Tử Vi

Sao Thiên Quý: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung

Tìm hiểu sao Thiên Quý trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.

Đạo Quán44 phút đọc

Tổng quan về sao Thiên Quý

Thiên Quý là sao chủ sự quý hiển và lòng nhân, ngũ hành Thổ, đi cặp với Ân Quang. Tên Thiên Quý gợi sự cao quý từ trời, nên sao gắn với phẩm chất tốt đẹp, được kính trọng và đem may mắn.

  • Ngũ hành: Thổ
  • Nhóm: Phụ Tinh Quý Hiển
  • Cách an: Thiên quý an theo văn khúc và ngày sinh, đi cặp với ân quang, hợp thành bộ ân nghĩa và quý hiển
  • Cai quản: thông minh, nhân hậu, quý hiển, cứu khổ
  • Tính chất: Quý hiển, nhân hậu

Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.

Ý nghĩa tại cung Mệnh

  • Thiên Quý đắc thế, có cát tinh nâng: Người có nét đứng đắn, ăn nói ôn tồn, gặp việc thì giữ được tư cách; đi tới đâu cũng dễ được người lớn tuổi hơn để mắt và bênh vực.
  • Thiên Quý thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án: Cái quý chỉ còn ở vẻ ngoài: giữ ý quá hóa rụt rè, sợ mất lòng nên không dám nói thật, được khen nhiều mà được giúp thì ít.

Ý nghĩa ở các cung khác

Đối chiếu ý nghĩa của Thiên Quý với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.

Cung Phụ Mẫu

  • Thiên Quý đắc thế, có cát tinh nâng: Cha mẹ hoặc người nuôi dạy có nếp, có học, dạy bằng lời hơn bằng roi; đường học hành thuở nhỏ được người trên chăm lo tử tế.
  • Thiên Quý thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án: Người trên nghiêm về lễ nghĩa mà ít gần gũi; kỳ vọng nhiều, khen ít, nên đứa con lớn lên hay sợ làm người khác thất vọng.

Cung Phúc Đức

  • Thiên Quý đắc thế, có cát tinh nâng: Trong lòng thường an, biết đủ, hay nghĩ tới việc giúp người; nếp nhà coi trọng chữ nghĩa và ân nghĩa, phúc phần thường ứng qua đời sau.
  • Thiên Quý thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án: Nghĩ nhiều tới cái nhìn của người khác, sống theo mắt người ngoài nên trong lòng không thảnh thơi; hay ân hận vì những chuyện không ai trách mình.

Cung Điền Trạch

  • Thiên Quý đắc thế, có cát tinh nâng: Nhà cửa có nền nếp, chỗ ở yên và sạch, hay giữ được của hương hỏa hoặc sách vở của người trước để lại.
  • Thiên Quý thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án: Nhà cửa nặng về hình thức, sắm sửa cho người ngoài nhìn; hoặc giữ nhà cũ vì tiếc tiếng chứ không vì tiện sống.

Cung Quan Lộc

  • Thiên Quý đắc thế, có cát tinh nâng: Công việc thuộc loại được xã hội coi trọng: dạy học, chữa bệnh, nghiên cứu, luật, hành chính, việc thờ tự; thăng tiến nhờ được cấp trên tin và nhờ tiếng thơm hơn là nhờ tranh giành.
  • Thiên Quý thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án: Có danh mà không có thực quyền, giữ chỗ đẹp mà việc thì người khác quyết; hoặc chọn nghề vì nghe cho sang chứ không vì hợp sức mình.

Cung Nô Bộc

  • Thiên Quý đắc thế, có cát tinh nâng: Bạn bè và người cộng sự thuộc hạng có học, có nghề, chơi với nhau lâu; trong nhóm bạn thường có người vị thế cao hơn mà vẫn quý mình.
  • Thiên Quý thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án: Quan hệ rộng mà nông, toàn chỗ xã giao; lúc cần thì người ta khen mình chứ không đứng ra bảo lãnh cho mình.

Cung Thiên Di

  • Thiên Quý đắc thế, có cát tinh nâng: Ra ngoài được người ta trọng, đi tới vùng lạ vẫn có người đỡ; hợp việc phải đại diện, phải gặp gỡ, phải giữ thể diện cho tổ chức.
  • Thiên Quý thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án: Ra ngoài thì lịch sự với mọi người mà không thân được với ai; tiếng tốt đi trước, tới nơi lại không có ai đứng ra bảo lãnh thật.

Cung Tật Ách

  • Thiên Quý đắc thế, có cát tinh nâng: Bệnh thường được phát hiện sớm, gặp thầy gặp thuốc đúng lúc, có người quen trong ngành y chỉ đường; đây là chỗ nghĩa cứu khổ phò nguy của sách ứng rõ nhất.
  • Thiên Quý thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án: Giấu bệnh vì ngại phiền người khác, chịu đựng cho qua rồi để lâu thành nặng; hoặc quá tin vào một lời khuyên của người quen mà bỏ khám kỹ.

Cung Tài Bạch

  • Thiên Quý đắc thế, có cát tinh nâng: Tiền vào theo đường sạch: lương bổng, thù lao chuyên môn, được trả công vì uy tín; hay có người tin cậy mà giao việc, giao vốn.
  • Thiên Quý thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án: Uy tín thì có mà tiền không theo kịp; cả nể nên hay làm giúp không công, hoặc bị mượn danh mình để người khác kiếm tiền.

Cung Tử Tức

  • Thiên Quý đắc thế, có cát tinh nâng: Con cái ngoan, biết trên biết dưới, đường học có người dìu; nhà thường có một đứa được thầy cô quý riêng.
  • Thiên Quý thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án: Kỳ vọng đặt lên con nặng hơn sức con chịu; con ngoan mà thiếu tự tin, quen được nâng nên ra đời chậm cứng cáp.

Cung Phu Thê

  • Thiên Quý đắc thế, có cát tinh nâng: Bạn đời thuộc mẫu nền nếp, biết cư xử, gia cảnh hoặc học vấn được coi trọng; hôn nhân hay do người quen tử tế mai mối hoặc do môi trường học hành công việc.
  • Thiên Quý thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án: Coi trọng danh giá của mối quan hệ hơn tình cảm bên trong; dễ lấy nhau vì môn đăng hộ đối rồi sống với nhau bằng phép lịch sự.

Cung Huynh Đệ

  • Thiên Quý đắc thế, có cát tinh nâng: Trong anh em có người ăn học tử tế, có tiếng thơm, đứng ra nói giúp được với người ngoài; tình nghĩa giữ được lâu.
  • Thiên Quý thất thế, bị sát tinh lấn hoặc Tuần Triệt án: Anh em quý nhau bằng lời, tới việc cần thì mỗi người một hoàn cảnh; hay có chuyện nể mặt nhau mà giấu chuyện thật.

Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc

Thiên Quý là một trong số rất ít ngôi sao của khoa Tử Vi an theo ngày sinh âm lịch. Phần lớn phụ tinh chỉ ăn một tham số: hoặc can năm, hoặc chi năm, hoặc tháng, hoặc giờ, hoặc Cục. Thiên Quý thì ăn hai tham số một lúc, và đó là lý do khiến nó khó tra hơn mọi phụ tinh cùng hạng. Phép an chép theo Toàn Thư như sau: khởi từ cung có Văn Khúc, kể cung ấy là mồng một, đếm thuận chiều kim đồng hồ cho tới đúng số ngày sinh âm lịch, rồi lùi lại một cung. Cung dừng chân sau khi lùi chính là cung an Thiên Quý. Ân Quang an y hệt, chỉ đổi điểm khởi từ Văn Khúc sang Văn Xương.

Vì đếm thuận rồi lùi một bước nên viết thành công thức rất gọn: Thiên Quý đứng cách Văn Khúc đúng số ngày sinh trừ hai cung, đếm thuận. Người sinh mồng một thì Thiên Quý lùi về cung liền trước Văn Khúc; sinh mồng hai thì Thiên Quý trùng khít cung Văn Khúc; sinh mồng ba thì đứng ngay cung liền sau; và cứ thế đi tới. Sao này không tra được bằng một cột nên khung an sao không lập bảng cho nó, phải tính; Thầy đưa hẳn công thức ra đây để quý vị tự kiểm.

Điểm khởi của phép đếm lại do giờ sinh định ra, vì Văn Khúc an theo giờ sinh, khởi tại cung Thìn cho giờ Tý rồi đi thuận mỗi giờ một cung. Bảng dưới đây cho quý vị bốn điểm mốc của cả nhóm sao ăn giờ sinh, để tra một lần rồi dùng cho cả bài.

Giờ Tý

  • Văn Xương: Tuất
  • Văn Khúc: Thìn
  • Thai Phụ: Ngọ
  • Phong Cáo: Dần

Giờ Sửu

  • Văn Xương: Dậu
  • Văn Khúc: Tỵ
  • Thai Phụ: Mùi
  • Phong Cáo: Mão

Giờ Dần

  • Văn Xương: Thân
  • Văn Khúc: Ngọ
  • Thai Phụ: Thân
  • Phong Cáo: Thìn

Giờ Mão

  • Văn Xương: Mùi
  • Văn Khúc: Mùi
  • Thai Phụ: Dậu
  • Phong Cáo: Tỵ

Giờ Thìn

  • Văn Xương: Ngọ
  • Văn Khúc: Thân
  • Thai Phụ: Tuất
  • Phong Cáo: Ngọ

Giờ Tỵ

  • Văn Xương: Tỵ
  • Văn Khúc: Dậu
  • Thai Phụ: Hợi
  • Phong Cáo: Mùi

Giờ Ngọ

  • Văn Xương: Thìn
  • Văn Khúc: Tuất
  • Thai Phụ: Tý
  • Phong Cáo: Thân

Giờ Mùi

  • Văn Xương: Mão
  • Văn Khúc: Hợi
  • Thai Phụ: Sửu
  • Phong Cáo: Dậu

Giờ Thân

  • Văn Xương: Dần
  • Văn Khúc: Tý
  • Thai Phụ: Dần
  • Phong Cáo: Tuất

Giờ Dậu

  • Văn Xương: Sửu
  • Văn Khúc: Sửu
  • Thai Phụ: Mão
  • Phong Cáo: Hợi

Giờ Tuất

  • Văn Xương: Tý
  • Văn Khúc: Dần
  • Thai Phụ: Thìn
  • Phong Cáo: Tý

Giờ Hợi

  • Văn Xương: Hợi
  • Văn Khúc: Mão
  • Thai Phụ: Tỵ
  • Phong Cáo: Sửu

Có bảng ấy rồi thì việc còn lại chỉ là đếm. Bảng thứ hai dưới đây liệt kê đủ ba mươi ngày của một tháng âm lịch, cột thứ hai là số cung phải đếm thuận từ Văn Khúc, hai cột sau lấy người sinh giờ Sửu làm ví dụ, khi ấy Văn Xương tại Dậu và Văn Khúc tại Tỵ.

Ngày 1

  • Đếm thuận từ Văn Khúc: 11 cung
  • Ví dụ giờ Sửu: Thiên Quý tại: Thìn
  • Ví dụ giờ Sửu: Ân Quang tại: Thân

Ngày 2

  • Đếm thuận từ Văn Khúc: 0 cung
  • Ví dụ giờ Sửu: Thiên Quý tại: Tỵ
  • Ví dụ giờ Sửu: Ân Quang tại: Dậu

Ngày 3

  • Đếm thuận từ Văn Khúc: 1 cung
  • Ví dụ giờ Sửu: Thiên Quý tại: Ngọ
  • Ví dụ giờ Sửu: Ân Quang tại: Tuất

Ngày 4

  • Đếm thuận từ Văn Khúc: 2 cung
  • Ví dụ giờ Sửu: Thiên Quý tại: Mùi
  • Ví dụ giờ Sửu: Ân Quang tại: Hợi

Ngày 5

  • Đếm thuận từ Văn Khúc: 3 cung
  • Ví dụ giờ Sửu: Thiên Quý tại: Thân
  • Ví dụ giờ Sửu: Ân Quang tại: Tý

Ngày 6

  • Đếm thuận từ Văn Khúc: 4 cung
  • Ví dụ giờ Sửu: Thiên Quý tại: Dậu
  • Ví dụ giờ Sửu: Ân Quang tại: Sửu

Ngày 7

  • Đếm thuận từ Văn Khúc: 5 cung
  • Ví dụ giờ Sửu: Thiên Quý tại: Tuất
  • Ví dụ giờ Sửu: Ân Quang tại: Dần

Ngày 8

  • Đếm thuận từ Văn Khúc: 6 cung
  • Ví dụ giờ Sửu: Thiên Quý tại: Hợi
  • Ví dụ giờ Sửu: Ân Quang tại: Mão

Ngày 9

  • Đếm thuận từ Văn Khúc: 7 cung
  • Ví dụ giờ Sửu: Thiên Quý tại: Tý
  • Ví dụ giờ Sửu: Ân Quang tại: Thìn

Ngày 10

  • Đếm thuận từ Văn Khúc: 8 cung
  • Ví dụ giờ Sửu: Thiên Quý tại: Sửu
  • Ví dụ giờ Sửu: Ân Quang tại: Tỵ

Ngày 11

  • Đếm thuận từ Văn Khúc: 9 cung
  • Ví dụ giờ Sửu: Thiên Quý tại: Dần
  • Ví dụ giờ Sửu: Ân Quang tại: Ngọ

Ngày 12

  • Đếm thuận từ Văn Khúc: 10 cung
  • Ví dụ giờ Sửu: Thiên Quý tại: Mão
  • Ví dụ giờ Sửu: Ân Quang tại: Mùi

Ngày 13

  • Đếm thuận từ Văn Khúc: 11 cung
  • Ví dụ giờ Sửu: Thiên Quý tại: Thìn
  • Ví dụ giờ Sửu: Ân Quang tại: Thân

Ngày 14

  • Đếm thuận từ Văn Khúc: 0 cung
  • Ví dụ giờ Sửu: Thiên Quý tại: Tỵ
  • Ví dụ giờ Sửu: Ân Quang tại: Dậu

Ngày 15

  • Đếm thuận từ Văn Khúc: 1 cung
  • Ví dụ giờ Sửu: Thiên Quý tại: Ngọ
  • Ví dụ giờ Sửu: Ân Quang tại: Tuất

Ngày 16

  • Đếm thuận từ Văn Khúc: 2 cung
  • Ví dụ giờ Sửu: Thiên Quý tại: Mùi
  • Ví dụ giờ Sửu: Ân Quang tại: Hợi

Ngày 17

  • Đếm thuận từ Văn Khúc: 3 cung
  • Ví dụ giờ Sửu: Thiên Quý tại: Thân
  • Ví dụ giờ Sửu: Ân Quang tại: Tý

Ngày 18

  • Đếm thuận từ Văn Khúc: 4 cung
  • Ví dụ giờ Sửu: Thiên Quý tại: Dậu
  • Ví dụ giờ Sửu: Ân Quang tại: Sửu

Ngày 19

  • Đếm thuận từ Văn Khúc: 5 cung
  • Ví dụ giờ Sửu: Thiên Quý tại: Tuất
  • Ví dụ giờ Sửu: Ân Quang tại: Dần

Ngày 20

  • Đếm thuận từ Văn Khúc: 6 cung
  • Ví dụ giờ Sửu: Thiên Quý tại: Hợi
  • Ví dụ giờ Sửu: Ân Quang tại: Mão

Ngày 21

  • Đếm thuận từ Văn Khúc: 7 cung
  • Ví dụ giờ Sửu: Thiên Quý tại: Tý
  • Ví dụ giờ Sửu: Ân Quang tại: Thìn

Ngày 22

  • Đếm thuận từ Văn Khúc: 8 cung
  • Ví dụ giờ Sửu: Thiên Quý tại: Sửu
  • Ví dụ giờ Sửu: Ân Quang tại: Tỵ

Ngày 23

  • Đếm thuận từ Văn Khúc: 9 cung
  • Ví dụ giờ Sửu: Thiên Quý tại: Dần
  • Ví dụ giờ Sửu: Ân Quang tại: Ngọ

Ngày 24

  • Đếm thuận từ Văn Khúc: 10 cung
  • Ví dụ giờ Sửu: Thiên Quý tại: Mão
  • Ví dụ giờ Sửu: Ân Quang tại: Mùi

Ngày 25

  • Đếm thuận từ Văn Khúc: 11 cung
  • Ví dụ giờ Sửu: Thiên Quý tại: Thìn
  • Ví dụ giờ Sửu: Ân Quang tại: Thân

Ngày 26

  • Đếm thuận từ Văn Khúc: 0 cung
  • Ví dụ giờ Sửu: Thiên Quý tại: Tỵ
  • Ví dụ giờ Sửu: Ân Quang tại: Dậu

Ngày 27

  • Đếm thuận từ Văn Khúc: 1 cung
  • Ví dụ giờ Sửu: Thiên Quý tại: Ngọ
  • Ví dụ giờ Sửu: Ân Quang tại: Tuất

Ngày 28

  • Đếm thuận từ Văn Khúc: 2 cung
  • Ví dụ giờ Sửu: Thiên Quý tại: Mùi
  • Ví dụ giờ Sửu: Ân Quang tại: Hợi

Ngày 29

  • Đếm thuận từ Văn Khúc: 3 cung
  • Ví dụ giờ Sửu: Thiên Quý tại: Thân
  • Ví dụ giờ Sửu: Ân Quang tại: Tý

Ngày 30

  • Đếm thuận từ Văn Khúc: 4 cung
  • Ví dụ giờ Sửu: Thiên Quý tại: Dậu
  • Ví dụ giờ Sửu: Ân Quang tại: Sửu

Sáu điều bất biến của Thiên Quý

  • Thiên Quý an được cả mười hai cung, không cung nào bị cấm. Với một giờ sinh bất kỳ, ba mươi ngày của tháng âm lịch đủ đưa Thiên Quý đi hết một vòng địa bàn rồi lặp lại. Vì thế không có cung nào Thiên Quý không bao giờ tới, và cũng không có chính tinh nào vĩnh viễn không thể đồng cung với nó: chạy đủ mười hai thế Tử Vi cho từng vị trí thì cả mười bốn chính tinh đều có thể đứng cùng, và cung ấy cũng có thể trống.
  • Quan hệ của Thiên Quý với Văn Khúc chỉ do ngày sinh quyết định, không dính gì tới giờ sinh. Đổi giờ sinh thì Văn Khúc dời, mà Thiên Quý dời theo đúng bấy nhiêu bước, nên khoảng cách giữa hai sao đứng yên. Cụ thể: Thiên Quý đồng cung Văn Khúc khi sinh ngày 2, ngày 14 hoặc ngày 26; xung chiếu Văn Khúc khi sinh ngày 8, 20; tam hợp Văn Khúc khi sinh ngày 6, 10, 18, 22, 30. Đây là điều tính được chắc chắn cho mọi lá số.
  • Quan hệ của Thiên Quý với Ân Quang thì ngược lại, chỉ do giờ sinh quyết định, không dính gì tới ngày sinh. Lý do cùng một kiểu: đổi ngày thì cả hai sao cùng bước thêm bấy nhiêu cung nên khoảng cách không đổi; khoảng cách ấy đúng bằng khoảng cách từ Văn Xương tới Văn Khúc, mà hai sao văn tinh này lại an theo giờ. Đây là phát hiện quan trọng nhất của cả bài, mục sau sẽ mổ kỹ.
  • Ân Quang và Thiên Quý luôn đóng ở hai cung cùng tính âm dương. Khoảng cách giữa Văn Xương và Văn Khúc luôn là số chẵn với cả mười hai giờ sinh, nên khoảng cách giữa Ân Quang và Thiên Quý cũng luôn chẵn. Hệ quả: nếu Thiên Quý đóng ở cung dương là Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất thì Ân Quang chắc chắn cũng ở một trong sáu cung dương ấy; nếu Thiên Quý ở cung âm là Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi thì Ân Quang cũng ở cung âm. Cặp sao này không bao giờ đứng lệch âm dương.
  • Thiên Quý cách Địa Kiếp một khoảng cố định do ngày sinh định ra. Địa Kiếp cũng an theo giờ sinh, đi thuận từ cung Hợi, nên khi đổi giờ thì Địa Kiếp và Thiên Quý dời cùng nhịp. Kiểm bằng máy thì Thiên Quý cách Địa Kiếp đúng số ngày sinh trừ chín cung, đếm thuận, đúng với cả mười hai giờ sinh. Người sinh ngày 9 hoặc ngày 21 thì Thiên Quý và Địa Kiếp vĩnh viễn đồng cung, dù sinh giờ nào. Đây là chi tiết đáng để ý vì nó ghép một cát tinh nhỏ với một trong hai sao nặng nhất của lá số.
  • Quan hệ với Địa Không thì không cố định. Địa Không an nghịch theo giờ, đi ngược chiều với Văn Khúc, nên khoảng cách Thiên Quý với Địa Không thay đổi theo cả giờ lẫn ngày. Không có kết luận bất biến nào ở đây, và Thầy ghi rõ ra để quý vị đừng suy diễn thêm.

Thiên Quý với Thai Phụ và Phong Cáo

Thai Phụ và Phong Cáo cũng lấy Văn Khúc làm gốc, Thai Phụ đứng cách Văn Khúc hai cung thuận, Phong Cáo cách hai cung nghịch. Vì cả ba sao cùng neo vào một điểm nên quan hệ giữa Thiên Quý với hai sao ấy cũng chỉ do ngày sinh quyết định, kiểm bằng máy thì đúng với mọi giờ sinh: Thiên Quý đồng cung Thai Phụ khi sinh ngày 4, ngày 16, ngày 28; đồng cung Phong Cáo khi sinh ngày 12 hoặc ngày 24. Người sinh đúng những ngày ấy có một cung mang cả sao quý hiển lẫn sao bằng sắc, và cung ấy đáng đọc kỹ khi luận đường học hành, thi cử, chức phận.

Cách An Và Vị Trí Của Thiên Quý Trong Lá Số

Thiên Quý an theo Văn Khúc và ngày sinh, đi cặp với Ân Quang, hợp thành bộ ân nghĩa và quý hiển.

Vì là phụ tinh, Thiên Quý làm rõ hoặc tô đậm tính chất của chính tinh đồng cung và của cung nó tọa thủ, chứ không tự quyết định cục diện một mình.

Đặc Tính Và Ý Nghĩa Theo Thư Tịch

Theo Tân Biên, Thiên Quý cùng Ân Quang chủ sự thông minh, vui vẻ, ôn hòa, trọng ân nghĩa, nhân hậu, từ thiện, cứu khổ phò nguy, giải trừ bệnh tật tai họa, đem nhiều may mắn, và chế được tính hoa nguyệt dâm đãng của Đào, Hồng. Gặp Sát tinh thì vô hại.

Thiên Quý là cát tinh phụ trợ, tăng phẩm chất và quý khí cho cung nó đóng. Đi cùng Ân Quang và các sao quý thì sự được nể trọng, được giúp đỡ càng rõ.

Quan Hệ Cố Định Với Nhóm Sao Cùng Gốc Văn Khúc

Thiên Quý không thuộc vòng sao nào. Bốn vòng lớn của Tử Vi là vòng Thái Tuế đếm theo chi năm sinh, vòng Bác Sĩ đếm theo Lộc Tồn tức theo can năm sinh, vòng Tràng Sinh đếm theo Cục, và vòng thần sát tam hợp đếm theo tam hợp chi năm. Thiên Quý không có tên trong bất kỳ vòng nào trong bốn vòng ấy, nên mục này không nói về vòng mà nói về nhóm sao cùng gốc: những ngôi sao lấy Văn Xương và Văn Khúc làm điểm khởi, hoặc cùng an theo giờ sinh, vì chỉ với chúng thì khoảng cách mới cố định và mới nói được điều gì chắc chắn.

Cặp Ân Quang Thiên Quý: khoảng cách do giờ sinh khóa lại

Sách xếp Ân Quang và Thiên Quý thành một cặp, gọi là bộ ân nghĩa và quý hiển, hai sao cùng chủ sự thông minh, ôn hòa, trọng ân nghĩa, nhân hậu, cứu khổ phò nguy. Cách gọi ấy đúng về tính chất. Nhưng nếu hiểu chữ cặp theo nghĩa hai sao luôn đi liền nhau thì lại sai, và sai vì lý do cấu trúc chứ không phải vì lý do luận giải.

Chạy đủ mười hai giờ sinh nhân ba mươi ngày sinh, tức ba trăm sáu mươi trường hợp, bằng thuật toán an sao, kết quả rất sạch: khoảng cách giữa Ân Quang và Thiên Quý hoàn toàn không phụ thuộc ngày sinh. Lý do đã nói ở mục trước: đổi ngày thì cả hai sao cùng bước thêm bấy nhiêu cung, hiệu số đứng yên. Cái quyết định khoảng cách là hiệu số giữa cung Văn Xương và cung Văn Khúc, mà hai sao ấy an theo giờ. Bảng dưới đây là kết luận đầy đủ, tra một lần dùng cho mọi lá số.

Giờ Tý

  • Văn Xương tại: Tuất
  • Văn Khúc tại: Thìn
  • Thiên Quý cách Ân Quang: 6 cung
  • Quan hệ cố định của cặp: Xung chiếu, hai sao nhìn thẳng nhau qua trục

Giờ Sửu

  • Văn Xương tại: Dậu
  • Văn Khúc tại: Tỵ
  • Thiên Quý cách Ân Quang: 8 cung
  • Quan hệ cố định của cặp: Tam hợp chiếu, hai sao cùng một tam giác

Giờ Dần

  • Văn Xương tại: Thân
  • Văn Khúc tại: Ngọ
  • Thiên Quý cách Ân Quang: 10 cung
  • Quan hệ cố định của cặp: Cách hai cung, không hội chiếu bằng đường nào

Giờ Mão

  • Văn Xương tại: Mùi
  • Văn Khúc tại: Mùi
  • Thiên Quý cách Ân Quang: 0 cung
  • Quan hệ cố định của cặp: Đồng cung, hai sao trùng khít một cung

Giờ Thìn

  • Văn Xương tại: Ngọ
  • Văn Khúc tại: Thân
  • Thiên Quý cách Ân Quang: 2 cung
  • Quan hệ cố định của cặp: Cách hai cung, không hội chiếu bằng đường nào

Giờ Tỵ

  • Văn Xương tại: Tỵ
  • Văn Khúc tại: Dậu
  • Thiên Quý cách Ân Quang: 4 cung
  • Quan hệ cố định của cặp: Tam hợp chiếu, hai sao cùng một tam giác

Giờ Ngọ

  • Văn Xương tại: Thìn
  • Văn Khúc tại: Tuất
  • Thiên Quý cách Ân Quang: 6 cung
  • Quan hệ cố định của cặp: Xung chiếu, hai sao nhìn thẳng nhau qua trục

Giờ Mùi

  • Văn Xương tại: Mão
  • Văn Khúc tại: Hợi
  • Thiên Quý cách Ân Quang: 8 cung
  • Quan hệ cố định của cặp: Tam hợp chiếu, hai sao cùng một tam giác

Giờ Thân

  • Văn Xương tại: Dần
  • Văn Khúc tại: Tý
  • Thiên Quý cách Ân Quang: 10 cung
  • Quan hệ cố định của cặp: Cách hai cung, không hội chiếu bằng đường nào

Giờ Dậu

  • Văn Xương tại: Sửu
  • Văn Khúc tại: Sửu
  • Thiên Quý cách Ân Quang: 0 cung
  • Quan hệ cố định của cặp: Đồng cung, hai sao trùng khít một cung

Giờ Tuất

  • Văn Xương tại: Tý
  • Văn Khúc tại: Dần
  • Thiên Quý cách Ân Quang: 2 cung
  • Quan hệ cố định của cặp: Cách hai cung, không hội chiếu bằng đường nào

Giờ Hợi

  • Văn Xương tại: Hợi
  • Văn Khúc tại: Mão
  • Thiên Quý cách Ân Quang: 4 cung
  • Quan hệ cố định của cặp: Tam hợp chiếu, hai sao cùng một tam giác

Đọc bảng thì thấy bốn nhóm giờ sinh cho bốn kiểu cặp khác hẳn nhau:

  • Giờ Mão và giờ Dậu: hai sao đồng cung. Văn Xương với Văn Khúc trùng khít tại Mùi hoặc tại Sửu, kéo theo Ân Quang với Thiên Quý cũng trùng khít. Đây là hai giờ sinh duy nhất cho ra một cung mang trọn cặp.
  • Giờ Tý và giờ Ngọ: hai sao xung chiếu, đứng hai đầu một trục, vẫn là hội chiếu, lực chỉ kém đồng cung.
  • Giờ Sửu, Tỵ, Mùi, Hợi: hai sao tam hợp chiếu, có mặt trong tam phương của nhau, ảnh hưởng nhẹ hơn nhưng vẫn thật.
  • Giờ Dần, Thìn, Thân, Tuất: hai sao cách nhau đúng hai cung. Cách hai cung không phải đồng cung, không phải xung chiếu, không phải tam hợp, cũng không phải giáp. Nói thẳng ra là hai sao không có quan hệ hội chiếu nào với nhau. Một phần ba số người sinh trong ngày rơi vào nhóm này, và với họ thì cặp Ân Quang Thiên Quý không tồn tại như một cặp, chỉ là hai ngôi sao lẻ đóng ở hai chỗ.

Thầy nhấn mạnh điều cuối vì nó đổi hẳn cách luận. Khi thấy Thiên Quý trên lá số, việc đầu tiên phải làm là hỏi giờ sinh, rồi tra bảng trên để biết Ân Quang có chiếu tới hay không. Nếu có thì đọc cả cặp, nghĩa quý hiển và ân nghĩa mới đủ dày. Nếu không thì đọc Thiên Quý một mình, và phải hạ bớt kỳ vọng xuống, vì một cát tinh nhỏ đứng lẻ thì lực rất mỏng. Rất nhiều bài viết cứ mặc định hai sao đi liền, rồi luận cho người ta một bộ sao mà lá số họ không có.

Thiên Quý với Văn Khúc, Thai Phụ, Phong Cáo và Địa Kiếp

Bốn ngôi sao này neo cùng một điểm với Thiên Quý theo giờ sinh, nên quan hệ với chúng chỉ còn phụ thuộc ngày sinh, và tính được chắc chắn. Ghi lại thành bốn dòng để quý vị tra:

Văn Khúc

  • Khoảng cách so với Thiên Quý: Thiên Quý đứng sau Văn Khúc đúng số ngày sinh trừ hai cung
  • Ngày sinh làm hai sao đồng cung: Ngày 2, ngày 14, ngày 26

Thai Phụ

  • Khoảng cách so với Thiên Quý: Thiên Quý đứng sau Thai Phụ đúng số ngày sinh trừ bốn cung
  • Ngày sinh làm hai sao đồng cung: Ngày 4, ngày 16, ngày 28

Phong Cáo

  • Khoảng cách so với Thiên Quý: Thiên Quý đứng sau Phong Cáo đúng số ngày sinh
  • Ngày sinh làm hai sao đồng cung: Ngày 12, ngày 24

Địa Kiếp

  • Khoảng cách so với Thiên Quý: Thiên Quý đứng sau Địa Kiếp đúng số ngày sinh trừ chín cung
  • Ngày sinh làm hai sao đồng cung: Ngày 9, ngày 21

Văn Xương, Ân Quang, Địa Không

  • Khoảng cách so với Thiên Quý: Không cố định, đổi theo cả giờ lẫn ngày
  • Ngày sinh làm hai sao đồng cung: Sách không nói, máy cũng không cho kết luận bất biến

Dòng cuối cùng của bảng là dòng Thầy muốn quý vị nhớ nhất, vì nó chặn một lối suy diễn hay gặp. Có người thấy Thiên Quý an từ Văn Khúc rồi kết luận Thiên Quý luôn đi với Văn Khúc, hoặc thấy Ân Quang an từ Văn Xương rồi kết luận Ân Quang luôn đi với Văn Xương. Cả hai đều sai: điểm khởi của phép đếm không phải là chỗ dừng của phép đếm. Chỉ có ba ngày trong một tháng làm Thiên Quý trùng cung Văn Khúc, hai mươi bảy ngày còn lại thì không.

Thiên Quý không nằm trong bảng Tứ Hóa, vậy đọc thế nào khi cùng cung với một chính tinh đang hóa

Bảng Tứ Hóa theo can năm sinh chỉ gọi tên mười bốn chính tinh cùng bốn phụ tinh là Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, và ở bản Bắc phái thì thêm Thiên Phủ. Thiên Quý không có tên trong bảng ấy ở cả hai phái, nên nó không bao giờ tự hóa Lộc, hóa Quyền, hóa Khoa hay hóa Kỵ. Điều này đúng với mọi tuổi can, không có ngoại lệ.

Nhưng nó vẫn chịu ảnh hưởng của Tứ Hóa theo bốn lối, và bốn lối ấy khác nhau rõ:

  • Hóa Lộc đồng cung: cái quý hiển ra được thành kết quả cụ thể, người ta không chỉ quý mến mà còn mở đường, giới thiệu, trao việc.
  • Hóa Quyền đồng cung: quý khí đi kèm chức phận, được nể vì vừa có uy vừa có tiếng hiền; phải giữ để cái uy không lấn mất cái hiền.
  • Hóa Khoa đồng cung: thế hợp nhất về tính chất, vì Hóa Khoa chủ danh thơm và cứu giải, cùng hướng với quý hiển và lòng nhân. Có thêm Ân Quang chiếu tới thì nghĩa được người trên nâng đỡ hiện rõ nhất trong cả lá số.
  • Hóa Kỵ đồng cung: Thiên Quý không gỡ được nút Kỵ, chỉ giúp giữ được tư cách trong lúc vướng. Đừng vì thấy một cát tinh nhỏ mà nói nhẹ đi một cung có Hóa Kỵ; nợ vẫn phải trả, việc vẫn phải theo.

Có một trường hợp riêng đáng nói vì nó dính thẳng vào cơ chế an sao của Thiên Quý. Tuổi Tân thì Văn Khúc hóa Khoa, tuổi Kỷ thì Văn Khúc hóa Kỵ. Văn Khúc chính là điểm khởi để đếm ra Thiên Quý, nên với hai tuổi ấy, cái mốc gốc của phép an sao lại đang mang một hóa. Điều này không làm Thiên Quý hóa theo, vị trí của Thiên Quý cũng không xê dịch một ly, vì phép an sao chỉ mượn cung của Văn Khúc làm chỗ đếm chứ không mượn tính chất của nó. Nhưng khi luận thì đáng ghi nhận: người tuổi Tân sinh ngày 2, ngày 14 hoặc ngày 26 sẽ có Thiên Quý ngồi chung cung với Văn Khúc hóa Khoa, một thế rất đẹp cho đường học hành và danh tiếng; ngược lại người tuổi Kỷ sinh đúng những ngày ấy thì Thiên Quý ngồi chung với Văn Khúc hóa Kỵ, quý khí có mà hay bị hiểu lầm, hay vướng chuyện giấy tờ và lời nói.

Vì sao đọc Thiên Quý phải đọc cả nhóm

Một phụ tinh nhỏ như Thiên Quý gần như không nói được gì nếu tách khỏi nhóm của nó. Thầy luận thì đi ba bước theo đúng thứ tự: hỏi giờ sinh để biết cặp Ân Quang Thiên Quý có thành cặp hay không; hỏi ngày sinh để biết Thiên Quý cách Văn Khúc bao xa, có ngồi chung Thai Phụ, Phong Cáo hay Địa Kiếp không; sau cùng mới nhìn chính tinh của cung ấy sáng hay hãm, đang mang hóa gì. Nhảy thẳng vào bước ba là lối luận của người chỉ nhìn tên sao.

Hội Họp Các Sao Và Ý Nghĩa Sơ Lược Tại Cung

Thiên Quý phối với các sao cho kết quả tốt lành:

Ân Quang

  • Ý nghĩa kết hợp: Cặp Ân Quang Thiên Quý, tăng quý khí, may mắn.

Khôi, Việt

  • Ý nghĩa kết hợp: Quý nhân phù trợ, cứu khổ phò nguy.

Văn Xương, Văn Khúc

  • Ý nghĩa kết hợp: Tăng phẩm chất, lợi khoa bảng.

Sát tinh

  • Ý nghĩa kết hợp: Vô hại, vẫn giữ được phúc.

Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế

Trước khi đọc hai cột dưới đây, xin nhớ quy tắc về lực, vì cùng một ngôi sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho hai kết quả khác nhau. Đồng cung mạnh nhất, hai sao ngồi chung thì tính chất trộn hẳn vào nhau. Xung chiếu mạnh nhì, cung đối diện chiếu thẳng sang, thấy rõ mà không trộn. Tam hợp chiếu nhẹ hơn, có ảnh hưởng mà không quyết định. Giáp là thế bao vây, hai cung hai bên kẹp lại, nghĩa thường hiện ra như một sức ép nền chứ không như một sự việc. Riêng với Thiên Quý thì cấu trúc đã khóa sẵn vài thế: Ân Quang chỉ có thể đồng cung, xung chiếu, tam hợp hoặc không hội chiếu, tùy giờ sinh và không có thế giáp; Văn Khúc, Thai Phụ, Phong Cáo và Địa Kiếp thì vị thế do ngày sinh định, tra bảng ở mục trên là biết. Đừng đi tìm những thế không tồn tại.

Thiên Quý phát huy được khi gặp

  • Ân Quang (đồng cung mạnh nhất khi sinh giờ Mão hoặc Dậu, xung chiếu khi giờ Tý hoặc Ngọ, tam hợp khi giờ Sửu, Tỵ, Mùi, Hợi): trọn cặp ân nghĩa và quý hiển, đây là điều kiện quan trọng nhất của sao này. Bốn giờ còn lại thì không có thế nào cả, phải đọc Thiên Quý một mình.
  • Hóa Khoa (đồng cung mạnh nhất, xung và tam hợp vẫn có tác dụng): cùng hướng danh thơm và cứu giải, hai cái cộng vào nhau rất thuận. Đây là ngôi sao hợp với Thiên Quý nhất trong cả lá số.
  • Thiên Khôi, Thiên Việt (đồng cung hoặc chiếu, an theo can năm nên không cố định): Khôi Việt chỉ ra người đỡ đầu có thật, Thiên Quý cho biết người này đáng được đỡ. Hai sao trả lời hai câu hỏi khác nhau, ghép lại thì nghĩa quý nhân mới trọn.
  • Văn Xương, Văn Khúc (đồng cung hoặc chiếu, an theo giờ sinh): thêm phần chữ nghĩa và thi cử cho một sao vốn chỉ chủ phẩm chất. Nhớ rằng Thiên Quý chỉ đồng cung Văn Khúc khi sinh ngày 2, 14 hoặc 26.
  • Thai Phụ, Phong Cáo (đồng cung khi sinh ngày 4, 16, 28 với Thai Phụ và ngày 12, 24 với Phong Cáo): quý khí gặp bằng sắc, hợp cho đường khoa danh và chức phận, nhất là khi cung ấy lại là Quan Lộc.
  • Long Trì, Phượng Các (đồng cung hoặc chiếu, an theo chi năm): cùng nhóm sao chủ sự được ghi nhận, hợp khi luận thi cử và tiếng tăm.
  • Chính tinh miếu vượng (đồng cung): điều kiện quan trọng hơn mọi cát tinh phụ. Thiên Đồng, Thiên Lương, Thiên Phủ, Thái Âm, Thiên Tướng sáng mà thêm Thiên Quý thì nét nhân hậu hiện rõ; chính tinh yếu thì cát tinh nhỏ không nâng nổi.
  • Đào Hoa, Hồng Loan (đồng cung hoặc chiếu): sách chép Ân Quang Thiên Quý chế được tính hoa nguyệt của Đào Hồng, tức làm cho cái đa tình giữ được chừng mực và giữ được tư cách. Đây là một trong ít câu nói thẳng về công dụng của sao này.

Thiên Quý mất tác dụng khi gặp

  • Tuần, Triệt án ngữ (chỉ có thế án ngay cung): che luôn phần quý khí, đây là thế bất lợi rõ nhất cho một cát tinh nhỏ. Khác hẳn với hung tinh, nơi Tuần Triệt lại có ích.
  • Hóa Kỵ của chính tinh đồng cung (đồng cung nặng nhất): Thiên Quý không gỡ được nút Kỵ, chỉ giúp người ta giữ được tư cách trong lúc vướng. Riêng tuổi Kỷ thì Văn Khúc hóa Kỵ, người tuổi Kỷ sinh ngày 2, 14 hoặc 26 sẽ có Thiên Quý ngồi ngay cạnh cái Kỵ ấy.
  • Từ hai sát tinh trở lên trong cùng cung (đồng cung, cộng dồn): Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp. Sách chép Thiên Quý gặp sát tinh thì vô hại, nghĩa là bản thân nó không hóa dữ, chứ không có nghĩa là nó hóa giải được sát tinh. Một sao đứng yên giữa đám đông không phải là một sao chỉ huy đám đông.
  • Địa Kiếp đồng cung (đồng cung, xảy ra với mọi người sinh ngày 9 hoặc ngày 21, bất kể giờ nào): quý khí bị bào mòn, việc tốt hay hỏng vào phút chót, lòng tốt hay bị dùng sai chỗ. Đây là thế cố định do phép an sao, không tránh được, chỉ có thể biết trước mà giữ.
  • Thiên Hình, Thiên Riêu nặng ở cùng cung (đồng cung): một bên chủ hình khắc, một bên chủ tình riêng và điều tiếng, cả hai đều làm hỏng cái nghĩa đoan chính của Thiên Quý.
  • Chính tinh hãm địa đồng cung: cát tinh nhỏ không nâng nổi một chính tinh đang yếu, chỉ làm cái yếu ấy bớt thô.
  • Bốn giờ sinh Dần, Thìn, Thân, Tuất (thế không hội chiếu, không tránh được): Ân Quang cách Thiên Quý đúng hai cung nên cặp không thành cặp. Không phải điều xấu, chỉ là điều phải biết để đừng luận thừa.
  • Lòng trông cậy của chính người đọc: đây không phải một ngôi sao, nhưng Thầy xếp vào cột này vì nó gây hại thật. Thấy Thiên Quý rồi ngồi chờ quý nhân tới là cách nhanh nhất biến một nét đẹp của tính cách thành một cái cớ để không cố gắng.

Tóm lại, Thiên Quý là phụ tinh: đi với chính tinh và cát tinh hợp cách thì phát huy mặt hay, gặp sát tinh và hung cách thì lộ mặt yếu. Luôn xét cả lá số.

Thiên Quý Trong Đại Vận Và Lưu Niên

Trước hết phải nói cho rõ một điều mà rất nhiều trang viết lướt qua: Thiên Quý không có bản lưu niên. Trong khoa Tử Vi, chỉ những sao an theo can hoặc chi năm sinh mới có bản lưu tính lại theo can chi của năm đang xem, chẳng hạn lưu Thái Tuế, lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ theo chi năm, hay lưu Lộc Tồn, lưu Kình Dương, lưu Đà La theo can năm. Thiên Quý an theo ngày sinh và giờ sinh, mà một năm dương lịch thì không có ngày sinh cũng không có giờ sinh, nên không có cách nào lập ra một lưu Thiên Quý. Cùng lý ấy, Ân Quang, Thai Phụ, Phong Cáo, Văn Xương Văn Khúc bản mệnh, Tả Phụ Hữu Bật, Thiên Hình Thiên Riêu, cả vòng Tràng Sinh cũng đều không có bản lưu. Ai đưa cho quý vị một bảng lưu Thiên Quý thì đó là chế thêm, không phải phép cũ.

Vậy Thiên Quý dự phần vào chiều thời gian bằng cách nào. Bằng đúng một cách: nó nằm yên tại cung của lá số gốc và chờ vận chạy tới. Có ba loại vận chạm tới nó.

Đại vận đi vào cung có Thiên Quý

Mười năm ấy, cái nét quý hiển vốn nằm im trong tính cách được đưa ra ánh sáng. Trên lá số thật, Thầy hay thấy ba dạng ứng nghiệm: được người trên để mắt, có thầy nhận dạy hoặc cấp trên cất nhắc; được giao việc cần tư cách, phải giữ tiền, giữ hồ sơ, đứng tên, hòa giải cho người khác; và tiếng thơm bắt đầu sinh lợi, cái mà mười năm trước chỉ là được quý mến thì nay thành mối làm ăn, thành học trò, thành chỗ đứng.

Nhưng phải xét đủ ba điều kiện trước khi kết luận một đại vận như vậy là đại vận tốt. Điều kiện một, chính tinh của cung đại vận ấy sáng hay hãm; Thiên Quý không đổi được cục diện, nó chỉ nhuộm màu. Điều kiện hai, tam phương của cung đại vận có Ân Quang chiếu tới không, tức giờ sinh có thuộc tám giờ làm cặp thành cặp không. Điều kiện ba, cung đại vận có bị Tuần Triệt án ngữ hoặc có từ hai sát tinh trở lên không; nếu có thì mười năm ấy nghĩa quý hiển gần như không hiện, người ta vẫn quý mình mà việc thì vẫn phải tự xoay.

Một đại vận đi vào cung xung chiếu với cung có Thiên Quý cũng đáng đọc, vì cung ấy hứng trọn cái chiếu về, thường ứng ra chuyện phải giữ thể diện: đứng ra nói giúp người khác, nhận trách nhiệm thay, hoặc phải bảo vệ tiếng tăm của mình trước một hiểu lầm.

Lưu niên: những lưu sao chạm vào cung có Thiên Quý

Vì bản thân sao không lưu, việc phải làm mỗi năm là nhìn xem năm ấy có lưu sao nào rơi vào cung có Thiên Quý hay không. Bốn nhóm đáng để ý:

  • Lưu Thái Tuế, tức cung mang tên chi của năm đang xem. Năm nào lưu Thái Tuế đè đúng cung có Thiên Quý thì năm ấy chuyện được nhờ vả, được nhắc tên, được mời đứng ra thường nổi lên rõ. Chẳng hạn năm 2026 Bính Ngọ thì lưu Thái Tuế tại Ngọ, người nào có Thiên Quý đóng tại Ngọ sẽ gặp loại năm này.
  • Lưu Kình Dương và lưu Đà La, tính từ lưu Lộc Tồn theo can của năm đang xem, hai sao kẹp hai bên. Năm nào một trong hai sao ấy rơi vào cung có Thiên Quý thì quý khí bị cấn: việc đáng lẽ suôn thì thành có tranh chấp, lòng tốt bị hiểu lệch, hoặc giúp người rồi mang tiếng.
  • Lưu Tang Môn và lưu Bạch Hổ, tính theo chi năm. Rơi vào cung có Thiên Quý thì thường ứng ra việc tang lễ, việc thăm nom, việc phải đứng ra lo cho người khác. Với một sao chủ ân nghĩa thì đây không hẳn là chuyện dữ, mà là chuyện phải trả nghĩa.
  • Hóa Kỵ của năm, tức chính tinh nào hóa Kỵ theo can năm đang xem và cung nó đóng. Rơi vào cung có Thiên Quý thì năm ấy dễ vướng chuyện tiếng tăm và giấy tờ; nghĩa cứu giải của sao chỉ đủ giữ cho chuyện không đi tới chỗ mất mặt, không đủ để tránh cái vướng.

Thầy nói thêm một câu cho công bằng. Trong mười mấy năm luận số, Thầy chưa từng gặp một ca nào mà Thiên Quý một mình làm nên chuyện của một năm. Nó luôn là lớp nền: cùng một năm có Hóa Kỵ đè, người có Thiên Quý ở cung ấy thường xử lý êm hơn, giữ được quan hệ, ít khi đi tới chỗ cắt đứt. Chừng ấy thôi, mà chừng ấy cũng đủ đáng ghi nhận, miễn là quý vị không đòi hỏi ở nó nhiều hơn.

Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Thiên Quý

Trước hết xin đặt lại đúng tầm vóc của ngôi sao này. Thiên Quý là một phụ tinh nhỏ, sách xếp vào loại cát tinh phụ trợ, không thuộc bộ lục cát tinh, không thuộc vòng sao nào, không có tên trong bảng Tứ Hóa, không có bảng miếu vượng đắc hãm mười hai cung riêng, và cũng không có câu phú riêng trong Tân Biên hay Toàn Thư. Mọi điều nói được về nó đều là điều nói thêm cho một cung đã có chính tinh, chứ nó không tự dựng nên cục diện nào. Bốn hiểu lầm dưới đây sinh ra từ chỗ quên mất tầm vóc ấy.

Hiểu lầm thứ nhất: có Thiên Quý là có quý nhân phù trợ

Sách nói gì: Tân Biên chép Ân Quang Thiên Quý chủ sự thông minh, vui vẻ, ôn hòa, trọng ân nghĩa, nhân hậu, từ thiện, cứu khổ phò nguy, giải trừ bệnh tật tai họa, đem nhiều may mắn. Đọc kỹ thì thấy toàn bộ những chữ ấy nói về phẩm chất của chính người có sao: người ấy nhân hậu, người ấy cứu khổ phò nguy, người ấy hay giúp người. Sách không nói rằng có sao này thì sẽ có người khác tới cứu mình.

Chỗ chuyển nghĩa xảy ra vì chữ quý trong tên sao. Trong Tử Vi, ngôi sao chỉ ra người đỡ đầu có thật là Thiên Khôi và Thiên Việt, hai sao thuộc bộ lục cát, an theo can năm sinh, có tên riêng là quý nhân tinh. Thiên Quý thì chỉ ra cái phẩm chất khiến người ta muốn giúp mình. Hai điều ấy có liên quan với nhau trong đời thật, nhưng trên lá số là hai chuyện tách bạch, và luận lẫn lộn thì sai cả hai.

Hiểu lầm thứ hai: Ân Quang Thiên Quý lúc nào cũng thành cặp

Đây là hiểu lầm phổ biến nhất và cũng dễ chứng minh là sai nhất, vì chỉ cần chạy thuật toán an sao. Kết quả đã trình ở mục trên: khoảng cách giữa hai sao chỉ do giờ sinh định, và với bốn giờ sinh Dần, Thìn, Thân, Tuất thì hai sao cách nhau đúng hai cung, không đồng cung, không xung chiếu, không tam hợp. Với những người ấy, cặp Ân Quang Thiên Quý không tồn tại như một cặp. Sách gọi hai sao là một bộ vì chúng cùng phép an và cùng tính chất, không phải vì chúng luôn gặp nhau. Một phần ba số giờ sinh cho ra hai ngôi sao lẻ, và luận cho họ cả một bộ sao là luận thừa.

Hiểu lầm thứ ba: Thiên Quý gặp sát tinh thì vô hại nên nó hóa giải được sát tinh

Câu gốc trong sách là Thiên Quý gặp Sát tinh thì vô hại. Vế chủ ngữ ở đây là Thiên Quý, nghĩa là bản thân ngôi sao này không bị sát tinh làm cho hóa dữ, nó vẫn giữ được tính lành. Câu ấy nói về cái không bị hỏng của Thiên Quý, chứ tuyệt nhiên không nói rằng sát tinh bị nó làm cho mất tác dụng.

Trên lá số thật, một cung có Kình Dương với Đà La mà thêm Thiên Quý thì vẫn là một cung có hai sát tinh; cái khác chỉ là người ấy thường xử lý chuyện rắc rối bằng lối ôn hòa hơn, ít khi để việc đi tới chỗ tuyệt tình. Bấy nhiêu là thật và đáng nói, nhưng không được nói quá lên thành hóa giải. Trong khoa Tử Vi, thứ có sức chế sát tinh rõ nhất là Hóa Khoa và chính tinh miếu vượng, không phải một cát tinh nhỏ an theo ngày sinh.

Hiểu lầm thứ tư: Thiên Quý là sao của khoa cúng sao giải hạn

Trong tục cúng sao giải hạn của dân gian có hệ Cửu Diệu gồm La Hầu, Thổ Tú, Thủy Diệu, Thái Bạch, Thái Dương, Vân Hớn, Kế Đô, Thái Âm, Mộc Đức, mỗi năm một sao chiếu mệnh. Hệ ấy không có sao Thiên Quý và cũng không cùng gốc với Tử Vi Đẩu Số. Khoa chọn ngày giờ lại dùng chữ thiên quý với một cách tính hoàn toàn khác. Bài này chỉ nói về Thiên Quý của khoa Tử Vi Đẩu Số, an theo ngày sinh đếm từ cung Văn Khúc. Trùng tên trong mệnh lý Đông phương là chuyện rất thường, và lẫn lộn hệ này với hệ kia là lỗi hay gặp nhất khi tra cứu trên mạng.

Nói gọn lại một câu cho quý vị dễ nhớ: Thiên Quý cho biết quý vị là người thế nào, không cho biết đời quý vị sẽ ra sao. Nó là một nét của chân dung, không phải một dòng của số phận.

Lời Khuyên Và Cách Dùng Cho Đúng

Với một cát tinh nhỏ thì lời khuyên không phải là cách hóa giải cái xấu, mà là cách dùng cho đúng cái tốt, và cách không để cái tốt ấy biến thành sự chờ đợi. Thầy chia làm ba nhóm.

Dùng đúng cái mà Thiên Quý cho

  • Cái nó cho là thiện cảm, không phải cơ hội. Thiên Quý làm cho người khác thấy quý vị đáng tin, đáng giúp. Nhưng thiện cảm chỉ thành cơ hội khi có người biết quý vị đang cần gì. Thầy thấy rất nhiều người có nét quý hiển đẹp mà vẫn chậm đường, chỉ vì tính giữ ý, ngại nhờ, ngại nói ra mong muốn của mình.
  • Giữ mối với người trên bằng việc cụ thể. Nghĩa của sao này hay ứng qua người lớn tuổi hơn hoặc đi trước trong nghề. Một lời hỏi thăm đúng lúc, một lần giúp việc nhỏ, một bản báo cáo gửi lại cho thầy cũ xem, có giá trị thật hơn mọi vật phẩm.
  • Nhận việc cần tư cách. Cái mạnh của Thiên Quý là được tin, vậy hãy nhận những việc người ta chỉ giao cho người họ tin: giữ sổ sách, làm trọng tài, hòa giải, hướng dẫn người mới. Làm tốt vài việc như thế thì tiếng thơm mới có chỗ bám. Sách xếp Ân Quang Thiên Quý vào bộ ân nghĩa, mà ân nghĩa theo cách hiểu của cổ nhân là món nợ hai chiều: nhận rồi thì phải trả, và trả không nhất thiết cho chính người đã cho, có thể trả cho người sau mình.

Nếu Thiên Quý của quý vị bị lấn át

  • Đếm sát tinh trước khi yên tâm. Cung có Thiên Quý mà từ hai sát tinh trở lên thì coi như không có cát tinh nhỏ, phải luận cung ấy theo lối bình thường và phòng bị theo lối bình thường.
  • Gặp Tuần Triệt án ngữ thì làm việc theo lối chuẩn bị kỹ. Người có Thiên Quý bị Tuần Triệt nên làm mọi việc bằng giấy tờ rõ ràng, hợp đồng đủ chữ, khám sức khỏe định kỳ, đừng trông vào việc rồi ai đó sẽ hiểu cho mình.
  • Sinh giờ Dần, Thìn, Thân, Tuất thì đừng luận theo bộ. Cặp không thành cặp, phải đọc từng sao một. Biết trước điều này giúp quý vị không kỳ vọng vào một thứ mình không có.
  • Sinh ngày 9 hoặc ngày 21 thì để ý thế Thiên Quý cùng Địa Kiếp. Hai sao ấy đồng cung với mọi giờ sinh. Nghĩa thực dụng: lòng tốt của quý vị dễ bị dùng sai chỗ, nên trước khi đứng ra bảo lãnh hay cho mượn danh, hãy hỏi kỹ một lần nữa.

Điều Thầy muốn nói thẳng

Không có phép nào đổi được vị trí của Thiên Quý, vì nó do ngày sinh và giờ sinh định ra và cố định suốt đời. Cái đổi được là cách quý vị hành xử trong lĩnh vực mà nó chỉ tới. Ai bán cho quý vị một món đồ nói là kích được quý nhân, tăng được quý khí, thì người ấy đang bán niềm tin chứ không bán mệnh lý. Thầy không làm việc ấy và cũng khuyên quý vị đừng mua.

Phong thủy bổ trợ, ghi rõ đây là gợi ý chung: những cách dưới đây thuộc về nếp sống và bài trí, không phải phép thuật, và không thay đổi được lá số. Trong nhà nên có một góc để sách và giấy tờ quan trọng, gọn và đủ sáng, vì tính chất của sao này gắn với chữ nghĩa và với sự đàng hoàng trong hồ sơ. Bàn học của con nhỏ nên quay lưng vào tường và tránh kê ngay lối đi lại, đây là việc thuộc về sự tập trung chứ không phải phép thuật. Người làm nghề chăm sóc hoặc dạy dỗ người khác nên giữ giờ ngủ đều, vì nghề ấy tiêu sức âm thầm. Việc giữ liên lạc với thầy cũ, với người từng giúp mình, việc dành mỗi tháng một buổi chỉ lại cho người đi sau cái mình biết, cũng nên coi là một dạng bồi phúc của thời nay, và nó có tác dụng thật với đời sống chứ không cần phải tin gì thêm. Ngoài chừng ấy, đừng trông đợi hơn.

Câu hỏi thường gặp

Thiên Quý là sao chủ sự quý hiển và lòng nhân trong Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Thổ, đi cặp với Ân Quang. Sao chủ thông minh, ôn hòa, nhân hậu từ thiện, cứu khổ phò nguy và đem may mắn.

Đều là sao quý nhân nhân hậu, nhưng Thiên Quý đi cặp với Ân Quang (an theo Văn Khúc và ngày sinh), còn Thiên Quan, Thiên Phúc an theo can năm. Tính chất cứu khổ, giải bệnh thì gần nhau.

Theo Tân Biên, Thiên Quý gặp Sát tinh thì vô hại, vẫn giữ được phúc khí và phẩm chất nhân hậu, tương tự Ân Quang.

Thiên Quý an theo sao Văn Khúc và ngày sinh, đi cặp với Ân Quang trong lá số.

Phép an của Toàn Thư là khởi từ cung có Văn Khúc kể là mồng một, đếm thuận chiều kim đồng hồ cho tới đúng số ngày sinh âm lịch, rồi lùi lại một cung, đó là cung an Thiên Quý. Viết thành công thức thì Thiên Quý đứng cách Văn Khúc đúng số ngày sinh trừ hai cung, đếm thuận. Ân Quang an y hệt như vậy nhưng khởi từ cung Văn Xương. Vì Văn Khúc lại an theo giờ sinh nên Thiên Quý là ngôi sao ăn cả hai tham số: giờ sinh định điểm khởi, ngày sinh định bước đi.

Không, và đây là điều nhiều bài viết nói thiếu. Chạy đủ mười hai giờ sinh nhân với ba mươi ngày sinh bằng thuật toán an sao thì khoảng cách giữa Ân Quang và Thiên Quý hoàn toàn không phụ thuộc ngày sinh, chỉ phụ thuộc giờ sinh, vì đổi ngày thì hai sao cùng dời đi một số bước bằng nhau. Kết quả cố định như sau: sinh giờ Mão hoặc giờ Dậu thì hai sao đồng cung; giờ Tý hoặc giờ Ngọ thì xung chiếu nhau; giờ Sửu, Tỵ, Mùi, Hợi thì tam hợp chiếu nhau; còn giờ Dần, Thìn, Thân, Tuất thì hai sao cách nhau đúng hai cung, tức không đồng cung, không xung, không tam hợp, hoàn toàn không hội chiếu được. Vậy có bốn trên mười hai giờ sinh làm cặp Ân Quang Thiên Quý tách rời.

Khác ở cả cách an lẫn tầm vóc. Thiên Khôi và Thiên Việt an theo thiên can năm sinh, được xếp vào bộ lục cát tinh, là quý nhân thật sự, tức người có chức phận đứng ra đỡ đầu, cất nhắc, mở đường. Thiên Quý an theo ngày sinh đếm từ cung Văn Khúc, là phụ tinh nhỏ, sách xếp vào loại cát tinh phụ trợ, chủ phẩm chất quý hiển và lòng nhân của chính người có sao, chứ không chỉ ra được ai là người giúp. Trên một lá số thật, Khôi Việt trả lời câu hỏi ai giúp, còn Thiên Quý trả lời câu hỏi người này có đáng được giúp hay không. Hai câu hỏi khác nhau, không thay thế cho nhau được.

Không có. Chỉ những sao an theo can chi năm sinh mới có bản lưu theo can chi của năm đang xem, ví dụ lưu Thái Tuế, lưu Lộc Tồn, lưu Kình Dương, lưu Đà La, lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ. Thiên Quý an theo ngày sinh và giờ sinh, hai tham số ấy không có bản năm, nên khoa Tử Vi không lập lưu Thiên Quý. Trong một năm bất kỳ, Thiên Quý vẫn nằm nguyên tại cung của lá số gốc; cái thay đổi là các lưu sao của năm ấy chạy tới hay không chạy tới cung có nó.