Tử Vi
Sao Triệt Không: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung
Tìm hiểu sao Triệt Không trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.
Tổng quan về sao Triệt Không
Triệt Không, gọi đủ là Triệt Lộ Không Vong, cũng không phải một tinh diệu thường mà là một không vong án ngữ hai cung. Triệt an theo thiên can năm sinh, có tác dụng cắt và làm trống khí của cung nó án ngữ, thường được xem là mạnh hơn Tuần.
- Ngũ hành: Theo can năm
- Nhóm: Phụ Tinh Không Vong
- Cách an: Triệt không (triệt lộ không vong) an theo thiên can năm sinh, án ngữ hai cung
- Cai quản: không vong, cắt khí, hóa giải mạnh
- Tính chất: Án ngữ, cắt khí
Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.
Ý nghĩa tại cung Mệnh
- Khi cung ấy vốn nhiều hung tinh, sát tinh, Hóa Kỵ: Cái dữ trong người bị chặt đứt: bớt liều, bớt cực đoan, tính khí đổi hẳn sau một biến cố tuổi trẻ. Mệnh vô chính diệu có Triệt án ngữ là thế kinh văn khen, cung trở nên sáng sủa và bền hơn.
- Khi cung ấy vốn có chính tinh sáng, cát tinh, Hóa Lộc Quyền Khoa: Tuổi trẻ trầy trật rõ rệt, có một quãng đứt gãy để lại dấu: bỏ học, đổi nghề, rời quê. Tài có mà nửa đời đầu không dùng được, thường phải qua ba mươi lăm tuổi mới vào nhịp.
Ý nghĩa ở các cung khác
Đối chiếu ý nghĩa của Triệt Không với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.
Cung Phụ Mẫu
- Khi cung ấy vốn nhiều hung tinh, sát tinh, Hóa Kỵ: Xung khắc nặng với cha mẹ chấm dứt, thường sau khi mỗi người một nơi. Cha mẹ có hạn mà qua được.
- Khi cung ấy vốn có chính tinh sáng, cát tinh, Hóa Lộc Quyền Khoa: Sớm xa cha mẹ, sớm tự lập, hoặc thiếu một bên. Cũng có thể chỉ là rời nhà đi học đi làm rất sớm rồi ít về.
Cung Phúc Đức
- Khi cung ấy vốn nhiều hung tinh, sát tinh, Hóa Kỵ: Nỗi day dứt trong lòng được cắt đứt sau một biến cố, người trở nên nhẹ nhõm hẳn. Đây là thế hay gặp ở người từng đi qua một quãng rất khó rồi buông được.
- Khi cung ấy vốn có chính tinh sáng, cát tinh, Hóa Lộc Quyền Khoa: Phúc ấm dòng họ đứt một mạch, hưởng không trọn. Tâm hay có cảm giác mất gốc, phải tự dựng lại nền tảng tinh thần của riêng mình.
Cung Điền Trạch
- Khi cung ấy vốn nhiều hung tinh, sát tinh, Hóa Kỵ: Tranh chấp nhà đất được cắt dứt, kiện cáo giấy tờ xong hẳn chứ không kéo dài nhiều năm.
- Khi cung ấy vốn có chính tinh sáng, cát tinh, Hóa Lộc Quyền Khoa: Tài sản có rồi mất một lần, hoặc phải bán đi để giải quyết việc khác. Thừa kế hụt, hoặc nhà cửa phải dời.
Cung Quan Lộc
- Khi cung ấy vốn nhiều hung tinh, sát tinh, Hóa Kỵ: Rắc rối nghề nghiệp, kỷ luật, kiện tụng bị chặn lại, không thành án, không thành tiền lệ.
- Khi cung ấy vốn có chính tinh sáng, cát tinh, Hóa Lộc Quyền Khoa: Đường công danh có một lần gãy rõ: mất việc, công ty đóng cửa, ngành đổi luật. Người thuộc thế này thường đổi nghề một lần lớn rồi mới định.
Cung Nô Bộc
- Khi cung ấy vốn nhiều hung tinh, sát tinh, Hóa Kỵ: Bạn xấu và người phản bội bị loại khỏi đời một cách dứt khoát, thường qua một lần vỡ lở.
- Khi cung ấy vốn có chính tinh sáng, cát tinh, Hóa Lộc Quyền Khoa: Bạn tốt và người dưới quyền giỏi đều không ở lại lâu. Đội ngũ dựng lên rồi tan, phải dựng lại từ đầu ít nhất một lần.
Cung Thiên Di
- Khi cung ấy vốn nhiều hung tinh, sát tinh, Hóa Kỵ: Ra ngoài thoát được tiểu nhân, thị phi bị cắt ngang không lan. Đi xa mà tránh được điều dữ.
- Khi cung ấy vốn có chính tinh sáng, cát tinh, Hóa Lộc Quyền Khoa: Cơ hội bên ngoài đứt đoạn, xuất ngoại lỡ dở, đi rồi phải về. Quý nhân phương xa giúp nửa chừng thì mất liên lạc.
Cung Tật Ách
- Khi cung ấy vốn nhiều hung tinh, sát tinh, Hóa Kỵ: Đây là chỗ Triệt được việc nhất. Bệnh nặng ứng thành mổ một lần rồi dứt, tai nạn xảy ra mà thoát. Cắt được cái đáng sợ là cái lợi lớn nhất của Triệt.
- Khi cung ấy vốn có chính tinh sáng, cát tinh, Hóa Lộc Quyền Khoa: Sức khỏe có một mốc gãy: một trận ốm, một ca mổ, một tai nạn chia đời làm trước và sau. Sau mốc ấy thường phải sống khác đi.
Cung Tài Bạch
- Khi cung ấy vốn nhiều hung tinh, sát tinh, Hóa Kỵ: Chặn đứng được một vụ hao lớn: vỡ nợ mà cắt lỗ kịp, bị lừa mà mất phần nhỏ. Cung Tài nhiều Kiếp Sát Đại Hao gặp Triệt thì đây là thế cứu.
- Khi cung ấy vốn có chính tinh sáng, cát tinh, Hóa Lộc Quyền Khoa: Tiền vào rồi đứt nguồn, hoặc kiếm được mà một biến cố cuốn đi. Không hợp làm ăn dựa vào một mối duy nhất, phải chia nhiều nguồn.
Cung Tử Tức
- Khi cung ấy vốn nhiều hung tinh, sát tinh, Hóa Kỵ: Lo lắng nặng về con hóa ra không thành chuyện. Con khó nuôi thời bé mà qua được thì về sau vững.
- Khi cung ấy vốn có chính tinh sáng, cát tinh, Hóa Lộc Quyền Khoa: Con muộn, ít, hoặc có một lần lỡ. Cũng thường ứng vào cảnh con ở xa, đi học đi làm nơi khác từ sớm.
Cung Phu Thê
- Khi cung ấy vốn nhiều hung tinh, sát tinh, Hóa Kỵ: Mối duyên xấu được cắt sớm thay vì kéo dài thành khổ. Nhiều lá số nhờ đúng vệt này mà thoát một cuộc hôn nhân sai người.
- Khi cung ấy vốn có chính tinh sáng, cát tinh, Hóa Lộc Quyền Khoa: Duyên đẹp mà đứt, thường đứt ở tuổi trẻ và có mốc rõ. Kết hôn sớm dễ lỡ, kết hôn sau ba mươi thì bền hơn hẳn.
Cung Huynh Đệ
- Khi cung ấy vốn nhiều hung tinh, sát tinh, Hóa Kỵ: Chuyện tranh chấp với anh em hoặc cộng sự chấm dứt dứt khoát, không dây dưa. Người hại mình rời đi hẳn.
- Khi cung ấy vốn có chính tinh sáng, cát tinh, Hóa Lộc Quyền Khoa: Anh chị em hoặc cộng sự tốt mà đứt liên lạc, mỗi người một phương. Hợp tác đang thuận thì gãy giữa chừng vì lý do ngoài cả hai.
Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Phải nói ngay một điều mà rất nhiều người đọc Tử Vi vẫn hiểu sai: Triệt Không không phải một ngôi sao. Các tinh diệu trong bộ một trăm hai mươi mốt sao đều đóng vào một cung, mang tính chất riêng, có ngũ hành, có miếu vượng đắc hãm. Triệt thì không. Tên đủ của nó là Triệt Lộ Không Vong, nghĩa là cắt đứt đường đi. Nó không đóng vào một ô, nó cắt ngang hai cung liền nhau trên bàn lá số như một nhát dao kéo qua. Trong bài này Thầy gọi Triệt là vệt cắt khí, và mong quý vị giữ chữ ấy làm gốc để đọc mọi mục sau. Song sinh với nó là Tuần Trung Không Vong, cũng một vệt hai cung, nhưng Tuần là vệt chắn làm loãng, còn Triệt là vệt cắt làm đứt.
Triệt an theo thiên can năm sinh, và chỉ theo can, không hỏi tới chi, không hỏi tháng, giờ hay Cục. Mười thiên can cho ra năm cặp cung, mỗi cặp dùng chung cho hai can: tuổi Giáp và tuổi Kỷ thì Triệt cắt Thân Dậu, tuổi Ất và tuổi Canh cắt Ngọ Mùi, tuổi Bính và tuổi Tân cắt Thìn Tỵ, tuổi Đinh và tuổi Nhâm cắt Dần Mão, tuổi Mậu và tuổi Quý cắt Tý Sửu. Nhìn kỹ sẽ thấy hai can dùng chung một cặp bao giờ cũng cách nhau đúng năm bậc, tức là một cặp hợp hóa trong phép ngũ hợp thiên can: Giáp hợp Kỷ, Ất hợp Canh, Bính hợp Tân, Đinh hợp Nhâm, Mậu hợp Quý. Cách an Triệt vì thế không phải quy ước rời rạc, nó bám vào phép hợp hóa của mười can.
Giáp
- Triệt án ngữ hai cung: Thân và Dậu
Ất
- Triệt án ngữ hai cung: Ngọ và Mùi
Bính
- Triệt án ngữ hai cung: Thìn và Tỵ
Đinh
- Triệt án ngữ hai cung: Dần và Mão
Mậu
- Triệt án ngữ hai cung: Tý và Sửu
Kỷ
- Triệt án ngữ hai cung: Thân và Dậu
Canh
- Triệt án ngữ hai cung: Ngọ và Mùi
Tân
- Triệt án ngữ hai cung: Thìn và Tỵ
Nhâm
- Triệt án ngữ hai cung: Dần và Mão
Quý
- Triệt án ngữ hai cung: Tý và Sửu
Bảy điều bất biến của Triệt, đã kiểm bằng thuật toán an sao
- Triệt bao giờ cũng cắt đúng hai cung, và hai cung ấy bao giờ cũng liền nhau. Không có lá số nào Triệt chỉ cắt một cung, cũng không có lá số nào Triệt cắt hai cung rời nhau. Đây là điểm phân biệt căn bản giữa Triệt với mọi sao thường.
- Triệt chỉ có năm cặp cung: Tý Sửu, Dần Mão, Thìn Tỵ, Ngọ Mùi, Thân Dậu. Quét đủ mười can không cặp nào khác xuất hiện.
- Triệt vĩnh viễn không bao giờ tới cung Tuất và cung Hợi. Đây là hệ quả trực tiếp của điều trên và là điểm cấu trúc quan trọng nhất của cả bài. Hai cung Tuất Hợi là hai cung duy nhất trong lá số không một tuổi nào bị Triệt cắt. Ai nói lá số mình có Triệt đóng Tuất là đã an sai, không cần xét gì thêm.
- Cặp cung bị Triệt luôn gồm một chi dương đi trước và một chi âm đi sau. Không bao giờ có cặp kiểu Sửu Dần hay Mão Thìn. Ranh giới vệt cắt rơi vào những chỗ cố định trên bàn lá số.
- Hai người khác chi mà cùng can thì Triệt giống hệt nhau. Người tuổi Giáp Tý và người tuổi Giáp Ngọ cùng bị Triệt ở Thân Dậu, dù cách nhau ba mươi năm. Triệt không phân biệt chi.
- Triệt không có miếu vượng đắc hãm. Sách không xếp Triệt vào bảng mười hai cung sáng tối, vì nó không phải điểm sáng nên không có độ sáng. Ai đưa ra bảng Triệt miếu ở cung này hãm ở cung kia là đang chế thêm, không có trong Tân Biên.
- Triệt không nằm trong bảng Tứ Hóa. Không thiên can nào làm Triệt hóa Lộc, Quyền, Khoa hay Kỵ. Triệt không nhận hóa, nhưng nó cắt ngang cung có sao đang hóa, và đó mới là chỗ phải luận.
Vì sao Triệt bỏ trống Tuất Hợi thì sách không giải thích, chỉ ghi cách an. Xét cấu trúc thì lý do giản dị: mười can chia thành năm cặp hợp hóa, chỉ đủ phủ mười cung, dư hai cung không cặp can nào nhận, và người xưa đặt hai cung dư ấy vào cuối vòng địa chi. Hệ quả thực dụng thì rõ: Tuất và Hợi là hai cung an toàn nhất trước dao Triệt. Người có Mệnh đóng Tuất hay Hợi thì cả đời Mệnh không bao giờ bị cắt, cùng lắm chỉ bị Tuần làm loãng.
Từ những điều trên rút ra nguyên tắc đọc: việc đầu tiên không phải là tìm Triệt ở đâu, mà là hỏi Triệt đang cắt qua hai cung chức nào. Hai người cùng tuổi Bính thì Triệt cùng ở Thìn Tỵ, nhưng một người có Mệnh an tại Thìn còn một người có Nô Bộc an tại Thìn; vệt cắt giống nhau mà chuyện đời khác hẳn. Đọc Triệt là đọc cặp cung chức bị vệt cắt đi qua.
Một câu để nhớ: Triệt là nhát cắt của thiên can, không phải điềm dữ trời gửi. Nó chỉ nói rằng có hai phần đời của quý vị bị chặn đường; chặn đường tốt thì tiếc, chặn đường xấu thì mừng.
Cách An Và Đặc Tính Của Triệt Không
Triệt Không (Triệt Lộ Không Vong) an theo thiên can năm sinh, án ngữ hai cung. Là một không vong, thường mạnh hơn Tuần.
Vì là phụ tinh, Triệt Không làm rõ hoặc tô đậm tính chất của chính tinh đồng cung và của cung nó tọa thủ, chứ không tự quyết định cục diện một mình.
Mức độ đắc hãm và tính chất
Triệt Lộ Không Vong khi án ngữ một cung sẽ cắt đứt và làm trống khí của cung đó, mạnh hơn Tuần. Đặc tính của Triệt cũng hai chiều: chế hung tinh rất mạnh, làm dịu hẳn cái xấu, nhưng cũng chặn và làm hỏng cái tốt của cát tinh, chính tinh đắc cách. Triệt thường ứng mạnh ở giai đoạn đầu đời.
Với Mệnh vô chính diệu, có Triệt án ngữ cùng Thiên Không, Địa Không hội hợp lại là cách hay, giúp cung sáng sủa và bền hơn. Triệt là yếu tố cấu trúc cốt yếu, một chính tinh đắc cách mà bị Triệt cắt thì uổng phí, nên phải luận rất kỹ.
Triệt Trong Thế Hai Vệt: Quan Hệ Cố Định Với Tuần Và Với Các Sao Cùng An Theo Can
Triệt không thuộc vòng Thái Tuế, không thuộc vòng Bác Sĩ, không thuộc vòng Tràng Sinh, cũng không thuộc vòng thần sát tam hợp. Nó không có sao đứng trước, không có sao đứng sau. Bù lại, vì Triệt đếm theo thiên can nên nó có quan hệ cố định tuyệt đối với mọi sao cũng an theo thiên can, tính được bằng máy cho đủ mười tuổi, không phải đoán. Và nó có một quan hệ nữa còn quan trọng hơn: quan hệ với vệt Tuần.
Triệt cắt qua những sao nào của chính tuổi mình
Đây là phần đáng giá nhất khi đem thuật toán ra quét. Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La, Thiên Khôi, Thiên Việt, Quốc Ấn, Đường Phù, Thiên Trù, Lưu Hà, Hồng Diễm, Thiên Quan, Thiên Phúc, Lưu Niên Văn Tinh đều an theo thiên can y như Triệt, nên với mỗi tuổi can biết ngay sao nào rơi vào vệt cắt, đúng cho mọi người cùng tuổi can.
Giáp
- Triệt án ngữ: Thân, Dậu
- Lộc Tồn: Dần
- Kình Dương và Đà La: Mão và Sửu
- Thiên Khôi và Thiên Việt: Sửu và Mùi
- Sao an theo can bị Triệt cắt: Lưu Hà, Thiên Phúc
Ất
- Triệt án ngữ: Ngọ, Mùi
- Lộc Tồn: Mão
- Kình Dương và Đà La: Thìn và Dần
- Thiên Khôi và Thiên Việt: Tý và Thân
- Sao an theo can bị Triệt cắt: Thiên Trù, Lưu Niên Văn Tinh
Bính
- Triệt án ngữ: Thìn, Tỵ
- Lộc Tồn: Tỵ
- Kình Dương và Đà La: Ngọ và Thìn
- Thiên Khôi và Thiên Việt: Hợi và Dậu
- Sao an theo can bị Triệt cắt: Lộc Tồn, Đà La, Thiên Quan
Đinh
- Triệt án ngữ: Dần, Mão
- Lộc Tồn: Ngọ
- Kình Dương và Đà La: Mùi và Tỵ
- Thiên Khôi và Thiên Việt: Hợi và Dậu
- Sao an theo can bị Triệt cắt: Quốc Ấn, Thiên Quan
Mậu
- Triệt án ngữ: Tý, Sửu
- Lộc Tồn: Tỵ
- Kình Dương và Đà La: Ngọ và Thìn
- Thiên Khôi và Thiên Việt: Sửu và Mùi
- Sao an theo can bị Triệt cắt: Thiên Khôi, Quốc Ấn
Kỷ
- Triệt án ngữ: Thân, Dậu
- Lộc Tồn: Ngọ
- Kình Dương và Đà La: Mùi và Tỵ
- Thiên Khôi và Thiên Việt: Tý và Thân
- Sao an theo can bị Triệt cắt: Thiên Việt, Thiên Trù, Lưu Niên Văn Tinh
Canh
- Triệt án ngữ: Ngọ, Mùi
- Lộc Tồn: Thân
- Kình Dương và Đà La: Dậu và Mùi
- Thiên Khôi và Thiên Việt: Ngọ và Dần
- Sao an theo can bị Triệt cắt: Đà La, Thiên Khôi, Hồng Diễm, Thiên Phúc
Tân
- Triệt án ngữ: Thìn, Tỵ
- Lộc Tồn: Dậu
- Kình Dương và Đà La: Tuất và Thân
- Thiên Khôi và Thiên Việt: Ngọ và Dần
- Sao an theo can bị Triệt cắt: Quốc Ấn, Thiên Phúc
Nhâm
- Triệt án ngữ: Dần, Mão
- Lộc Tồn: Hợi
- Kình Dương và Đà La: Tý và Tuất
- Thiên Khôi và Thiên Việt: Mão và Tỵ
- Sao an theo can bị Triệt cắt: Thiên Khôi, Lưu Niên Văn Tinh
Quý
- Triệt án ngữ: Tý, Sửu
- Lộc Tồn: Tý
- Kình Dương và Đà La: Sửu và Hợi
- Thiên Khôi và Thiên Việt: Mão và Tỵ
- Sao an theo can bị Triệt cắt: Lộc Tồn, Kình Dương
Đọc bảng theo chiều dọc rút ra mấy điều chắc chắn, Thầy cho là đáng nhớ hơn cả mấy trang luận suông:
- Lộc Tồn chỉ bị Triệt cắt với hai tuổi: Bính và Quý. Tuổi Bính thì Lộc Tồn ở Tỵ nằm trong vệt Thìn Tỵ, tuổi Quý thì Lộc Tồn ở Tý nằm trong vệt Tý Sửu; tám tuổi còn lại có kho lộc gốc nằm ngoài vệt. Đây là chỗ Thầy nhìn đầu tiên khi gặp lá số hai tuổi ấy.
- Tuổi Bính thì Triệt cắt luôn cả Lộc Tồn lẫn Đà La, tuổi Quý thì cắt cả Lộc Tồn lẫn Kình Dương. Hai tuổi này có cụm Lộc Tồn Kình Đà bị vệt cắt ăn mất một nửa, nên cách đọc cụm ấy phải khác hẳn tám tuổi kia.
- Thiên Khôi bị Triệt với ba tuổi Mậu, Canh, Nhâm; Thiên Việt chỉ với tuổi Kỷ. Không tuổi nào cắt được cả hai, nghĩa là không ai mất trọn cặp quý nhân Khôi Việt vì Triệt.
- Đường Phù không bao giờ bị Triệt cắt, với bất cứ tuổi can nào. Quét đủ mười can, vị trí Đường Phù luôn nằm ngoài vệt. Đây là sao duy nhất trong nhóm an theo can có tính miễn nhiễm ấy.
- Không tuổi can nào mà Triệt không cắt sao nào: tuổi nào cũng có ít nhất hai sao trong nhóm rơi vào vệt. Vệt Triệt bao giờ cũng ăn vào bộ sao theo can của chính người ấy.
Triệt và Tuần: hai vệt trên cùng một bàn
Lá số nào cũng có đúng hai vệt: một vệt Triệt theo thiên can, một vệt Tuần theo tuần giáp của can chi năm sinh. Tuần có sáu cặp cung phủ kín cả mười hai cung, lần lượt là tuần Giáp Tý phủ Tuất Hợi, tuần Giáp Tuất phủ Thân Dậu, tuần Giáp Thân phủ Ngọ Mùi, tuần Giáp Ngọ phủ Thìn Tỵ, tuần Giáp Thìn phủ Dần Mão, tuần Giáp Dần phủ Tý Sửu; Triệt chỉ có năm cặp, không tới Tuất Hợi. Hai lối đếm khác nhau nên hai vệt chạy độc lập, và chính vị trí tương đối của chúng mới là thông tin đáng đọc. Bảng đủ sáu tuần giáp cùng mười năm trong mỗi tuần dựng ở trang sao Tuần Không.
Chạy đủ sáu mươi năm của lục thập hoa giáp, hai vệt chỉ rơi vào đúng ba thế, không có thế thứ tư. Thế trùng khít, mười trên sáu mươi năm, gồm Giáp Tuất, Kỷ Mão, Ất Dậu, Canh Dần, Bính Thân, Tân Sửu, Đinh Mùi, Nhâm Tý, Mậu Ngọ, Quý Hợi: Tuần và Triệt cắt cùng một cặp cung, chồng hai lớp, đây là thế người xưa gọi là Tuần Triệt đồng cung. Thế liền kề, hai mươi trên sáu mươi năm: hai cặp nằm sát nhau thành một khối bốn cung liền bị chắn, tức một phần ba bàn lá số. Thế rời nhau, ba mươi trên sáu mươi năm, tức đúng một nửa số người: hai vệt chắn hai vùng khác nhau. Thêm một điều thuật toán chỉ ra mà sách không nói: hai vệt không bao giờ chồng lên nhau chỉ một cung, vì cả hai đều khởi ở chi dương và kết ở chi âm liền sau, nên hoặc trùng cả hai, hoặc rời hẳn. Biết điều này thì kiểm ngay được một lá số an đúng hay sai.
Lưới tra dưới đây dựng đủ sáu mươi năm của lục thập hoa giáp. Quý vị tìm can chi năm sinh của mình trong lưới: dòng cho biết vệt Tuần, cột cho biết vệt Triệt. Mười ô tô đậm là mười năm sinh có hai vệt trùng khít lên cùng một cặp cung.
Giáp Tý
- GiápTriệt Thân Dậu: Ất Sửu
- ẤtTriệt Ngọ Mùi: Bính Dần
- BínhTriệt Thìn Tỵ: Đinh Mão
- ĐinhTriệt Dần Mão: Mậu Thìn
- MậuTriệt Tý Sửu: Kỷ Tỵ
- KỷTriệt Thân Dậu: Canh Ngọ
- CanhTriệt Ngọ Mùi: Tân Mùi
- TânTriệt Thìn Tỵ: Nhâm Thân
- NhâmTriệt Dần Mão: Quý Dậu
Giáp Tuất
- GiápTriệt Thân Dậu: Ất Hợi
- ẤtTriệt Ngọ Mùi: Bính Tý
- BínhTriệt Thìn Tỵ: Đinh Sửu
- ĐinhTriệt Dần Mão: Mậu Dần
- MậuTriệt Tý Sửu: Kỷ Mão
- KỷTriệt Thân Dậu: Canh Thìn
- CanhTriệt Ngọ Mùi: Tân Tỵ
- TânTriệt Thìn Tỵ: Nhâm Ngọ
- NhâmTriệt Dần Mão: Quý Mùi
Giáp Thân
- GiápTriệt Thân Dậu: Ất Dậu
- ẤtTriệt Ngọ Mùi: Bính Tuất
- BínhTriệt Thìn Tỵ: Đinh Hợi
- ĐinhTriệt Dần Mão: Mậu Tý
- MậuTriệt Tý Sửu: Kỷ Sửu
- KỷTriệt Thân Dậu: Canh Dần
- CanhTriệt Ngọ Mùi: Tân Mão
- TânTriệt Thìn Tỵ: Nhâm Thìn
- NhâmTriệt Dần Mão: Quý Tỵ
Giáp Ngọ
- GiápTriệt Thân Dậu: Ất Mùi
- ẤtTriệt Ngọ Mùi: Bính Thân
- BínhTriệt Thìn Tỵ: Đinh Dậu
- ĐinhTriệt Dần Mão: Mậu Tuất
- MậuTriệt Tý Sửu: Kỷ Hợi
- KỷTriệt Thân Dậu: Canh Tý
- CanhTriệt Ngọ Mùi: Tân Sửu
- TânTriệt Thìn Tỵ: Nhâm Dần
- NhâmTriệt Dần Mão: Quý Mão
Giáp Thìn
- GiápTriệt Thân Dậu: Ất Tỵ
- ẤtTriệt Ngọ Mùi: Bính Ngọ
- BínhTriệt Thìn Tỵ: Đinh Mùi
- ĐinhTriệt Dần Mão: Mậu Thân
- MậuTriệt Tý Sửu: Kỷ Dậu
- KỷTriệt Thân Dậu: Canh Tuất
- CanhTriệt Ngọ Mùi: Tân Hợi
- TânTriệt Thìn Tỵ: Nhâm Tý
- NhâmTriệt Dần Mão: Quý Sửu
Giáp Dần
- GiápTriệt Thân Dậu: Ất Mão
- ẤtTriệt Ngọ Mùi: Bính Thìn
- BínhTriệt Thìn Tỵ: Đinh Tỵ
- ĐinhTriệt Dần Mão: Mậu Ngọ
- MậuTriệt Tý Sửu: Kỷ Mùi
- KỷTriệt Thân Dậu: Canh Thân
- CanhTriệt Ngọ Mùi: Tân Dậu
- TânTriệt Thìn Tỵ: Nhâm Tuất
- NhâmTriệt Dần Mão: Quý Hợi
Triệt và Tứ Hóa: Triệt không hóa, nhưng Triệt cắt qua cái đang hóa
Xin nói rõ để tránh nhầm: Triệt không nằm trong bảng Tứ Hóa, không thiên can nào làm Triệt hóa Lộc, Quyền, Khoa hay Kỵ. Cái đáng luận là khi vệt Triệt cắt đúng cung có chính tinh đang mang hóa, và ở đây có một điểm rất riêng: Tứ Hóa cũng an theo thiên can, y như Triệt, nên quan hệ giữa hóa và vệt cắt là quan hệ cố định của từng tuổi, không phải chuyện may rủi. Bốn trường hợp đọc như sau:
- Triệt cắt Hóa Lộc: đáng tiếc nhất trong bốn. Tiền tới cửa mà không vào được nhà, cơ hội tới tay rồi tuột. Hay ứng thành người có duyên kiếm tiền mà không có duyên giữ tiền.
- Triệt cắt Hóa Quyền: quyền bị chặt, thu hẹp đột ngột hoặc bị người khác chia. Khác Tuần làm quyền hư dần, Triệt cắt quyền có mốc rõ.
- Triệt cắt Hóa Khoa: nhẹ nhất. Tiếng thơm không tới nơi, thi cử lỡ một kỳ, bằng cấp chậm một nhịp.
- Triệt cắt Hóa Kỵ: đây là chỗ Triệt đáng quý nhất, và mạnh hơn Tuần nhiều. Kỵ là vướng mắc, là nợ dây dưa; bị Triệt cắt phăng thì chuyện dứt hẳn chứ không kéo dài. Trên lá số thật, người thuộc thế này hay kể lại rằng có một chuyện tưởng theo mình cả đời mà rồi đứt hẳn trong một năm, đứt đau nhưng đứt gọn.
Vì sao đọc Triệt phải đọc luôn cả Tuần? Vì lá số nào cũng có đủ hai, và bốn cung bị chắn, hoặc hai cung nếu trùng, là những chỗ khí không chạy bình thường. Thứ tự Thầy vẫn làm khi cầm một lá số mới: xác định vệt Triệt trước vì nó nặng hơn, rồi tới vệt Tuần, rồi xem hai vệt ấy cắt qua cung chức nào, rồi mới đọc sao trong đó.
Hội họp các sao và bộ cách
Triệt Không tác động lên cung và sao theo hai chiều:
Hung tinh, sát tinh
- Ý nghĩa kết hợp: Chế rất mạnh, làm dịu hẳn cái xấu.
Cát tinh, chính tinh đắc cách
- Ý nghĩa kết hợp: Chặn, làm hỏng cái tốt, uổng phí.
Mệnh vô chính diệu
- Ý nghĩa kết hợp: Cần Triệt án ngữ để ổn định.
Cùng Tuần
- Ý nghĩa kết hợp: Hai không vong, ảnh hưởng càng mạnh.
Sao Hợp Và Sao Kỵ Trong Vùng Triệt Cắt, Phân Theo Vị Thế
Trước khi đọc hai cột, xin nhắc quy tắc về lực, và với Triệt thì quy tắc này có chỗ riêng. Với sao thường, đồng cung mạnh nhất, xung chiếu kế đó, tam hợp chiếu nhẹ hơn, giáp là thế bao vây. Với Triệt thì chỉ đồng cung là thật: vệt cắt đi qua cung nào thì làm việc ở cung ấy, nó không chiếu, không xung, không tam hợp. Cái người ta quen gọi là Triệt chiếu thực ra là chuyện khác: sao ở cung đối diện bị Triệt cắt thì khi nó chiếu về, cái chiếu ấy đã yếu sẵn. Đó là ảnh hưởng gián tiếp qua sao. Thế giáp thì có thật: khi hai vệt Tuần Triệt nối nhau thành khối bốn cung liền, cung nằm sát khối ấy chịu thế bao vây rất rõ, và đó là thế Thầy chú ý nhất khi gặp lá số thuộc hai mươi năm sinh có hai vệt liền kề.
Triệt đáng mừng khi cắt qua
- Cung có Hóa Kỵ (đồng cung, thế mạnh nhất và có ích nhất): Kỵ là vướng mắc dây dưa, bị cắt thì dứt hẳn chứ không kéo dài. Triệt làm việc này mạnh hơn Tuần rõ rệt.
- Cung có Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung): lục sát tụ một chỗ mà bị cắt thì mất phần lớn sức phá. Riêng tuổi Bính và tuổi Canh thì chính Đà La của mình nằm trong vệt, tuổi Quý thì Kình Dương nằm trong vệt.
- Cung Tật Ách nhiều hung tinh (đồng cung): trong mười hai cung chức, đây là chỗ Triệt được việc nhất, vì cái bị cắt đúng là cái mình không muốn có.
- Mệnh vô chính diệu (đồng cung): kinh văn nói rõ Mệnh không có chính tinh mà được Triệt án ngữ, lại có Thiên Không Địa Không hội hợp, thì cung trở nên sáng sủa và bền hơn. Đây là cách hay chứ không phải cách xấu.
- Cung có chính tinh hãm địa cộng thêm sát tinh (đồng cung): sao đã tối lại bị vây thì để nguyên chỉ hại; Triệt cắt là dọn được.
- Cung Phu Thê hoặc Nô Bộc có duyên xấu (đồng cung): cắt sớm hơn là kéo dài. Đây là điều Thầy vẫn phải nói lại nhiều lần cho người đang tiếc một mối quan hệ đã đứt.
Triệt đáng tiếc khi cắt qua
- Cung có chính tinh miếu vượng đắc cách (đồng cung, nặng nhất): sách gọi thẳng là uổng phí. Sao sáng mà bị cắt thì cái hay không dùng được vào lúc đáng dùng nhất, tức nửa đời đầu.
- Cung có Hóa Lộc (đồng cung): lộc bị chặn đường, tiền tới cửa mà không vào được nhà. Với tuổi Bính và tuổi Quý thì phải xét thêm vì chính Lộc Tồn cũng nằm trong vệt.
- Cung có Lộc Tồn (đồng cung, chỉ tuổi Bính và tuổi Quý): kho lộc gốc của một đời bị cắt. Không thành nghèo, nhưng thành phải tự dựng lại nền tài chính ít nhất một lần.
- Cung có Thiên Khôi hoặc Thiên Việt (đồng cung, Khôi với tuổi Mậu Canh Nhâm, Việt với tuổi Kỷ): mất một quý nhân. May là không tuổi nào mất cả hai.
- Cung có Tả Hữu, Xương Khúc (đồng cung): người giúp và cái học bị cắt ngang, thi cử hay lỡ một kỳ, việc học phải quay lại làm sau.
- Cung đã bị Tuần phủ chồng lên (hai lớp đồng cung, mười trên sáu mươi năm sinh): chắn dày tới mức cung ấy gần như mất tiếng nói. Chỉ hay khi cung ấy vốn toàn hung tinh.
Tóm lại, Triệt Không là phụ tinh: đi với chính tinh và cát tinh hợp cách thì phát huy mặt hay, gặp sát tinh và hung cách thì lộ mặt yếu. Luôn xét cả lá số.
Triệt Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Nửa đời đầu: điểm khác biệt lớn nhất giữa Triệt và Tuần
ghi rõ Triệt ứng mạnh ở giai đoạn đầu đời, càng về sau càng nhạt. Tuần thì không có ghi chú ấy, nó rải đều. Đây là điểm phân biệt quan trọng nhất giữa hai vệt và cũng là điểm hay bị bỏ qua nhất. Hệ quả thực dụng: cùng một cung bị Triệt, người hai mươi tuổi và người sáu mươi tuổi phải đọc khác nhau. Với người trẻ, vệt Triệt đang sắc nhất, nói tới nó là nói tới chuyện sẽ tới. Với người đã qua nửa đời, vệt ấy đã cùn, nói tới nó là để giải thích một khúc gãy đã qua chứ không phải để phòng thủ tiếp.
Trên lá số thật, nét ứng gọn nhất của Triệt là một khúc gãy có mốc, thường trong quãng từ thiếu niên tới giữa ba mươi: bỏ dở việc học, rời quê, đổi nghề lớn, một mối duyên đứt, một trận ốm. Người bị Tuần kể không ra mốc, người bị Triệt kể được ngày tháng. Cái gãy ấy đau nhưng gọn, và phần lớn dựng lại được, nhiều người còn dựng khá hơn trước.
Đại vận đi vào vùng Triệt cắt
Vì vệt Triệt đứng yên còn đại vận thì chạy, mỗi vòng đại vận sẽ đi qua vệt ấy đúng hai vận liền nhau, tức hai mươi năm. Điểm này khác hẳn sao thường vốn chỉ chạm một vận. Hai mươi năm ấy rơi vào đâu trong đời mới là chuyện quyết định: rơi vào hai vận đầu thì đúng lúc Triệt sắc nhất, tuổi trẻ chật, phải chuẩn bị tinh thần cho một khúc gãy; rơi vào hai vận cuối thì Triệt đã nhạt, phần lớn chỉ còn là sự chững lại chứ không thành gãy. Với người thuộc mười năm sinh có Tuần Triệt trùng khít, hai vận ấy bị hai lớp cùng lúc, nặng nhất trong mọi trường hợp nếu hai cung vốn tốt, mà cũng yên nhất nếu hai cung vốn toàn hung tinh.
Lưu niên và các lưu sao chạm vào vùng Triệt
Tiểu hạn hoặc lưu niên rơi vào một trong hai cung bị Triệt thì đó là năm dễ có mốc: việc đang chạy thì dừng, quan hệ đang yên thì vỡ lở, hợp đồng đang tốt thì chấm dứt. Không phải năm tai họa, là năm kết thúc. Việc nên làm: đóng sổ những thứ đã hết vòng đời của nó, dứt điểm nợ cũ, chốt lại một chương. Việc không nên làm: khởi sự cái mới đòi liên tục nhiều năm, dồn hết vốn vào một mối duy nhất.
Các lưu sao chạm vào vùng Triệt. Vì vệt đứng yên nên tính trước được. Năm có địa chi trùng một trong hai cung bị Triệt thì lưu Thái Tuế đóng ngay trong vệt, hay ứng thành chuyện chính thức bị chặn, giấy tờ bị trả lại; lưu Tang Môn đứng trước Thái Tuế hai cung, lưu Bạch Hổ đứng sau sáu cung. Cặp lưu Kình lưu Đà kẹp hai bên lưu Lộc Tồn của năm, nên năm nào lưu Lộc Tồn rơi vào vệt thì cả cụm nằm trong hoặc sát vệt. Riêng tuổi Bính và tuổi Quý cần lưu ý thêm, vì Lộc Tồn bản mệnh của họ vốn đã nằm trong vệt.
Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Triệt
Chữ Triệt nghe đã sắc, lại thêm chữ Không Vong đi kèm, nên đây là chỗ bị hiểu lệch và bị dọa nhiều nhất trong khoa Tử Vi. Mục này nói rõ sách nói gì và không nói gì.
Triệt không phải sao xấu, và cũng không phải sao
Tân Biên mô tả Triệt Lộ Không Vong là cắt đứt và làm trống khí của cung, mạnh hơn Tuần, và nói rõ tính chất hai chiều: chế hung tinh rất mạnh, làm dịu hẳn cái xấu, đồng thời chặn và làm hỏng cái tốt của cát tinh và chính tinh đắc cách. Đó là chữ trong sách. Vậy câu hỏi Triệt tốt hay xấu là câu hỏi đặt sai; câu hỏi đúng là vệt Triệt đang cắt qua cái gì. Cắt qua chỗ tốt thì tiếc, cắt qua chỗ xấu thì mừng. Thêm nữa, Triệt không phải một tinh diệu nên không có ngũ hành, không có miếu hãm, không hóa Lộc Quyền Khoa Kỵ.
Triệt cắt mạnh nhưng không xóa sổ cung
Hiểu lầm phổ biến nhất: nghe chữ cắt rồi tưởng cung bị Triệt coi như bỏ đi. Không phải. Sách dùng chữ cắt, chặn, làm trống, làm hỏng, chứ không dùng chữ xóa. Sao vẫn ở đó và vẫn góp phần vào lá số, chỉ là đường ra của nó bị chặn ở nửa đời đầu. Người có Vũ Khúc miếu bị Triệt vẫn là người có chất Vũ Khúc, chỉ là chất ấy không dùng được sớm.
Triệt mạnh hơn Tuần, nhưng hai cái làm hai việc khác nhau
Sách xếp Triệt mạnh hơn Tuần, cả hai phái thống nhất. Nhưng nói Tuần là Triệt bản yếu thì không đúng. Nên phân biệt bằng kiểu tác động: Triệt là cắt, có mốc, ứng mạnh nửa đời đầu; Tuần là làm loãng, không mốc, rải đều cả đời. Với Triệt phải chuẩn bị cho một khúc gãy và cách dựng lại; với Tuần phải cộng thêm thời gian và hạ bớt kỳ vọng.
Triệt che sao xấu thì lại là chỗ đỡ, đây không phải lời an ủi
Điểm này Thầy muốn nhấn vì nhiều người nghe xong vẫn nghĩ Thầy nói cho dễ nghe. Không phải: chính kinh văn ghi Triệt chế hung tinh rất mạnh, và ghi rằng Mệnh vô chính diệu có Triệt án ngữ thì cung trở nên sáng sủa, ổn định hơn. Cấu trúc cũng ủng hộ điều ấy: vệt Triệt bao giờ cũng ăn vào bộ sao theo can của chính người ấy, nên với những tuổi mà cụm sát tinh rơi đúng vào vệt, cái mất đi là cái đáng mất. Người có Tật Ách hoặc Phúc Đức đầy sát tinh mà nằm dưới vệt Triệt nên coi đó là chỗ được che, không phải chỗ bị hại.
Lời Khuyên Khi Cung Trọng Yếu Bị Triệt Cắt
Lời khuyên cho Triệt khác lời khuyên cho Tuần. Tuần làm loãng nên phải cộng thêm thời gian; Triệt làm đứt nên phải chuẩn bị cho một khúc gãy và chuẩn bị cách dựng lại. Đó là tinh thần của cả mục này, và Thầy xin nói bốn điều.
Thứ nhất, đừng dồn tất cả vào một mối trong hai phần đời bị cắt. Tài Bạch dưới vệt Triệt thì đừng sống bằng một nguồn thu duy nhất; Quan Lộc bị cắt thì giữ lấy một tay nghề mang đi đâu cũng dùng được, đừng gắn cả đời vào một công ty; Nô Bộc bị cắt thì đừng dựng đội ngũ quanh một người trụ cột. Triệt cắt một mạch: ai chỉ có một mạch thì mất hết, ai có hai mạch thì mất một.
Thứ hai, nhận cho sớm rằng khúc gãy có thể tới, và nhận cho đúng tuổi. Triệt ứng mạnh nửa đời đầu. Người trẻ có Mệnh hoặc Quan bị Triệt nên hiểu rằng một lần đổi hướng lớn là chuyện nằm trong cấu trúc chứ không phải mình kém. Chuẩn bị được thì cái gãy trở thành một lần chuyển nghề đúng lúc; không chuẩn bị thì nó thành một cú rơi. Người đã qua tuổi bốn mươi lăm thì phần lớn đã đi qua chỗ sắc nhất, nên đọc Triệt là để hiểu chuyện cũ, không phải để lo tiếp.
Thứ ba, biết chỗ nào Triệt đang giúp mình. Đây là phần nhiều người bỏ sót vì mải sợ. Hãy nhìn kỹ hai cung bị cắt: nếu trong đó có Hóa Kỵ, có lục sát, có chính tinh hãm, thì phần ấy của đời quý vị đang được dọn chứ không phải bị hại. Người có Tật Ách nằm dưới vệt Triệt, hay có một mối duyên xấu bị cắt sớm, nên coi đó là may. nói Triệt chế hung tinh rất mạnh; câu ấy không phải lời an ủi, nó là một nửa bản chất của Triệt.
Thứ tư, dựng lại chứ đừng vá. Cái đã bị cắt thì nối lại hiếm khi bền. Thầy thấy người xoay xở nhanh nhất sau khúc gãy là người chấp nhận bắt đầu một cái mới ở chỗ khác, chứ không phải người cố khôi phục nguyên cái cũ. Và xin nhớ rằng lá số nào cũng còn tám tới mười cung không bị vệt nào chạm tới; đó mới là chỗ để dựng.
Về phong thủy bổ trợ: những gợi ý thường nghe như giữ lối vào nhà và bàn làm việc thông thoáng không bị vật chắn ngang, tránh kê giường hay bàn ngay dưới xà ngang, dùng màu ấm cho không gian sinh hoạt, đều chỉ là gợi ý chung mang tính nhắc nhở tinh thần. Chúng không sửa được cấu trúc lá số, không dịch được vệt Triệt đi đâu cả, và không có trong kinh văn Tử Vi. Thầy xếp chúng vào loại có thì dễ chịu hơn, không có cũng không sao. Thứ thật sự thay đổi kết quả vẫn là chia rủi ro và chuẩn bị cách dựng lại.
Câu hỏi thường gặp
Triệt Không, gọi đủ là Triệt Lộ Không Vong, không phải tinh diệu thường mà là một không vong án ngữ hai cung, an theo thiên can năm sinh. Nó cắt và làm trống khí của cung, thường mạnh hơn Tuần.
Đúng, Triệt Lộ Không Vong thường được xem mạnh hơn Tuần Trung Không Vong: chế hung mạnh hơn nhưng cũng chặn cát mạnh hơn. Triệt thường ứng mạnh ở giai đoạn đầu đời.
Một chính tinh đắc cách mà bị Triệt Không cắt thì cái tốt bị chặn, dễ uổng phí, phát muộn hoặc không trọn. Đây là điểm phải luận rất kỹ trong lá số.
Triệt Không an theo thiên can năm sinh, án ngữ hai cung liền nhau trong lá số.
Vì Triệt không đóng vào một cung như tinh diệu thường mà cắt ngang hai cung liền nhau, như một nhát dao kéo qua bàn lá số. Tên đủ của nó là Triệt Lộ Không Vong, nghĩa là cắt đứt đường đi. Triệt an theo thiên can năm sinh, mười can cho ra năm cặp cung, hai can hợp hóa dùng chung một cặp. Vì không phải tinh diệu nên Triệt không có ngũ hành riêng, không có miếu vượng đắc hãm, và không nằm trong bảng Tứ Hóa.
Tuổi Giáp và tuổi Kỷ thì Triệt cắt Thân và Dậu; tuổi Ất và tuổi Canh cắt Ngọ và Mùi; tuổi Bính và tuổi Tân cắt Thìn và Tỵ; tuổi Đinh và tuổi Nhâm cắt Dần và Mão; tuổi Mậu và tuổi Quý cắt Tý và Sửu. Hai can dùng chung một cặp bao giờ cũng là một cặp hợp hóa trong phép ngũ hợp thiên can. Hai cung bị Triệt luôn liền nhau, gồm một chi dương đi trước và một chi âm đi sau.
Vì mười thiên can chỉ chia được thành năm cặp hợp hóa, và năm cặp ấy chỉ đủ phủ năm cặp cung là Tý Sửu, Dần Mão, Thìn Tỵ, Ngọ Mùi, Thân Dậu. Quét đủ mười can thì không can nào đưa Triệt vào Tuất hay Hợi. Đây là hai cung duy nhất trong lá số vĩnh viễn không bị Triệt cắt, cùng lắm chỉ bị Tuần làm loãng. Cũng vì vậy cung Địa Võng ở Tuất chỉ có thể được Tuần mở chứ không có cách nào khác.
Khác ở ba điểm. Về cách an, Triệt theo thiên can năm sinh với năm cặp cung, Tuần theo tuần giáp của can chi năm sinh với sáu cặp cung phủ kín mười hai cung. Về mức độ, sách xếp Triệt mạnh hơn và ghi rõ Triệt ứng mạnh ở giai đoạn đầu đời, còn Tuần rải đều cả đời. Về kiểu tác động, Triệt là cắt nên đứt gãy có mốc rõ, Tuần là làm loãng nên chỉ thấy nhạt dần không có mốc. Cả hai đều hai chiều: che sao xấu thì thành đỡ, che sao tốt thì thành uổng.