Tử Vi
Sao Tiểu Hao: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung
Tìm hiểu sao Tiểu Hao trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.
Tổng quan về sao Tiểu Hao
Tiểu Hao là sao thứ tư của vòng Bác Sĩ, đi cặp ý nghĩa với Đại Hao. Đây là một sao nhỏ thuộc loại bại tinh, chủ sự hao tổn nhỏ, chi tiêu vặt, những thất thoát lặt vặt khó tránh trong đời sống.
- Ngũ hành: Hỏa
- Nhóm: Vòng Bác Sĩ
- Cách an: Theo sao Lộc Tồn
- Cai quản: hao tổn nhỏ, chi tiêu vặt
- Tính chất: Hao tổn nhỏ
Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.
Ý nghĩa tại cung Mệnh
- Khi chính tinh sáng, có Lộc hoặc cát tinh đỡ: Người tiêu tiền dễ tay nhưng biết dừng, hào phóng vừa phải, hay đãi bạn, mua đồ nhỏ cho vui; cái hao trở thành khoản chi cho quan hệ và cho trải nghiệm, không phá được nền.
- Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Không Kiếp, Kình Đà: Tiêu theo cảm hứng, mua rồi quên, tiền lẻ chảy suốt ngày mà không biết chảy đi đâu; cuối tháng nhìn lại chỉ thấy nhiều khoản nhỏ, không có khoản nào đáng kể.
Ý nghĩa ở các cung khác
Đối chiếu ý nghĩa của Tiểu Hao với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.
Cung Phụ Mẫu
- Khi chính tinh sáng, có Lộc hoặc cát tinh đỡ: Chăm lo cho cha mẹ bằng những khoản đều đặn vừa sức, thuốc men, quà cáp, đi lại; là cái tốn ấm lòng.
- Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Không Kiếp, Kình Đà: Tiền thuốc men, đi lại thăm nom phát sinh liên tục ngoài dự tính; hoặc giấy tờ nhà đất của bậc trên có khoản phí lặt vặt kéo dài.
Cung Phúc Đức
- Khi chính tinh sáng, có Lộc hoặc cát tinh đỡ: Người biết tiêu tiền cho tinh thần: sách vở, du lịch ngắn, thú vui lành; hưởng được cái mình làm ra, sống không bủn xỉn.
- Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Không Kiếp, Kình Đà: Tâm hay bận vì những khoản nhỏ, tính toán vụn, tiếc của mà vẫn tiêu; hoặc tiêu để khỏa lấp cảm giác trống, tiêu xong lại tiếc.
Cung Điền Trạch
- Khi chính tinh sáng, có Lộc hoặc cát tinh đỡ: Nhà cửa có sửa sang nhỏ đều đặn, thay đồ mới, chỉnh trang; tốn ít mà nhà đẹp dần, tài sản gốc vẫn giữ.
- Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Không Kiếp, Kình Đà: Nhà hay hỏng vặt: điện nước, thấm dột, đồ điện; tiền sửa nhỏ mà nhiều lần, cộng lại bằng một khoản lớn. Nên sửa dứt điểm thay vì chắp vá.
Cung Quan Lộc
- Khi chính tinh sáng, có Lộc hoặc cát tinh đỡ: Công việc có nhiều đầu mục nhỏ, chi phí vận hành đều đặn nhưng kiểm soát được; hợp nghề dịch vụ, hành chính, quản lý vật tư.
- Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Không Kiếp, Kình Đà: Việc vụn, chi phí phát sinh liên tục, thời gian bị cắt vụn bởi việc lặt vặt nên khó dồn sức cho việc lớn; nên gom việc thành khối và giao bớt.
Cung Nô Bộc
- Khi chính tinh sáng, có Lộc hoặc cát tinh đỡ: Bạn bè đông, hay tụ họp, chi phí giao tế đều tay nhưng đổi lại là mạng lưới quan hệ rộng và bền.
- Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Không Kiếp, Kình Đà: Hao vì người quen: bao ăn, cho mượn, gánh phần chung; người nhờ thì nhiều mà người giúp lại lúc mình cần thì ít.
Cung Thiên Di
- Khi chính tinh sáng, có Lộc hoặc cát tinh đỡ: Ra ngoài hay tốn nhưng tốn có lãi: đi lại, giao tiếp, ăn uống với đối tác đều sinh mối; người này hợp nghề phải di chuyển.
- Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Không Kiếp, Kình Đà: Đi đâu cũng phát sinh chi phí ngoài kế hoạch, mất đồ vặt khi đi đường, hành lý thất lạc, ví tiền điện thoại dễ rơi; nên đi ít đồ và giữ giấy tờ cẩn thận.
Cung Tật Ách
- Khi chính tinh sáng, có Lộc hoặc cát tinh đỡ: Bệnh vặt là chính, cảm sốt, đau bụng, mỏi mệt theo mùa; đi khám sớm thì hết nhanh, không thành bệnh mạn.
- Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Không Kiếp, Kình Đà: Bệnh lặt vặt kéo dài, khám nhiều nơi mà không dứt, tiền thuốc rải rác tốn hơn một lần chữa đúng chỗ; nên khám một nơi cho trọn đợt.
Cung Tài Bạch
- Khi chính tinh sáng, có Lộc hoặc cát tinh đỡ: Tiền vào đều, ra cũng đều, dòng tiền sống động; hợp nghề buôn bán vòng quay nhanh, lấy công làm lãi, nhiều giao dịch nhỏ hơn là một mối lớn.
- Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Không Kiếp, Kình Đà: Rò rỉ là chữ đúng nhất: phí dịch vụ, phí trễ hạn, tiền sửa chữa, đồ mua rồi bỏ; không có biến cố nào nhưng tiền cứ hụt so với tính toán.
Cung Tử Tức
- Khi chính tinh sáng, có Lộc hoặc cát tinh đỡ: Con cái tốn tiền học thêm, tiền đồ dùng, tiền đi lại, nhưng đó là tốn có kết quả; cha mẹ nên coi đây là khoản đầu tư đều tay.
- Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Không Kiếp, Kình Đà: Chi cho con theo lối chiều chuộng, mua nhiều đồ mà con không dùng hết; hoặc con hay làm hỏng làm mất đồ, cần dạy giữ của từ nhỏ.
Cung Phu Thê
- Khi chính tinh sáng, có Lộc hoặc cát tinh đỡ: Hai vợ chồng chi tiêu thoải mái, hay mua quà cho nhau, sống có hưởng thụ; tiền không dư nhiều nhưng không thành chuyện tranh cãi.
- Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Không Kiếp, Kình Đà: Bất đồng về chi tiêu vặt là mối cãi vã lặp lại nhiều nhất, không phải chuyện lớn mà chuyện tiền chợ, tiền cà phê, tiền mua sắm; nên có quỹ riêng và quỹ chung tách bạch.
Cung Huynh Đệ
- Khi chính tinh sáng, có Lộc hoặc cát tinh đỡ: Anh em bạn bè hay nhờ vả những việc nhỏ, tốn chút tiền chút công nhưng tình vẫn giữ được; hợp làm người đứng ra lo việc chung trong nhà.
- Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Không Kiếp, Kình Đà: Hay phải bù cho anh em những khoản lặt vặt, cho vay ít mà đòi khó, lâu ngày sinh nản; cần nói rõ ranh giới tiền bạc từ đầu.
Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Tiểu Hao không có phép an riêng. Nó là một mắt trong một chuỗi mười hai mắt, và chuỗi ấy tên là vòng Bác Sĩ. Phép an gồm đúng ba bước. Bước một, lấy thiên can năm sinh mà định vị Lộc Tồn. Bước hai, đặt Bác Sĩ ngay tại cung Lộc Tồn, rồi đếm tiếp Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ. Bước ba, chọn chiều đếm: người dương nam và âm nữ đếm thuận theo chiều kim đồng hồ của địa bàn, người âm nam và dương nữ đếm nghịch. Âm hay dương là xét thiên can năm sinh: Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm là can dương; Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý là can âm.
Từ ba bước ấy rút ra một điều gọn mà nhiều người đọc sao hay bỏ qua: Tiểu Hao đứng thứ tư trong vòng, tức cách Bác Sĩ ba nhịp, mà Bác Sĩ thì nằm đúng cung Lộc Tồn, cho nên Tiểu Hao luôn cách Lộc Tồn đúng ba cung, thuận thì ba cung xuôi, nghịch thì ba cung ngược. Không có ngoại lệ nào trong mười can và hai chiều. Nói cách khác, chỉ cần nhìn thấy Lộc Tồn trên lá số là quý vị đã biết Tiểu Hao ở đâu, không cần tra bảng.
Bảng dưới đây liệt kê đủ mười tuổi can, kèm cả hai chiều đếm, để quý vị đối chiếu trực tiếp với lá số của mình.
Giáp (can dương)
- Lộc Tồn tại: Dần
- Tiểu Hao khi đếm thuận (dương nam, âm nữ): Tỵ
- Tiểu Hao khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ): Hợi
Ất (can âm)
- Lộc Tồn tại: Mão
- Tiểu Hao khi đếm thuận (dương nam, âm nữ): Ngọ
- Tiểu Hao khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ): Tý
Bính (can dương)
- Lộc Tồn tại: Tỵ
- Tiểu Hao khi đếm thuận (dương nam, âm nữ): Thân
- Tiểu Hao khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ): Dần
Đinh (can âm)
- Lộc Tồn tại: Ngọ
- Tiểu Hao khi đếm thuận (dương nam, âm nữ): Dậu
- Tiểu Hao khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ): Mão
Mậu (can dương)
- Lộc Tồn tại: Tỵ
- Tiểu Hao khi đếm thuận (dương nam, âm nữ): Thân
- Tiểu Hao khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ): Dần
Kỷ (can âm)
- Lộc Tồn tại: Ngọ
- Tiểu Hao khi đếm thuận (dương nam, âm nữ): Dậu
- Tiểu Hao khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ): Mão
Canh (can dương)
- Lộc Tồn tại: Thân
- Tiểu Hao khi đếm thuận (dương nam, âm nữ): Hợi
- Tiểu Hao khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ): Tỵ
Tân (can âm)
- Lộc Tồn tại: Dậu
- Tiểu Hao khi đếm thuận (dương nam, âm nữ): Tý
- Tiểu Hao khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ): Ngọ
Nhâm (can dương)
- Lộc Tồn tại: Hợi
- Tiểu Hao khi đếm thuận (dương nam, âm nữ): Dần
- Tiểu Hao khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ): Thân
Quý (can âm)
- Lộc Tồn tại: Tý
- Tiểu Hao khi đếm thuận (dương nam, âm nữ): Mão
- Tiểu Hao khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ): Dậu
Đọc dọc bảng sẽ thấy một chuyện đáng chú ý. Lộc Tồn theo phép an cổ không bao giờ đóng bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, tức bốn cung mộ khố, vì hai cung Thìn Tuất là chỗ của Thiên la Địa võng và hai cung Sửu Mùi là chỗ của Tuần Triệt gốc, sách xưa gọi chung là bốn cung không chứa Lộc. Tiểu Hao dịch khỏi Lộc Tồn ba cung, mà ba cung là bước nhảy giữ nguyên nhóm bốn: cung tứ sinh nhảy ba thành tứ chính, tứ chính nhảy ba thành tứ sinh. Cho nên Tiểu Hao cũng thừa hưởng đúng lệnh cấm ấy. Chạy đủ mười can nhân hai chiều thì Tiểu Hao chỉ tới được tám cung Tý, Dần, Mão, Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi, còn bốn cung Sửu, Thìn, Mùi, Tuất thì vĩnh viễn không tới.
Hệ quả kéo theo rất cụ thể. Những sao bị khóa cứng ở bốn cung mộ khố thì không đời nào đồng cung với Tiểu Hao. Chạy đối chiếu toàn bộ bảng an sao của trang thì danh sách ấy gồm Hoa Cái, Quả Tú, Thiên Sát, Nguyệt Sát và Phan An, cả năm sao đều chỉ đóng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Ai đọc thấy một trang nào viết "Tiểu Hao gặp Hoa Cái" hay "Tiểu Hao đồng cung Quả Tú" thì đó là câu chép nhầm, không phải dị bản của một phái khác.
Ở chiều ngược lại, tám cung Tiểu Hao tới được đều là cung mà mười bốn chính tinh đều có thể đi qua, nên không có chính tinh nào vĩnh viễn không gặp Tiểu Hao. Cái bị loại trừ nằm ở nhóm phụ tinh mộ khố, không nằm ở chính tinh.
Những điều bất biến của Tiểu Hao
- Chỉ tới tám cung: Tý, Dần, Mão, Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi. Bốn cung Sửu, Thìn, Mùi, Tuất thì không bao giờ.
- Luôn cách Lộc Tồn đúng ba cung, nên không bao giờ đồng cung, không bao giờ xung chiếu và cũng không bao giờ tam hợp với Lộc Tồn. Tiểu Hao và Lộc Tồn là hai người ở gần mà không nhìn thấy nhau.
- Luôn xung chiếu Đại Hao, khoảng cách cố định 6 cung. Kiểm bằng máy đủ mười can nhân hai chiều, kết quả duy nhất là 6.
- Luôn tam hợp với một trong hai sao Kình Đà: người đếm thuận thì Tiểu Hao tam hợp Đà La, người đếm nghịch thì tam hợp Kình Dương. Không bao giờ đồng cung với Kình hay Đà.
- Không bao giờ đồng cung với Hoa Cái, Quả Tú, Thiên Sát, Nguyệt Sát, Phan An.
- Mọi chính tinh đều có thể đồng cung với Tiểu Hao, không sao nào bị loại.
Với Tiểu Hao chỉ cần ba câu hỏi: Lộc Tồn ở đâu, người này đếm thuận hay nghịch, và cung cách Lộc Tồn ba nhịp ấy đang là cung chức gì. Trả lời xong ba câu là đã đặt được sao vào đúng chỗ, phần còn lại mới là luận.
Vị Trí Trong Lá Số Và Cách An Rút Gọn
Vòng Bác Sĩ gồm mười hai sao an theo sao Lộc Tồn. Bác Sĩ luôn đứng cùng cung với Lộc Tồn, rồi lần lượt Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ được an theo chiều thuận với người dương nam âm nữ và nghịch với người âm nam dương nữ.
Trong vòng mười hai sao, Tiểu Hao giữ vị trí cố định theo thứ tự. Biết Bác Sĩ (cùng cung Lộc Tồn) ở đâu và chiều an thuận hay nghịch là suy ra được vị trí Tiểu Hao.
Đặc Tính Và Ý Nghĩa Của Tiểu Hao
Theo Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, Đại Hao và Tiểu Hao là bại tinh, chủ sự hoang hủy, làm hao hụt tài lộc, gây ly tán xa cách. Riêng Tiểu Hao là mức nhẹ: những hao tổn vặt, chi tiêu lặt vặt, thất thoát nhỏ, hơn là phá tán lớn.
Ở cung Tài, Tiểu Hao nhắc giữ của, tránh rò rỉ tiền bạc. Là sao nhỏ, nó không gây đại họa; có Lộc Tồn và chính tinh sáng thì cái hao được bù.
Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
Trước khi đọc hai cột dưới, xin nhớ quy tắc về lực, vì cùng một sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho kết quả khác hẳn nhau. Đồng cung là mạnh nhất, hai sao trộn vào nhau thành một tính chất mới. Xung chiếu mạnh nhì, sao bên kia bắn thẳng sang, luôn có mặt trong mọi quyết định của cung này. Tam hợp chiếu nhẹ hơn, giống người đứng xa góp lời, có ảnh hưởng nhưng không áp đặt. Giáp hai bên là thế bao vây, mạnh với sát tinh vì bị kẹp thì khó xoay, nhẹ với cát tinh vì được đỡ thì chỉ thêm êm. Với Tiểu Hao còn một tầng nữa: nó không bao giờ đồng cung với Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La, Hoa Cái, Quả Tú, cho nên những sao ấy chỉ tới được bằng đường chiếu hoặc đường giáp, và mỗi dòng dưới đây đều ghi rõ vị thế khả dĩ.
Tiểu Hao nhẹ đi khi gặp
- Lộc Tồn, tam hợp hoặc giáp (không thể đồng cung): kho đầy thì cái rò không thành chuyện, thu bù được chi.
- Chính tinh hóa Lộc, đồng cung: dòng tiền lớn, hao lớn nhưng lãi cũng lớn, đáng làm.
- Chính tinh miếu vượng, đồng cung: nền vững thì hao vặt chỉ là chi phí vận hành.
- Thiên Phủ, Vũ Khúc, đồng cung: hai sao chủ kho và chủ tiền, kéo Tiểu Hao về nếp giữ của.
- Thanh Long đứng giáp một bên (vị thế cố định của vòng): việc hanh thông nên hao đi kèm sinh lợi.
- Hỷ Thần, tam hợp (vị thế cố định của vòng): tiêu vào việc vui, việc mừng, tiêu xong lòng nhẹ.
- Thiên Lương, đồng cung hoặc chiếu: chủ ấm, chủ che, làm cái hao chậm lại.
Tiểu Hao nặng thêm khi gặp
- Đại Hao, xung chiếu (vị thế duy nhất có thể, không bao giờ đồng cung): trục hao lớn hao nhỏ nối nhau, cần một sổ chi rõ ràng.
- Hóa Kỵ, đồng cung: hao thành khoản nhỏ lặp lại, phí phạt, phí trễ, tiền sửa; nặng nhất trong các thế.
- Địa Không, Địa Kiếp, đồng cung: hao chuyển thành mất trắng, tiêu rồi không còn dấu vết.
- Kình Dương hoặc Đà La, tam hợp chiếu (không thể đồng cung): hao kèm bực dọc, hao vì tranh chấp hoặc vì chậm trễ.
- Hỏa Tinh, Linh Tinh, đồng cung: chi tiêu bốc đồng, quyết trong một phút rồi tiếc cả tháng.
- Phá Quân hãm, đồng cung: phá cũ mà chưa dựng được mới, tiền đi trước kết quả.
- Tuần Triệt án ngữ: cái hao bị chặn lại nửa chừng, việc chi tiêu hay dở dang, mua rồi trả, làm rồi hủy.
Tóm lại, cùng một sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho kết quả khác nhau, và với Tiểu Hao còn thêm một tầng nữa: cấu trúc vòng Bác Sĩ không cho phép nó đồng cung với Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La hay Đại Hao, nên bốn sao ấy chỉ tới được bằng đường chiếu và đường giáp. Khi đọc một dòng trong hai cột trên, xin đọc kèm vị thế ghi ngay sau tên sao.
Tiểu Hao Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Đại vận đi vào cung có Tiểu Hao
Mười năm đại vận đóng vào cung có Tiểu Hao bản mệnh là mười năm dòng tiền chảy nhanh hơn bình thường. Không phải mười năm nghèo, mà là mười năm thu chi đều tăng, nhiều khoản nhỏ, nhiều giao dịch, nhiều đầu mục. Nếu cung ấy có chính tinh sáng và có Lộc thì đây thường là đại vận mở rộng: mở thêm điểm bán, thêm người, thêm ngành, tiền ra nhiều vì đang gieo. Nếu cung ấy hãm, có Kỵ hoặc Không Kiếp, thì mười năm ấy dễ thành mười năm bận rộn mà không tích lũy, làm không ít mà nhìn lại số dư không đổi.
Thầy hay dặn khách đang ở đại vận này ba việc rất đời thường, không có gì huyền bí. Một là đặt một cái sổ chi tiêu chung cho cả mười năm, ghi theo tháng, chỉ cần ghi khoản trên một mức nào đó, mục đích là để nhìn thấy chỗ rò chứ không phải để tiết kiệm. Hai là mỗi năm rà lại các khoản trả định kỳ, thuê bao, phí duy trì, bảo hiểm, dịch vụ; loại hao của Tiểu Hao thường nấp ở đây. Ba là đừng đổi quyết định lớn về tài sản trong năm đầu và năm cuối đại vận, vì hai năm giao thoa thường xáo hơn.
Tiểu Hao có bản lưu niên, và đây là điểm phân biệt với nhiều phụ tinh khác
Trong bốn vòng phụ tinh, chỉ vòng Thái Tuế và vòng Bác Sĩ có bản lưu niên. Vòng Thái Tuế lưu theo địa chi năm đang xem, vòng Bác Sĩ lưu theo thiên can năm đang xem, vì gốc của nó là Lộc Tồn mà Lộc Tồn an theo can. Ngược lại, vòng Tràng Sinh không có bản lưu vì nó an theo Cục của lá số, mà Cục thì cố định suốt đời; các sao an theo tháng sinh như Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Hình, Thiên Riêu và các sao an theo giờ sinh như Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp cũng không có bản lưu, vì tháng sinh và giờ sinh không thay đổi theo năm.
Vậy Tiểu Hao có hai lớp. Lớp thứ nhất là Tiểu Hao bản mệnh, đứng yên suốt đời, an theo can năm sinh. Lớp thứ hai là lưu Tiểu Hao, mỗi năm dời một chỗ, an theo can năm đang xem: tìm lưu Lộc Tồn của năm ấy rồi đếm ba nhịp theo đúng chiều thuận nghịch của người đó. Bảng dưới đây tính sẵn lưu Lộc Tồn và lưu Tiểu Hao cho các năm tới.
2026 Bính Ngọ
- Lưu Lộc Tồn: Tỵ
- Lưu Tiểu Hao (người đếm thuận): Thân
- Lưu Tiểu Hao (người đếm nghịch): Dần
2027 Đinh Mùi
- Lưu Lộc Tồn: Ngọ
- Lưu Tiểu Hao (người đếm thuận): Dậu
- Lưu Tiểu Hao (người đếm nghịch): Mão
2028 Mậu Thân
- Lưu Lộc Tồn: Tỵ
- Lưu Tiểu Hao (người đếm thuận): Thân
- Lưu Tiểu Hao (người đếm nghịch): Dần
2029 Kỷ Dậu
- Lưu Lộc Tồn: Ngọ
- Lưu Tiểu Hao (người đếm thuận): Dậu
- Lưu Tiểu Hao (người đếm nghịch): Mão
2030 Canh Tuất
- Lưu Lộc Tồn: Thân
- Lưu Tiểu Hao (người đếm thuận): Hợi
- Lưu Tiểu Hao (người đếm nghịch): Tỵ
2031 Tân Hợi
- Lưu Lộc Tồn: Dậu
- Lưu Tiểu Hao (người đếm thuận): Tý
- Lưu Tiểu Hao (người đếm nghịch): Ngọ
2032 Nhâm Tý
- Lưu Lộc Tồn: Hợi
- Lưu Tiểu Hao (người đếm thuận): Dần
- Lưu Tiểu Hao (người đếm nghịch): Thân
2033 Quý Sửu
- Lưu Lộc Tồn: Tý
- Lưu Tiểu Hao (người đếm thuận): Mão
- Lưu Tiểu Hao (người đếm nghịch): Dậu
2034 Giáp Dần
- Lưu Lộc Tồn: Dần
- Lưu Tiểu Hao (người đếm thuận): Tỵ
- Lưu Tiểu Hao (người đếm nghịch): Hợi
2035 Ất Mão
- Lưu Lộc Tồn: Mão
- Lưu Tiểu Hao (người đếm thuận): Ngọ
- Lưu Tiểu Hao (người đếm nghịch): Tý
Cách dùng bảng này rất gọn. Trước hết xem lưu Tiểu Hao của năm ấy rơi vào cung chức nào trên lá số gốc, đó là lĩnh vực dễ phát sinh chi vặt trong năm. Sau đó xem nó có trùng cung với Tiểu Hao bản mệnh không; năm trùng phùng là năm cái nết tiêu tiền của người ấy lộ rõ nhất, nên chủ động lập kế hoạch chi từ đầu năm. Cuối cùng xem nó có rơi vào cung đang là đại vận không, vì ba lớp chồng lên nhau mới đáng nói, một lớp thì chưa.
Các lưu sao chạm vào cung có Tiểu Hao
Trong một năm, cung có Tiểu Hao bản mệnh còn bị các lưu sao khác đi qua, và đây mới là chỗ quyết định năm ấy nặng hay nhẹ. Lưu Kình Dương hoặc lưu Đà La tới cung ấy thì hao kèm bực dọc, thường là tranh chấp nhỏ, phạt, kiện tụng vặt, sửa chữa. Lưu Thái Tuế tới thì việc trong năm dồn về cung ấy, hao vì phải làm nhiều. Lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ tới thì hao vì việc hiếu hỷ, thăm nom, thuốc men. Lưu Lộc Tồn hoặc lưu Hóa Lộc tới thì ngược lại, năm ấy thu bù được chi, là năm nên mạnh dạn đầu tư. Nguyên tắc chung: một lưu sao đơn lẻ chưa đủ để kết luận, phải có ít nhất hai lớp cùng chỉ về một cung thì mới thành dấu hiệu đáng nói.
Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Tiểu Hao
Tên sao có chữ Hao, mà chữ Hao nghe đã thấy mất mát, nên đây là một trong những sao bị nói quá nhiều nhất trong bộ phụ tinh. Mục này nói rõ sách nói gì và không nói gì.
Hiểu lầm một: có Tiểu Hao là năm nay mất tiền
Tân Biên xếp Đại Hao và Tiểu Hao vào loại bại tinh, chủ sự hoang hủy, làm hao hụt tài lộc, gây ly tán xa cách. Đó là tính chất của sao, không phải một lời báo sự việc. Sách không nói ai có Tiểu Hao thì năm nào cũng mất tiền, cũng không định ra số tiền, không định ra thời điểm.
Trên thực tế luận số, Tiểu Hao là phụ tinh nhỏ, và một phụ tinh nhỏ chưa bao giờ đủ sức phán một biến cố. Cái quyết định vẫn là chính tinh của cung, độ sáng tối của chính tinh ấy, Tứ Hóa rơi vào đâu, và tam phương tứ chính chiếu gì. Tiểu Hao chỉ thêm một sắc thái: chỗ này có rò rỉ. Rò rỉ ở một cái bể đầy thì không sao, rò rỉ ở một cái bể đã cạn mới thành chuyện. Nhìn cái bể trước, nhìn chỗ rò sau.
Hiểu lầm hai: lẫn Đại Hao vòng Bác Sĩ với Đại Hao là tên khác của Tuế Phá
Đây là chỗ lẫn thường gặp nhất, và nó khiến người đọc tưởng mình có tới hai sao Đại Hao. Trong vòng Bác Sĩ, Đại Hao đứng thứ mười, an theo Lộc Tồn, tức theo can năm sinh, và luôn xung chiếu Tiểu Hao. Trong vòng Thái Tuế lại có sao Tuế Phá, an theo chi năm sinh, luôn xung chiếu Thái Tuế, và một số sách gọi Tuế Phá bằng tên khác là Đại Hao. Hai sao ấy an theo hai tham số khác nhau, hoàn toàn có thể ở hai cung khác nhau trên cùng một lá số. Khi tra sách hoặc tra trang mạng, quý vị phải nhìn xem tác giả đang nói tới vòng nào; trang này khi viết Đại Hao là nói tới sao thứ mười của vòng Bác Sĩ, còn Tuế Phá thì gọi đúng tên Tuế Phá.
Hiểu lầm ba: Tiểu Hao có bảng miếu vượng đắc hãm mười hai cung
Một số trang có dựng bảng miếu vượng đắc hãm cho Tiểu Hao đủ mười hai cung. Bài này không dùng bảng ấy vì hai lý do. Thứ nhất, Tiểu Hao chỉ an được ở tám cung, nên bốn dòng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi trong những bảng ấy là bốn dòng mô tả một trường hợp không tồn tại. Thứ hai, thư tịch gốc mà trang này dẫn không lập bảng sáng tối cho Tiểu Hao. Cái quyết định mạnh yếu của một sao thuộc vòng Bác Sĩ là vị trí của nó trong vòng và bộ sao cùng cung, không phải độ sáng tối của riêng nó.
Hiểu lầm bốn: Tiểu Hao có câu phú riêng
Phần lớn phụ tinh nhỏ trong bốn vòng không có phú riêng, và Tiểu Hao nằm trong số đó. Những câu phú quen thuộc mà người ta hay gán cho nó thực ra là phú của Phá Quân, của Không Kiếp hoặc của Lộc Tồn. Bài này không dẫn câu phú nào cho Tiểu Hao, vì không có thì thôi, chép thêm vào chỉ làm người đọc tin nhầm. Chỗ nào bài viết nói chắc là chỗ đã kiểm bằng thuật toán an sao, chỗ nào là kinh nghiệm hay suy luận thì đã gắn thẻ ngay đầu câu.
Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải
Tiểu Hao không phải sao cần trấn yểm. Nó là một cái van nhỏ luôn mở, và mọi lời khuyên dưới đây đều xoay quanh một chữ: thấy. Cái hao của sao này nguy hiểm không phải vì lớn mà vì không nhìn thấy. Thấy được rồi thì nó thành một khoản chi bình thường, quản được như mọi khoản khác.
Ba việc làm được ngay
Một, rà lại các khoản trả tự động mỗi nửa năm. Thuê bao, phí duy trì, gói dịch vụ, bảo hiểm nhỏ, phí tài khoản. Đây là chỗ Tiểu Hao ẩn nấp nhiều nhất trong đời sống hôm nay, vì tiền tự đi mà chủ không thấy. Hai, đặt một ngưỡng ghi chép. Không cần ghi từng đồng, chỉ ghi khoản từ một mức nào đó trở lên, mục đích là thấy được hình dạng của dòng chảy chứ không phải để hà tiện. Ba, chia quỹ. Một quỹ cho chi tiêu tùy hứng, tiêu hết thì dừng, phần còn lại chuyển sang chỗ khó rút. Người có Tiểu Hao nặng mà làm được ba việc này thì trong một năm là thấy khác.
Khi Tiểu Hao đi với Kỵ, Không Kiếp hoặc Hỏa Linh
Với các tổ hợp nặng, cách xử lý không phải là né mà là chậm lại và cắt gốc. Chậm lại nghĩa là mọi khoản chi ngoài kế hoạch đều để qua một đêm mới quyết, riêng khoản lớn thì để qua một tuần. Cắt gốc nghĩa là tìm cho ra nguyên nhân lặp lại chứ đừng vá từng lần: đồ hay hỏng thì thay hẳn một lần cho tốt, bệnh vặt kéo dài thì khám dứt một đợt ở một nơi, khoản phạt lặp lại thì sửa quy trình chứ đừng chỉ nộp phạt.
Đừng chống cái hao, hãy đổi chỗ cho nó
Đây là lời Thầy hay nói nhất về sao này. Cái hao không triệt được, nhưng chuyển hướng được. Người có Tiểu Hao mạnh mà cố nhịn tiêu thì thường bung ra một lần lớn hơn. Thay vì nhịn, hãy chủ động dành ra một phần cố định cho những việc tiêu mà có kết quả: học một nghề, sửa nhà cho dứt điểm, khám sức khỏe định kỳ, giúp người thân một khoản đã định trước. Tiêu có chủ đích thì cùng số tiền ấy mà lòng nhẹ và việc còn lại.
Phong thủy bổ trợ, ghi rõ là gợi ý chung: những việc như giữ nhà cửa gọn gàng, sửa ngay vòi nước rò và đồ điện hỏng, không để ví tiền và giấy tờ vương vãi, cất tiền mặt ở một chỗ cố định, đều thuộc loại điều chỉnh nếp sống và bài trí. Đây không phải trấn yểm, không thay thế được nỗ lực của bản thân và cũng không sửa được lá số. Ai nói chỉ cần đeo một vật là hết hao thì quý vị nên dè chừng.
Lời cuối cho mục này: giữ được của là một cái nết, không phải một lá bùa. Sao chỉ cho biết mình rò ở đâu, bịt hay không là việc của người. Người có Tiểu Hao mà sống có sổ sách thì cả đời không thấy sao ấy làm phiền mình lần nào.
Câu hỏi thường gặp
Tiểu Hao là sao thứ tư của vòng Bác Sĩ trong Tử Vi Đẩu Số, đi cặp ý nghĩa với Đại Hao. Đây là bại tinh nhỏ, chủ sự hao tổn nhỏ, chi tiêu vặt và những thất thoát lặt vặt.
Cùng là bại tinh chủ hao tài, nhưng Tiểu Hao là mức nhẹ với những hao tổn vặt, chi tiêu lặt vặt; còn Đại Hao là mức nặng, chủ phá tán lớn, mất mát đáng kể.
Tiểu Hao ở Tài Bạch nhắc giữ của, tránh rò rỉ tiền bạc và chi tiêu lặt vặt. Có Lộc Tồn, Hóa Lộc và chính tinh sáng thì cái hao được bù, không đáng ngại.
Trong lưu niên, cung gặp Tiểu Hao thường có chi tiêu vặt, hao tốn nhỏ và các khoản phát sinh lặt vặt, là lời nhắc giữ của và liệu chi chứ không phải biến cố lớn.
Tiểu Hao an theo Lộc Tồn nên chỉ tới được tám cung là Tý, Dần, Mão, Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi. Bốn cung mộ khố Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì Tiểu Hao không bao giờ tới, vì Lộc Tồn vốn không đóng bốn cung ấy mà Tiểu Hao lại luôn cách Lộc Tồn đúng ba cung. Kết quả này đã chạy đủ mười tuổi can nhân hai chiều đếm.
Luôn luôn cách nhau đúng sáu cung, tức luôn xung chiếu nhau, và vì thế không bao giờ đồng cung, cũng không bao giờ tam hợp. Lý do nằm ở cấu trúc vòng Bác Sĩ: Tiểu Hao đứng thứ tư, Đại Hao đứng thứ mười, cách nhau đúng sáu nhịp, mà mười hai sao của vòng chiếm mười hai cung liền nhau nên khoảng cách trong vòng cũng là khoảng cách trên địa bàn.
Có. Vòng Bác Sĩ an theo Lộc Tồn mà Lộc Tồn an theo thiên can, nên mỗi năm có một bản lưu: lấy can của năm đang xem để định lưu Lộc Tồn, rồi đếm ba nhịp theo đúng chiều thuận nghịch của người đó thì ra lưu Tiểu Hao. Đây là điểm khác với vòng Tràng Sinh và với các sao an theo tháng sinh, giờ sinh, những sao ấy không có bản lưu vì tham số của chúng không đổi theo năm.
Không. Bảng Tứ Hóa theo can chỉ gọi tên mười bốn chính tinh cùng Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật; Tiểu Hao không có tên ở bất kỳ can nào. Nhưng khi Tiểu Hao đứng cùng cung với một chính tinh đang hóa thì sắc thái đổi rõ: cùng Hóa Lộc là thu chi đều lớn, cùng Hóa Quyền là hao để giữ vị trí, cùng Hóa Khoa là hao vào việc học, cùng Hóa Kỵ là khoản nhỏ lặp lại nhiều lần.