Tử Vi

Sao Trường Sinh: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung

Tìm hiểu sao Trường Sinh trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.

Đạo Quán31 phút đọc

Tổng quan về sao Trường Sinh

Trường Sinh là sao mở đầu vòng mười hai chặng sinh vượng, ví như một mầm sống vừa nảy. Đây là một trong những sao lành của vòng, chủ về sức sống dồi dào, sự khởi đầu thuận lợi, gốc rễ vững và khả năng phát triển lâu dài.

  • Ngũ hành/Chặng: Chặng Khởi Sinh
  • Nhóm: Vòng Trường Sinh
  • Cách an: Theo Cục của lá số
  • Cai quản: sức sống, khởi đầu, sinh sôi, nền tảng tốt
  • Tính chất: Sức sống, khởi đầu

Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.

Ý nghĩa tại cung Mệnh

  • Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Sinh khí dày, dáng người tươi tỉnh, hồi sức nhanh. Việc gì cũng có khởi đầu thuận, hợp nghề gây dựng từ đầu: mở tiệm, lập nhóm, dựng nghề mới.
  • Khi gặp sát tinh, Tuần Triệt, Hóa Kỵ: Khởi đầu vẫn thuận nhưng chỉ dừng ở khởi đầu, hay bỏ dở giữa chừng rồi lại mở cái khác. Người dễ mến mà thiếu bền, ai nói cũng nghe nên hướng đi thay đổi luôn.

Ý nghĩa ở các cung khác

Đối chiếu ý nghĩa của Trường Sinh với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.

Cung Phụ Mẫu

  • Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Cha mẹ khỏe, sống thọ, gia đình từ tay trắng đi lên. Được bậc trên nâng đỡ ở buổi đầu lập thân.
  • Khi gặp sát tinh, Tuần Triệt, Hóa Kỵ: Cha mẹ vất vả đoạn gây dựng, mình lớn lên trong lúc nhà còn đang dựng nghiệp. Không phải điềm xấu về song thân, chỉ là chặng khó rơi vào đoạn đầu.

Cung Phúc Đức

  • Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Phúc phần có gốc, tổ tiên để lại nếp lành, tinh thần dễ hồi. Đây là cung sách khen Trường Sinh chỉ sau Tử Tức.
  • Khi gặp sát tinh, Tuần Triệt, Hóa Kỵ: Trong lòng lúc nào cũng muốn bắt đầu lại, khó yên với cái đang có. Phúc vẫn còn nhưng phải tự bồi chứ không được hưởng sẵn.

Cung Điền Trạch

  • Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Nhà đất có từ sớm và tăng dần, đất ở chỗ đang lên. Sản nghiệp tự gây dựng chứ không trông vào của để lại.
  • Khi gặp sát tinh, Tuần Triệt, Hóa Kỵ: Nhà đất mua đi bán lại nhiều, chỗ nào cũng ở chưa lâu. Đất mua thì ở vùng còn phôi thai, chờ lên thì lâu.

Cung Quan Lộc

  • Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Sự nghiệp có đà, càng làm càng mở, hợp vị trí sáng lập, gây dựng bộ phận mới. Giao việc từ con số không thì làm tốt.
  • Khi gặp sát tinh, Tuần Triệt, Hóa Kỵ: Nghề nghiệp cứ ở mãi giai đoạn khởi động, đổi việc nhiều, mỗi chỗ chỉ ở tới lúc việc bắt đầu chạy thì lại đi.

Cung Nô Bộc

  • Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Bạn bè, nhân viên trẻ và có sức, nhóm mình gây dựng thì gắn bó. Người dưới học nhanh, dạy là làm được.
  • Khi gặp sát tinh, Tuần Triệt, Hóa Kỵ: Người quanh mình thay đổi liên tục, tuyển vào thì hăng, chưa quen việc đã đi. Phải mất công dạy lại nhiều lần.

Cung Thiên Di

  • Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Ra ngoài gặp đất lành, đi xa thì mở được đường, dễ được người lạ giúp lúc mới tới. Hợp người lập nghiệp xa quê.
  • Khi gặp sát tinh, Tuần Triệt, Hóa Kỵ: Đi đâu cũng bắt đầu lại từ đầu, chỗ nào cũng chỉ ở được đoạn đầu rồi phải chuyển. Cần chọn một chỗ rồi cắm rễ, đừng dời liên tục.

Cung Tật Ách

  • Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Nền sức khỏe tốt, bệnh đến rồi đi, phục hồi nhanh hơn người khác. Đây là chỗ Trường Sinh có giá trị thực tế rõ nhất.
  • Khi gặp sát tinh, Tuần Triệt, Hóa Kỵ: Sức đề kháng vẫn khá nhưng bệnh hay tái đi tái lại, khỏi rồi lại lên, vì gốc còn thì mầm bệnh cũng còn. Chớ đọc thành bệnh nặng, sách không nói thế.

Cung Tài Bạch

  • Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Tiền vào theo lối sinh sôi chứ không theo lối trúng lớn. Hợp buôn bán vòng vốn nhanh, nghề nuôi trồng, dạy học, dịch vụ lặp lại.
  • Khi gặp sát tinh, Tuần Triệt, Hóa Kỵ: Nguồn tiền hay ở dạng mầm, mở nhiều mà chưa kịp lớn đã phải đóng. Vốn cứ phải bơm thêm, thu về chậm hơn dự tính.

Cung Tử Tức

  • Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Đường con cái thuận, con khỏe, nuôi nhẹ tay. Đây là cung sách khen Trường Sinh nhiều nhất, cũng ứng vào học trò và sản phẩm do mình tạo ra.
  • Khi gặp sát tinh, Tuần Triệt, Hóa Kỵ: Con cái vẫn có nhưng chặng đầu vất vả, thai nghén hoặc năm đầu đời nhiều lo. Sản phẩm làm ra thì hay dở dang ở bản đầu tiên.

Cung Phu Thê

  • Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Bạn đời trẻ trung trong nết, biết chăm, hôn nhân có sức sống, cãi xong lại lành. Duyên thường nảy ở chỗ cùng bắt đầu một việc.
  • Khi gặp sát tinh, Tuần Triệt, Hóa Kỵ: Tình yêu nồng ở đoạn đầu rồi nhạt dần, dễ mắc kiểu quen ai cũng thấy mới mẻ, cưới rồi mới thấy chưa hiểu nhau. Không phải điềm ly tán, chỉ là cái nhiệt chỉ đủ cho chặng mở.

Cung Huynh Đệ

  • Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Anh em bạn bè có sức, có nghề, giúp nhau được lúc mới lập thân. Người hùn hạp buổi đầu thường ở lại lâu dài.
  • Khi gặp sát tinh, Tuần Triệt, Hóa Kỵ: Anh em đông mà mỗi người một ngả, tình thân chỉ đậm đoạn đầu. Hợp tác lúc mở thì hăng, tới lúc chia phần thì rời.

Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc

Trường Sinh không an theo can năm sinh, không an theo chi năm sinh, không an theo tháng, cũng không an theo giờ. Nó an theo Cục của lá số. Trong toàn bộ bảng sao Đẩu Số chỉ mười hai sao vòng Trường Sinh mang đặc điểm ấy, hơn trăm sao còn lại đều buộc vào bốn tham số sinh quen thuộc.

Cục là ngũ hành của cung Mệnh, lấy theo nạp âm của can chi cung Mệnh, chia thành năm bậc: Thủy Nhị Cục, Mộc Tam Cục, Kim Tứ Cục, Thổ Ngũ Cục, Hỏa Lục Cục. Con số đi kèm mỗi Cục là số bước dùng để định vị Tử Vi theo ngày sinh, cũng là mốc khởi đại vận. Vì Cục sinh ra từ cung Mệnh, mà cung Mệnh lại sinh ra từ tháng sinh và giờ sinh, nên vòng Trường Sinh là vòng sao duy nhất mọc lên từ chính bộ khung của lá số chứ không mọc từ lịch pháp của năm sinh.

Hệ quả rất dễ bị bỏ qua: hai người sinh cùng năm cùng tháng cùng ngày mà khác giờ thì vòng Thái Tuế của họ giống hệt nhau, nhưng vòng Trường Sinh có thể dời hẳn sang chỗ khác, vì đổi giờ thì đổi cung Mệnh, đổi cung Mệnh thì đổi Cục. Vòng này đo nhịp sinh trưởng của bản thân lá số, không đo thời thế của năm sinh.

Năm Cục, bốn điểm khởi

Điểm khởi của sao Trường Sinh theo từng Cục như bảng dưới. Xin để ý ngay một chi tiết mà nhiều bản chép sách lướt qua: Thủy Nhị Cục và Thổ Ngũ Cục cùng khởi tại Thân, nên tuy có năm Cục nhưng chỉ có bốn điểm khởi khác nhau.

Thủy Nhị Cục

  • Trường Sinh khởi tại: Thân
  • Ghi chú: khởi cùng cung với Thổ Ngũ Cục

Mộc Tam Cục

  • Trường Sinh khởi tại: Hợi
  • Ghi chú: khởi riêng một cung

Kim Tứ Cục

  • Trường Sinh khởi tại: Tỵ
  • Ghi chú: khởi riêng một cung

Thổ Ngũ Cục

  • Trường Sinh khởi tại: Thân
  • Ghi chú: khởi cùng cung với Thủy Nhị Cục

Hỏa Lục Cục

  • Trường Sinh khởi tại: Dần
  • Ghi chú: khởi riêng một cung

Bốn điểm khởi ấy là Dần, Thân, Tỵ, Hợi, tức trọn bộ bốn cung Tứ Sinh của địa bàn, còn gọi là bốn cung dịch mã. Đây không phải sự trùng hợp. Trong thuyết mười hai chặng sinh vượng của mệnh lý Đông phương, Mộc trường sinh tại Hợi, Hỏa trường sinh tại Dần, Kim trường sinh tại Tỵ, Thủy và Thổ cùng trường sinh tại Thân. Vòng Trường Sinh của Đẩu Số bê nguyên bảng ấy sang, chỉ thay ngũ hành của bản mệnh bằng ngũ hành của Cục. Việc Thủy và Thổ dùng chung cung khởi là quy ước cổ, không phải lỗi in sách.

Chiều đếm và chỗ đặc biệt của riêng sao Trường Sinh

Sau khi có điểm khởi, mười hai sao trong vòng an lần lượt theo thứ tự Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng. Chiều đếm lấy theo âm dương của can năm sinh và giới tính: dương nam và âm nữ đếm thuận theo chiều kim đồng hồ của địa bàn, âm nam và dương nữ đếm nghịch.

Ở đây lộ ra một điều chỉ đúng với hai sao trong cả vòng. Trường Sinh đứng ở bước số không, mà bước số không thì cộng hay trừ đều ra cùng một chỗ. Cho nên vị trí sao Trường Sinh hoàn toàn không phụ thuộc chiều đếm: biết Cục là biết ngay Trường Sinh ở đâu, khỏi cần hỏi người xem là nam hay nữ, tuổi âm hay tuổi dương. Sao thứ hai có tính chất ấy là Bệnh, vì Bệnh đứng ở bước thứ sáu, mà cộng sáu hay trừ sáu trên vòng mười hai cung cũng ra một cung. Mười sao còn lại của vòng đều đổi chỗ khi đổi chiều.

Thủy Nhị Cục

  • Trường Sinh khi đếm thuận: Thân
  • Trường Sinh khi đếm nghịch: Thân
  • Đế Vượng (chiều thuận): Tý
  • Bệnh (hai chiều như nhau): Dần

Mộc Tam Cục

  • Trường Sinh khi đếm thuận: Hợi
  • Trường Sinh khi đếm nghịch: Hợi
  • Đế Vượng (chiều thuận): Mão
  • Bệnh (hai chiều như nhau): Tỵ

Kim Tứ Cục

  • Trường Sinh khi đếm thuận: Tỵ
  • Trường Sinh khi đếm nghịch: Tỵ
  • Đế Vượng (chiều thuận): Dậu
  • Bệnh (hai chiều như nhau): Hợi

Thổ Ngũ Cục

  • Trường Sinh khi đếm thuận: Thân
  • Trường Sinh khi đếm nghịch: Thân
  • Đế Vượng (chiều thuận): Tý
  • Bệnh (hai chiều như nhau): Dần

Hỏa Lục Cục

  • Trường Sinh khi đếm thuận: Dần
  • Trường Sinh khi đếm nghịch: Dần
  • Đế Vượng (chiều thuận): Ngọ
  • Bệnh (hai chiều như nhau): Thân

Thầy nhắc điều này vì nó cứu quý vị khỏi một lỗi hay gặp khi tự an lá số bằng tay: an nhầm chiều rồi thấy Trường Sinh vẫn đúng chỗ nên tưởng cả vòng đã đúng. Muốn kiểm chiều thì phải nhìn Mộc Dục hoặc Quan Đới.

Chính tinh nào có thể ngồi cùng Trường Sinh

Chạy đủ mười hai thế của Tử Vi trên bốn cung Dần, Thân, Tỵ, Hợi thì thấy cả mười bốn chính tinh đều có thể đứng cùng Trường Sinh, nhưng chúng chỉ tới theo những tổ hợp cố định. Bốn cung Tứ Sinh chính là chỗ tập trung của các cặp sao đi đôi trọn vẹn nhất: Tử Vi cùng Thiên Phủ, Vũ Khúc cùng Thiên Tướng, Thái Dương cùng Cự Môn, Thiên Cơ cùng Thái Âm, Thiên Đồng cùng Thiên Lương, còn Liêm Trinh, Tham Lang, Thất Sát, Phá Quân thì độc tọa. Ở tám cung kia các cặp ấy tách ra. Vì vậy Trường Sinh là sao của vòng được đứng cạnh những tổ hợp chính tinh trọn vẹn nhất, và đó là một phần lý do sách xếp nó vào hàng sao lành.

Những điều bất biến của Trường Sinh

  • Chỉ đóng bốn cung: Dần, Tỵ, Thân, Hợi. Đây là bốn cung Tứ Sinh, cũng là bốn cung mà Thiên Mã có thể đóng.
  • Không bao giờ đóng tám cung: Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất. Người nào nói Trường Sinh của mình ở Tý hay ở Thìn thì chắc chắn đã an nhầm.
  • Luôn bị Bệnh xung chiếu. Bệnh đứng cách Trường Sinh đúng sáu cung, cộng hay trừ đều thế, nên cung đối diện Trường Sinh vĩnh viễn là Bệnh, không có ngoại lệ nào trong năm Cục và hai chiều.
  • Luôn tam hợp với Đế Vượng và Mộ. Đổi chiều thì hai sao ấy hoán vị cho nhau nhưng bộ ba cung vẫn nguyên. Đây chính là tam hợp Sinh Vượng Mộ của mệnh lý cổ.
  • Luôn bị Dưỡng và Mộc Dục giáp hai bên. Hai cung kề Trường Sinh vĩnh viễn là hai sao ấy, chỉ đổi trái phải khi đổi chiều.
  • Vĩnh viễn không thể đồng cung với Kình Dương, vì Kình Dương chỉ đóng bốn cung Tứ Chính khi tuổi can dương và bốn cung Tứ Mộ khi tuổi can âm, không lần nào rơi vào Tứ Sinh.
  • Vĩnh viễn không thể đồng cung với Đào Hoa, Tướng Tinh (khóa ở Tứ Chính) và Hoa Cái, Quả Tú, Phan An (khóa ở Tứ Mộ). Mấy sao ấy chỉ tới được bằng đường tam hợp hoặc đường giáp.
  • Có thể đồng cung với Thiên Mã, Cô Thần và Kiếp Sát, vì cả ba sao ấy cũng khóa ở bốn cung Tứ Sinh. Riêng thế Trường Sinh gặp Thiên Mã là thế đáng chú ý nhất của sao này.
  • Đồng cung với Lộc Tồn chỉ xảy ra ở năm tuổi can dương là Giáp tại Dần, Bính và Mậu tại Tỵ, Canh tại Thân, Nhâm tại Hợi. Với năm tuổi can âm thì Lộc Tồn về Tứ Chính, không gặp được Trường Sinh.
  • Đồng cung với Đà La chỉ xảy ra ở năm tuổi can âm là Ất tại Dần, Đinh và Kỷ tại Tỵ, Tân tại Thân, Quý tại Hợi. Đây là trường hợp duy nhất Trường Sinh ngồi chung được với một sao thuộc bộ Lộc Tồn Kình Đà.

Cách an và vị trí trong lá số

Vòng Trường Sinh gồm mười hai sao ứng với mười hai chặng của một đời sống: Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng. Vòng này an theo Cục của lá số. Tùy Thủy nhị cục, Mộc tam cục, Kim tứ cục, Thổ ngũ cục hay Hỏa lục cục mà sao Trường Sinh khởi ở một cung Tứ Sinh là Dần, Thân, Tỵ hoặc Hợi, rồi mười hai sao lần lượt an theo chiều thuận hay nghịch tùy âm dương của tuổi và giới tính.

Trong vòng mười hai chặng, Trường Sinh giữ vị trí của mình theo thứ tự cố định. Biết sao Trường Sinh khởi ở đâu là suy ra được vị trí Trường Sinh.

Đặc tính và ý nghĩa

Người có Trường Sinh ở cung quan trọng thường có sinh khí tốt, sức khỏe nền tảng khá, gặp việc dễ có khởi đầu thuận và phát triển bền. Trường Sinh mang ý nghĩa của sự sinh sôi, nuôi lớn, nên rất quý ở các cung Mệnh, Phúc, Tật Ách và Tử Tức.

Là sao lành, Trường Sinh làm nền cho chính tinh phát triển. Khi đi cùng chính tinh miếu vượng và cát tinh, nó như đất tốt nuôi cây lớn; khi gặp sát tinh, nó giúp gốc rễ vẫn còn để hồi phục.

Vị Trí Của Trường Sinh Trong Vòng Trường Sinh

Đẩu Số có bốn vòng sao lớn: vòng Thái Tuế mười hai sao đếm theo chi năm sinh, vòng Bác Sĩ mười hai sao đếm theo Lộc Tồn tức theo can năm sinh, vòng Thần Sát mười hai sao đếm theo tam hợp chi năm sinh, và vòng Trường Sinh mười hai sao đếm theo Cục. Ba vòng đầu đều buộc vào can chi của năm sinh. Vòng Trường Sinh là vòng duy nhất buộc vào Cục, tức buộc vào chính cấu trúc bên trong của lá số.

Khác biệt ấy quyết định cách đọc. Vòng Thái Tuế nói về thế của người này trong dòng thời gian của thiên hạ, ai sinh cùng năm thì mang cùng một vòng. Vòng Trường Sinh thì nói về nhịp sinh trưởng của riêng lá số này, giống như đo mạch: đặt tay vào cung nào là biết cung ấy đang nảy mầm, đang sung sức, đang xế bóng hay đã tàn rồi ủ lại.

Trường Sinh đứng ở bước số một của vòng

Trong danh sách mười hai chặng, Trường Sinh giữ vị trí mở đầu, đánh số không nếu tính theo bước cách từ điểm khởi. Điểm khởi của cả vòng chính là chỗ đứng của Trường Sinh, mọi sao còn lại đếm từ nó mà ra, nên đây là sao định vị của cả vòng.

Đứng trước nó trong thứ tự là Dưỡng, sao khép lại vòng cũ, mang tượng bào thai đã đủ ngày đủ tháng chờ ra đời. Đứng sau nó là Mộc Dục, sao tắm gội cho đứa trẻ mới sinh. Trên địa bàn, hai sao ấy vĩnh viễn là hai cung kề Trường Sinh, chỉ hoán đổi trái phải khi đổi chiều đếm. Cho nên cung có Trường Sinh luôn được giáp bởi cái vừa xong và cái vừa bắt đầu, một thế giáp rất êm, không có sao dữ nào của vòng chen vào được.

Tam hợp của Trường Sinh cố định là Đế Vượng và Mộ. Đây là bộ ba nổi tiếng Sinh Vượng Mộ, tức mầm, đỉnh và kho. Nhìn theo tượng thì rất gọn: chỗ nảy mầm nhìn thấy chỗ rực rỡ nhất và chỗ cất giữ cuối cùng. Xung chiếu của Trường Sinh cố định là Bệnh. Đây là điểm mà Thầy cho là hay nhất của cả vòng: ngay đối diện cái mới sinh là cái đã ốm, cổ nhân đặt vòng như vậy để nhắc rằng sinh và bệnh vốn là hai mặt của một mạch khí, không tách rời.

Thủy Nhị Cục

  • Tràng Sinh: Thân
  • Mộc Dục: Dậu
  • Quan Đới: Tuất
  • Lâm Quan: Hợi
  • Đế Vượng: Tý
  • Suy: Sửu
  • Bệnh: Dần
  • Tử: Mão
  • Mộ: Thìn
  • Tuyệt: Tỵ
  • Thai: Ngọ
  • Dưỡng: Mùi

Mộc Tam Cục

  • Tràng Sinh: Hợi
  • Mộc Dục: Tý
  • Quan Đới: Sửu
  • Lâm Quan: Dần
  • Đế Vượng: Mão
  • Suy: Thìn
  • Bệnh: Tỵ
  • Tử: Ngọ
  • Mộ: Mùi
  • Tuyệt: Thân
  • Thai: Dậu
  • Dưỡng: Tuất

Kim Tứ Cục

  • Tràng Sinh: Tỵ
  • Mộc Dục: Ngọ
  • Quan Đới: Mùi
  • Lâm Quan: Thân
  • Đế Vượng: Dậu
  • Suy: Tuất
  • Bệnh: Hợi
  • Tử: Tý
  • Mộ: Sửu
  • Tuyệt: Dần
  • Thai: Mão
  • Dưỡng: Thìn

Thổ Ngũ Cục

  • Tràng Sinh: Thân
  • Mộc Dục: Dậu
  • Quan Đới: Tuất
  • Lâm Quan: Hợi
  • Đế Vượng: Tý
  • Suy: Sửu
  • Bệnh: Dần
  • Tử: Mão
  • Mộ: Thìn
  • Tuyệt: Tỵ
  • Thai: Ngọ
  • Dưỡng: Mùi

Hỏa Lục Cục

  • Tràng Sinh: Dần
  • Mộc Dục: Mão
  • Quan Đới: Thìn
  • Lâm Quan: Tỵ
  • Đế Vượng: Ngọ
  • Suy: Mùi
  • Bệnh: Thân
  • Tử: Dậu
  • Mộ: Tuất
  • Tuyệt: Hợi
  • Thai: Tý
  • Dưỡng: Sửu

Bảng trên tính theo chiều thuận, tức cho dương nam và âm nữ. Với âm nam và dương nữ thì đọc ngược lại: cột Trường Sinh và cột Bệnh giữ nguyên, mười cột còn lại lật gương qua trục Trường Sinh. Xin lưu ý bảng do máy sinh nên viết theo lối chữ Hán Việt Tràng Sinh, còn thân bài dùng lối viết Trường Sinh quen thuộc hơn với người Việt. Hai cách viết cùng chỉ một sao, sách vở lưu hành ở nước ta dùng lẫn cả hai.

Trường Sinh và Tứ Hóa

Trường Sinh không nằm trong bảng Tứ Hóa. Bảng Tứ Hóa của mười thiên can chỉ gọi tên mười bốn chính tinh cùng bốn phụ tinh là Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật. Vòng Trường Sinh không có sao nào được gọi tên, nên Trường Sinh vĩnh viễn không hóa Lộc, không hóa Quyền, không hóa Khoa, không hóa Kỵ.

Nhưng nó vẫn dự phần vào Tứ Hóa theo lối gián tiếp, bằng cách đứng chung cung với chính tinh đang hóa. Cách đọc như sau. Chính tinh đồng cung hóa Lộc thì Trường Sinh cho biết nguồn lộc ấy còn ở chặng gây dựng, tiền đến từ việc mới mở chứ chưa phải từ nền cũ, nên chớ vội tiêu như thể nó đã bền. Chính tinh hóa Quyền thì Trường Sinh nói quyền ấy mới nhận, uy chưa đủ dày, phải lấy việc làm ra uy chứ không lấy chức làm ra uy. Chính tinh hóa Khoa thì hợp nhất, vì Khoa chủ tiếng thơm và đường học, gặp chặng khởi sinh thì là người học được, dạy được, mở lớp mở nghề đúng lúc.

Riêng trường hợp chính tinh đồng cung hóa Kỵ, Thầy khuyên đọc kỹ hơn một nhịp. Trường Sinh không gỡ được Kỵ, sách không hề nói nó có phép giải, và Thầy cũng chưa thấy lá số nào Trường Sinh làm nhẹ được Kỵ. Cái nó cho là sức bật lại: việc vẫn vướng, người vẫn mệt, nhưng gốc chưa đứt nên làm lại được. Nói với khách thì nói đúng chừng ấy, không nói quá thành ra hứa hão.

Vì sao đọc Trường Sinh phải đọc cả vòng

Một sao trong vòng, tách khỏi vòng, gần như không nói được gì. Trường Sinh ở cung Mệnh mà Đế Vượng rơi vào Nô Bộc còn Mộ rơi vào Điền Trạch thì đọc khác hẳn Trường Sinh ở Mệnh mà Đế Vượng rơi vào Quan Lộc còn Mộ rơi vào Tài Bạch, dù hai lá số đều có Trường Sinh thủ Mệnh. Trường hợp thứ hai là người tự mình lên đỉnh rồi tự mình cất của. Trường hợp thứ nhất là người khởi sự cho mình nhưng đỉnh cao lại thuộc về bạn bè cộng sự, còn của cải thì đọng ở nhà đất.

Vì vậy quy trình Thầy dạy học trò là chấm cả mười hai chặng lên mười hai cung trước, đọc một lượt xem cung nào đang lên cung nào đang xuống, rồi mới quay lại luận từng cung.

Sao hợp và sao kỵ

Trước khi đọc hai cột dưới, xin nhớ quy tắc về lực. Cùng một sao mà đứng đồng cung với Trường Sinh thì mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn một bậc, còn giáp hai bên là thế bao vây, rất rõ với sát tinh mà mờ với cát tinh. Với Trường Sinh phải nhớ thêm một tầng nữa: vì nó khóa ở bốn cung Tứ Sinh nên có những sao về mặt cấu trúc không thể ngồi chung với nó, dù sách chép thế nào thì trên lá số thật chúng chỉ tới được bằng đường chiếu hoặc đường giáp. Vị thế khả dĩ của từng sao đã ghi rõ trong ngoặc.

Trường Sinh hợp khi gặp

  • Đế Vượng và Mộ (tam hợp, luôn luôn có, không lá số nào thiếu): đủ bộ Sinh Vượng Mộ, mầm có đỉnh để vươn tới và có kho để cất về. Đây là quan hệ bất biến, không phải điều may rủi.
  • Thiên Mã (đồng cung được, vì cả hai cùng khóa ở Tứ Sinh): thế sinh khí gặp chân đi, hợp người lập nghiệp xa, mở chi nhánh, làm nghề dịch chuyển. Nếu cung ấy có thêm Lộc Tồn thì thành thế Lộc Mã đứng trên nền Trường Sinh, rất đáng quý.
  • Lộc Tồn (đồng cung, chỉ ở năm tuổi can dương Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm; các tuổi khác chỉ chiếu hoặc giáp): mầm mọc trên đất có kho, khởi sự có vốn, biết giữ.
  • Hóa Khoa (đồng cung qua chính tinh cùng cung, hoặc chiếu): hợp nhất trong bốn hóa, vì Khoa chủ đường học và tiếng thơm, gặp chặng khởi sinh thì học được, dạy được, mở nghề đúng lúc.
  • Thiên Khôi, Thiên Việt (đồng cung được ở vài tuổi can, còn lại là chiếu): quý nhân đến đúng đoạn mới mở.
  • Tả Phụ, Hữu Bật (đồng cung được vì an theo tháng nên đi khắp mười hai cung): có người phụ tá ngay từ buổi đầu, đây là thứ Trường Sinh cần nhất vì chặng mở bao giờ cũng thiếu tay.

Trường Sinh e ngại khi gặp

  • Tuần và Triệt (án ngữ ngay cung): đây là điều đáng ngại nhất. Mầm có mà đất bị lấp, khởi sự bị chặn ở nhịp đầu, việc gì cũng phải làm hai lần mới xong. Không phải hỏng, mà là chậm.
  • Đà La (đồng cung được, chỉ ở năm tuổi can âm Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý): đây là sát tinh duy nhất của bộ Lộc Tồn có thể ngồi chung với Trường Sinh. Đà La chủ dây dưa kéo dài, đặt lên chặng khởi sinh thì thành mở việc rất lâu mới chạy, chuyện cũ chưa dứt đã mở chuyện mới.
  • Kình Dương (vĩnh viễn không đồng cung, chỉ có thể tam hợp hoặc giáp): sách chép Kình Dương làm hỏng cái tốt, nhưng với Trường Sinh phải hiểu là hỏng qua đường chiếu, nên đọc nhẹ hơn một bậc so với các cung khác.
  • Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung được, vì an theo giờ nên đi khắp mười hai cung): gốc tốt mà hao, gây dựng được rồi mất, hoặc công sức đổ vào chỗ không thành. Đây là cặp làm Trường Sinh mất giá nhiều nhất.
  • Hóa Kỵ (đồng cung qua chính tinh cùng cung, hoặc chiếu): Trường Sinh không giải được Kỵ. Nó chỉ cho sức làm lại sau khi vấp, không cho phép tránh vấp.
  • Kiếp Sát (đồng cung được, vì cũng khóa ở Tứ Sinh): tên nghe dữ nhưng là phụ tinh nhỏ, đọc là chặng mở có kẻ tranh, không đọc thành tai họa.
  • Đào Hoa, Hoa Cái, Tướng Tinh, Quả Tú, Phan An (vĩnh viễn không đồng cung): năm sao này khóa ở Tứ Chính hoặc Tứ Mộ nên không bao giờ ngồi chung với Trường Sinh. Ai luận thấy chúng đồng cung thì chắc chắn có chỗ an nhầm.

Trường Sinh là một chặng của vòng khí. Đi cùng chính tinh sáng và cát tinh thì phát huy mặt hay; gặp sát tinh thì mặt yếu lộ ra. Phải xem cả cục diện mới luận đúng.

Trường Sinh Trong Đại Vận Và Lưu Niên

Vòng Trường Sinh an một lần trên bản mệnh rồi nằm yên suốt đời. Khi đại vận mười năm đi vào cung có Trường Sinh, người ta không thêm sao nào cả, chỉ là mười năm ấy được đọc trên nền một cung đang ở chặng khởi sinh. Đó là mười năm của mở và dựng: hợp bắt đầu nghề mới, mở cơ sở, học lại một môn, sinh con, chuyển tới vùng đất mới, xây nhà. Việc gì cần gây từ gốc thì đặt vào đây.

Thầy quan sát trên lá số thật thì thấy đại vận Trường Sinh có một nét rất đều: nó không cho thu hoạch. Người trong vận này thường bận rộn, đông việc, tinh thần tốt, nhưng tổng kết mười năm lại thấy tiền của chưa dày lên bao nhiêu, cái dày lên là nền móng và quan hệ. Ai kỳ vọng vận này phải giàu ngay thì thất vọng, ai hiểu đúng và chịu gieo thì tới vận Lâm Quan và Đế Vượng phía sau mới gặt. Ngược lại, đại vận Trường Sinh mà ngồi không thì phí hơn mọi vận khác, vì bỏ mất đúng đoạn đất tốt nhất để gieo.

Cần phân biệt hai chiều. Vòng và đại vận cùng đổi chiều theo một quy tắc, nên dù thuận hay nghịch thì sau vận Trường Sinh vẫn lần lượt tới Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, chỉ khác hướng trên mặt địa bàn. Câu nói quen tai rằng đi vòng xuôi thì đời lên, đi vòng ngược thì đời xuống là không đúng.

Vòng Trường Sinh không có bản lưu niên

Đây là chỗ phải nói cho rõ vì rất nhiều người nhầm. Vòng Thái Tuế có bản lưu, mỗi năm lấy chi của năm xem mà an lại đủ mười hai sao, nên mới có lưu Thái Tuế, lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ. Vòng Bác Sĩ cũng có bản lưu, lấy can của năm xem mà an lại theo lưu Lộc Tồn. Vòng Trường Sinh thì không. Cục của lá số là con số cố định từ lúc chào đời, không có Cục của năm, cho nên không tồn tại lưu Trường Sinh, lưu Mộc Dục hay lưu Đế Vượng. Ai bán bản luận có mục lưu Trường Sinh thì nên hỏi lại họ lấy Cục ở đâu ra.

Vậy trong một năm cụ thể, sao Trường Sinh tham gia bằng cách nào? Bằng cách đứng yên chờ các lưu sao đi qua. Cung có Trường Sinh vẫn nhận đủ lưu Thái Tuế, lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ, lưu Lộc Tồn, lưu Kình Dương, lưu Đà La, lưu Khôi Việt, lưu Xương Khúc, lưu Thiên Mã, cùng bộ lưu Tứ Hóa theo can năm. Cách đọc là lấy chặng khởi sinh làm nền rồi xem năm ấy ai tới.

Có hai điều tính được chắc chắn về các lưu sao chạm vào Trường Sinh. Thứ nhất, lưu Kình Dương vĩnh viễn không tới được cung có Trường Sinh, vì lưu Kình Dương cũng an theo lưu Lộc Tồn, mà lưu Lộc Tồn của can dương nằm ở Tứ Chính còn của can âm nằm ở Tứ Mộ, không năm nào rơi vào Tứ Sinh. Thứ hai, lưu Lộc Tồn chỉ tới cung Trường Sinh trong những năm can dương: năm 2026 Bính Ngọ lưu Lộc Tồn tại Tỵ, năm 2028 Mậu Thân cũng tại Tỵ, năm 2030 Canh Tuất tại Thân, năm 2032 Nhâm Tý tại Hợi, năm 2034 Giáp Dần tại Dần. Ai có Trường Sinh đúng cung ấy thì năm đó là năm mầm gặp kho, rất hợp để khởi sự việc cần vốn.

Lưu Thiên Mã thì ngược lại, năm nào cũng đứng ở một trong bốn cung Tứ Sinh, nên cứ bốn năm một lần nó về đúng cung có Trường Sinh. Năm Lộc Mã cùng về thì đi được; năm chỉ có Mã mà không có Lộc thì đi rồi phải gây lại từ đầu.

Khi lưu Tứ Hóa bay vào cung có Trường Sinh thì đọc theo đúng lối đã nói ở mục vòng, và chỉ ứng trong một năm chứ không kéo dài.

Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Trường Sinh

Một, Trường Sinh không phải là sao thọ mệnh

Cái tên hai chữ trường sinh khiến rất nhiều người đọc thành sống lâu, thậm chí thành trường sinh bất tử. Sách không nói thế. Trong thuyết mười hai chặng, trường sinh là tên của một giai đoạn, đúng nghĩa lúc khí vừa mới sinh ra. Nó nói về chất lượng của chặng khởi đầu, không nói về độ dài của cả đời. Tuổi thọ phải xem cung Tật Ách, cung Phúc Đức, chính tinh thủ Mệnh cùng Tuần Triệt và sát tinh.

Thầy đã gặp không ít lá số có Trường Sinh thủ Mệnh mà thân thể yếu, và cũng gặp lá số có Tuyệt thủ Mệnh mà sống rất thọ.

Hai, Trường Sinh không phải là bảo đảm cho thành công

Trường Sinh là phụ tinh nhỏ, không có sức tự mình định đoạt một cung. Cái nó cho là điều kiện nền: sinh khí, sức hồi, khởi đầu thuận. Còn việc gieo xuống có thành cây hay không thì do chính tinh, do Tứ Hóa, do cách cục, do người ấy có chịu làm hay không. Cung Mệnh có Trường Sinh mà chính tinh hãm, lại gặp Không Kiếp đồng cung, thì đọc là người có sức bắt đầu nhưng khó giữ thành quả, chứ tuyệt đối không đọc thành người phát đạt.

Ba, sao Trường Sinh của Đẩu Số khác với trường sinh trong Bát Tự

Bên Tứ Trụ Bát Tự cũng có bảng mười hai chặng trường sinh, tính theo Nhật Can gặp địa chi của từng trụ. Bên Đẩu Số thì tính theo Cục của lá số. Hai bảng dùng chung tên gọi và chung nguyên lý ngũ hành, nhưng tham số đầu vào khác nhau hoàn toàn, nên kết quả không việc gì phải trùng nhau. Người xem cả hai môn hay lấy chặng bên này để bênh vực cho chặng bên kia, đó là một lối lập luận vòng tròn, không có giá trị kiểm chứng.

Bốn, chiều thuận không tốt hơn chiều nghịch

Có người nghe câu dương nam âm nữ đi thuận rồi kết luận rằng người đi thuận thì đời xuôi, người đi nghịch thì đời ngược. Điều này sai về mặt cấu trúc. Hai chiều chỉ khác nhau ở chỗ mười hai chặng trải trên địa bàn theo hướng nào, còn thứ tự mà một người đi qua các chặng trong đời thì vẫn y hệt, vì đại vận cũng đổi chiều theo cùng một quy tắc. Vị trí sao Trường Sinh thậm chí không hề đổi khi đổi chiều. Cái thay đổi là chặng nào rơi vào cung chức nào, và đó mới là chỗ đáng luận.

Lời Khuyên Khi Lá Số Có Trường Sinh

Trường Sinh không phải sao cần hóa giải. Nó là sao lành, và việc của người có nó không phải là trấn yểm mà là dùng cho đúng chỗ. Thầy tóm vào bốn lời khuyên thực tế.

Một, gieo vào đúng cung có Trường Sinh. Xem lá số xong, tìm cung nào mang Trường Sinh rồi dồn công sức vào lĩnh vực của cung ấy trong những năm còn sức. Trường Sinh ở Quan Lộc thì đầu tư vào nghề, đừng đầu tư vào đất. Trường Sinh ở Điền Trạch thì ngược lại. Trường Sinh ở Tử Tức thì việc dạy, việc truyền nghề, việc nuôi người sẽ trả lại nhiều hơn mọi khoản đầu tư khác. Đây là cách dùng vòng Trường Sinh có ích nhất mà lại ít người dùng.

Hai, đừng đòi thu hoạch ở chặng gieo. Người đang ở đại vận Trường Sinh thường sốt ruột vì làm nhiều mà chưa thấy thành. Chặng này vốn không sinh ra để gặt: hãy đếm số nền đã dựng, số nghề đã học được, đừng đếm tiền.

Ba, giữ cái gốc. Giá trị lớn nhất của Trường Sinh là sức hồi, mà sức hồi thì có thật nhưng không vô hạn. Người có nó rất hay ỷ vào nó mà thức khuya, làm quá, cậy trẻ. Ngủ đủ, ăn đúng bữa, khám định kỳ là cách duy nhất giữ được cái sao này cho.

Bốn, nhìn sang cung Bệnh đối diện mà phòng. Vì Bệnh vĩnh viễn ở cung xung chiếu, hãy đọc kỹ cung ấy và phòng đúng lĩnh vực của nó. Bệnh ở Thiên Di thì cẩn thận khi đi xa. Bệnh ở Phu Thê thì để ý sức khỏe bạn đời. Bệnh ở Tài Bạch thì đừng để dòng tiền đứt. Phòng đúng chỗ vẫn hơn cầu cúng chung chung.

Về phong thủy bổ trợ. Những gợi ý dưới đây là gợi ý chung theo tượng của sao, không phải phép trấn yểm, không thay được việc phải làm trong đời thật, và không cần mua bán vật phẩm gì. Trường Sinh mang tượng mầm và nước nuôi mầm, nên hợp với cây xanh sống thật trong nhà, hợp ánh sáng buổi sớm, hợp không gian thoáng khí. Ai có Trường Sinh ở Điền Trạch thì trồng được cây là tốt cho tâm tính. Ai có Trường Sinh ở Tật Ách thì việc bổ trợ đúng nhất là đi bộ buổi sáng và ngủ sớm. Ngoài chừng ấy, sách không nói gì thêm về phép hóa giải cho sao này, vì nó vốn không phải sao cần giải.

Câu hỏi thường gặp

Trường Sinh là sao mở đầu vòng mười hai chặng sinh vượng trong Tử Vi Đẩu Số, ví như mầm sống vừa nảy. Đây là sao lành, chủ sức sống, khởi đầu thuận lợi, gốc rễ vững và khả năng phát triển bền.

Trường Sinh an theo Cục của lá số. Tùy Thủy nhị cục, Mộc tam cục, Kim tứ cục, Thổ ngũ cục hay Hỏa lục cục mà nó khởi ở một cung Tứ Sinh là Dần, Thân, Tỵ hoặc Hợi, rồi cả vòng an theo.

Trường Sinh quý ở các cung Mệnh, Phúc Đức, Tật Ách và Tử Tức, vì mang sinh khí, sức sống, khởi đầu thuận và lợi đường con cái, sức khỏe.

Trong lưu niên hay đại hạn, cung gặp Trường Sinh thường là giai đoạn khởi sự thuận, hợp bắt đầu việc mới, dựng nền, mở mang. Cần xem cùng chính tinh để biết khởi đầu phát triển tới đâu.

Vì vòng Trường Sinh khởi theo Cục, mà năm Cục chỉ có bốn điểm khởi: Hỏa Lục Cục khởi tại Dần, Kim Tứ Cục tại Tỵ, Thủy Nhị Cục và Thổ Ngũ Cục cùng tại Thân, Mộc Tam Cục tại Hợi. Trường Sinh đứng ngay điểm khởi nên nó chỉ có thể ở một trong bốn cung Tứ Sinh ấy. Thấy Trường Sinh của mình nằm ở tám cung còn lại thì chắc chắn lá số đã an nhầm.

Không. Trường Sinh đứng ở bước số không của vòng nên cộng hay trừ đều ra cùng một cung, vị trí của nó chỉ phụ thuộc Cục chứ không phụ thuộc chiều đếm. Trong cả vòng chỉ có Trường Sinh và Bệnh mang tính chất này, vì Bệnh cách sáu cung mà cộng sáu hay trừ sáu trên vòng mười hai cung cũng ra một chỗ. Mười sao còn lại đều đổi chỗ, nên muốn kiểm chiều đếm thì nhìn Mộc Dục hoặc Quan Đới.

Không có. Vòng Thái Tuế và vòng Bác Sĩ có bản lưu vì chúng an theo can chi của năm xem, còn vòng Trường Sinh an theo Cục, mà Cục là con số cố định của lá số từ lúc sinh, không có Cục của năm. Cung có Trường Sinh vẫn nhận đủ các lưu sao khác, nhưng bản thân sao Trường Sinh thì đứng yên suốt đời.

Cả Trường Sinh lẫn Thiên Mã đều bị khóa ở bốn cung Tứ Sinh nên chúng có thể ngồi chung, đây là thế đáng chú ý nhất của sao này. Nghĩa của nó là sinh khí gặp chân đi: hợp người lập nghiệp xa quê, mở chi nhánh, làm nghề dịch chuyển. Nếu cung ấy có thêm Lộc Tồn, tức người tuổi can dương, thì thành thế Lộc Mã đứng trên nền Trường Sinh, khởi sự có vốn và có đường đi. Chỉ có Mã mà không có Lộc thì đi được nhưng tới nơi phải gây dựng lại từ đầu.