Tử Vi
Sao Tử Phù: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung
Tìm hiểu sao Tử Phù trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.
Tổng quan về sao Tử Phù
Tử Phù là một sao nhỏ trong vòng Thái Tuế, ngũ hành Hỏa, cùng nhóm với Trực Phù. Đây là bại tinh, mang khí buồn thảm, gợi sự tang thương và những rắc rối ngăn trở. Tên gọi Tử Phù nghe nặng nề, nhưng trong lá số nó là một phụ tinh nhẹ, chủ yếu mang điềm buồn chứ không gây đại họa.
- Ngũ hành: Hỏa
- Nhóm: Vòng Thái Tuế
- Cách an: Theo chi năm sinh
- Cai quản: Buồn thảm, tang thương, trở ngại
- Kỵ: Tang Hổ, sát tinh, Hóa Kỵ
Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.
Ý nghĩa tại cung Mệnh
- Khi Tử Phù gặp chính tinh sáng, phúc tinh, cát tinh: Người trầm tính, chín chắn sớm, nghĩ sâu, ít bốc đồng; hợp những việc cần bền bỉ. Nét buồn thoáng qua trên gương mặt lại làm người khác thấy dễ tin cậy.
- Khi Tử Phù gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Hay ưu tư không rõ nguyên do, dễ nản khi việc kéo dài, tự nhận phần thiệt rồi để trong lòng. Cần người bên cạnh kéo ra khỏi những đợt chùng.
Ý nghĩa ở các cung khác
Đối chiếu ý nghĩa của Tử Phù với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.
Cung Phụ Mẫu
- Khi Tử Phù gặp chính tinh sáng, phúc tinh, cát tinh: Bậc trên tính điềm đạm, nhà cửa nề nếp; con cái học được ở cha mẹ sự nhẫn nại.
- Khi Tử Phù gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Nên lưu tâm sức khỏe và tinh thần của người trên, nhất là khi họ đã lớn tuổi. Đây là lời nhắc thăm hỏi thường xuyên, không phải lời báo trước điều gì.
Cung Phúc Đức
- Khi Tử Phù gặp chính tinh sáng, phúc tinh, cát tinh: Tâm tính sâu, biết nghĩ tới người khác, có chiều hướng tâm linh hoặc thích những việc lặng; phúc phần đến từ sự tu dưỡng.
- Khi Tử Phù gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Đây là một trong hai cung Tử Phù nói được nhiều nhất. Dễ có những đợt buồn không tên, hay nghĩ tới chuyện cũ, khó buông. Nên có nếp sinh hoạt đều và có người để nói chuyện.
Cung Điền Trạch
- Khi Tử Phù gặp chính tinh sáng, phúc tinh, cát tinh: Nhà cửa cũ mà bền, có thể là nhà thừa kế hoặc nhà ở lâu năm; sửa sang từ từ.
- Khi Tử Phù gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Nhà thiếu sáng, cần thông thoáng; tài sản hao dần vì những khoản nhỏ không tên, hoặc có đồ cũ giữ mãi không dùng tới.
Cung Quan Lộc
- Khi Tử Phù gặp chính tinh sáng, phúc tinh, cát tinh: Hợp nghề cần sự bền và sự lắng: nghiên cứu, kỹ thuật, lưu trữ, kế toán, y tế, chăm sóc người già, tang lễ, công việc hậu trường. Tiến chậm mà không lùi.
- Khi Tử Phù gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Công việc hay trì trệ, dự án kéo dài, nhiệt tình nguội giữa chừng; dễ chán nghề rồi đổi nghề mà chưa kịp gặt.
Cung Nô Bộc
- Khi Tử Phù gặp chính tinh sáng, phúc tinh, cát tinh: Bạn ít mà sâu, có người bạn cũ đi cùng nhiều năm; cấp dưới trầm tính, làm việc chắc.
- Khi Tử Phù gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Quan hệ nhạt dần và mất liên lạc mà không vì mâu thuẫn gì; dễ mất thời gian và tiền bạc vào những mối quen không đi tới đâu.
Cung Thiên Di
- Khi Tử Phù gặp chính tinh sáng, phúc tinh, cát tinh: Ra ngoài kín tiếng, không phô trương, hợp môi trường yên tĩnh và có kỷ luật; đi xa thường có mục đích rõ chứ không đi chơi.
- Khi Tử Phù gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Ra ngoài dễ mệt, thấy lạc lõng nơi đông người, hoặc chuyến đi hao tốn hơn dự tính. Không phải điềm dữ, chỉ là chỉ dấu nên chuẩn bị kỹ.
Cung Tật Ách
- Khi Tử Phù gặp chính tinh sáng, phúc tinh, cát tinh: Sách chỉ chép Tử Phù chủ buồn thảm và ngăn trở, không lập nghĩa bệnh lý cụ thể. Điều nói được là người này thường biết giữ gìn, chịu kiêng khem, hồi phục chậm mà chắc.
- Khi Tử Phù gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Chỗ đáng lưu ý là sức khỏe tinh thần và những chứng mạn tính kéo dài, cùng tình trạng mệt mỏi kéo dài do lo nghĩ. Đây là chỉ dấu để đi khám và để chăm sóc tinh thần, tuyệt đối không phải chỉ dấu để phán mệnh yểu.
Cung Tài Bạch
- Khi Tử Phù gặp chính tinh sáng, phúc tinh, cát tinh: Tiền vào chậm mà đều, biết tiết kiệm, ít tiêu hoang; hợp cách tích cóp dài hạn.
- Khi Tử Phù gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Hao hụt dần vì nhiều khoản nhỏ, tiền nằm chết trong những thứ không sinh lợi, hoặc thu nhập bị gián đoạn từng đợt. Nên ghi chép chi tiêu và rà lại các khoản trả định kỳ.
Cung Tử Tức
- Khi Tử Phù gặp chính tinh sáng, phúc tinh, cát tinh: Con cái trầm tính, chín chắn, biết nghĩ; cha mẹ con cái ít va chạm.
- Khi Tử Phù gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Con cái kín tiếng, ít chia sẻ, cha mẹ khó biết con đang nghĩ gì; hoặc việc con cái tới muộn hơn mong đợi.
Cung Phu Thê
- Khi Tử Phù gặp chính tinh sáng, phúc tinh, cát tinh: Bạn đời điềm đạm, chín chắn, có thể hơn tuổi hoặc từng trải; hôn nhân bền theo lối lặng lẽ.
- Khi Tử Phù gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Tình cảm nguội dần vì thiếu vun đắp chứ không vì mâu thuẫn; hai bên cùng im lặng nên khoảng cách lớn dần. Cung này phải xét đủ tam phương, không xét một sao.
Cung Huynh Đệ
- Khi Tử Phù gặp chính tinh sáng, phúc tinh, cát tinh: Anh em ít nhưng gắn bó, gặp việc thì có mặt.
- Khi Tử Phù gặp sát tinh, Hóa Kỵ, Tuần Triệt: Anh em xa cách dần, mỗi người một nơi, ít qua lại; thường không thành chuyện lớn.
Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Tử Phù an theo địa chi của năm sinh, không liên quan tới can, tháng, giờ hay Cục. Phép an chỉ một câu: đặt Thái Tuế vào cung cùng tên với chi năm sinh, rồi đếm thuận chiều kim đồng hồ năm cung, cung thứ năm ấy là Tử Phù. Tuổi Tý thì Tử Phù ở Tỵ, tuổi Sửu thì Tử Phù ở Ngọ. Không phân biệt nam nữ, không phân biệt âm dương can, không có ngoại lệ.
Hệ quả thứ nhất là vị trí Tử Phù cố định trọn đời. Không đại vận nào dời nó, không lưu niên nào đổi nó. Cái đổi theo năm là lưu Tử Phù, tính theo chi của năm đang xem, và hai tầng ấy phải gọi đúng tên mới luận đúng.
Bảng dưới liệt kê đủ mười hai tuổi chi và vị trí Tử Phù tương ứng, sinh thẳng từ thuật toán an sao của trang.
Tý
- Tử Phù an tại: Tỵ
Sửu
- Tử Phù an tại: Ngọ
Dần
- Tử Phù an tại: Mùi
Mão
- Tử Phù an tại: Thân
Thìn
- Tử Phù an tại: Dậu
Tỵ
- Tử Phù an tại: Tuất
Ngọ
- Tử Phù an tại: Hợi
Mùi
- Tử Phù an tại: Tý
Thân
- Tử Phù an tại: Sửu
Dậu
- Tử Phù an tại: Dần
Tuất
- Tử Phù an tại: Mão
Hợi
- Tử Phù an tại: Thìn
Những điều bất biến của Tử Phù
- Tử Phù đi đủ mười hai cung. Chạy đủ mười hai tuổi chi thì Tử Phù rơi đúng mười hai địa chi khác nhau, mỗi tuổi một cung. Không có cung nào Tử Phù kiêng, cũng không có cung nào nó đóng nhiều hơn.
- Mọi chính tinh đều có thể đứng cùng cung với Tử Phù. Chạy đủ mười hai thế Tử Vi cho từng vị trí thì cả mười bốn chính tinh đều có thể đồng cung với Tử Phù tại bất kỳ địa chi nào, kể cả Tử Vi, Thiên Phủ, Thái Dương miếu vượng. Cấu trúc không dành riêng cho Tử Phù một chỗ tối nào.
- Luôn đồng cung với Nguyệt Đức. Đây là điều quan trọng nhất của cả bài. Sao Nguyệt Đức an theo chi năm sinh rơi đúng cung Tử Phù ở cả mười hai tuổi, không lệch một lần nào. Nguyệt Đức là một trong Tứ Đức, cát tinh chủ phúc ấm và giải hung. Vậy trên mọi lá số, cung Tử Phù đã có sẵn một đức tinh ngồi cùng. Cấu trúc tự nó cấp thuốc giải ngay tại chỗ.
- Luôn tam hợp với Phúc Đức và Thiếu Dương, mà cung Phúc Đức ấy lại luôn có Thiên Đức. Sao Phúc Đức của vòng Thái Tuế cách Tử Phù bốn cung, Thiếu Dương cách tám cung, nên ba sao lập tam hợp cố định. Sao Thiên Đức, đức tinh còn lại của cặp Thiên Nguyệt Đức, luôn nằm chung cung với Phúc Đức. Nghĩa là Tử Phù đồng cung một đức tinh và tam hợp đức tinh kia, ở mọi lá số.
- Luôn xung chiếu Trực Phù. Trực Phù cách Tử Phù đúng sáu cung nên luôn ở cung đối diện. Đây là chi tiết đáng chú ý vì Tân Biên chép hai sao chung một mục "Tử Phù Trực Phù". Hai sao được sách gộp làm một mục lại là hai sao luôn đứng ở hai đầu một trục.
- Luôn bị Quan Phù và Tuế Phá giáp hai bên. Quan Phù đứng liền trước, Tuế Phá đứng liền sau. Cung liền trước còn có Long Trì đồng cung với Quan Phù, cung liền sau còn có Thiên Hư đồng cung với Tuế Phá. Cả bốn quan hệ ấy bất biến ở mọi tuổi.
- Vĩnh viễn không gặp Tang Môn và không gặp Bạch Hổ. Tang Môn đứng thứ ba, Bạch Hổ đứng thứ chín, Tử Phù đứng thứ sáu, nên Tử Phù cách cả hai sao ấy đúng ba cung về hai phía. Ba cung là khoảng cách trắng trong Đẩu Số: không đồng cung, không giáp, không tam hợp, không xung chiếu. Vậy câu quen thuộc "Tử Phù gặp Tang Hổ thì khí tang thương nặng thêm" là một câu không thể xảy ra trên bản mệnh, chỉ có thể xảy ra qua đường lưu niên.
Điều thứ ba và điều thứ bảy là hai điều Thầy muốn quý vị nhớ nhất khi rời trang này. Người ta nhìn cái tên Tử Phù rồi hình dung một cung tối om, chung quanh toàn tang tóc. Chạy thuật toán thì ra một bức tranh gần như ngược lại: cung Tử Phù luôn có Nguyệt Đức ngồi cùng, luôn có Thiên Đức và Phúc Đức chiếu về từ tam hợp, và vĩnh viễn không có Tang Môn hay Bạch Hổ tới gần. Nói theo lối ví von thì Tử Phù giống một nốt trầm trong bản nhạc chứ không phải một tiếng gào; và nốt trầm ấy lại được đặt giữa hai hợp âm sáng.
Từ đó rút ra cách đọc: khi thấy Tử Phù trên một lá số, việc đầu tiên không phải là lo, mà là hỏi ba câu. Cung ấy có chính tinh gì, sáng hay hãm. Cung ấy có sát tinh hay Hóa Kỵ không. Và cung ấy có bị Tuần Triệt chặn không. Ba câu ấy quyết định gần hết; bản thân chữ Tử trong tên sao không quyết định gì cả.
Đặc Tính Và Mức Mạnh Yếu Của Tử Phù
Theo Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, Tử Phù cùng Trực Phù chủ sự buồn thảm, tang thương, gây rắc rối và ngăn trở mọi việc. Đây là sao gợi điềm không vui, làm chậm và vướng những việc ở cung nó đóng.
Là bại tinh nhỏ, Tử Phù không tự gây tai họa lớn, nhưng khi đi cùng Tang Môn, Bạch Hổ, sát tinh và Hóa Kỵ thì cái buồn và trở ngại nặng hơn. Có phúc tinh và chính tinh sáng thì hóa giải được nhiều.
Vị Trí Của Tử Phù Trong Vòng Thái Tuế
Vòng Thái Tuế là một trong bốn vòng phụ tinh mười hai sao của Đẩu Số. Ba vòng kia là vòng Bác Sĩ đếm theo Lộc Tồn tức theo thiên can, vòng Tràng Sinh đếm theo Cục, và vòng thần sát mười hai vị đếm theo tam hợp chi. Riêng vòng Thái Tuế đếm theo địa chi năm sinh, khởi tại chính cung mang tên chi ấy rồi đi thuận chiều kim đồng hồ, mỗi cung nhận đúng một sao, hết mười hai cung là khép vòng.
Thứ tự mười hai sao, đếm thuận từ Thái Tuế: Thái Tuế, Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Phúc Đức, Điếu Khách, Trực Phù. Tử Phù giữ vị trí thứ sáu, tức cách Thái Tuế năm cung theo chiều thuận, và đứng ngay trước Tuế Phá là cung đối xung của Thái Tuế.
Vị trí thứ sáu ấy có một ý nghĩa hình thế đáng nói. Nếu coi vòng Thái Tuế là một vòng đời của khí năm, thì nửa đầu từ Thái Tuế tới Tuế Phá là chặng khí đi lên rồi vỡ, còn nửa sau từ Long Đức tới Trực Phù là chặng khí lắng lại rồi khép. Tử Phù nằm ở áp chót nửa đầu, tức ngay trước điểm vỡ. Đó là lý do sách xếp nó vào nhóm bại tinh: nó mang cái khí của lúc mọi sự bắt đầu hụt hơi, chưa vỡ nhưng đã mỏi.
Bốn quan hệ cố định của Tử Phù trong vòng
- Sao đứng trước: Quan Phù, sao chủ giấy tờ, thị phi và cửa công, luôn mang theo cát tinh Long Trì cùng cung.
- Sao đứng sau: Tuế Phá, sao chủ phá tán và đổ vỡ, đối xung với Thái Tuế, luôn mang theo Thiên Hư cùng cung.
- Hai sao tam hợp: Phúc Đức và Thiếu Dương. Phúc Đức là phúc tinh chủ hưởng phúc và hóa hung, lại luôn có Thiên Đức ngồi cùng; Thiếu Dương là cát tinh nhỏ mang khí dương ấm.
- Sao xung chiếu: Trực Phù, tức Trực Phù, sao cùng mục sách với Tử Phù, chủ thị phi ngầm và những việc phải trình báo.
Đặt bốn quan hệ ấy cạnh nhau thì hình dáng của cung Tử Phù hiện ra khá rõ: một cung khí trầm, kề bên cung giấy tờ và cung phá tán, nhưng đồng cung có Nguyệt Đức và tam hợp có Phúc Đức cùng Thiên Đức. Nói gọn: chỗ trũng ấy có sẵn đường thoát. Đây là chỗ mà cấu trúc an sao nói ngược lại cái tên, và người luận phải theo cấu trúc chứ không theo cái tên.
Bảng dưới trình đủ mười hai sao của vòng Thái Tuế theo cả mười hai tuổi chi. Đọc hàng ngang là biết trọn vòng của một tuổi; đọc cột dọc là thấy một sao đi hết mười hai cung như thế nào.
Tý
- Thái Tuế: Tý
- Thiếu Dương: Sửu
- Tang Môn: Dần
- Thiếu Âm: Mão
- Quan Phù: Thìn
- Tử Phù: Tỵ
- Tuế Phá: Ngọ
- Long Đức: Mùi
- Bạch Hổ: Thân
- Phúc Đức: Dậu
- Điếu Khách: Tuất
- Trực Phù: Hợi
Sửu
- Thái Tuế: Sửu
- Thiếu Dương: Dần
- Tang Môn: Mão
- Thiếu Âm: Thìn
- Quan Phù: Tỵ
- Tử Phù: Ngọ
- Tuế Phá: Mùi
- Long Đức: Thân
- Bạch Hổ: Dậu
- Phúc Đức: Tuất
- Điếu Khách: Hợi
- Trực Phù: Tý
Dần
- Thái Tuế: Dần
- Thiếu Dương: Mão
- Tang Môn: Thìn
- Thiếu Âm: Tỵ
- Quan Phù: Ngọ
- Tử Phù: Mùi
- Tuế Phá: Thân
- Long Đức: Dậu
- Bạch Hổ: Tuất
- Phúc Đức: Hợi
- Điếu Khách: Tý
- Trực Phù: Sửu
Mão
- Thái Tuế: Mão
- Thiếu Dương: Thìn
- Tang Môn: Tỵ
- Thiếu Âm: Ngọ
- Quan Phù: Mùi
- Tử Phù: Thân
- Tuế Phá: Dậu
- Long Đức: Tuất
- Bạch Hổ: Hợi
- Phúc Đức: Tý
- Điếu Khách: Sửu
- Trực Phù: Dần
Thìn
- Thái Tuế: Thìn
- Thiếu Dương: Tỵ
- Tang Môn: Ngọ
- Thiếu Âm: Mùi
- Quan Phù: Thân
- Tử Phù: Dậu
- Tuế Phá: Tuất
- Long Đức: Hợi
- Bạch Hổ: Tý
- Phúc Đức: Sửu
- Điếu Khách: Dần
- Trực Phù: Mão
Tỵ
- Thái Tuế: Tỵ
- Thiếu Dương: Ngọ
- Tang Môn: Mùi
- Thiếu Âm: Thân
- Quan Phù: Dậu
- Tử Phù: Tuất
- Tuế Phá: Hợi
- Long Đức: Tý
- Bạch Hổ: Sửu
- Phúc Đức: Dần
- Điếu Khách: Mão
- Trực Phù: Thìn
Ngọ
- Thái Tuế: Ngọ
- Thiếu Dương: Mùi
- Tang Môn: Thân
- Thiếu Âm: Dậu
- Quan Phù: Tuất
- Tử Phù: Hợi
- Tuế Phá: Tý
- Long Đức: Sửu
- Bạch Hổ: Dần
- Phúc Đức: Mão
- Điếu Khách: Thìn
- Trực Phù: Tỵ
Mùi
- Thái Tuế: Mùi
- Thiếu Dương: Thân
- Tang Môn: Dậu
- Thiếu Âm: Tuất
- Quan Phù: Hợi
- Tử Phù: Tý
- Tuế Phá: Sửu
- Long Đức: Dần
- Bạch Hổ: Mão
- Phúc Đức: Thìn
- Điếu Khách: Tỵ
- Trực Phù: Ngọ
Thân
- Thái Tuế: Thân
- Thiếu Dương: Dậu
- Tang Môn: Tuất
- Thiếu Âm: Hợi
- Quan Phù: Tý
- Tử Phù: Sửu
- Tuế Phá: Dần
- Long Đức: Mão
- Bạch Hổ: Thìn
- Phúc Đức: Tỵ
- Điếu Khách: Ngọ
- Trực Phù: Mùi
Dậu
- Thái Tuế: Dậu
- Thiếu Dương: Tuất
- Tang Môn: Hợi
- Thiếu Âm: Tý
- Quan Phù: Sửu
- Tử Phù: Dần
- Tuế Phá: Mão
- Long Đức: Thìn
- Bạch Hổ: Tỵ
- Phúc Đức: Ngọ
- Điếu Khách: Mùi
- Trực Phù: Thân
Tuất
- Thái Tuế: Tuất
- Thiếu Dương: Hợi
- Tang Môn: Tý
- Thiếu Âm: Sửu
- Quan Phù: Dần
- Tử Phù: Mão
- Tuế Phá: Thìn
- Long Đức: Tỵ
- Bạch Hổ: Ngọ
- Phúc Đức: Mùi
- Điếu Khách: Thân
- Trực Phù: Dậu
Hợi
- Thái Tuế: Hợi
- Thiếu Dương: Tý
- Tang Môn: Sửu
- Thiếu Âm: Dần
- Quan Phù: Mão
- Tử Phù: Thìn
- Tuế Phá: Tỵ
- Long Đức: Ngọ
- Bạch Hổ: Mùi
- Phúc Đức: Thân
- Điếu Khách: Dậu
- Trực Phù: Tuất
Tử Phù không nằm trong bảng Tứ Hóa, nhưng đổi màu theo Tứ Hóa của chính tinh cùng cung
Bảng Tứ Hóa theo thiên can chỉ gồm mười bốn chính tinh cộng Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật. Tử Phù không có tên trong bảng ấy, nên không tuổi nào làm Tử Phù hóa Lộc, Quyền, Khoa hay Kỵ.
Tuy không hóa, Tử Phù đổi màu theo Tứ Hóa của chính tinh đứng cùng, và với một bại tinh nhỏ thì sự đổi màu ấy rất đáng kể. Cùng chính tinh hóa Lộc: cái trầm bị lấn át gần hết, thường chỉ còn lại một chút chậm chạp ở chỗ khởi đầu; đây là thế mà nhiều lá số có Tử Phù mà chủ nhân không hề cảm thấy gì. Cùng chính tinh hóa Quyền: cái mỏi biến thành sự nghiêm, người trầm tính mà quyết đoán, làm việc không ồn ào nhưng chắc tay. Cùng chính tinh hóa Khoa: cái buồn chuyển thành chiều sâu, hợp nghề nghiên cứu, viết lách, nghệ thuật, những việc cần lắng. Cùng chính tinh hóa Kỵ: đây là thế duy nhất đáng lưu tâm thật sự, vì hai khí trầm cộng lại, việc ở cung ấy dễ kéo dài và người ta dễ nản giữa chừng. Ngay cả khi ấy cũng phải nhớ Nguyệt Đức đang đồng cung và hai phúc tinh đang tam hợp chiếu về.
Vì sao đọc Tử Phù thì phải đọc cả vòng
Mười hai sao vòng Thái Tuế là một cơ chế duy nhất chia thành mười hai chặng, không phải mười hai sao rời. Biết Tử Phù ở đâu là biết luôn cả vòng: lùi năm cung là Thái Tuế, lùi một là Quan Phù, tiến một là Tuế Phá, tiến bốn là Phúc Đức, đối diện là Trực Phù. Ngược lại, biết bất kỳ sao nào trong vòng là suy ra Tử Phù.
Với Tử Phù thì việc đọc cả vòng còn có một công dụng riêng: nó chặn thói quen phán họa từ một cái tên. Người mới học nhìn thấy chữ Tử là dừng lại ở đó. Nếu buộc mình phải đọc trọn vòng thì sẽ thấy ngay Nguyệt Đức đang ngồi cùng, thấy Phúc Đức và Thiên Đức đang chiếu về, thấy Tang Môn và Bạch Hổ nằm ngoài tầm. Bức tranh đầy đủ ấy mất chừng mười lăm giây để dựng, mà nó ngăn được một lời phán sai có thể làm khách lo cả năm. Thầy coi đây là bài tập bắt buộc khi dạy phần vòng Thái Tuế.
Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
Trước khi đọc hai cột dưới, cần nhớ quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Tử Phù là mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn, còn giáp hai bên là thế bao vây, mạnh với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Với Tử Phù phải nhớ thêm một tầng, và tầng này quan trọng hơn hẳn: nhiều vị thế đã bị cấu trúc khóa cứng, không lá số nào đổi được. Nguyệt Đức mãi mãi đồng cung, Phúc Đức và Thiên Đức mãi mãi tam hợp, Trực Phù mãi mãi xung chiếu, Quan Phù và Tuế Phá mãi mãi chỉ giáp, còn Tang Môn với Bạch Hổ thì vĩnh viễn không tới được. Danh sách dưới ghi rõ vị thế của từng sao để quý vị khỏi đi tìm thứ không tồn tại.
Tử Phù hợp khi gặp
- Nguyệt Đức (luôn luôn đồng cung ở mọi lá số): đức tinh giải hung có sẵn ngay trong cung, không cần tra. Đây là lý do cấu trúc để nói rằng Tử Phù không bao giờ đứng một mình trong bóng tối.
- Thiên Đức và sao Phúc Đức của vòng Thái Tuế (luôn luôn tam hợp, không bao giờ đồng cung): hai phúc tinh chiếu về từ tam hợp ở mọi lá số. Đừng đi tìm thế đồng cung, cấu trúc không cho.
- Long Đức (đồng cung không được, chỉ tới bằng đường chiếu ở một số thế): phúc tinh chủ giải trừ, cùng nhóm cứu giải với Thiên Nguyệt Đức.
- Hóa Khoa (đồng cung mạnh nhất, tới qua chính tinh cùng cung): làm dịu và cứu giải, biến cái trầm thành chiều sâu; đây là hóa hợp nhất với Tử Phù.
- Chính tinh miếu vượng (đồng cung, mọi chính tinh đều có thể): chính tinh đủ sáng thì bại khí nhỏ gần như không còn thấy. Sáng nhất là Thái Dương miếu, Thái Âm miếu, Tử Vi, Thiên Phủ, những sao vốn có lực tự chiếu sáng cung mình.
- Thiên Khôi, Thiên Việt (đồng cung được ở một số tuổi can, thường là chiếu): quý nhân đưa tay đúng lúc người ta đang chùng.
- Thiên Quan, Thiên Phúc, Giải Thần (đồng cung hoặc chiếu, tùy can và chi): nhóm sao giải cứu, hợp với một cung mang khí trầm.
- Long Trì (luôn ở cung liền trước, thế giáp): cát tinh chủ khoa giáp và danh vị, cùng Quan Phù giáp một bên Tử Phù ở mọi lá số.
Tử Phù e ngại khi gặp
- Hóa Kỵ (đồng cung là nặng nhất, tới qua chính tinh cùng cung): hai khí trầm cộng lại, việc ở cung ấy kéo dài, người ta dễ nản giữa chừng. Đây là tổ hợp đáng lưu tâm nhất của Tử Phù.
- Đà La (đồng cung được ở tám cung tứ sinh tứ mộ, ngoài ra chiếu hoặc giáp): kéo dài sự dây dưa, chuyện cũ không dứt, đúng chiều với cái chậm của Tử Phù.
- Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung khi sinh đúng giờ tương ứng, giáp là thế xấu hơn chiếu): cộng hưởng cái hao, công sức đổ ra mà không đọng lại.
- Kình Dương, Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung, đều có thể đi đủ mười hai cung): làm cái trầm trở nên gay gắt, buồn chuyển thành bực.
- Tuế Phá (luôn luôn giáp một bên, cùng cung với Thiên Hư): thế giáp mặc định, mang khí phá tán và trống rỗng. Vì bất biến nên không dùng để phân biệt lá số này với lá số kia.
- Trực Phù (luôn luôn xung chiếu): sao cùng mục sách với Tử Phù, chủ thị phi ngầm. Hai sao được sách gộp một mục lại luôn đứng hai đầu một trục, không bao giờ ngồi chung.
- Tang Môn và Bạch Hổ (vĩnh viễn không đồng cung, không giáp, không tam hợp, không xung chiếu): ghi vào đây để quý vị khỏi đi tìm. Trên bản mệnh, Tử Phù cách cả hai sao ấy đúng ba cung. Chúng chỉ gặp được nhau qua đường lưu niên.
- Tuần, Triệt án ngữ (chặn cả cung): với một bại tinh nhỏ thì bị chặn thường là điều mừng, vì cái trầm bị vô hiệu. Nhưng Tuần Triệt chặn cả cung chứ không chọn sao, nên nó cũng chặn luôn Nguyệt Đức và chính tinh ở đó. Phải xem cung ấy đang mang gì rồi mới kết luận.
Tóm lại, cùng một sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho kết quả khác nhau, và với Tử Phù còn thêm một tầng nữa: nhiều vị thế đã bị cấu trúc khóa cứng từ trước, trong đó có thế đồng cung bất biến với Nguyệt Đức và thế vĩnh viễn không gặp Tang Môn hay Bạch Hổ trên bản mệnh. Đọc hai cột trên phải đọc kèm vị thế ghi trong ngoặc, và luôn xét cả lá số.
Tử Phù Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Mọi mục trên nói về Tử Phù đứng yên. Mục này nói về chuyện động, tức ba tầng thời gian chồng lên nhau: đại vận mười năm, lưu niên một năm, và bản lưu của chính sao Tử Phù.
Khi đại vận đi vào cung có Tử Phù
Mười năm ấy thường mang một chất chung: chậm, lắng, và hao dần chứ không hao đột ngột. Việc gì cũng lâu hơn dự tính, nhiệt tình xuống thấp hơn các vận khác, và người ta hay có cảm giác mình đang đi mà không thấy cảnh thay đổi. Nếu cung đại vận ấy có chính tinh sáng, có Hóa Khoa, có phúc tinh thì cái chậm ấy lại thành cái lợi: đây là vận hợp để học sâu một nghề, viết một công trình, chăm sóc gia đình, phục hồi sức khỏe, làm những việc cần nhiều năm mới thấy kết quả.
Nếu cung ấy có Hóa Kỵ, có Đà La, có Không Kiếp, thì mười năm ấy nên giữ một nguyên tắc: đừng bỏ dở. Thầy thấy điểm chung của những vận Tử Phù nặng không phải là biến cố, mà là chuỗi những việc bắt đầu rồi bỏ: học nửa chừng, làm nửa chừng, chữa bệnh nửa chừng. Mười năm sau nhìn lại thì cái hao lớn nhất chính là những cái dở dang ấy. Cách gỡ rất đời thường: chia việc thành chặng ngắn, mỗi chặng có mốc kết thúc rõ, và có một người cùng chịu trách nhiệm để mình không tự cho phép bỏ.
Tử Phù có bản lưu niên, và đây là điểm phải nói rõ
Không phải sao nào cũng có bản lưu. Vòng Thái Tuế và vòng Bác Sĩ có bản lưu niên, vì hai vòng ấy an theo can chi năm sinh, mà mỗi năm lại có can chi riêng, nên chỉ cần thay can chi năm sinh bằng can chi năm đang xem là ra một bộ sao lưu. Ngược lại, vòng Tràng Sinh không có bản lưu vì an theo Cục mà Cục cố định trọn đời; các sao an theo tháng sinh như Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Hình, Thiên Riêu và các sao an theo giờ sinh như Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp cũng không có bản lưu.
Vậy Tử Phù có lưu Tử Phù: lấy chi của năm đang xem đặt lưu Thái Tuế rồi đếm thuận năm cung. Vì chi năm chạy đủ mười hai giá trị nên lưu Tử Phù quay trọn một vòng mười hai năm, dời đúng một cung mỗi năm, và cứ mười hai năm lại về đúng cung Tử Phù bản mệnh một lần, tức vào năm tuổi.
2024
- Can chi năm: Giáp Thìn
- Lưu Thái Tuế tại: Thìn
- Lưu Tử Phù tại: Dậu
2025
- Can chi năm: Ất Tỵ
- Lưu Thái Tuế tại: Tỵ
- Lưu Tử Phù tại: Tuất
2026
- Can chi năm: Bính Ngọ
- Lưu Thái Tuế tại: Ngọ
- Lưu Tử Phù tại: Hợi
2027
- Can chi năm: Đinh Mùi
- Lưu Thái Tuế tại: Mùi
- Lưu Tử Phù tại: Tý
2028
- Can chi năm: Mậu Thân
- Lưu Thái Tuế tại: Thân
- Lưu Tử Phù tại: Sửu
2029
- Can chi năm: Kỷ Dậu
- Lưu Thái Tuế tại: Dậu
- Lưu Tử Phù tại: Dần
2030
- Can chi năm: Canh Tuất
- Lưu Thái Tuế tại: Tuất
- Lưu Tử Phù tại: Mão
2031
- Can chi năm: Tân Hợi
- Lưu Thái Tuế tại: Hợi
- Lưu Tử Phù tại: Thìn
2032
- Can chi năm: Nhâm Tý
- Lưu Thái Tuế tại: Tý
- Lưu Tử Phù tại: Tỵ
2033
- Can chi năm: Quý Sửu
- Lưu Thái Tuế tại: Sửu
- Lưu Tử Phù tại: Ngọ
Một chỗ dễ nhầm: lưu Tử Phù của một năm là sao của năm ấy, đúng cho mọi người. Cái riêng nằm ở chỗ nó rơi vào cung chức nào trên lá số từng người. Năm 2026 Bính Ngọ lưu Tử Phù đều ở Hợi; với người an Mệnh tại Hợi thì đó là năm nó nhập Mệnh, còn với người có cung Tài Bạch tại Hợi thì đó là năm nên soát lại các khoản chi nhỏ. Xin nhắc lại: lưu Tử Phù ghé qua không phải là điềm báo về sinh mệnh của ai cả.
Các lưu sao khác chạm vào cung Tử Phù
Bốn nhóm đáng xem. Lưu Thái Tuế: năm nó đóng đúng cung Tử Phù bản mệnh là năm cái trầm bị khuấy, chuyện cũ được nhắc lại, dễ có việc phải giải quyết cho xong một chuyện tồn đọng. Lưu Tang Môn và lưu Bạch Hổ: đây là điểm phải nói kỹ. Trên bản mệnh, Tang Môn và Bạch Hổ vĩnh viễn không tới được cung Tử Phù; nhưng lưu Tang Môn và lưu Bạch Hổ của một năm thì hoàn toàn có thể đóng đúng cung ấy. Đó là con đường duy nhất để câu "Tử Phù gặp Tang Hổ" thành hiện thực, và khi nó xảy ra thì cũng chỉ nên đọc là một năm nhiều việc buồn nhỏ và nên giữ gìn sức khỏe người trên, chứ không đọc thành điều gì lớn hơn. Lưu Kình Dương và lưu Đà La: theo can năm, chu kỳ mười năm; ghé vào thì cái chậm thành cái vướng. Lưu Khôi Việt và lưu Xương Khúc: ghé vào là năm có người đỡ, hợp việc học, việc viết, việc chữa dứt điểm một chuyện dở dang.
Thầy nhắc một điều nghiêm khắc về cách dùng bảng lưu niên với riêng sao này. Vì tên sao có chữ Tử nên đây là sao bị dùng để dọa người nhiều nhất trong vòng Thái Tuế. Một mình lưu Tử Phù, hay cả Tử Phù bản mệnh cộng lưu Tử Phù, đều không đủ tư cách để nói bất cứ điều gì về sinh mệnh. Khoa Đẩu Số xét thọ yểu bằng cả cung Tật Ách, cung Phúc Đức, cung Mệnh Thân, chính tinh và Tứ Hóa của cung hạn, bộ sát tinh và Tuần Triệt, chứ không xét bằng một phụ tinh nhỏ. Ai lấy Tử Phù ra dọa khách thì đó là chuyện của người ấy, không phải chuyện của khoa Đẩu Số.
Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Tử Phù
Đây là mục quan trọng nhất của cả bài. Tử Phù là một trong vài sao mà cái tên gây hại nhiều hơn bản thân sao, và phần lớn nỗi sợ quanh nó đến từ một chữ chứ không đến từ sách.
Chữ Tử trong tên sao không phải là điều sẽ xảy ra
Tên sao viết là 死符. Chữ thứ hai, phù, nghĩa gốc là cái thẻ, cái dấu hiệu, cái phù hiệu, chứ không phải một sự việc. Trong vòng Thái Tuế có ba sao mang chữ phù ấy: Quan Phù, Tử Phù, Trực Phù, và cả ba đều là tên gọi mang tính biểu trưng cho một loại khí, theo lối đặt tên của lịch pháp cổ. Tân Biên chép nghĩa của Tử Phù rất gọn và rất giới hạn: cùng Trực Phù chủ sự buồn thảm, tang thương, gây rắc rối và ngăn trở mọi việc. Sách dừng ở đó. Không có câu nào nói Tử Phù chủ chết, chủ yểu, chủ tang trong nhà, hay báo hiệu năm cuối của một đời người.
Thầy phải nói thẳng điều này vì đã gặp quá nhiều lần: có người xem ở đâu đó, nghe hai chữ Tử Phù, rồi về nhà lo suốt một năm. Tử Phù là một phụ tinh nhỏ, xếp hạng bại tinh, chủ hao tổn và buồn phiền. Nó không phải điềm chết. Trong khoa Đẩu Số, không một sao nào, kể cả sao Tử của vòng Tràng Sinh hay Bạch Hổ của chính vòng này, có quyền một mình quyết định chuyện sinh tử của một người. Nói cho đủ thì như thế này: không được phán họa từ một sao. Đó là luật nghề, không phải lời an ủi.
Cấu trúc an sao nói ngược lại cái tên
Nếu chỉ nghe tên thì người ta hình dung Tử Phù đứng giữa một cụm sao tang tóc. Chạy đủ mười hai tuổi chi bằng thuật toán an sao thì ra ba sự thật ngược hẳn. Một, Tử Phù luôn đồng cung với Nguyệt Đức, một trong Tứ Đức, cát tinh chủ giải hung, ở cả mười hai tuổi không lệch lần nào. Hai, Tử Phù luôn tam hợp với sao Phúc Đức, mà cung Phúc Đức ấy luôn có Thiên Đức ngồi cùng, tức đức tinh còn lại của cặp. Ba, Tử Phù vĩnh viễn không gặp Tang Môn và vĩnh viễn không gặp Bạch Hổ trên bản mệnh, vì cách cả hai sao ấy đúng ba cung, một khoảng cách không tạo ra quan hệ nào. Gộp lại: cái cung mang tên đáng sợ nhất vòng lại là cái cung được hai đức tinh kèm sẵn và được cách ly với hai bại tinh nặng nhất vòng. Người luận phải theo cấu trúc, không theo cái tên.
Câu "Tử Phù gặp Tang Hổ thì nặng thêm" chỉ đúng trong lưu niên
Nhiều tài liệu, kể cả bản cũ của chính trang này, viết rằng Tử Phù e ngại Tang Môn và Bạch Hổ vì cùng khí tang thương. Về mặt khí thì mô tả ấy hợp lý. Nhưng khi đặt lên địa bàn thì nó không thực hiện được: ba sao ấy đều thuộc cùng một vòng, khoảng cách giữa chúng là hằng số, và hằng số ấy là ba cung. Không đồng cung, không giáp, không tam hợp, không xung chiếu. Trên bản mệnh, không lá số nào của bất kỳ ai có thể có Tử Phù hội Tang Hổ. Con đường duy nhất là lưu niên: lưu Tang Môn hoặc lưu Bạch Hổ của một năm nào đó ghé vào cung Tử Phù bản mệnh. Đó là một sự kiện của một năm, không phải một đặc điểm của một đời người, và cũng chỉ nên đọc ở mức một năm nhiều việc buồn nhỏ.
Tử Phù không phải Trực Phù, không phải Bệnh Phù, và không phải sao Tử của vòng Tràng Sinh
Bốn cái tên này hay bị trộn vào nhau. Tử Phù thuộc vòng Thái Tuế, an theo chi năm sinh, đứng thứ sáu. Trực Phù cũng thuộc vòng Thái Tuế nhưng đứng thứ mười hai, và như đã nói, nó luôn ở cung đối diện Tử Phù chứ không bao giờ ngồi chung, dù Tân Biên chép hai sao trong cùng một mục. Bệnh Phù lại thuộc vòng Bác Sĩ, an theo sao Lộc Tồn tức theo thiên can, hoàn toàn khác tham số. Sao Tử là một trong mười hai sao vòng Tràng Sinh, an theo Cục, và cũng chỉ là một chặng của vòng sinh vượng chứ không phải một điềm báo. Thầy dặn học trò gọi tên phải kèm tên vòng, mất thêm ba chữ mà tránh được một lần luận sai địa chỉ.
Lời cuối của mục này: Tử Phù đáng để lưu tâm ở đúng hai chỗ, là chỗ hao tiền và chỗ chùng lòng. Hai chỗ ấy đều sửa được bằng những việc rất đời thường, và mục lời khuyên ngay sau đây nói cụ thể. Ngoài hai chỗ ấy ra, mọi lời nói thêm về sao này đều là nói quá.
Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải
Tử Phù không cần hóa giải theo nghĩa trừ khử, và càng không cần lễ lạt. Nó chủ hai việc rất cụ thể là hao tổn và buồn phiền, mà cả hai việc ấy đều nằm trong tầm tay người ta. Mọi lời khuyên dưới đây xoay quanh một chữ: giữ.
Giữ tiền: chặn cái hao nhỏ trước khi nó thành cái hao lớn
Tử Phù ở Tài Bạch hoặc ở Điền Trạch hiếm khi báo một khoản mất lớn; cái nó chỉ là dòng rỉ. Ba việc làm được ngay. Một, rà lại toàn bộ khoản trả định kỳ: thuê bao, bảo hiểm, gói dịch vụ, phí duy trì, những thứ trừ tiền hằng tháng mà mình quên mất là còn dùng. Hai, ghi chép chi tiêu ba tháng liền, không cần cầu kỳ, chỉ cần biết tiền đi đâu. Ba, thanh lý những thứ nằm chết: hàng tồn, đồ cũ, khoản góp vốn không sinh lợi, tài sản giữ mãi vì tiếc. Ba việc ấy nghe rất trần tục, nhưng đúng là cách hóa giải hiệu quả nhất cho một sao chủ hao.
Giữ lòng: cái chùng cần nếp, không cần khuyên
Tử Phù ở Mệnh hoặc ở Phúc Đức thường biểu hiện thành những đợt trầm không rõ nguyên do. Với chuyện ấy, lời khuyên chung chung không có tác dụng; cái có tác dụng là nếp. Ngủ và dậy đúng giờ, mỗi ngày ra ngoài trời một lúc, mỗi tuần vận động vài buổi, mỗi tuần có ít nhất một cuộc nói chuyện thật với người mình tin. Thầy vẫn dặn khách một câu: đừng chờ hết buồn rồi mới sống cho đều, hãy sống cho đều thì cái buồn tự vơi. Nếu tình trạng kéo dài nhiều tháng và ảnh hưởng tới ăn ngủ, làm việc, thì việc nên làm là gặp thầy thuốc, không phải gặp thầy bói. Đó cũng là ranh giới nghề nghiệp mà Thầy giữ.
Giữ việc: không bỏ dở
Tử Phù chủ ngăn trở, mà cái ngăn trở nguy hiểm nhất không phải cái chặn từ bên ngoài, là cái nản từ bên trong. Cách gỡ: chia việc thành chặng ngắn có mốc kết thúc rõ, mỗi chặng xong thì đánh dấu, và tìm một người cùng chịu trách nhiệm để mình không tự cho phép bỏ. Điều này đặc biệt đúng khi Tử Phù ở Quan Lộc hoặc khi đại vận đi vào cung có Tử Phù.
Với năm lưu Tử Phù về đúng cung mình
Mười hai năm một lần, lưu Tử Phù về đúng cung Tử Phù bản mệnh, tức năm tuổi. Đó không phải năm nên sợ mà là năm nên dọn: dứt điểm một việc dở dang, thanh lý thứ nằm chết, chữa dứt một cái bệnh vặt kéo dài, làm lành một mối quan hệ nguội. Nếu cung ấy có chính tinh sáng thì đây còn là năm tốt để bắt đầu một việc cần nhiều năm mới thấy quả, vì cái khí lắng đang mạnh và người ta dễ ngồi yên mà làm.
Phong thủy bổ trợ, ghi rõ là gợi ý chung: những việc dưới đây thuộc loại điều chỉnh nếp sống và bài trí, không phải trấn yểm, không thay thế được nỗ lực của bản thân và cũng không sửa được lá số. Người có Tử Phù đậm thường hợp chỗ ở sáng và thoáng, vì bản thân sao đã mang khí trầm nên không cần thêm phần tối; nên mở cửa lấy nắng buổi sáng, hạn chế phòng ẩm và thiếu ánh sáng tự nhiên. Bỏ bớt đồ cũ không dùng là việc hợp nhất với sao này, vừa là dọn nhà vừa là dọn lòng. Về màu sắc, sắc ấm và sáng vừa phải thường dễ chịu hơn sắc lạnh và sắc tối. Đây là gợi ý chung cho mọi người; ai muốn chỉnh theo đúng lá số của mình thì nên xem cung Điền Trạch và cung Phúc Đức rồi hãy quyết. Xin nói rõ một lần nữa: khoa Đẩu Số không có nghi lễ giải hạn nào dành riêng cho sao Tử Phù, và ai bán lễ như thế thì đó là chuyện của người bán.
Lời cuối của mục này, cũng là câu Thầy hay nói khi tiễn khách vừa nghe tới hai chữ Tử Phù mà mặt còn tái: một cái tên nặng không làm nên một số phận nặng. Sao chỉ cho biết mình có gì trong tay; dùng nó thế nào thì vẫn là chuyện của người cầm.
Câu hỏi thường gặp
Tử Phù là một bại tinh nhỏ trong vòng Thái Tuế của Tử Vi Đẩu Số, ngũ hành Hỏa, cùng nhóm với Trực Phù. Sao này mang khí buồn thảm, gợi sự tang thương và những rắc rối ngăn trở; là phụ tinh nhẹ chứ không gây đại họa.
Tử Phù được an cách Thái Tuế năm cung theo chiều thuận. Cả vòng Thái Tuế an theo chi năm sinh nên vị trí Tử Phù cố định theo tuổi.
Tên gọi nặng nề nhưng Tử Phù chỉ là bại tinh nhỏ, mang điềm buồn và trở ngại nhẹ, không tự gây tai họa lớn. Có phúc tinh như Long Đức, Phúc Đức, Hóa Khoa và chính tinh sáng cùng cung thì hóa giải được nhiều.
Năm gặp lưu Tử Phù nên giữ tinh thần lạc quan, lưu ý sức khỏe và kiên nhẫn với những việc trì trệ, nhất là khi đi cùng Tang Môn, Bạch Hổ. Cần xem cả lá số và bộ sao lưu niên chứ không lo vì cái tên.
Không. Tử Phù là một phụ tinh nhỏ thuộc vòng Thái Tuế, xếp hạng bại tinh, và Tân Biên chỉ chép rằng nó cùng Trực Phù chủ sự buồn thảm, tang thương, gây rắc rối và ngăn trở mọi việc. Sách dừng đúng ở đó, không có câu nào cho sao này quyền nói về sinh tử. Chữ phù trong tên sao nghĩa gốc là cái thẻ, cái dấu hiệu, theo lối đặt tên của lịch pháp cổ, chứ không phải một sự việc sẽ xảy ra. Trong khoa Đẩu Số, không được phán họa từ một sao: muốn xét tới thọ yểu thì phải xét cả cung Tật Ách, cung Phúc Đức, cung Mệnh Thân, chính tinh và Tứ Hóa của cung hạn, bộ sát tinh và Tuần Triệt.
Trên bản mệnh thì không bao giờ. Trong vòng Thái Tuế, Tang Môn đứng thứ ba, Tử Phù thứ sáu, Bạch Hổ thứ chín, nên Tử Phù cách cả hai sao ấy đúng ba cung về hai phía ở mọi tuổi chi. Ba cung là khoảng cách không tạo ra quan hệ nào: không đồng cung, không giáp, không tam hợp, không xung chiếu. Câu quen thuộc rằng Tử Phù gặp Tang Hổ thì khí tang thương nặng thêm chỉ có thể xảy ra qua đường lưu niên, khi lưu Tang Môn hoặc lưu Bạch Hổ của một năm ghé vào cung Tử Phù bản mệnh.
Nguyệt Đức, một trong Tứ Đức, cát tinh chủ phúc ấm và giải hung. Chạy đủ mười hai tuổi chi thì Nguyệt Đức rơi đúng cung Tử Phù, không lệch một lần nào. Ngoài ra Tử Phù luôn tam hợp với sao Phúc Đức của vòng Thái Tuế, mà cung Phúc Đức ấy lại luôn có Thiên Đức ngồi cùng. Nghĩa là cung Tử Phù đồng cung một đức tinh và tam hợp đức tinh kia ở mọi lá số. Cấu trúc an sao nói ngược lại cái tên.
Tử Phù và Trực Phù cùng thuộc vòng Thái Tuế, an theo chi năm sinh, một đứng thứ sáu một đứng thứ mười hai, nên hai sao luôn ở hai cung đối diện nhau chứ không bao giờ ngồi chung, dù Tân Biên chép chúng trong cùng một mục. Bệnh Phù thì thuộc vòng Bác Sĩ, an theo sao Lộc Tồn tức theo thiên can năm sinh, hoàn toàn khác tham số. Còn sao Tử là một trong mười hai sao vòng Tràng Sinh, an theo Cục, và cũng chỉ là một chặng của vòng sinh vượng. Khi luận nên gọi kèm tên vòng để khỏi lẫn.