cùng đồ mã; xử lý bằng cách đi sâu thay vì đi xa.
Thiên Mã là con ngựa, mà ngựa thì cần người cưỡi giỏi và con đường tốt. Gặp Lộc, gặp Tử Phủ thì thành tuấn mã lập công; gặp Đà La, Tuần Triệt thì thành ngựa què ngựa chết. Tất cả nằm ở chỗ con ngựa ấy đang ở thế nào.
Thiên Mã Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Mọi mục phía trên nói về con ngựa đứng yên trong lá số. Nhưng đời người là dòng chảy: mỗi mười năm đại vận đổi cung, mỗi năm lưu niên đổi cung, và bản thân Thiên Mã còn có một bản lưu riêng chạy theo chi của năm đang xem. Với một dịch tinh thì phần động này quan trọng hơn phần tĩnh, vì cái mà khách hỏi bao giờ cũng là "năm nay con có nên đi không".
Đại vận đi vào cung có Thiên Mã
Đại vận bước vào cung có Thiên Mã là mười năm của sự dời chuyển. Trong mười năm ấy, đổi việc, đổi nhà, đi xa, xuất ngoại, mở thị trường mới là những chuyện dễ xảy ra và thường là nên xảy ra. Nếu cung ấy có Lộc Tồn hoặc chính tinh hóa Lộc thì đây thường là đại vận phát của cả đời: người ta bứt ra khỏi chỗ cũ và nên nghiệp ở chỗ mới. Thầy để ý một điều trên lá số thật: đại vận Thiên Mã đến sớm hay đến muộn cho hai kiểu người khác nhau. Đến vào đại vận thứ hai hoặc thứ ba, tức tuổi mười lăm tới ba mươi lăm, thì thành người đi học xa, đi làm xa, lập nghiệp nơi khác, và cái gốc quê thường mỏng đi. Đến vào đại vận thứ năm thứ sáu, tức sau bốn mươi lăm, thì thường là dời chỗ ở vì con cái, vì sức khỏe, hoặc là giai đoạn đi đây đi đó sau khi đã yên bề.
Ngược lại, đại vận vào cung có Mã mà cung ấy lại có Đà La, Tuần Triệt hay Không Kiếp thì đó là mười năm động mà không lợi: xáo trộn có, đi lại có, nhưng đổi mà không lên. Lời khuyên cho vận này không phải là ngồi yên, vì Mã đã động thì không giữ được, mà là chọn một hướng rồi đi cho hết, đừng đổi hướng giữa chừng. Còn đại vận vào cung xung chiếu với cung có Mã cũng đáng kể: con ngựa nhìn thẳng vào mười năm ấy, nên vẫn có chuyện đi lại, song là đi rồi về chứ không phải đi hẳn.
Bản lưu niên của chính Thiên Mã: lưu Thiên Mã
Thiên Mã là một trong số ít sao có bản lưu, và cách an lưu Thiên Mã giống hệt cách an Mã bản mệnh, chỉ khác là lấy chi của năm đang xem thay cho chi năm sinh. Vì vậy lưu Thiên Mã cũng chỉ chạy vòng quanh bốn cung tứ sinh, và cứ ba năm lại quay về một chỗ theo đúng chu kỳ tam hợp.
Thân, Tý, Thìn
- Lưu Thiên Mã tại: Dần
- Các năm sắp tới: 2028 Mậu Thân · 2032 Nhâm Tý · 2036 Bính Thìn
- Đọc thế nào: Cung Dần của mọi lá số được kích động: ai có Mệnh, Quan hay Di ở Dần thì đó là năm dễ dời chuyển.
Dần, Ngọ, Tuất
- Lưu Thiên Mã tại: Thân
- Các năm sắp tới: 2026 Bính Ngọ · 2030 Canh Tuất · 2034 Giáp Dần
- Đọc thế nào: Cung Thân được kích động; người có Thiên Mã bản mệnh tại Thân thì năm ấy là Mã chồng Mã, động rất mạnh.
Tỵ, Dậu, Sửu
- Lưu Thiên Mã tại: Hợi
- Các năm sắp tới: 2029 Kỷ Dậu · 2033 Quý Sửu · 2037 Đinh Tỵ
- Đọc thế nào: Cung Hợi được kích động, nhưng Hợi là thế cùng đồ nên cái động này hay ứng vào đi rồi lại về.
Hợi, Mão, Mùi
- Lưu Thiên Mã tại: Tỵ
- Các năm sắp tới: 2027 Đinh Mùi · 2031 Tân Hợi · 2035 Ất Mão
- Đọc thế nào: Cung Tỵ được kích động; Tỵ là chỗ Mã có sức chạy tốt, năm thuận cho việc mở rộng ra xa.
Cách dùng bảng này rất gọn: xem Thiên Mã bản mệnh của mình ở cung nào, rồi tra xem năm nào lưu Mã về đúng cung ấy. Đó là Mã chồng Mã, năm mà cái chí đi được nhân đôi, và thường ứng vào một quyết định dời chuyển thật chứ không chỉ là ý nghĩ. Người tuổi Thân Tý Thìn có Mã tại Dần thì các năm Thân, Tý, Thìn là năm Mã chồng Mã của họ. Người tuổi Dần Ngọ Tuất có Mã tại Thân thì các năm Dần, Ngọ, Tuất mới là năm ấy. Thầy vẫn dặn: Mã chồng Mã không tự nó là tốt hay xấu, nó chỉ làm cho việc đi trở nên khó cưỡng. Việc của người luận là xem trong cung ấy có Lộc để đi mà có, hay có Không Kiếp để đi mà mất.
Lưu Lộc Tồn gặp lưu Thiên Mã: những năm Lộc Mã của cả thiên hạ
Lưu Lộc Tồn an theo can năm xem, lưu Thiên Mã an theo chi năm xem. Chạy đối chiếu hai bảng ấy cho từng năm dương lịch thì ra một kết quả rất đáng để ý: chỉ những năm can Giáp và can Canh mới có lưu Lộc và lưu Mã gặp nhau, đúng như trên bản mệnh.
Lưu Lộc và lưu Mã đồng cung
- Năm: 2030 Canh Tuất · 2044 Giáp Tý · 2050 Canh Ngọ
- Cung: 2030 và 2050 tại Thân, 2044 tại Dần
- Đọc thế nào: Năm mà cung ấy có cả kho lẫn ngựa: thuận cho việc mở đường làm ăn ở xa, ai có Mệnh hay Tài ở cung ấy càng rõ.
Lưu Lộc và lưu Mã xung chiếu
- Năm: 2034 Giáp Dần · 2040 Canh Thân
- Cung: hai cung Dần và Thân nhìn nhau
- Đọc thế nào: Lộc Mã giao trì ở tầng lưu niên: tiền ở một đầu, việc ở đầu kia, năm của những chuyến đi có mục đích rõ.
Lưu Đà La đồng cung lưu Mã
- Năm: 2027 Đinh Mùi · 2033 Quý Sửu · 2039 Kỷ Mùi · 2047 Đinh Mão
- Cung: 2027 và 2039 tại Tỵ, 2033 và 2047 tại Hợi
- Đọc thế nào: Chiết túc mã ở tầng lưu niên: năm mà việc đi lại hay trục trặc, xe cộ giấy tờ dễ hỏng, nên đi ít mà chắc.
Lưu Kình Dương giáp lưu Mã
- Năm: 2031 Tân Hợi · 2035 Ất Mão · 2041 Tân Dậu
- Cung: Kình kề bên cung có lưu Mã
- Đọc thế nào: Thế bao vây: đi vẫn được nhưng dễ va chạm, tranh cãi dọc đường; giữ giấy tờ và giữ lời.
Nhìn bảng sẽ thấy các năm đẹp cho Thiên Mã thưa hơn người ta tưởng, và chúng rơi đúng vào những năm can Giáp, can Canh. Đây cũng là chỗ để đính chính một câu hay nghe: "năm nào có Mã là năm đi xa". Không phải. Năm nào cũng có lưu Mã, vì lưu Mã luôn đóng ở một trong bốn cung tứ sinh. Cái đáng xem là lưu Mã năm ấy rơi vào cung chức nào của riêng quý vị, và trong cung ấy đang có Lộc hay có Sát.
Các lưu sao khác chạm vào cung có Thiên Mã
- Lưu Thái Tuế đến cung có Mã: năm mà việc đi lại dính tới giấy tờ, thủ tục, cơ quan công quyền, chẳng hạn hồ sơ xuất cảnh, chuyển hộ khẩu, đổi bằng lái. Có Lộc thì trót lọt, có Kỵ thì lôi thôi.
- Lưu Đà La đến cung có Mã: năm ngựa bị níu chân, kế hoạch đi bị hoãn, hợp đồng ở xa bị kéo dài. Không phải năm hỏng, chỉ là năm chậm.
- Lưu Kình Dương đến kề cung có Mã: nhắc lại cho rõ, Kình Dương của bản mệnh không bao giờ vào được tứ sinh, nhưng lưu Kình theo can của năm xem thì cũng thế, nó cũng chỉ giáp chứ không đồng cung. Vì vậy mọi lời luận kiểu "năm nay lưu Kình đóng cùng Thiên Mã" đều cần xem lại cách an sao.
- Lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ đến cung có Mã, nhất là khi cung ấy là Thiên Di hoặc Tật Ách: đây là tổ hợp Thầy luôn dặn khách cẩn thận xe cộ và đường sá trong năm, không phải để dọa mà để nhắc đi chậm lại và khám sức khỏe chân khớp.
- Lưu Xương Khúc, lưu Khôi Việt đến cung có Mã: năm thuận cho việc đi học xa, thi cử ở nơi khác, phỏng vấn xin việc ngoài tỉnh, nộp hồ sơ du học.
- Lưu Đào Hoa thì không bao giờ chạm được Mã bản mệnh bằng đường đồng cung hay chiếu, vì cả lưu Đào Hoa lẫn Đào Hoa bản mệnh đều chỉ đóng ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Ai luận năm Mã gặp Đào là nên tra lại bảng an sao.
Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Thiên Mã
Thiên Mã là một trong những sao bị nói quá nhiều nhất, phần vì cái tên dễ hình dung, phần vì ai cũng thích nghe chuyện đi xa. Mục này tách bạch sách nói gì và sách không nói gì, để quý vị khỏi mừng hụt và cũng khỏi lo oan.
Thiên Mã không phải sao chủ về giàu
Tân Biên xếp Thiên Mã là dịch tinh, chủ di chuyển, thay cũ đổi mới, ảnh hưởng tới công danh, tài lộc và phúc thọ. Chữ "ảnh hưởng tới tài lộc" rất khác chữ "chủ tài lộc". Tài tinh trong Tử Vi là Vũ Khúc, Thiên Phủ, Lộc Tồn, Thái Âm. Thiên Mã chỉ là cái chân đưa tiền tới hoặc đưa tiền đi, nó không sinh ra tiền và cũng không giữ được tiền. Vì thế câu "có Thiên Mã là có tiền" là sai; câu đúng phải là "có Thiên Mã thì tiền của người ấy đến từ chỗ xa, và cần một cái kho ở chỗ khác trong lá số".
Thiên Mã tại Hợi không đồng nghĩa với hỏng
Sách gọi Mã tại Hợi là cùng đồ mã, ngựa hết đường chạy, và trang này từ trước vẫn ghi Mã đắc địa nhất ở Tỵ và Dần. Nhưng sách không nói cùng đồ mã là mệnh xấu, cũng không nói người ấy không đi được. Thầy đã xem rất nhiều lá Mã cư Hợi mà đời sung túc: có người đi nước ngoài từ trẻ rồi về hẳn, có người cả đời làm một nghề tại chỗ mà rất vững. Cùng đồ mã nói về giới hạn của việc đi xa hơn nữa, không nói về nghèo hay hèn. Đọc nó như một lời khuyên về chiến lược thì đúng: tới lúc nào đó, đi sâu có lợi hơn đi xa.
Thiên Mã không gặp được Đào Hoa, nên đừng luận Mã Đào
Đây là điều bài này muốn nói rõ nhất, vì nó xuất hiện khá nhiều trong các bài chép lẫn nhau trên mạng. Đào Hoa an theo tam hợp chi năm sinh và chỉ đóng ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Thiên Mã chỉ đóng ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Chạy đủ mười hai tuổi chi bằng thuật toán an sao của trang thì thấy Đào Hoa luôn cách Thiên Mã đúng bảy cung, tức không đồng cung, không xung chiếu, không tam hợp và cũng không giáp. Hồng Loan cũng vậy, luôn cách Mã ba cung. Vậy mọi lời luận kiểu "Mã ngộ Đào Hoa thì đa tình phiêu bạt" là nói về một tổ hợp không tồn tại trên bản mệnh. Nếu muốn nói tới cái đa tình trên đường thì sao đúng phải là Thiên Riêu, và Thiên Riêu thì có bốn tháng sinh vào được tứ sinh để gặp Mã thật.
Sách không nói Thiên Mã đồng cung với Kình Dương
Kình Dương an theo can năm sinh và chỉ có thể đóng ở Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất. Bốn cung tứ sinh nằm ngoài tầm nó, mà tam hợp và xung chiếu của cung tứ sinh cũng đều là cung tứ sinh, nên Kình Dương chỉ có thể đứng kề Thiên Mã. Ai luận "Mã ngộ Kình Dương đồng cung" trên bản mệnh là đã an sai, trừ khi đang nói tới lưu Kình của một năm cụ thể, mà lưu Kình cũng an theo can nên cũng chỉ giáp được thôi. Thầy nêu điều này không phải để bắt bẻ chữ nghĩa, mà vì nó đổi hẳn cách luận: cái nguy của Mã không nằm ở đích đến, nó nằm ở hai bên đường.
Thiên Mã trong Tử Vi không phải sao Thiên Mã trong xem ngày và trong Bát Tự
Chữ Thiên Mã và chữ Dịch Mã xuất hiện trong nhiều môn khác nhau. Trong Bát Tự có Dịch Mã tinh cũng an theo tam hợp chi năm hoặc chi ngày, tính chất gần giống nhưng cách dùng khác hẳn vì Bát Tự luận theo ngũ hành sinh khắc chứ không luận theo cung. Trong lịch xem ngày lại có Thiên Mã của bộ thần sát ngày giờ, dùng để chọn giờ xuất hành, hoàn toàn không dính gì tới lá số suốt đời. Ba thứ trùng tên, không trùng nghĩa. Người đọc bài này chỉ nên áp những điều ở đây vào lá số Tử Vi của mình; muốn xem Dịch Mã trong Bát Tự thì dùng công cụ lập lá số Bát Tự riêng.
Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải
Với Thiên Mã, việc cần làm là hướng sự di chuyển vào nghề và lĩnh vực phù hợp, đồng thời tránh các thế khiến con ngựa bị cản hoặc kiệt sức.
- Chọn nghề có di chuyển. Giao thương, vận tải, du lịch, ngoại giao, xuất ngoại, nghề cần đi lại là nơi Thiên Mã phát huy.
- Tận dụng đi xa và đổi mới. Người có Thiên Mã thường tốt lên khi dám đi, dám đổi chỗ, dám làm cái mới.
- Tìm Lộc đi cùng Mã. Lộc Mã giao trì là cách quý; trong lá số nên xem Mã có gặp Lộc Tồn hay Hóa Lộc không.
- Tránh thế ngựa bị cản. Lưu ý khi Mã gặp Đà La, Tuần Triệt hay đóng ở Hợi; những lúc đó nên thận trọng việc đi lại đầu tư.
- Cân bằng bôn ba và gia đình. Sự dịch chuyển là thế mạnh, nhưng cần thu xếp để giữ ấm tổ ấm.
- Xem cả lá số. Thiên Mã tốt hay xấu gần như hoàn toàn tùy sao đi cùng và vị trí, nên phải luận trong cục diện chung.
Gợi ý: người có Thiên Mã nổi bật nên xem những lần thay đổi và đi xa là cơ hội thay vì xáo trộn; con ngựa được chạy đúng đường thường mang về cơ hội và tài lộc từ nơi xa.
Câu hỏi thường gặp
Thiên Mã là dịch tinh của Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Hỏa, an theo chi năm sinh. Sao này chủ sự di chuyển, đi xa, xuất ngoại, thay cũ đổi mới và mọi việc liên quan tới chân tay, xe cộ, đường sá; ví như con ngựa trong lá số.
Thiên Mã luôn đóng ở một trong bốn cung Tứ Sinh là Dần, Thân, Tỵ, Hợi, theo tam hợp chi năm: Thân Tý Thìn thì Mã ở Dần, Dần Ngọ Tuất thì Mã ở Thân, Tỵ Dậu Sửu thì Mã ở Hợi, Hợi Mão Mùi thì Mã ở Tỵ. Mã đắc địa nhất ở Tỵ và Dần.
Là khi Thiên Mã gặp Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc, đồng cung hay xung chiếu, chủ tài lộc tới từ phương xa, làm ăn xuất ngoại, mọi việc hanh thông. Đây là một trong những cách tài lộc quý gắn với Thiên Mã.
Thiên Mã ngại Đà La (Chiết túc mã, ngựa què), Tuần Triệt án ngữ (Tử mã, ngựa chết), gặp Tuyệt hoặc đóng ở Hợi (cùng đồ mã, hết đường chạy), gặp Thiên Hình (Phù thi mã). Những thế này chủ trở ngại, bại hoại, cần thận trọng.
Người có Thiên Mã thủ Mệnh hay Thân thường tháo vát, nhanh nhẹn, ưa hoạt động, hay đi xa, đa tài, không thích ngồi một chỗ. Họ thường tốt lên khi dám di chuyển, đổi chỗ và làm cái mới, hợp các nghề cần đi lại và giao tiếp.
Vì Thiên Mã an theo tam hợp chi năm sinh: lấy chi đứng đầu tam hợp rồi an Mã vào cung xung chiếu với chi ấy. Bốn chi đứng đầu của bốn tam hợp là Thân, Dần, Tỵ, Hợi, đều là cung tứ sinh, mà cung xung chiếu của một cung tứ sinh cũng là cung tứ sinh. Vì thế Thiên Mã không bao giờ vào được Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất.
Chỉ tuổi Giáp và tuổi Canh, đúng mười hai tuổi trong sáu mươi hoa giáp. Giáp Tý, Giáp Thìn, Giáp Thân có Lộc Tồn và Thiên Mã cùng ở Dần; Canh Dần, Canh Ngọ, Canh Tuất cùng ở Thân; Giáp Dần, Giáp Ngọ, Giáp Tuất và Canh Tý, Canh Thìn, Canh Thân thì Lộc và Mã xung chiếu nhau. Tuổi Bính, Mậu, Nhâm tuy có Lộc Tồn ở cung tứ sinh nhưng luôn lệch Mã ba cung nên không gặp; các tuổi can âm thì Lộc Tồn nằm ngoài tứ sinh. Những tuổi ấy muốn có Lộc đi cùng Mã thì phải trông vào Hóa Lộc của chính tinh đồng cung.
Không. Kình Dương an theo can năm và chỉ đóng được ở Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất, nên nó chỉ có thể đứng kề Thiên Mã theo thế giáp, không bao giờ đồng cung, xung chiếu hay tam hợp. Đào Hoa chỉ đóng ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu và chạy đủ mười hai tuổi chi thì luôn cách Thiên Mã bảy cung, tức không hội theo bất cứ đường nào. Hồng Loan cũng luôn cách Mã ba cung.
Lưu Thiên Mã an giống hệt Mã bản mệnh nhưng lấy chi của năm đang xem: năm Thân, Tý, Thìn thì lưu Mã ở Dần; năm Dần, Ngọ, Tuất ở Thân; năm Tỵ, Dậu, Sửu ở Hợi; năm Hợi, Mão, Mùi ở Tỵ. Năm nào lưu Mã về đúng cung có Thiên Mã bản mệnh thì gọi là Mã chồng Mã, cái chí dời chuyển được nhân đôi. Đáng xem hơn nữa là lưu Mã năm ấy rơi vào cung chức nào của riêng mình và trong cung ấy đang có Lộc hay có sát tinh.