Tử Vi

Sao Thiên Việt: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung

Tìm hiểu sao Thiên Việt trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.

Đạo Quán45 phút đọc

Tổng quan về sao Thiên Việt

Trong Tử Vi Đẩu Số, Thiên Việt là một phụ tinh quý vào hàng đáng quý nhất. Tên Hán của sao là 天鉞, phiên âm Tiān Yuè, thuộc chòm Nam Đẩu, ngũ hành Âm Hỏa và có đới chút khí Mộc. Nếu Thiên Khôi là quý nhân ban ngày, sáng rõ và công khai, thì Thiên Việt chính là quý nhân ban đêm, gọi là âm quý, giúp người một cách lặng lẽ, kín đáo.

Hai sao này luôn được nhắc đến cùng nhau, hợp thành bộ Thiên Ất quý nhân mà người học Tử Vi quen gọi tắt là bộ Khôi Việt. Một sao trợ ban ngày, một sao trợ ban đêm, bù đắp cho nhau như hai mặt sáng tối của một vầng quý khí.

Thiên Việt chủ về khoa giáp, quyền tước và cơ hội. Người xưa coi đây là sao của đường công danh, thi cử, của những lần được người trên cất nhắc. Cái hay riêng của Thiên Việt là sự trợ giúp đến một cách bất ngờ và kín đáo, nhiều khi người được giúp còn chưa kịp nhận ra ai đã đứng sau lưng mình. Đặc biệt, quý nhân của Thiên Việt thường là quý nhân nữ, một người phụ nữ đứng ra đỡ đần đúng lúc, hoặc một mối duyên lành mở ra cánh cửa mới.

Vì là phụ tinh nên Thiên Việt không tự mình làm nên cách cục lớn như các chính tinh. Sức của nó nằm ở chỗ điểm tô, nâng đỡ và mở cơ hội cho sao chủ. Một cung có chính tinh tốt mà thêm Thiên Việt thì cái tốt được trợ thêm quý khí, đường khoa cử công danh sáng hơn. Một cung trung bình mà có Thiên Việt thì cũng dễ gặp người giúp lúc khó, biến nguy thành an. Đây là kiểu phúc lực âm thầm, không ồn ào nhưng bền và đáng quý.

  • Ngũ hành: Hỏa
  • Chòm sao: Nam Đẩu
  • Loại sao: Quý tinh (quý nhân đêm)
  • Cách an: Theo can năm sinh
  • Cai quản: Quý nhân, cơ hội, khoa giáp
  • Hợp gặp: Thiên Khôi, Xương Khúc, Hóa Khoa
  • Kỵ: Hỏa Linh, Thiên Hình, Tuần Triệt

Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.

Ý nghĩa tại cung Mệnh

  • Khi Thiên Việt gặp cát tinh: Thông minh, ôn hòa, khí chất thanh nhã; đời có người đỡ ở những khúc ngoặt, thường là người nữ hoặc người nhỏ tuổi hơn mà lại giúp được việc lớn.
  • Khi Thiên Việt gặp hung tinh hoặc Tuần Triệt: Vẫn hiền nhưng thụ động, quen chờ người, hay bị hiểu lầm là dựa dẫm; quý nhân đến muộn hoặc đến rồi lại đi.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Việt đồng cung Văn Xương hóa Khoa (tuổi Bính giờ Sửu) là người có bằng cấp và có người tiến cử. Việt bị Đà La xung chiếu (tuổi Giáp, Ất, Tân, Quý) là được giúp mà chậm, phải đợi.

Ý nghĩa ở các cung khác

Đối chiếu ý nghĩa của Thiên Việt với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.

Cung Phụ Mẫu

  • Khi Thiên Việt gặp cát tinh: Cha mẹ hiền hậu, có học, biết mở đường cho con một cách kín đáo; hay được bậc trưởng thượng nữ trong họ nâng đỡ.
  • Khi Thiên Việt gặp hung tinh hoặc Tuần Triệt: Cha mẹ có lòng mà không đủ sức, hoặc sự giúp đỡ của họ hàng kèm điều kiện, sinh nợ ân tình.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Việt tại Phụ Mẫu cùng chính tinh hóa Khoa là gia thế có tiếng, con được thơm lây. Gặp Thiên Hình thì việc giúp dễ thành chuyện giấy tờ, thừa kế, phân chia.

Cung Phúc Đức

  • Khi Thiên Việt gặp cát tinh: Phúc âm thầm dày, tâm hướng thiện, hay gặp may đúng lúc ngặt nghèo nhất; tổ tiên bên ngoại thường có người tu tâm.
  • Khi Thiên Việt gặp hung tinh hoặc Tuần Triệt: Tâm nhiều lo nghĩ, hay giúp người rồi tự trách mình, phúc có mà không thấy an.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Việt tại Phúc gặp Thiên Hỷ, Long Phượng là phúc lộ ra thành việc vui. Gặp Không Kiếp thì hay nghĩ chuyện xuất thế, hợp đường tu học hơn đường tranh đua.

Cung Điền Trạch

  • Khi Thiên Việt gặp cát tinh: Nhà cửa đất đai hay có người mách mối đúng lúc, mua được chỗ tốt nhờ quen biết, cơ hội đến bất ngờ.
  • Khi Thiên Việt gặp hung tinh hoặc Tuần Triệt: Mối mách không thành, giấy tờ nhà đất trục trặc, người giới thiệu thiếu tin cậy.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Việt tại Điền cùng Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc chiếu là nhà đất có thực. Việt tại Điền mà bị Tuần Triệt án ngữ thì mối tốt đến rồi tuột.

Cung Quan Lộc

  • Khi Thiên Việt gặp cát tinh: Vị trí Thiên Việt phát huy rõ nhất: được cấp trên cất nhắc lặng lẽ, hợp thi tuyển, công vụ, sư phạm, y dược, nghiên cứu.
  • Khi Thiên Việt gặp hung tinh hoặc Tuần Triệt: Có người tiến cử mà hồ sơ vướng, được hứa mà chậm ra quyết định, hoặc thăng tiến rồi phải gánh phần người khác.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Việt tại Quan cùng chính tinh hóa Quyền là được bổ nhiệm thật. Việt tại Quan gặp Hỏa Linh thì cơ hội đến gấp, quyết vội dễ hỏng.

Cung Nô Bộc

  • Khi Thiên Việt gặp cát tinh: Bạn bè và cấp dưới có người trung hậu, giúp lúc khó mà không kể công; nhiều khi là quý nhân nữ hoặc người ít tuổi hơn.
  • Khi Thiên Việt gặp hung tinh hoặc Tuần Triệt: Giúp người nhiều mà ít được đáp lại, dễ bị mượn danh, dễ đứng tên hộ rồi mang vạ.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Việt tại Nô nhận Hóa Lộc bay tới là bạn bè mang mối làm ăn. Việt tại Nô gặp Thiên Riêu, Đào Hoa thì quan hệ dễ chuyển sang tình cảm, cần giữ.

Cung Thiên Di

  • Khi Thiên Việt gặp cát tinh: Ra ngoài gặp người đón đỡ, đi xa có chỗ nương; hợp du học, công tác nước ngoài, chuyển vùng.
  • Khi Thiên Việt gặp hung tinh hoặc Tuần Triệt: Đi xa mà người hẹn đón lại lỡ, việc ở phương xa lỡ nhịp, phải tự xoay.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Việt tại Di mà Việt đóng Dần, Thân, Tỵ là ba trong bốn cung mã địa, nên thế đi xa gặp quý rất rõ. Việt tại Di gặp Đà La là đi rồi phải quay lại.

Cung Tật Ách

  • Khi Thiên Việt gặp cát tinh: Ốm đau hay gặp thầy giỏi, gặp người đưa đi khám đúng lúc, bệnh nặng hóa nhẹ.
  • Khi Thiên Việt gặp hung tinh hoặc Tuần Triệt: Chẩn đoán muộn, đổi thầy đổi thuốc nhiều lần, chữa dở dang.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Việt tại Tật cùng chính tinh hóa Kỵ là thế được cứu kịp, nên đọc là điềm lành chứ không phải điềm dữ. Việt tại Tật gặp Kình Dương thì thường phải qua một lần can thiệp mới yên.

Cung Tài Bạch

  • Khi Thiên Việt gặp cát tinh: Tiền đến từ mối quen, từ người giới thiệu, từ cơ hội bất ngờ; hợp nguồn thu gắn với chữ nghĩa và uy tín.
  • Khi Thiên Việt gặp hung tinh hoặc Tuần Triệt: Tiền hứa mà chưa về, cho vay khó đòi, hoặc thu nhập phụ thuộc người khác.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Việt tại Tài mà Lộc Tồn tam hợp chiếu (tuổi Bính) là quý nhân dẫn tới lộc thật. Việt tại Tài mà Lộc Tồn xung chiếu (tuổi Canh, Nhâm) là phải chọn giữa tình và tiền.

Cung Tử Tức

  • Khi Thiên Việt gặp cát tinh: Con thông minh, hiền, gặp thầy tốt bạn lành; đường học của con có người dìu.
  • Khi Thiên Việt gặp hung tinh hoặc Tuần Triệt: Con được chiều quá hóa ỷ lại, hoặc lo cho con mà con chưa hiểu.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Việt tại Tử cùng Văn Xương, Văn Khúc là con hợp đường học vấn, nên đầu tư sớm. Gặp Không Kiếp thì con có tài lẻ, khó theo đường khoa cử thẳng.

Cung Phu Thê

  • Khi Thiên Việt gặp cát tinh: Bạn đời có học, nhân hậu, nhiều khi chính là quý nhân của mình; duyên hay đến từ giới thiệu, mai mối kín đáo.
  • Khi Thiên Việt gặp hung tinh hoặc Tuần Triệt: Được bạn đời nâng đỡ rồi sinh lệ thuộc, hoặc mối mai nhiều mà chưa đâu vào đâu.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Việt tại Phu nhận Hóa Kỵ bay tới là vừa là chỗ dựa vừa là chỗ vướng, cần luận kỹ chứ đừng vội mừng. Gặp Đào Hoa, Hồng Loan thì duyên đẹp mà cần giữ ranh giới.

Cung Huynh Đệ

  • Khi Thiên Việt gặp cát tinh: Anh chị em hòa thuận, trong đó có một người là chỗ dựa thật sự, thường là chị hoặc em gái.
  • Khi Thiên Việt gặp hung tinh hoặc Tuần Triệt: Anh em có lòng mà không có sức, hoặc giúp nhau rồi phát sinh tính toán.
  • Tổ hợp đáng chú ý tại cung này: Việt tại Huynh cùng chính tinh hóa Quyền là anh em có người làm nên, mình được nhờ. Gặp Kình Dương kề bên (tuổi Mậu, Kỷ) thì tình thân dễ sứt vì chuyện tiền.

Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc

Thiên Việt an theo thiên can của năm sinh, đi trong vòng Thiên Ất quý nhân cùng Thiên Khôi. Nghĩa là chỉ cần biết quý vị tuổi Giáp hay tuổi Quý là định ngay được Thiên Việt đóng ở đâu, không cần tháng, không cần ngày, không cần giờ. Cách an cứng như vậy sinh ra một loạt điều không bao giờ thay đổi, và đây mới là phần đáng giá nhất khi đọc một sao quý nhân. Người mới học thường chỉ nhớ nghĩa của sao, người luận lâu năm nhớ cấu trúc của sao, vì cấu trúc cho phép loại trừ: có những thế sao không cần tra cũng biết chắc là không thể xảy ra.

Bảng dưới đây đặt Thiên Việt cạnh Thiên Khôi và cạnh cả ba sao cùng an theo can là Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La. Đặt chung một bảng vì cả năm sao này sinh ra từ cùng một tham số, nên quan hệ giữa chúng là quan hệ cố định theo tuổi, không phải chuyện may rủi của từng lá số.

Giáp

  • Thiên Khôi: Sửu
  • Thiên Việt: Mùi
  • Lộc Tồn: Dần
  • Kình Dương: Mão
  • Đà La: Sửu

Ất

  • Thiên Khôi: Tý
  • Thiên Việt: Thân
  • Lộc Tồn: Mão
  • Kình Dương: Thìn
  • Đà La: Dần

Bính

  • Thiên Khôi: Hợi
  • Thiên Việt: Dậu
  • Lộc Tồn: Tỵ
  • Kình Dương: Ngọ
  • Đà La: Thìn

Đinh

  • Thiên Khôi: Hợi
  • Thiên Việt: Dậu
  • Lộc Tồn: Ngọ
  • Kình Dương: Mùi
  • Đà La: Tỵ

Mậu

  • Thiên Khôi: Sửu
  • Thiên Việt: Mùi
  • Lộc Tồn: Tỵ
  • Kình Dương: Ngọ
  • Đà La: Thìn

Kỷ

  • Thiên Khôi: Tý
  • Thiên Việt: Thân
  • Lộc Tồn: Ngọ
  • Kình Dương: Mùi
  • Đà La: Tỵ

Canh

  • Thiên Khôi: Ngọ
  • Thiên Việt: Dần
  • Lộc Tồn: Thân
  • Kình Dương: Dậu
  • Đà La: Mùi

Tân

  • Thiên Khôi: Ngọ
  • Thiên Việt: Dần
  • Lộc Tồn: Dậu
  • Kình Dương: Tuất
  • Đà La: Thân

Nhâm

  • Thiên Khôi: Mão
  • Thiên Việt: Tỵ
  • Lộc Tồn: Hợi
  • Kình Dương: Tý
  • Đà La: Tuất

Quý

  • Thiên Khôi: Mão
  • Thiên Việt: Tỵ
  • Lộc Tồn: Tý
  • Kình Dương: Sửu
  • Đà La: Hợi

Sáu điều bất biến của Thiên Việt

  • Thiên Việt chỉ đóng ở năm cung: Dần, Tỵ, Mùi, Thân, Dậu. Bảy cung còn lại là Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Tuất, Hợi thì Thiên Việt không bao giờ tới, dù tuổi nào. Sao này kén cung hơn hẳn phần lớn phụ tinh, và cũng vì thế mà hơn nửa số người trên đời không có Thiên Việt ở những cung ấy, không phải vì lá số xấu mà vì cấu trúc không cho phép.
  • Thìn và Tuất không bao giờ có Khôi hay Việt. Gộp cả hai tập hợp trên lại vẫn thiếu đúng hai cung Thìn, Tuất. Đây chính là trục Thiên La Địa Võng, cái lưới trời và cái lưới đất. Cấu trúc an sao khiến quý nhân của Đẩu Số không đặt chân vào hai cung ấy, kể cả bản lưu niên. Người có Mệnh an tại Thìn hoặc Tuất thì suốt đời không có Thiên Khôi hay Thiên Việt tọa thủ cung Mệnh, chỉ có thể được hai sao ấy chiếu về hoặc giáp lấy.
  • Thiên Việt không bao giờ đồng cung với Lộc Tồn, Kình Dương hay Đà La. Cả bốn sao cùng an theo can, chạy đủ mười can vẫn không có một trường hợp nào trùng cung. Quý nhân và bộ Lộc Kình Đà là hai mạch riêng, chỉ có thể chiếu nhau chứ không chồng lên nhau. Đây là điểm rất hay bị nói sai trên các diễn đàn.
  • Quan hệ Khôi Việt chỉ có ba kiểu, chia theo tuổi. Tuổi Giáp và Mậu thì Khôi tại Sửu, Việt tại Mùi, hai sao xung chiếu nhau. Tuổi Ất, Kỷ, Canh, Tân thì hai sao tam hợp chiếu nhau (Ất Kỷ: Khôi Tý, Việt Thân; Canh Tân: Khôi Ngọ, Việt Dần). Tuổi Bính, Đinh, Nhâm, Quý thì hai sao cách nhau đúng một cung, tức là giáp lấy cung ở giữa (Bính Đinh giáp cung Tuất, Nhâm Quý giáp cung Thìn). Không có kiểu thứ tư.
  • Không có chính tinh nào bị cấm đứng cùng Thiên Việt. Chạy đủ mười hai thế Tử Vi cho từng vị trí trong năm cung Dần, Tỵ, Mùi, Thân, Dậu thì cả mười bốn chính tinh đều có thể xuất hiện. Nghĩa là Thiên Việt gặp ai cũng được, khác hẳn các chính tinh vốn bị khóa chặt trong chuỗi của mình. Sao quý nhân là sao đi khắp, chỉ kén cung chứ không kén bạn.

Hệ quả thứ nhất: cách Khôi Việt giáp Mệnh chỉ có bốn tuổi và đúng hai cung

Từ điều bất biến thứ năm suy ra ngay một kết luận rất sắc mà sách xưa không nói thành lời, vì sách xưa chỉ chép nghĩa chứ không chạy bảng. Muốn Thiên Khôi và Thiên Việt giáp cung Mệnh, tức mỗi sao đứng một bên, thì hai sao phải cách nhau đúng hai cung. Chỉ bốn tuổi làm được điều đó: tuổi Bính và Đinh (Khôi tại Hợi, Việt tại Dậu, cung ở giữa là Tuất), tuổi Nhâm và Quý (Khôi tại Mão, Việt tại Tỵ, cung ở giữa là Thìn). Sáu tuổi còn lại thì dù ước ao đến mấy cũng không thể có Khôi Việt giáp Mệnh, vì hai sao hoặc xung nhau hoặc tam hợp nhau.

Điều thú vị là hai cung được giáp ấy chính là Thìn và Tuất, đúng hai cung mà bản thân Khôi Việt không vào được. Trời không cho quý nhân vào lưới, nhưng lại cho quý nhân đứng hai bên canh cửa lưới. Thầy vẫn nói với học trò rằng đây là một trong những thế đẹp và kín đáo nhất của Đẩu Số: người tuổi Bính, Đinh có Mệnh an tại Tuất, hay người tuổi Nhâm, Quý có Mệnh an tại Thìn, thì cả đời được hai bên đỡ lấy, dù cung Mệnh nằm giữa la võng.

Hệ quả thứ hai: tuổi nào cũng có cửa hội đủ Khôi Việt, nhưng số cửa khác nhau

Chạy đủ mười can và mười hai vị trí Mệnh để tìm những cung nhìn thấy cả hai sao trong tam phương tứ chính, kết quả như sau. Tuổi Giáp và Mậu: Mệnh tại Sửu hoặc Mùi. Tuổi Ất và Kỷ: Mệnh tại Tý, Thìn hoặc Thân. Tuổi Bính và Đinh: Mệnh tại Mão hoặc Tỵ. Tuổi Canh và Tân: Mệnh tại Dần, Ngọ hoặc Tuất. Tuổi Nhâm và Quý: Mệnh tại Dậu hoặc Hợi. Không tuổi nào bị loại hoàn toàn, nhưng bốn tuổi Ất, Kỷ, Canh, Tân được ba cung, sáu tuổi còn lại chỉ được hai cung. Ba cung ấy chính là ba cung của một tam hợp, vì với bốn tuổi ấy hai sao vốn đã nằm trong cùng một tam hợp với nhau.

Con số này giải thích vì sao cách Tọa quý hướng quý không hiếm như nhiều người tưởng, mà cũng không nhiều đến mức tầm thường. Tính thô thì cứ mười hai lá số có Mệnh rải đều, khoảng hai tới ba lá hội đủ Khôi Việt. Thầy nhắc điều này để quý vị đừng nghe ai đó nói "lá số bạn có Khôi Việt hội Mệnh, cực quý hiếm" mà vội mừng. Quý thì có quý, hiếm thì không.

Hệ quả thứ ba: Thiên Việt đứng ở đâu trong bộ Lộc Kình Đà

Vì Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La cũng an theo can, quan hệ của chúng với Thiên Việt là cố định theo tuổi và đọc được ngay từ bảng trên. Tuổi Giáp, Ất, Tân, Quý là nhóm nặng nhất: Thiên Việt bị Đà La xung chiếu thẳng mặt, đồng thời bị Kình Dương tam hợp chiếu tới. Quý nhân của bốn tuổi này luôn đứng trong tầm nhìn của hai sát tinh, nên sự nâng đỡ thường kèm điều kiện, kèm ràng buộc, hoặc đến sau một phen trầy trật. Tuổi Mậu và Kỷ thì Kình Dương đứng ngay cung liền kề Thiên Việt, quý nhân và lưỡi dao ở sát vách nhau, giúp thì có giúp mà chạm nhẹ là đứt tay. Tuổi Bính đẹp nhất trong mười can về mặt này: Lộc Tồn tam hợp chiếu Thiên Việt, quý nhân đi liền với lộc thật, giúp là giúp có thực chất. Tuổi Đinh thì cung tam hợp ấy lại là Đà La, nên sự giúp đỡ hay bị chậm và bị dùng dằng. Tuổi Canh và Nhâm có Lộc Tồn đối diện Thiên Việt, quý nhân một bên và lộc một bên, nhìn thấy nhau mà phải chọn.

Cách An Theo Can Năm Và Đặc Tính Khi Thủ Mệnh

Thiên Việt được an theo can của năm sinh, theo vòng Thiên Ất quý nhân, luôn ở một cung riêng chứ không bao giờ chung cung với Thiên Khôi. Vì cùng một gốc can mà ra, hai sao Khôi Việt luôn nằm ở hai cung cố định ứng với can đó; tùy can mà hai sao xung chiếu nhau, tam hợp chiếu nhau, hoặc giáp lấy một cung ở giữa, xem bảng ở mục 2.

Khi tính lá số, người ta chỉ cần biết can năm sinh là định được ngay vị trí của Thiên Việt, không phụ thuộc tháng, ngày hay giờ sinh.

Người có Thiên Việt thủ Mệnh thường thông minh, sáng dạ, tiếp thu nhanh và có khí chất cao thượng. Họ nhân hậu, ưa làm việc thiện, hay giúp người mà không kể công, lại có thiên hướng yêu văn chương, chữ nghĩa, nghệ thuật. Trong giao tiếp họ điềm đạm, lịch thiệp, dễ tạo thiện cảm, nên đi đến đâu cũng dễ được người khác có cảm tình và sẵn lòng giúp đỡ.

Nét đặc trưng nhất của người Thiên Việt là cái phúc gặp quý nhân. Họ thường được nâng đỡ một cách bất ngờ và kín đáo, lúc tưởng bế tắc nhất lại có người chìa tay ra. Nhiều khi ân nhân của họ là phụ nữ, là một người chị, người cô, người thầy nữ hay một mối duyên tốt. Cũng vì hay được giúp nên người Thiên Việt cần học cách biết ơn và biết đáp lại, tránh xem sự trợ giúp là điều hiển nhiên.

Thiên Việt Và Tứ Hóa Theo Tuổi Can

Nhưng đứng ngoài bảng không có nghĩa là không dính dáng. Thiên Việt là sao mượn nghĩa: nó không tự đổi màu, nó lấy màu của sao nó đứng cùng. Cho nên câu hỏi đúng phải là: chính tinh đang ở cùng cung hoặc đang chiếu tới Thiên Việt hóa gì, và tuổi ấy có bày ra tổ hợp nào đáng chú ý với Thiên Việt hay không. Mục này trả lời cả hai.

Thiên Việt gặp chính tinh hóa Lộc

Lộc là bổng lộc, là cái được cầm trong tay. Quý nhân đứng cạnh một sao đang hóa Lộc thì sự nâng đỡ có hình hài vật chất: người ta không chỉ nói giúp một câu mà đưa cho quý vị một mối hàng, một hợp đồng, một suất học bổng, một chỗ làm có lương. Trên lá số thật, Thiên Việt đồng cung với chính tinh hóa Lộc tại Tài Bạch hoặc Quan Lộc là thế Thầy hay thấy ở những người khởi nghiệp nhờ có người rót vốn ban đầu mà không đòi hỏi gì nhiều. Cần nhớ mặt trái: lộc do người khác đưa thì cũng do người khác thu lại được, nên phải sớm biến cái được cho thành cái tự làm ra.

Thiên Việt gặp chính tinh hóa Quyền

Quyền là cái nắm được, là chức phận. Quý nhân đứng cạnh sao hóa Quyền thì người giúp mình là người có thực quyền, và cái giúp thường là một quyết định hành chính chứ không phải một lời động viên: ký một tờ bổ nhiệm, gật đầu cho một dự án, cất nhắc lên một bậc. Thế này rất hợp người đi đường công vụ, quân đội, tổ chức lớn. Mặt cần giữ: Quyền có sức ép của nó, người được quý nhân có quyền nâng đỡ thường phải mang theo cả cái bóng của người ấy, đổi chỗ làm là mất phần lớn thế đứng. Thầy vẫn khuyên nhóm này phải xây tên tuổi riêng song song, đừng để đời mình cột vào một cái ghế của người khác.

Thiên Việt gặp Hóa Khoa, đường học vấn sáng nhất

Khoa là khoa danh, là tiếng thơm và bằng cấp. Đây là hóa hợp với Thiên Việt hơn cả, vì bản thân Thiên Việt đã chủ khoa giáp. Sách xếp Khôi Việt, Xương Khúc, Hóa Khoa vào cùng một mạch: quý nhân, văn tinh và khoa danh đi liền nhau thì đường học hành thi cử hanh thông, hợp nghề chữ nghĩa, nghiên cứu, sư phạm.

Chỗ này cấu trúc an sao cho một kết quả rất cụ thể mà ít tài liệu nêu ra, vì Văn Xương an theo giờ, Văn Khúc an theo giờ, còn Hóa Khoa an theo can, ba tham số khác nhau nên phải chạy bảng mới thấy. Kết quả sau đã kiểm đủ mười can và mười hai giờ:

Giáp, Mậu

  • Thiên Việt tại: Mùi
  • Đồng cung Văn Xương khi sinh giờ: Mão
  • Đồng cung Văn Khúc khi sinh giờ: Mão

Ất, Kỷ

  • Thiên Việt tại: Thân
  • Đồng cung Văn Xương khi sinh giờ: Dần
  • Đồng cung Văn Khúc khi sinh giờ: Thìn

Bính, Đinh

  • Thiên Việt tại: Dậu
  • Đồng cung Văn Xương khi sinh giờ: Sửu
  • Đồng cung Văn Khúc khi sinh giờ: Tỵ

Canh, Tân

  • Thiên Việt tại: Dần
  • Đồng cung Văn Xương khi sinh giờ: Thân
  • Đồng cung Văn Khúc khi sinh giờ: Tuất

Nhâm, Quý

  • Thiên Việt tại: Tỵ
  • Đồng cung Văn Xương khi sinh giờ: Tỵ
  • Đồng cung Văn Khúc khi sinh giờ: Sửu

Đọc bảng này ra được ba tổ hợp đáng nhớ. Thứ nhất, tuổi Giáp và tuổi Mậu sinh giờ Mão thì Văn Xương và Văn Khúc cùng đóng tại Mùi, đúng cung của Thiên Việt, thành thế ba sao chồng lên nhau; mà tuổi ấy Thiên Khôi lại đứng ở Sửu đối diện, nên cả trục Sửu Mùi hội đủ Khôi, Việt, Xương, Khúc. Nếu sinh giờ Dậu thì Xương Khúc dồn về Sửu, tức là chồng lên Thiên Khôi, cũng vẫn là trục ấy. Đây là thế văn quý đầy đủ nhất mà cấu trúc an sao có thể tạo ra. Thứ hai, tuổi Bính sinh giờ Sửu: Văn Xương đóng tại Dậu cùng Thiên Việt, mà tuổi Bính thì Văn Xương hóa Khoa, thành ra quý nhân ban đêm ôm luôn tấm bằng khoa danh trong một cung. Thứ ba, tuổi Tân sinh giờ Tuất: Văn Khúc đóng tại Dần cùng Thiên Việt, mà tuổi Tân thì Văn Khúc hóa Khoa, cũng là thế Việt Khoa đồng cung. Hai tổ hợp sau là câu trả lời chính xác cho câu hỏi "tuổi nào có Thiên Việt gặp Hóa Khoa ngay tại cung mình".

Thiên Việt gặp chính tinh hóa Kỵ

Kỵ là cái vướng, cái mắc. Quý nhân đứng cạnh một sao hóa Kỵ là hình ảnh người tốt bụng chìa tay ra giữa lúc rối, kết quả tùy chỗ Kỵ rơi vào đâu. Nếu Kỵ ở cung Tật Ách thì người giúp là thầy thuốc, là người đưa mình đi viện đúng lúc. Nếu Kỵ ở Quan Lộc thì thường là người đứng ra gỡ giúp một vụ rắc rối trong công việc, gỡ được nhưng mình mắc nợ ân tình. Nếu Kỵ ở Phu Thê hay Nô Bộc thì phải rất cẩn thận: đây là chỗ lòng tốt dễ bị lợi dụng, hoặc chính người mình coi là quý nhân lại là đầu mối phiền phức. Thầy đúc kết một câu ngắn cho học trò: Thiên Việt gặp Lộc là được cho, gặp Quyền là được cất nhắc, gặp Khoa là được tiếng, gặp Kỵ là được cứu. Được cứu vẫn hơn không ai đoái tới, nhưng cái giá của nó là mắc nợ.

Hóa từ cung khác bay tới cung có Thiên Việt

Vì Thiên Việt không bị khóa vào chuỗi chính tinh nào, cung nó đóng có thể nhận hóa bay tới từ bất kỳ cung nào trong tam phương tứ chính. Ba tình huống hay gặp nhất trên lá số thật:

  • Hóa Kỵ của cung Phu Thê bay vào cung có Thiên Việt. Người bạn đời vừa là quý nhân vừa là chỗ vướng. Rất hay gặp ở những cặp mà một bên nâng đỡ sự nghiệp bên kia rồi sinh ra lệ thuộc.
  • Hóa Lộc của cung Nô Bộc bay vào cung có Thiên Việt. Bạn bè, cấp dưới, đối tác mang lộc tới. Đây là thế của người làm nghề sống bằng mạng lưới quan hệ, nghề môi giới, tư vấn, thương mại.
  • Hóa Khoa của cung Phụ Mẫu bay vào cung có Thiên Việt. Cái quý đến từ gia thế, từ tiếng tăm của cha mẹ hoặc từ người thầy. Rất hợp đường học vấn, nhưng cũng dễ khiến người ta quen đi trên đường đã dọn sẵn.

Các Cách Cục Khôi Việt Và Điều Kiện Thành Cách

Cách cục đáng nói nhất của Thiên Việt chính là cách Khôi Việt hội Mệnh, người xưa gọi là Tọa quý hướng quý. Đây là khi hai sao quý nhân ban ngày và ban đêm cùng có mặt, một sao ngồi cùng Mệnh, một sao từ cung khác chiếu về.

Hình ảnh của nó là một người luôn ngồi giữa quý nhân, dù quay mặt về hướng nào cũng thấy có người sẵn lòng nâng đỡ.

Một cách cục chỉ "thành" khi hội đủ điều kiện, và "phá" khi vướng một điều kiện phá. Với bộ Khôi Việt, chỗ người mới hay mừng hụt là thấy có Thiên Việt trong lá đã vội gọi là Tọa quý hướng quý, trong khi Thiên Khôi đang nằm ở một góc chẳng liên quan gì tới cung Mệnh. Dưới đây mỗi cách ghi rõ điều kiện thành, điều kiện đủ đẹp và điều kiện phá, tất cả đều đã đối chiếu với thuật toán an sao.

Tọa quý hướng quý (Khôi Việt hội Mệnh)

Thành cách: Thiên Khôi và Thiên Việt cùng có mặt trong tam phương tứ chính của cung Mệnh, một sao tọa thủ hoặc chiếu gần, một sao chiếu từ cung khác. Người hợp cách cả đời có quý nhân che chở, lúc khó là có người đỡ, thi cử công danh thường được cất nhắc đúng thời điểm.

Đủ đẹp: phải rơi đúng những cung mà cấu trúc cho phép. Đã chạy đủ mười can, cách này chỉ thành khi Mệnh an tại: Sửu hoặc Mùi với tuổi Giáp, Mậu; Tý, Thìn hoặc Thân với tuổi Ất, Kỷ; Mão hoặc Tỵ với tuổi Bính, Đinh; Dần, Ngọ hoặc Tuất với tuổi Canh, Tân; Dậu hoặc Hợi với tuổi Nhâm, Quý. Ngoài các cung ấy thì không cách nào hội đủ, dù lá số có đẹp đến đâu. Thêm Văn Xương, Văn Khúc, Hóa Khoa hoặc Tả Hữu chầu về thì cách càng dày.

Phá cách: một trong hai sao bị Tuần hoặc Triệt án ngữ; cung Mệnh có Không Kiếp, Hỏa Linh, Thiên Hình vây hãm; hoặc chính tinh thủ Mệnh hãm nặng khiến quý nhân có tới cũng không nâng nổi. Khi phá cách, quý nhân vẫn có nhưng tới muộn, giúp dở dang, hoặc người được giúp không giữ được mối quý.

Khôi Việt giáp Mệnh

Thành cách: Thiên Khôi và Thiên Việt đứng hai bên cung Mệnh, mỗi sao một cung liền kề. Đây là thế bao vây, sách gọi chung là giáp quý, người có cách này được đỡ từ hai phía mà thường không hay biết, vì giáp là thế đứng sau lưng chứ không phải thế chiếu vào mặt.

Đủ đẹp: cấu trúc an sao chỉ cho bốn tuổi và đúng hai cung. Tuổi Bính và Đinh có Mệnh an tại Tuất (Thiên Khôi tại Hợi, Thiên Việt tại Dậu). Tuổi Nhâm và Quý có Mệnh an tại Thìn (Thiên Khôi tại Mão, Thiên Việt tại Tỵ). Không tuổi nào khác làm được, vì sáu tuổi còn lại hai sao hoặc xung chiếu hoặc tam hợp, không bao giờ cách nhau đúng hai cung. Đẹp thêm một bậc nếu cung Mệnh có chính tinh đắc địa và có Hóa Khoa.

Đáng chú ý: hai cung Thìn và Tuất chính là hai cung mà Khôi Việt không bao giờ vào được, và cũng là trục Thiên La Địa Võng vốn bị coi là cung tù túng. Thành ra cách này có tượng rất riêng: người ở trong lưới mà có hai người canh cửa. Thầy gặp không ít lá như vậy, phần lớn là người khởi đầu chật vật, môi trường bó buộc, nhưng đến lúc bí nhất thì luôn có một người bên cạnh mở cho một lối. Phá cách: một trong hai cung giáp bị Triệt, hoặc hai cung ấy đồng thời chứa Kình Đà, Hỏa Linh, khi ấy thế giáp quý biến thành thế giáp hung.

Khôi Việt xung chiếu (tuổi Giáp và tuổi Mậu)

Thành cách: riêng tuổi Giáp và tuổi Mậu, Thiên Khôi tại Sửu và Thiên Việt tại Mùi nhìn thẳng vào nhau qua trục Sửu Mùi. Đây là hai tuổi duy nhất trong mười can có Khôi Việt xung chiếu. Ai có Mệnh an tại Sửu hoặc Mùi thì lập tức được cả hai quý nhân, một tọa một hướng, thành đúng nghĩa chữ tọa quý hướng quý.

Đủ đẹp: tuổi Giáp và Mậu sinh giờ Mão thì Văn Xương và Văn Khúc cùng dồn về Mùi, chồng lên Thiên Việt; sinh giờ Dậu thì Xương Khúc cùng dồn về Sửu, chồng lên Thiên Khôi. Cả hai trường hợp đều cho trục Sửu Mùi hội đủ bốn sao Khôi, Việt, Xương, Khúc, là thế văn quý dày nhất mà cách an sao có thể tạo ra. Đây không phải suy đoán mà là kết quả chạy đủ mười can nhân mười hai giờ.

Phá cách: tuổi Giáp thì Thái Dương hóa Kỵ và Đà La an tại Sửu, tức Đà La đứng ngay cung Thiên Khôi và xung chiếu Thiên Việt. Tuổi Mậu thì Kình Dương an tại Ngọ, sát vách cung Mùi của Thiên Việt. Cho nên hai tuổi có cách Khôi Việt xung chiếu đẹp nhất cũng đồng thời là hai tuổi có sát tinh áp sát nhất. Được và mất đi liền nhau, đây là chỗ Thầy nhắc học trò đừng chỉ nhìn nửa bàn cờ.

Khôi Việt tam hợp (tuổi Ất, Kỷ, Canh, Tân)

Thành cách: bốn tuổi này có Khôi Việt nằm trong cùng một tam hợp, nên cả ba cung của tam hợp ấy đều hội đủ hai sao. Tuổi Ất và Kỷ: Thiên Khôi tại Tý, Thiên Việt tại Thân, tam hợp Thân Tý Thìn. Tuổi Canh và Tân: Thiên Khôi tại Ngọ, Thiên Việt tại Dần, tam hợp Dần Ngọ Tuất. Đủ đẹp: Mệnh an vào cung thứ ba của tam hợp ấy, tức Thìn với tuổi Ất, Kỷ và Tuất với tuổi Canh, Tân, thì được cả hai sao cùng chiếu tới mà không sao nào đè lên cung Mệnh, là thế thoáng và bền.

Đây là kiểu quý nhân rộng mà nhạt: có ba cửa hội đủ Khôi Việt thay vì hai, nên tỷ lệ gặp cách cao hơn, nhưng lực từng lần giúp thường nhẹ hơn thế xung chiếu. Người hợp cách này quen biết rộng, đi đâu cũng có người nhận ra, mà những lần được đỡ tới nơi tới chốn thì không nhiều. Phá cách: Tuần Triệt rơi vào cung Mệnh hoặc vào một trong hai cung có sao, và với tuổi Tân thì Đà La an tại Thân xung chiếu thẳng Thiên Việt tại Dần.

Khôi Việt gặp Xương Khúc Khoa (đường học vấn)

Thành cách: bộ Khôi Việt hội cùng Văn Xương, Văn Khúc và Hóa Khoa trong tam phương tứ chính của Mệnh hoặc của Quan Lộc. Sách xếp đây là mạch khoa giáp: quý nhân tiến cử, văn tinh cho chữ, Hóa Khoa cho danh. Người hợp cách thi cử thuận, hợp nghề chữ nghĩa, nghiên cứu, giảng dạy, y dược, luật.

Đủ đẹp: ba tổ hợp cụ thể đã kiểm bằng bảng. Một, tuổi Giáp hoặc Mậu sinh giờ Mão hay giờ Dậu, trục Sửu Mùi có đủ Khôi, Việt, Xương, Khúc. Hai, tuổi Bính sinh giờ Sửu, Văn Xương hóa Khoa đóng ngay cung Dậu cùng Thiên Việt. Ba, tuổi Tân sinh giờ Tuất, Văn Khúc hóa Khoa đóng ngay cung Dần cùng Thiên Việt. Phá cách: Văn Xương hóa Kỵ (tuổi Tân) hoặc Văn Khúc hóa Kỵ (tuổi Kỷ) rơi vào cùng cung với Khôi Việt, khi ấy chữ nghĩa thành chỗ vướng: thi trượt oan, hồ sơ sai sót, hợp đồng có lỗi câu chữ. Đây là thế Thầy hay gặp ở người học giỏi mà đường bằng cấp lận đận.

Khôi Việt gặp sát tinh hoặc Tuần Triệt (quý nhân đến muộn hoặc không tới)

Đáng ngại: Thiên Việt gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình đồng cung, hoặc bị Tuần, Triệt án ngữ. Sách nói quý nhân khi ấy vẫn có mà không phát huy được, giúp nửa vời, lòng tốt dễ bị hiểu sai.

Cấu trúc an sao cho biết chính xác ai phải chịu phần nào. Thiên Việt không bao giờ đồng cung với Kình Dương hay Đà La, nên hai sát tinh này chỉ có thể chiếu tới hoặc kề bên, không thể đè lên. Cụ thể: tuổi Giáp, Ất, Tân, Quý có Đà La xung chiếu Thiên Việt và Kình Dương tam hợp chiếu, là nhóm bị vây chặt nhất; tuổi Mậu, Kỷ có Kình Dương đứng ngay cung liền kề. Ngược lại, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Không Kiếp, Thiên Hình an theo giờ hoặc theo tháng nên có thể chồng thẳng lên Thiên Việt, và đó mới là thế nặng thật.

Cách đọc của Thầy: sát tinh chiếu tới thì quý nhân đến muộn, sát tinh đồng cung thì quý nhân không tới. Người có Thiên Việt bị Đà La xung thường kể rằng "lần nào cũng có người hứa giúp, mà lần nào cũng phải đợi". Người có Thiên Việt bị Địa Kiếp đồng cung thì kể khác hẳn: "người ta nhận lời rồi biến mất". Còn Tuần Triệt án ngữ cung có Thiên Việt là thế đặc biệt: quý nhân bị chặn ở nửa đầu đời, thường qua ba mươi lăm tuổi mới thấy có người đỡ, nên gọi là quý nhân đến muộn chứ không phải không có.

Ba điều phải kiểm trước khi mừng vì có Khôi Việt

Một, kiểm xem có đủ cả hai sao trong tam phương tứ chính hay chỉ có một; một mình Thiên Việt thì mới là nửa bộ. Hai, kiểm xem Tuần Triệt có án ngữ cung nào trong hai cung ấy không; bị án thì cách giảm sắc rõ rệt. Ba, kiểm xem chính tinh thủ Mệnh có đủ sức nhận sự nâng đỡ không; quý nhân là người mở cửa, còn bước qua cửa vẫn phải là mình. Bỏ qua ba bước này mà chỉ đếm sao thì rất dễ đọc sai một lá số bình thường thành lá số quý.

Sao Hợp Và Sao Kỵ Với Thiên Việt

Là phụ tinh, Thiên Việt rất nhạy với dàn sao vây quanh. Gặp sao tốt thì quý khí được phát huy, gặp sao xấu thì sự nâng đỡ bị cản, lòng tốt dễ bị hiểu lầm.

Hai cột dưới đây tóm tắt nhanh những sao Thiên Việt mừng gặp và những sao Thiên Việt e ngại.

Trước khi đọc hai cột dưới đây, cần nhớ quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Thiên Việt là mạnh nhất, xung chiếu là mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn, còn giáp hai bên là thế bao vây, rất mạnh với sát tinh mà lại nhẹ với cát tinh. Với một sao quý nhân, quy tắc ấy có nghĩa rất cụ thể: cát tinh đồng cung thì quý nhân đủ sức giúp, cát tinh chiếu xa thì quý nhân chỉ nói giúp được một câu; sát tinh đồng cung thì quý nhân không tới, sát tinh chiếu tới thì quý nhân đến muộn.

Thiên Việt rất thích gặp

  • Thiên Khôi (xung chiếu, tam hợp hoặc giáp, không bao giờ đồng cung): đủ bộ quý nhân ngày và đêm. Mạnh nhất là thế xung chiếu của tuổi Giáp và Mậu, thoáng nhất là thế tam hợp của tuổi Ất, Kỷ, Canh, Tân.
  • Văn Xương, Văn Khúc (đồng cung mạnh nhất): văn tinh gặp quý tinh, đường khoa danh sáng. Chỉ một giờ sinh nhất định mới cho đồng cung, xem bảng ở mục Tứ Hóa.
  • Hóa Khoa (đồng cung mạnh nhất, chiếu vẫn tốt): quý nhân cầm sẵn tấm bằng, hợp thi tuyển và xét duyệt.
  • Tả Phụ, Hữu Bật (đồng cung hoặc giáp): người tiến cử và người phò tá đi liền nhau, việc gì cũng có người xắn tay.
  • Tử Vi, Thiên Phủ (đồng cung): đế tinh và kho tàng có thêm hiền thần đứng sau rèm, cái quý có chỗ đặt.
  • Lộc Tồn (tam hợp chiếu, riêng tuổi Bính): quý nhân dẫn tới lộc thật, giúp là giúp có thực chất. Hai sao này không bao giờ đồng cung.

Thiên Việt e ngại khi gặp

  • Tuần, Triệt án ngữ (đè thẳng lên cung có sao): quý nhân bị chặn, phần lớn tới muộn, thường phải qua nửa đầu đời mới thấy người đỡ.
  • Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung nặng nhất): người nhận lời rồi biến mất, cơ hội đến rồi tan. Đây là thế nặng hơn cả Tuần Triệt.
  • Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung): quý khí bị đốt, cơ hội đến gấp mà quyết vội nên hỏng việc.
  • Đà La (xung chiếu, không bao giờ đồng cung; nặng nhất với tuổi Giáp, Ất, Tân, Quý): được hứa rồi phải đợi, việc dùng dằng kéo dài.
  • Kình Dương (tam hợp chiếu, hoặc kề bên với tuổi Mậu, Kỷ; không bao giờ đồng cung): sự giúp đỡ kèm điều kiện, kèm cạnh tranh, dễ sinh mất lòng.
  • Thiên Hình, Thiên Riêu (đồng cung): lòng tốt vướng thị phi, quan hệ ân nghĩa dễ bị hiểu sang chuyện khác.
  • Thiếu Thiên Khôi trong tam phương tứ chính (thế cấu trúc, không phải sao): mới có nửa bộ, quý nhân chỉ đến một chiều.

Nguyên tắc xuyên suốt với một quý nhân tinh như Thiên Việt rất giản dị: hãy nhìn nó đang đứng cạnh ai. Bên cạnh văn tinh và quý tinh, nó như ánh trăng soi vào mặt nước trong, vừa sáng vừa đẹp. Bên cạnh hung tinh và bị Tuần Triệt chặn, nó như ánh trăng bị mây che, vẫn còn đó nhưng mờ nhạt, phải đợi mây tan mới rõ.

Thiên Việt Trong Đại Vận Và Lưu Niên

Đại vận đi vào cung có Thiên Việt

Đại vận đến cung có Thiên Việt, nếu cung ấy chính tinh đắc địa và không bị sát tinh phá, là mười năm có người đỡ: xin việc gặp người nhận, thi cử gặp người hướng dẫn tốt, làm ăn gặp người mở mối. Cái hay của Thiên Việt so với các sao vận khác là nó không tạo ra biến động lớn, nó chỉ làm mọi việc trôi hơn, nên nhiều người sống qua đại vận ấy rồi mới nhận ra là mình đã được nâng đỡ.

Vì Thiên Việt chỉ đóng tại Dần, Tỵ, Mùi, Thân, Dậu nên đại vận chạm tới nó cũng bị khóa theo cấu trúc ấy. Ba trong năm cung là Dần, Tỵ, Thân, tức ba trong bốn cung mã địa, nên đại vận Thiên Việt rất hay trùng với giai đoạn đời phải di chuyển: đổi chỗ ở, đổi nơi làm, đi học xa. Thầy đúc kết rằng quý nhân của Thiên Việt thường xuất hiện sau khi người ta chịu rời chỗ cũ, chứ không phải trong lúc ngồi yên. Người có đại vận Thiên Việt mà cứ bám lấy một chỗ thì mười năm ấy trôi qua khá phẳng lặng, không xấu mà cũng chẳng có gì.

Ngược lại, đại vận đến cung có Thiên Việt mà cung ấy bị Tuần Triệt án ngữ, hoặc có Không Kiếp, Hỏa Linh đồng cung, thì đọc là mười năm hụt quý nhân: nhiều lời hứa, ít kết quả; nhiều người quen, ít người thật lòng. Đây không phải mười năm tai họa, chỉ là mười năm phải tự lực, và nếu hiểu trước thì đỡ mất công đi tìm chỗ dựa.

Lưu Thiên Khôi và lưu Thiên Việt: bản lưu niên của chính sao này

Thiên Khôi và Thiên Việt thuộc nhóm sao có bản lưu niên. Cách an lưu giống hệt cách an bản mệnh, chỉ đổi tham số: lấy thiên can của năm xem thay cho thiên can năm sinh. Vì vậy vị trí lưu Thiên Việt của mọi người trong cùng một năm là như nhau, chỉ khác ở chỗ cung ấy là cung chức gì trong lá số của từng người.

Giáp

  • Các năm gần đây và sắp tới: 2024 Giáp Thìn · 2034 Giáp Dần
  • Lưu Thiên Khôi tại: Sửu
  • Lưu Thiên Việt tại: Mùi

Ất

  • Các năm gần đây và sắp tới: 2025 Ất Tỵ · 2035 Ất Mão
  • Lưu Thiên Khôi tại: Tý
  • Lưu Thiên Việt tại: Thân

Bính

  • Các năm gần đây và sắp tới: 2026 Bính Ngọ · 2036 Bính Thìn
  • Lưu Thiên Khôi tại: Hợi
  • Lưu Thiên Việt tại: Dậu

Đinh

  • Các năm gần đây và sắp tới: 2027 Đinh Mùi · 2037 Đinh Tỵ
  • Lưu Thiên Khôi tại: Hợi
  • Lưu Thiên Việt tại: Dậu

Mậu

  • Các năm gần đây và sắp tới: 2028 Mậu Thân · 2038 Mậu Ngọ
  • Lưu Thiên Khôi tại: Sửu
  • Lưu Thiên Việt tại: Mùi

Kỷ

  • Các năm gần đây và sắp tới: 2029 Kỷ Hợi · 2039 Kỷ Mùi
  • Lưu Thiên Khôi tại: Tý
  • Lưu Thiên Việt tại: Thân

Canh

  • Các năm gần đây và sắp tới: 2030 Canh Tuất · 2040 Canh Thân
  • Lưu Thiên Khôi tại: Ngọ
  • Lưu Thiên Việt tại: Dần

Tân

  • Các năm gần đây và sắp tới: 2031 Tân Hợi · 2041 Tân Dậu
  • Lưu Thiên Khôi tại: Ngọ
  • Lưu Thiên Việt tại: Dần

Nhâm

  • Các năm gần đây và sắp tới: 2032 Nhâm Tý · 2042 Nhâm Tuất
  • Lưu Thiên Khôi tại: Mão
  • Lưu Thiên Việt tại: Tỵ

Quý

  • Các năm gần đây và sắp tới: 2033 Quý Sửu · 2043 Quý Hợi
  • Lưu Thiên Khôi tại: Mão
  • Lưu Thiên Việt tại: Tỵ

Bảng này rút ra hai kết luận rất chắc. Thứ nhất, lưu Thiên Việt chỉ đi vòng quanh năm cung Dần, Tỵ, Mùi, Thân, Dậu, cộng với lưu Thiên Khôi chỉ đi vòng quanh Tý, Sửu, Mão, Ngọ, Hợi, thì suốt một đời người, hai cung Thìn và Tuất không bao giờ đón lưu Khôi hay lưu Việt. Ai có Mệnh an tại Thìn hoặc Tuất thì đừng chờ một năm nào đó lưu quý nhân về Mệnh, năm ấy không tồn tại; cái để chờ là năm lưu quý nhân về cung tam hợp hoặc về cung xung chiếu. Thứ hai, vì mỗi cung chỉ được lưu Việt ghé đúng hai năm trong mỗi mười năm, nên nhịp quý nhân của một cung là nhịp hai năm liền nhau rồi nghỉ tám năm, chẳng hạn cung Dậu được ghé vào năm Bính rồi năm Đinh, cung Tỵ được ghé vào năm Nhâm rồi năm Quý.

Cách dùng bảng cho gọn: xem cung nào trong lá số của quý vị đang giữ việc quan trọng nhất của giai đoạn này, rồi tra xem năm nào lưu Thiên Việt ghé vào cung ấy. Đó là năm nên chủ động gặp người, nộp hồ sơ, xin ý kiến, mở lời nhờ vả. Thầy nhấn mạnh chữ chủ động, vì lưu Thiên Việt không tự mang người tới nhà, nó chỉ làm cho lời nhờ của quý vị dễ được nhận lời hơn bình thường. Năm lưu Thiên Việt trùng đúng cung có Thiên Việt bản mệnh thì lực dày gấp bội, gọi là quý gặp quý; ngược lại năm lưu Việt rơi vào cung có Tuần Triệt thì coi như không ghé.

Các lưu sao khác chạm vào cung Thiên Việt

  • Lưu Thái Tuế đến cung có Thiên Việt: năm việc dính tới công quyền, giấy tờ, danh phận mà lại có người đứng ra nói giúp. Hợp làm thủ tục, xin cấp phép, kiện tụng có người hòa giải.
  • Lưu Kình Dương, lưu Đà La đến cung có Thiên Việt: năm quý nhân bị cản. Lưu Đà La thì việc bị kéo dài, hồ sơ trả đi trả lại; lưu Kình Dương thì sự giúp đỡ kèm tranh chấp, dễ mất lòng chính người giúp mình.
  • Lưu Xương Khúc đến cung có Thiên Việt: năm thi cử, xét tuyển, bảo vệ luận văn, thi chứng chỉ rất thuận. Nếu cung ấy là Quan Lộc hoặc Tử Tức thì nên nắm lấy cơ hội học hành trong năm đó.
  • Lưu Thiên Mã đến cung có Thiên Việt, mà Thiên Việt lại đóng tại Dần, Tỵ hoặc Thân: năm đi xa gặp quý nhân, hợp chuyển công tác, du học, mở thị trường mới. Đây là tổ hợp Thầy hay khuyên khách nắm lấy, vì ba trong năm cung của Thiên Việt vốn là mã địa nên tổ hợp này không hiếm.
  • Lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ đến cung có Thiên Việt: đọc ngược lại so với thói quen. Đây thường là năm có việc buồn trong họ hàng mà nhờ đó lại nối lại được một mối quan hệ cũ, hoặc năm ốm đau mà gặp được thầy thuốc giỏi. Không kết luận điều dữ, chỉ nhắc để ý sức khỏe người thân.

Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Thiên Việt

Sao quý nhân là loại sao dễ bị thổi phồng nhất, vì ai cũng muốn tin đời mình có người đỡ. Mục này nói rõ Thiên Việt không chủ về gì, để quý vị khỏi mừng hụt và cũng khỏi lo oan.

Thiên Việt không phải sao ban phát tiền bạc

Sách xếp Thiên Việt vào nhóm sao chủ khoa giáp, quyền tước và sự nâng đỡ, không xếp vào nhóm tài tinh. Tiền bạc trong lá số do Tài Bạch, Vũ Khúc, Thiên Phủ, Lộc Tồn, Hóa Lộc quyết định. Thầy gặp rất nhiều lá có Thiên Việt đẹp mà chủ nhân vẫn chật vật về tiền: họ được người quý, được người tin, được mời làm việc lớn, nhưng phần chia thì mỏng. Thiên Việt mở cửa cho quý vị bước vào phòng, còn trong phòng có gì thì phải xem sao khác. Nhầm "có quý nhân" thành "sẽ giàu" là lỗi hay gặp nhất khi người mới tự đọc lá số của mình.

Quý nhân ban đêm không có nghĩa là phải sinh ban đêm mới ứng

Sách gọi Thiên Việt là âm quý, quý nhân ban đêm, để phân biệt với Thiên Khôi là dương quý, quý nhân ban ngày. Đó là cách nói về tính chất của sự nâng đỡ, kín đáo và lặng lẽ, chứ không phải điều kiện về giờ sinh. Người sinh giờ Ngọ giữa trưa vẫn có Thiên Việt ứng đủ, người sinh giờ Tý vẫn có Thiên Khôi ứng đủ. Có sách nói thêm rằng sinh ban đêm thì Thiên Việt thuận lý hơn một bậc, cũng như sinh ban ngày thì Thiên Khôi thuận lý hơn. Đây là chỗ Thầy xin ghi là suy luận theo nguyên lý âm dương chứ không dám khẳng định là kinh văn, vì các bản sách trong tay chưa thống nhất câu chữ về điểm này.

Chuyện quý nhân là người nữ hoặc người nhỏ tuổi hơn là kinh nghiệm, không phải kinh văn

Rất nhiều tài liệu tiếng Việt viết rằng ân nhân của người có Thiên Việt thường là phụ nữ, là người chị, người cô, người thầy nữ, hoặc là người ít tuổi hơn mình. Thầy cũng thấy điều này lặp lại trên lá số thật đủ nhiều để đáng nói ra. Nhưng phải sòng phẳng: đây là kinh nghiệm và suy luận từ tượng âm của sao, chưa thấy chép thành câu dứt khoát trong Tân Biên hay Toàn Thư. Cho nên đọc thì đọc, đừng biến nó thành lời phán chắc nịch với người khác, càng không nên dựa vào đó để đoán giới tính của một người cụ thể trong đời khách.

Có Thiên Việt không có nghĩa là được miễn khổ

Sách nói quý nhân giúp giải hung, làm nhẹ cái nạn, chứ không nói xóa nạn. Trên lá số thật, thế hay gặp nhất là người có Thiên Việt vẫn phải đi qua đủ mọi khúc gập ghềnh, chỉ khác ở chỗ mỗi lần sắp gục thì có người xuất hiện. Thầy vẫn nói với khách rằng Thiên Việt không phải cái ô che mưa, nó là bàn tay kéo mình dậy sau khi ngã. Ai hiểu như vậy thì dùng được cái sao này; ai hiểu thành lá bùa hộ mệnh thì sớm muộn cũng thất vọng.

Thiên Việt và Thiên Ất quý nhân của Bát Tự không phải một

Bộ Khôi Việt của Tử Vi cũng được gọi là Thiên Ất quý nhân, trùng tên với thần sát Thiên Ất quý nhân trong Bát Tự Tứ Trụ. Hai hệ cùng lấy can làm gốc nên bảng tra na ná nhau, nhưng cách dùng khác hẳn: bên Đẩu Số, Khôi Việt là hai sao đóng vào hai cung cố định trong địa bàn mười hai cung và được luận theo cung chức, chính tinh, Tứ Hóa; bên Bát Tự, Thiên Ất quý nhân là thần sát xét theo tương quan can chi của bốn trụ. Đừng lấy lời luận của bên này áp thẳng sang bên kia. Muốn xem phần Bát Tự thì dùng công cụ lập lá số Bát Tự, không phải bài này.

Lời Khuyên Khi Có Thiên Việt

Thiên Việt vốn là sao quý, nên việc cần làm không phải là lo lắng hóa giải, mà là biết giữ gìn và nuôi lớn cái phúc quý nhân trời cho.

Dưới đây là vài điều người có Thiên Việt nổi bật trong lá số nên ghi nhớ và thực hành.

  • Biết ơn và đáp lại ân tình. Cái phúc quý nhân được nuôi bằng lòng biết ơn. Đừng xem sự giúp đỡ là đương nhiên, hãy ghi nhớ và sẵn lòng giúp lại người khác khi có thể.
  • Chủ động hơn, đừng chỉ chờ. Quý nhân giúp người chịu đi, chịu làm. Hãy tự tạo cơ hội và bước ra, đừng để cái nết quen được giúp biến thành thụ động.
  • Đầu tư cho học vấn, chữ nghĩa. Thiên Việt rất hợp đường khoa cử, học hành. Càng trau dồi tri thức và đức hạnh, quý nhân càng dễ tìm đến.
  • Giữ mình trong chuyện tình cảm. Vì có khí đào hoa nhẹ và dễ được lòng người, nên giữ chừng mực để tránh thị phi, để phúc quý nhân không bị hao bởi rắc rối không đáng.
  • Xem cả lá số trước khi kết luận. Có Thiên Việt đẹp chưa đủ, phải xem có hội Thiên Khôi không, chính tinh là sao gì, có bị Tuần Triệt hay sát tinh án ngữ không. Đây là việc nên nhờ người có chuyên môn luận giúp.

Về tinh thần sống: người có Thiên Việt nổi bật hợp nếp sống thanh nhã, gần gũi sách vở, nghệ thuật và việc thiện. Sống tử tế và biết cho đi chính là cách giữ quý nhân bền nhất, hơn mọi vật phẩm phong thủy. Đây là gợi ý chung mang tính tham khảo, muốn chuẩn xác vẫn cần dựa trên trọn bộ lá số.

Câu hỏi thường gặp

Thiên Việt là một phụ tinh quý trong Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành thuộc Âm Hỏa, thuộc chòm Nam Đẩu. Đây là quý nhân ban đêm, gọi là âm quý, cùng với Thiên Khôi là quý nhân ban ngày hợp thành bộ Thiên Ất quý nhân hay còn gọi là Khôi Việt. Thiên Việt chủ về khoa giáp, quyền tước, sự nâng đỡ âm thầm và những cơ hội đến bất ngờ, thường là quý nhân nữ.

Thiên Việt là phụ tinh quý nhân, an theo can năm sinh chứ không an theo vòng các sao chính tinh, nên không có bảng miếu vượng đắc hãm theo 12 cung địa chi như các chính tinh. Sức tốt xấu của Thiên Việt được luận theo chính tinh nó đi cùng và theo việc nó có hội đủ bộ với Thiên Khôi hay không, chứ không xét cường nhược riêng theo cung.

Khôi Việt là cách gọi chung của hai sao Thiên Khôi và Thiên Việt khi cùng có mặt trong tam phương tứ chính của một cung. Thiên Khôi là quý nhân ban ngày, Thiên Việt là quý nhân ban đêm. Khi cả hai cùng hội về Mệnh thì gọi là Tọa quý hướng quý, cả đời có quý nhân nâng đỡ, một bên giúp lúc rõ ràng, một bên giúp lúc kín đáo.

Người có Thiên Việt thủ Mệnh thường thông minh, cao thượng, nhân hậu, ưa văn chương và hay làm việc thiện. Họ hay được người khác giúp đỡ một cách bất ngờ và kín đáo, nhiều khi là quý nhân nữ. Nếu gặp thêm Thiên Khôi, Văn Xương, Văn Khúc, Hóa Khoa thì đường khoa cử công danh càng sáng.

Thiên Việt hợp với Thiên Khôi, Văn Xương, Văn Khúc, Tử Vi, Hóa Khoa, Tả Phụ, Hữu Bật, vì các sao này làm tăng quý khí và đường khoa giáp. Thiên Việt kỵ Hỏa Tinh, Linh Tinh, Thiên Hình và nhất là bị Tuần Triệt án ngữ, khi đó quý nhân chậm tới hoặc giúp nửa vời, sự cao thượng dễ bị tổn.

Không bao giờ. Thiên Khôi chỉ đóng tại Tý, Sửu, Mão, Ngọ, Hợi còn Thiên Việt chỉ đóng tại Dần, Tỵ, Mùi, Thân, Dậu, hai tập hợp này rời nhau tuyệt đối. Tùy tuổi mà hai sao xung chiếu nhau (tuổi Giáp, Mậu), tam hợp chiếu nhau (tuổi Ất, Kỷ, Canh, Tân) hoặc giáp lấy một cung ở giữa (tuổi Bính, Đinh, Nhâm, Quý). Nói lá số có Khôi Việt đồng cung là đã an sai sao.

Chỉ bốn tuổi và đúng hai cung. Tuổi Bính và Đinh có Thiên Khôi tại Hợi, Thiên Việt tại Dậu nên chỉ khi Mệnh an tại Tuất mới thành cách giáp. Tuổi Nhâm và Quý có Thiên Khôi tại Mão, Thiên Việt tại Tỵ nên chỉ khi Mệnh an tại Thìn mới thành cách. Sáu tuổi còn lại hai sao hoặc xung chiếu hoặc tam hợp, không bao giờ cách nhau đúng hai cung nên không thể giáp Mệnh.

Lưu Thiên Việt an giống hệt bản mệnh nhưng lấy can của năm xem: năm can Giáp và Mậu thì ở Mùi, Ất và Kỷ ở Thân, Bính và Đinh ở Dậu, Canh và Tân ở Dần, Nhâm và Quý ở Tỵ. Năm lưu Thiên Việt ghé vào một cung là năm nên chủ động mở lời nhờ vả, nộp hồ sơ, xin ý kiến ở lĩnh vực của cung ấy. Vì lưu Khôi và lưu Việt chỉ đi quanh mười cung nên hai cung Thìn và Tuất không bao giờ đón lưu quý nhân.