Tử Vi
Sao Tức Thần: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung
Tìm hiểu sao Tức Thần trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.
Tổng quan về sao Tức Thần
Tức Thần là một trong mười hai Thần Sát theo tam hợp. Tên Tức Thần nghĩa là thần khí ngưng nghỉ, nên sao mang sắc thái trì hoãn, dừng lại, an phận, đôi khi là sự thụ động, thiếu xông xáo.
- Ngũ hành: Thổ
- Nhóm: Thần Sát Tam Hợp
- Cách an: Đây là một trong mười hai thần sát, an theo tam hợp địa chi năm sinh
- Cai quản: ngưng nghỉ, trì hoãn, an phận
- Tính chất: Ngưng nghỉ, an phận
Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.
Ý nghĩa tại cung Mệnh
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Tính điềm, không vội, làm việc gì cũng để dành sức. Biết đủ, ít tranh, ở đâu cũng giữ được nhịp riêng. Người khác thấy dễ chịu vì không bị hối.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Chậm thành trì, việc để đấy rồi quên, cơ hội qua rồi mới tiếc. Ngại bắt đầu hơn là ngại thất bại.
Ý nghĩa ở các cung khác
Đối chiếu ý nghĩa của Tức Thần với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.
Cung Phụ Mẫu
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Cha mẹ tính điềm, không ép con, nhà có nếp trầm và ấm. Quan hệ trên dưới nhẹ nhàng.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Bậc trên thụ động hoặc sức khỏe kém, việc trong nhà chờ mãi không quyết. Con muốn xin ý mà không có câu trả lời dứt khoát.
Cung Phúc Đức
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Đây là cung Tức Thần phát huy rõ nhất mặt hay. Tâm tính an, biết đủ, ít bị cuốn theo bên ngoài, tuổi càng lớn càng thấy nhẹ. Hợp người tu tập, người sống theo nếp.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: An phận thành buông xuôi, nghĩ nhiều mà không làm. Cũng chủ cảm giác đời trôi qua mà mình đứng yên.
Cung Điền Trạch
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Nhà cửa yên, ở lâu một chỗ, có của để dành dưới dạng nhà đất. Nhà là nơi thật sự nghỉ được.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Nhà đất để không, khó bán khó cho thuê, giấy tờ kéo dài. Việc sửa nhà định mãi mà không làm.
Cung Quan Lộc
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Nghề nghiệp ổn định, hợp việc cần ngồi lâu và làm kỹ: nghiên cứu, lưu trữ, kế toán, kiểm định, thư viện, nghề thủ công tinh xảo, chăm sóc và trông giữ. Không thăng nhanh nhưng ít khi lùi.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Công việc trì trệ, dự án bị treo, thăng tiến chậm hơn người cùng lứa. Cũng chủ chuyện chán việc nhưng không đổi được.
Cung Nô Bộc
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Bạn bè cấp dưới trầm tính, không đông mà chắc, không ai làm phiền ai.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Người quanh mình thụ động, giao việc thì phải nhắc, việc chung ì ạch. Quan hệ nhạt dần vì không ai giữ.
Cung Thiên Di
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Ra ngoài không ồn, đi đâu cũng nhẹ nhàng, không gây chuyện và cũng không bị kéo vào chuyện. Hợp người làm việc xa mà cần yên.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Ngại đi, ngại đổi, ở lâu một chỗ tới mức mất cơ hội. Chuyến đi hay bị hoãn, việc bên ngoài dễ dở dang.
Cung Tật Ách
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Bệnh nhẹ, ít cấp tính, cơ thể quen nhịp chậm nên bền. Nghỉ đúng là khỏi, không cần can thiệp nhiều.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Bệnh dây dưa, chậm khỏi, dễ thành mạn tính vì ít vận động và vì chần chừ đi khám. Thiên về chuyện khí huyết trì, tiêu hóa chậm, giấc ngủ nhiều mà không lại sức. Muốn nói bệnh cụ thể phải đọc chính tinh và Tứ Hóa của cung, không đọc Tức Thần.
Cung Tài Bạch
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Tiền vào đều, ít đột biến, giữ được và tích được. Đây là cung Tức Thần hợp bậc nhất, vì thu về là đúng nghĩa của sao.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Tiền đứng yên, thu nhập không tăng nhiều năm liền. Tiền bị đọng trong khoản khó rút, hoặc chờ mãi không tới.
Cung Tử Tức
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Con cái tính hiền, nuôi nhàn, không quấy. Chuyện con cái đến đúng lúc mình đã sẵn sàng.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Đường con cái chậm, hoặc con thiếu xông xáo, học được mà không đua. Cha mẹ dễ để con tự trôi vì thấy con ngoan.
Cung Phu Thê
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Bạn đời tính trầm, sống với nhau êm, nhà là chỗ để nghỉ chứ không phải chỗ để tranh. Hợp cặp đôi ưa nếp yên.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Duyên tới muộn hoặc chuyện cưới hỏi bị hoãn đi hoãn lại. Sống chung mà ít nói, hai bên cùng chờ người kia lên tiếng trước.
Cung Huynh Đệ
- Khi gặp chính tinh sáng, cát tinh: Anh chị em bạn bè không ồn, gặp nhau thưa mà tình bền. Có người trong nhóm đóng vai chỗ nghỉ cho cả nhóm.
- Khi gặp sát tinh, Hóa Kỵ: Quan hệ nguội dần vì không ai chủ động, lâu ngày thành xa. Việc chung bị đùn đẩy tới lúc quá hạn.
Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Tức Thần an theo tam hợp của địa chi năm sinh, tức chỉ cần biết người ấy tuổi con gì là an được ngay. Không cần thiên can, không cần tháng sinh, không cần giờ sinh, không cần cục, cũng không phân nam nữ. Đây là vòng phụ tinh dễ an nhất trong bốn vòng của Đẩu Số, và cũng vì thế mà thô nhất: mười hai tuổi chi chỉ cho ra bốn kiểu bài trí.
Cách an của cả vòng như sau. Trước hết định cung khởi bằng sao Kiếp Sát: tuổi Thân Tý Thìn khởi tại Tỵ, tuổi Dần Ngọ Tuất khởi tại Hợi, tuổi Tỵ Dậu Sửu khởi tại Dần, tuổi Hợi Mão Mùi khởi tại Thân. Từ đó đếm thuận đủ mười hai sao theo thứ tự cố định: Kiếp Sát, Tai Sát, Thiên Sát, Chỉ Bối, Đào Hoa, Nguyệt Sát, Vong Thần, Tướng Tinh, Phan An, Thiên Mã, Tức Thần, Hoa Cái. Tức Thần là sao thứ mười một, tức cách Kiếp Sát mười bước thuận, và đứng ngay sau Thiên Mã, ngay trước Hoa Cái.
Cộng hai điều ấy lại thì ra một kết quả rất gọn. Cung Kiếp Sát luôn nằm ở tứ sinh Dần Thân Tỵ Hợi, đếm thuận mười bước thì rơi đúng vào tứ chính. Vậy Tức Thần chỉ đóng bốn cung Tý, Ngọ, Mão, Dậu, không bao giờ khác. Tuổi Thân Tý Thìn thì Tức Thần tại Mão, tuổi Dần Ngọ Tuất tại Dậu, tuổi Tỵ Dậu Sửu tại Tý, tuổi Hợi Mão Mùi tại Ngọ. Có một điểm cần nhớ ngay: tứ chính cũng là chỗ đóng của Tướng Tinh, nhưng hai sao ấy luôn cách nhau đúng ba cung nên không bao giờ gặp nhau, việc này sẽ nói kỹ ở mục sau.
Tý
- Tức Thần an tại: Mão
Sửu
- Tức Thần an tại: Tý
Dần
- Tức Thần an tại: Dậu
Mão
- Tức Thần an tại: Ngọ
Thìn
- Tức Thần an tại: Mão
Tỵ
- Tức Thần an tại: Tý
Ngọ
- Tức Thần an tại: Dậu
Mùi
- Tức Thần an tại: Ngọ
Thân
- Tức Thần an tại: Mão
Dậu
- Tức Thần an tại: Tý
Tuất
- Tức Thần an tại: Dậu
Hợi
- Tức Thần an tại: Ngọ
Đọc bảng theo hàng thì thấy điểm khác thường: mười hai tuổi chi mà chỉ có bốn vị trí. Ba tuổi cùng một nhóm tam hợp thì Tức Thần nằm y một chỗ. Người tuổi Hợi, người tuổi Mão, người tuổi Mùi đều có Tức Thần tại Ngọ; ba người ấy chỉ khác nhau ở chỗ cung Ngọ ứng vào cung chức nào của mỗi lá số. Đây là lý do bản thân việc có Tức Thần không nói lên điều gì riêng cho ai; cái nói lên điều gì là cung chức mà nó rơi vào và sao nào đứng cùng.
Vì Tức Thần chỉ đóng ở tứ chính, mà tứ chính là bốn cung mà cả mười bốn chính tinh đều có thể tới, nên không có chính tinh nào bị loại khỏi khả năng đồng cung với Tức Thần. Đã chạy đủ mười hai thế Tử Vi cho cả bốn cung Tý, Ngọ, Mão, Dậu: cung nào cũng có thể chứa bất kỳ chính tinh nào. Vậy câu "Tức Thần chỉ đi với sao yếu" là lời luận về ý nghĩa, không phải một ràng buộc cấu trúc; trên lá số thật, Tức Thần ngồi cùng Tử Vi hay cùng Thất Sát đều là chuyện thường.
Những điều bất biến của Tức Thần
- Chỉ đóng bốn cung Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Đã chạy đủ mười hai tuổi chi bằng thuật toán an sao: tập vị trí của Tức Thần đúng bốn cung tứ chính, không hơn.
- Vĩnh viễn không đóng tám cung còn lại: Sửu, Dần, Thìn, Tỵ, Mùi, Thân, Tuất, Hợi. Câu "Tức Thần cư Tuất" hay "Tức Thần tại Hợi" là chép nhầm sao, không phải dị bản.
- Luôn bị Thiên Mã và Hoa Cái giáp hai bên. Thiên Mã đứng cung liền trước, Hoa Cái đứng cung liền sau, ở đủ mười hai tuổi chi. Sao dừng lại bị kẹp giữa sao chạy và sao lọng che, đây là thế bao vây đặc trưng nhất của nó.
- Luôn xung chiếu Đào Hoa, không sai một tuổi nào. Sao nghỉ ngơi nhìn thẳng vào sao rộn ràng, và ngược lại.
- Luôn tam hợp với Vong Thần và với Thiên Sát, ở đủ mười hai tuổi chi.
- Luôn hội Thiếu Âm, Long Đức, Trực Phù của vòng Thái Tuế, vì ba sao ấy là một tam hợp cố định; kéo theo là luôn hội cả Quán Sách, sao vốn đồng cung Trực Phù.
- Vĩnh viễn không hội Thái Tuế. Tức Thần luôn cách cung tuổi một, năm hoặc chín cung, ba khoảng cách đều không tạo quan hệ. Sao của sự dừng lại không bao giờ đứng chung với sao của danh phận, và điều này rất đúng tượng.
- Vĩnh viễn không gặp Tướng Tinh (luôn cách ba cung) và không gặp Phan An (luôn cách hai cung), dù cả ba đều nằm gần nhau trong vòng.
- Không loại trừ chính tinh nào. Mọi chính tinh đều có thể đồng cung với Tức Thần tại cả bốn vị trí.
Thầy dặn học trò một mẹo tra nhanh. Trên lá số, muốn tìm Tức Thần thì đừng tìm chữ, hãy tìm Thiên Mã trước. Thiên Mã đóng ở tứ sinh, và cung liền sau Thiên Mã chính là Tức Thần, cung liền sau nữa là Hoa Cái. Ba sao ấy luôn xếp thành một dãy liền nhau theo thứ tự Thiên Mã, Tức Thần, Hoa Cái, không bao giờ đứt. Kể cả cung liền trước Thiên Mã cũng cố định, đó là Phan An. Nhớ dãy bốn sao Tướng Tinh, Phan An, Thiên Mã, Tức Thần thì an cả vòng chỉ mất vài giây.
Cách An Rút Gọn Và Vị Trí Trong Lá Số
Đây là một trong mười hai Thần Sát, an theo tam hợp địa chi năm sinh. Mốc của vòng là Tướng Tinh đóng tại cung vượng của tam hợp (Thân Tý Thìn tại Tý, Dần Ngọ Tuất tại Ngọ, Tỵ Dậu Sửu tại Dậu, Hợi Mão Mùi tại Mão), các thần sát khác an theo thứ tự cố định quanh mười hai cung. Tức Thần đứng gần cuối vòng, trước Hoa Cái.
Vì là phụ tinh, Tức Thần làm rõ hoặc tô đậm tính chất của chính tinh đồng cung và của cung nó tọa thủ, chứ không tự quyết định cục diện một mình.
Đặc Tính Và Tượng Của Tức Thần
Trong hệ thống Thần Sát, Tức Thần mang khí lắng, chủ sự nghỉ ngơi, dừng lại, an phận thủ thường. Mặt tốt là biết đủ, điềm tĩnh, không bon chen; mặt kém là dễ thụ động, trì trệ, thiếu ý chí tiến thủ.
Tức Thần đi cùng phúc tinh và chính tinh sáng thì cái an phận thành sự ung dung, biết đủ; gặp sao trì trệ và Tuần Triệt thì dễ thành chậm chạp, bỏ lỡ cơ hội. Là sao phụ, cần xem cùng chính tinh.
Hội Họp Các Sao Và Bộ Cách
Tức Thần phối với các sao cho kết quả khác nhau:
Phúc tinh, Thiên Lương
- Ý nghĩa kết hợp: An nhàn, biết đủ, ung dung.
Chính tinh sáng
- Ý nghĩa kết hợp: Điềm tĩnh có chiều sâu, không bon chen.
Tuần Triệt, sao trì trệ
- Ý nghĩa kết hợp: Thụ động, trì hoãn, bỏ lỡ cơ hội.
Hóa Quyền, Tướng Tinh
- Ý nghĩa kết hợp: Bù lại sự thụ động, có động lực hơn.
Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
Trước khi đọc hai cột dưới, cần nhớ quy tắc về lực: cùng một sao mà đồng cung với Tức Thần là mạnh nhất, xung chiếu mạnh nhì, tam hợp chiếu nhẹ hơn, còn giáp hai bên là thế bao vây, mạnh với sát tinh mà nhẹ với cát tinh. Với Tức Thần còn thêm một tầng: cấu trúc an sao đã khóa sẵn một số quan hệ, có sao chắc chắn phải gặp và có sao vĩnh viễn không gặp được. Danh sách dưới ghi rõ vị thế khả dĩ của từng sao.
Tức Thần hợp khi gặp
- Hóa Quyền (đồng cung qua chính tinh cùng cung là mạnh nhất, xung chiếu kế, tam hợp nhẹ hơn): biến cái dừng bị động thành cái dừng chủ động. Đây là tổ hợp cứu Tức Thần rõ nhất.
- Hóa Lộc (đồng cung hoặc chiếu): nghỉ mà vẫn có nguồn, an nhàn có của, đúng nghĩa thu về.
- Thiên Lương (đồng cung khả dĩ ở cả bốn vị trí): phúc tinh và sao giải, hợp với tượng ngồi yên mà vẫn được che chở. Người có hai sao này đậm thường sống lâu và sống nhẹ.
- Thiên Đồng (đồng cung khả dĩ ở cả bốn vị trí): phúc tinh chủ hưởng, gặp Tức Thần thì thành người biết an trong cái đang có.
- Long Đức (luôn hội, đồng cung hoặc tam hợp tùy tuổi): sao giải, làm nhẹ phần trì trệ.
- Lộc Tồn (đồng cung khả dĩ tùy tuổi can): kho dành dụm gặp sao thu về, rất hợp tượng, chủ tích lũy bền.
- Hoa Cái (luôn giáp cung liền sau, mọi tuổi): thanh cao và lặng lẽ đi liền nhau. Thế giáp nhẹ nhưng bền, và nó là lý do người có Tức Thần đậm hay hợp với nếp sống có phần tu tập.
Tức Thần e ngại khi gặp
- Tuần, Triệt án ngữ (chặn cả cung): đây là tổ hợp đáng ngại nhất. Sao vốn đã chủ dừng lại còn bị chặn thêm một lớp nữa thì thành đứng hẳn, việc gì cũng chậm và cũng dở dang.
- Hóa Kỵ (đồng cung qua chính tinh cùng cung là nặng nhất, xung chiếu kế): dừng mà không yên, việc bị treo, chuyện kéo dài không dứt.
- Vong Thần (luôn tam hợp, mọi tuổi): cái hao ngầm đi kèm sự dừng. Dừng lâu thì mất phần, đây là lời nhắc cố định của cấu trúc.
- Thiên Sát (luôn tam hợp, mọi tuổi): có những chặng dừng là do bị bắt dừng chứ không phải mình chọn.
- Đào Hoa (luôn xung chiếu, mọi tuổi): lực kéo mình ra khỏi chỗ yên. Nhẹ khi cung xung sạch, thành phiền khi cung ấy có thêm Thiên Riêu, Mộc Dục hoặc sát tinh.
- Địa Không, Địa Kiếp (đồng cung khi sinh đúng giờ tương ứng, giáp xấu hơn chiếu): dừng lại rồi thành trống rỗng, cái tích được cũng tan.
- Tử, Tuyệt, Bệnh của vòng Tràng Sinh (đồng cung tùy cục và chiều an): các sao cùng chủ khí suy dồn vào một cung thì sức bật gần như không còn. Cần đọc kèm chính tinh trước khi kết luận.
- Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh (đồng cung khả dĩ, giáp là thế bao vây): sát tinh vào cung Tức Thần thường không cho biến động lớn mà cho sự dằng dai, chuyện nhỏ mà lâu dứt.
- Tướng Tinh và Phan An (không bao giờ gặp: cách ba cung và hai cung): ghi vào đây để quý vị khỏi đi tìm. Câu "Tức Thần gặp Tướng Tinh thì bù được sự thụ động" là ghép trên giấy, không có trên lá số.
- Thái Tuế (không bao giờ gặp: luôn cách một, năm hoặc chín cung): cùng lý do trên.
Tóm lại, cùng một sao mà đứng ở vị thế khác nhau thì cho kết quả khác nhau, và với Tức Thần thì cấu trúc an sao đã khóa sẵn bốn điều: luôn bị Thiên Mã và Hoa Cái giáp hai bên, luôn xung chiếu Đào Hoa, luôn tam hợp Vong Thần cùng Thiên Sát, và vĩnh viễn không gặp Tướng Tinh, Phan An hay Thái Tuế. Đọc hai cột trên phải đọc kèm vị thế ghi trong ngoặc rồi mới kết luận.
Tức Thần Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Các mục trên nói về Tức Thần đứng yên trên bản mệnh. Nhưng câu khách hỏi nhiều nhất lại là chuyện động: giai đoạn này có nên khởi sự không, năm nay nên tiến hay nên giữ. Muốn trả lời phải xét ba tầng chồng lên nhau: đại vận mười năm, lưu niên một năm, và bản lưu của chính vòng thần sát.
Đại vận đi vào cung có Tức Thần
Khi đại vận mười năm bước vào cung có Tức Thần bản mệnh, sắc thái chung của quãng ấy là nhịp đời chậm lại: việc bớt dồn, người bớt gọi, những thứ đang chạy thì tự nhiên thưa dần. Nếu cung ấy có chính tinh sáng cùng Hóa Lộc hoặc Hóa Quyền thì đây là quãng rất tốt để củng cố: trả nợ, tích lũy, học một nghề cho tới nơi, chữa dứt một cái bệnh cũ, chỉnh lại nếp sống. Nếu cung ấy có sát tinh, Tuần Triệt hoặc Hóa Kỵ thì quãng ấy dễ thành mười năm mắc kẹt: muốn đổi mà không đổi được, việc đâu vẫn đấy.
Thầy nhắc một điều rất thực tế mà lá số thật hay cho thấy. Đại vận có Tức Thần không phải là vận xấu, nó là vận sai nhịp nếu người ta cố đi nhanh. Người bước vào quãng này mà vẫn giữ nhịp của quãng trước thì mệt gấp đôi mà kết quả bằng nửa. Ngược lại, ai chịu hạ nhịp và dùng mười năm ấy để làm cho chắc thì hết vận sẽ thấy mình vững hơn hẳn. Thầy vẫn nói: có những quãng đời trời cho để nghỉ, tiêu nó vào việc chạy là uổng.
Vòng thần sát có bản lưu niên hay không
Bốn vòng phụ tinh không giống nhau ở chỗ này. Vòng Thái Tuế có bản lưu, an theo địa chi của năm đang xem. Vòng Bác Sĩ có bản lưu, an theo thiên can của năm đang xem, qua lưu Lộc Tồn. Vòng Tràng Sinh không có bản lưu, vì nó an theo cục của lá số chứ không theo can chi năm. Các sao an theo tháng sinh hoặc giờ sinh như Tả Hữu, Xương Khúc, Thiên Hình, Thiên Riêu, Không Kiếp cũng không có bản lưu, vì tháng sinh và giờ sinh của một người thì không đổi theo năm.
Vòng thần sát tam hợp an theo địa chi năm sinh, nên về nguyên tắc nó lưu được theo địa chi của năm đang xem, cùng cơ chế với vòng Thái Tuế. Trên thực tế thì thư tịch chỉ dùng đều đặn hai sao lưu của vòng này là lưu Thiên Mã, sao mà mọi phái đều tính, và lưu Đào Hoa. Riêng lưu Tức Thần thì sách không lập thành phép, và Thầy ghi rõ điều đó thay vì lấp chỗ trống. Bảng dưới tính sẵn theo đúng công thức của vòng, in kèm lưu Thiên Mã và lưu Đào Hoa vì ba sao ấy có quan hệ cố định với nhau, để quý vị dùng như một lớp tham khảo phụ.
2026 Bính Ngọ
- Tam hợp của năm: Dần-Ngọ-Tuất
- Lưu Tức Thần: Dậu
- Lưu Thiên Mã: Thân
- Lưu Đào Hoa: Mão
2027 Đinh Mùi
- Tam hợp của năm: Hợi-Mão-Mùi
- Lưu Tức Thần: Ngọ
- Lưu Thiên Mã: Tỵ
- Lưu Đào Hoa: Tý
2028 Mậu Thân
- Tam hợp của năm: Thân-Tý-Thìn
- Lưu Tức Thần: Mão
- Lưu Thiên Mã: Dần
- Lưu Đào Hoa: Dậu
2029 Kỷ Dậu
- Tam hợp của năm: Tỵ-Dậu-Sửu
- Lưu Tức Thần: Tý
- Lưu Thiên Mã: Hợi
- Lưu Đào Hoa: Ngọ
2030 Canh Tuất
- Tam hợp của năm: Dần-Ngọ-Tuất
- Lưu Tức Thần: Dậu
- Lưu Thiên Mã: Thân
- Lưu Đào Hoa: Mão
2031 Tân Hợi
- Tam hợp của năm: Hợi-Mão-Mùi
- Lưu Tức Thần: Ngọ
- Lưu Thiên Mã: Tỵ
- Lưu Đào Hoa: Tý
2032 Nhâm Tý
- Tam hợp của năm: Thân-Tý-Thìn
- Lưu Tức Thần: Mão
- Lưu Thiên Mã: Dần
- Lưu Đào Hoa: Dậu
2033 Quý Sửu
- Tam hợp của năm: Tỵ-Dậu-Sửu
- Lưu Tức Thần: Tý
- Lưu Thiên Mã: Hợi
- Lưu Đào Hoa: Ngọ
2034 Giáp Dần
- Tam hợp của năm: Dần-Ngọ-Tuất
- Lưu Tức Thần: Dậu
- Lưu Thiên Mã: Thân
- Lưu Đào Hoa: Mão
2035 Ất Mão
- Tam hợp của năm: Hợi-Mão-Mùi
- Lưu Tức Thần: Ngọ
- Lưu Thiên Mã: Tỵ
- Lưu Đào Hoa: Tý
2036 Bính Thìn
- Tam hợp của năm: Thân-Tý-Thìn
- Lưu Tức Thần: Mão
- Lưu Thiên Mã: Dần
- Lưu Đào Hoa: Dậu
2037 Đinh Tỵ
- Tam hợp của năm: Tỵ-Dậu-Sửu
- Lưu Tức Thần: Tý
- Lưu Thiên Mã: Hợi
- Lưu Đào Hoa: Ngọ
2038 Mậu Ngọ
- Tam hợp của năm: Dần-Ngọ-Tuất
- Lưu Tức Thần: Dậu
- Lưu Thiên Mã: Thân
- Lưu Đào Hoa: Mão
Cách dùng bảng rất gọn. Nhìn cột lưu Tức Thần xem nó rơi vào cung nào của lá số mình, rồi xem cung ấy là cung chức gì. Rơi vào Quan Lộc thì năm ấy công việc dễ vào nhịp chậm, hợp củng cố hơn là mở mới. Rơi vào Tài Bạch thì tiền vào chậm mà cũng ít hao. Rơi vào Tật Ách thì năm ấy nên chú ý phục hồi và nghỉ cho đủ. Năm đáng chú ý nhất là năm lưu Tức Thần trùng đúng cung Tức Thần bản mệnh, tức năm mà chi năm cùng nhóm tam hợp với chi năm sinh; ba năm như vậy trong mỗi mười hai năm. Trong ba năm ấy, lưu Thiên Mã cũng trùng cung Thiên Mã bản mệnh, nên nhịp dừng và nhịp đi cùng đậm lên một lúc, dễ ứng vào cảnh vừa muốn đi vừa muốn ở.
Các lưu sao khác chạm vào cung Tức Thần
Lưu Thái Tuế đáng xem trước nhất, vì trên bản mệnh Tức Thần không bao giờ gặp Thái Tuế; chỉ có năm lưu mới đưa được sao danh phận vào ngồi chung cung với sao dừng lại. Năm ấy thường ứng vào cảnh bị gọi ra khỏi chỗ yên: được mời giữ một việc, phải đứng ra nói một điều mà mình vốn muốn tránh. Lưu Thiên Mã vào cung Tức Thần thì hai lực đi và ở dồn vào một chỗ, năm ấy hay có chuyện dời chỗ mà lòng còn tiếc. Lưu Kình Dương, lưu Đà La vào cung ấy thì cái chậm thành cái dằng dai, việc nhỏ mà lâu dứt, nên xử lý gọn từ sớm. Lưu Tang Môn, lưu Bạch Hổ vào cung ấy thì quãng nghỉ đi kèm chuyện buồn trong nhà, hoặc phải ngừng việc để lo việc khác.
Thầy vẫn dặn một câu gọn để khỏi luận quá tay: một lớp chạm chỉ là một dấu nhỏ, hai lớp là đáng ghi nhớ, ba lớp cùng dồn vào một cung thì năm ấy mới thật sự đáng nói. Riêng với Tức Thần, dấu hiệu đáng tin nhất không phải sao lưu, mà là đại vận đang đi vào cung có Tuần Triệt hoặc Hóa Kỵ; sao lưu chỉ báo một quãng lặng ngắn, còn đại vận mới quyết cái chậm ấy kéo dài bao lâu.
Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Tức Thần
Tức Thần có cái tên nghe không thuận tai với người Việt, nên nó bị đọc lệch nhiều hơn cả Tướng Tinh và Phan An. Bốn mục dưới đây nói rõ sách nói gì và không nói gì.
Một: chữ Tức trong tên sao nghĩa là nghỉ, không phải là tức giận
Đây là chỗ nhầm phổ biến nhất, và nó thuần túy do âm Hán Việt. Trong tiếng Việt hằng ngày, chữ tức hay được hiểu là bực bội, tức tối, tức ngực. Nhưng chữ Tức trong tên sao này là chữ chỉ hơi thở, sự ngưng nghỉ, cùng nghĩa với chữ tức trong hai từ quen thuộc là an tức, tức là yên nghỉ, và tiêu tức, tức là tin tức theo nghĩa cái sinh ra rồi lại lặng đi. Ghép với chữ Thần chỉ khí, chỉ tinh thần, thì Tức Thần nghĩa là khí ngưng lại, thần nghỉ ngơi, dừng chân mà thu về. Không có chút nghĩa nào của sự tức giận. Ai luận Tức Thần thành sao chủ nóng nảy cáu bẳn là luận theo âm tiếng Việt chứ không theo nghĩa chữ; muốn xem tính nóng thì đọc Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Thiên Hình.
Hai: Tức Thần không phải Tử, không phải Tuyệt, không phải Bệnh
Nhiều bài viết xếp Tức Thần cùng một rổ với các sao suy nhược của vòng Tràng Sinh, kiểu "Tức Thần cũng như Tử Tuyệt, chủ hết khí". Hai thứ khác nhau về cả cách an lẫn về nghĩa. Tử, Tuyệt, Bệnh, Suy thuộc vòng Tràng Sinh, an theo cục của lá số và có phân thuận nghịch; chúng mô tả một chặng trong vòng đời của khí, và Tuyệt là chặng khí đã hết hẳn. Tức Thần thuộc vòng thần sát, an theo tam hợp chi năm sinh; nó mô tả một chỗ dừng, mà dừng thì khác hết. Nghỉ là để lại đi được, còn tuyệt là không còn gì để đi. Về mặt cấu trúc, hai vòng dùng hai tham số khác nhau nên Tức Thần có thể trùng cung với Tử hay Tuyệt một cách hoàn toàn ngẫu nhiên tùy cục và tùy tuổi, chứ không theo quy luật nào.
Ba: Tức Thần không phải Tuần Triệt, cũng không phải Thiên Không
Cả ba đều dính tới ý ngăn lại, nên hay bị gộp. Nhưng ba thứ ngăn theo ba kiểu khác nhau. Tuần và Triệt là hai vạch chặn cả cung, an theo can chi năm sinh theo phép riêng, và chúng chặn mọi sao trong cung ấy chứ không riêng sao nào. Thiên Không chủ cái rỗng, cái tưởng có mà hóa không, an theo chi năm sinh và luôn đồng cung Thiếu Dương. Tức Thần chủ cái dừng: mọi thứ vẫn còn nguyên đó, chỉ là không chạy nữa. Chặn khác rỗng, rỗng khác dừng. Trên lá số, một cung có Tức Thần mà sạch thì nghĩa là nhịp chậm; một cung có Tức Thần lại thêm Tuần Triệt thì mới là đứng hẳn; còn Tức Thần gặp Thiên Không thì là dừng lại rồi mới phát hiện chỗ mình dừng chẳng có gì.
Bốn: Tức Thần không phải sao xấu, và cũng không quyết định vận mệnh
Thư tịch xếp Tức Thần vào nhóm thần sát nhỏ, chép về nó rất ngắn, và không lập cách cục riêng nào mang tên nó. Một sao được chép trong vài dòng thì trọng lượng luận cũng chỉ nên bằng vài dòng. Hơn nữa lá số nào cũng có Tức Thần, và cứ ba người thì một người có nó ở cùng một cung địa chi; một dấu hiệu phổ biến tới mức ấy không thể là bản án cho ai.
Điều Tức Thần thật sự nói là nhịp: người này sống chậm, làm chậm, và hồi lại bằng cách ngồi yên chứ không bằng cách bung ra. Đó là một nét tính khí, không phải một dự báo về thành bại. Đặt đúng chỗ thì nó là ưu điểm lớn: những nghề cần ngồi lâu, làm kỹ, giữ được bí mật, chăm sóc lâu dài đều cần đúng loại người này. Đặt sai chỗ thì nó thành gánh nặng. Nhắc lại cho rõ để khép mục này: Tức Thần là thần sát nhỏ, chủ về khí thế và chỗ đứng, không quyết định vận mệnh. Không một sao nhỏ nào trong Đẩu Số đủ sức làm việc đó, và không nên phán họa hay phán phúc chỉ từ một cái tên sao.
Lời Khuyên Khi Tức Thần Nổi Bật
Tức Thần không phải hung tinh nên không có gì phải trấn, phải yểm. Lời khuyên ở đây đi theo hướng khác: giữ cái chậm mà bỏ cái ì. Hai thứ ấy nhìn giống nhau mà khác hẳn, và phân biệt được chúng là toàn bộ việc phải làm của người có Tức Thần đậm ở Mệnh, Quan Lộc hoặc Phúc Đức.
Bốn việc làm được ngay
Một, đặt hạn cho mọi việc đang chờ. Người có Tức Thần đậm ít khi bỏ việc, họ chỉ để đấy; mà để đấy lâu thì thành bỏ. Mỗi việc treo hãy ghi một ngày phải quyết, dù quyết là thôi. Hai, tách cái nghỉ ra khỏi cái né. Nghỉ là sau khi đã làm, né là trước khi bắt đầu. Cứ tự hỏi câu này trước mỗi lần dừng: mình đang hồi sức hay đang tránh. Ba, chọn nghề đúng nhịp của mình. Đây là lời khuyên quan trọng nhất; ép người nhịp chậm vào việc đòi phản xạ nhanh thì cả hai bên cùng khổ. Bốn, mỗi năm bắt đầu đúng một việc mới. Không cần nhiều, một việc là đủ để cái nhịp chậm không biến thành cái đứng yên.
Dùng Tức Thần vào việc
Sao này là khả năng ngồi yên được lâu mà không sốt ruột. Trong một thời buổi mà ai cũng vội, khả năng ấy hiếm và có giá. Người có Tức Thần nổi bật ở Mệnh, Quan Lộc hay Phúc Đức hợp những việc mà giá trị nằm ở độ bền và độ sâu: nghiên cứu, biên soạn, lưu trữ, kế toán, kiểm định, chăm sóc người bệnh và người già, nghề thủ công tinh xảo, trồng trọt lâu năm, dạy học, tư vấn tâm lý, và cả những việc tu tập. Ở những chỗ ấy, người biết ngồi yên làm được thứ mà người vội không bao giờ làm nổi.
Ngược lại, có hai chỗ Thầy khuyên nên cẩn thận. Một là những việc ăn nhau ở tốc độ và ở phản ứng tức thời, như buôn bán theo sóng, môi giới ngắn hạn, nghề phải chốt trong ngày. Hai là những môi trường không ai nhắc mà tự mình phải chạy; người có sao này ở đó dễ trôi vài năm rồi giật mình. Cách chữa không phải là ép mình nhanh lên, mà là tìm một người hoặc một cơ chế nhắc nhịp: một cộng sự tính động, một cái hạn có người kiểm.
Phong thủy bổ trợ, ghi rõ là gợi ý chung: những việc dưới đây thuộc loại điều chỉnh nếp sống và bài trí, không phải trấn yểm, không thay thế được nỗ lực của bản thân và cũng không sửa được lá số. Chỗ ngồi làm việc nên đủ sáng và nên nhìn ra một khoảng thoáng, vì người vốn ưa yên thì cần ánh sáng để khỏi lún vào cái ì. Trong nhà nên tách rõ chỗ nghỉ với chỗ làm, đừng làm việc trên giường, vì với người có Tức Thần đậm thì hai chỗ ấy lẫn vào nhau là cả hai cùng hỏng. Nên có một thói quen vận động cố định giờ, dù nhẹ, vì khí trì là chỗ yếu thật của kiểu người này. Về màu sắc, hợp sắc sáng vừa và ấm hơn là sắc trầm tối, vì nếp sống vốn đã đủ phần lặng. Đây là gợi ý chung cho mọi người; ai muốn chỉnh theo đúng lá số của mình thì nên xem cung Điền Trạch và cung Tật Ách rồi hãy quyết.
Lời cuối của mục này. Biết dừng là một khả năng, không phải một khuyết điểm. Phần lớn những việc hỏng trong đời không hỏng vì người ta chậm, mà hỏng vì người ta không biết lúc nào nên dừng. Người có Tức Thần đậm được trời cho sẵn cái phanh ấy; việc còn lại chỉ là nhớ rằng xe còn có chân ga.
Câu hỏi thường gặp
Tức Thần là một trong mười hai Thần Sát theo tam hợp, ngũ hành Thổ. Tên nghĩa là thần khí ngưng nghỉ, sao chủ sự trì hoãn, dừng lại, an phận, đôi khi là thụ động và thiếu xông xáo.
Tức Thần hai mặt: mặt tốt là biết đủ, điềm tĩnh, ung dung khi đi cùng phúc tinh; mặt kém là thụ động, trì trệ, bỏ lỡ cơ hội khi gặp Tuần Triệt và sao yếu. Cần xem cùng chính tinh.
Tức Thần đứng gần cuối vòng mười hai thần sát, trước Hoa Cái, an theo tam hợp địa chi năm sinh.
Người có Tức Thần nổi bật nên chủ động rèn ý chí tiến thủ, tránh an phận quá mức. Trong năm gặp Tức Thần thì hợp nghỉ ngơi, củng cố hơn là khởi sự lớn.
Chỉ bốn cung Tý, Ngọ, Mão, Dậu, tức bốn cung tứ chính. Tuổi Thân Tý Thìn thì Tức Thần tại Mão, tuổi Dần Ngọ Tuất tại Dậu, tuổi Tỵ Dậu Sửu tại Tý, tuổi Hợi Mão Mùi tại Ngọ. Đã chạy đủ mười hai địa chi năm sinh bằng thuật toán an sao để kiểm. Tức Thần vĩnh viễn không đóng ở Sửu, Dần, Thìn, Tỵ, Mùi, Thân, Tuất, Hợi.
Không. Chữ Tức ở đây là chữ chỉ hơi thở và sự ngưng nghỉ, cùng nghĩa với chữ tức trong hai từ quen thuộc an tức và tiêu tức. Ghép với chữ Thần chỉ khí, chỉ tinh thần, thì Tức Thần nghĩa là khí ngưng lại, thần nghỉ ngơi, dừng chân mà thu về. Không có chút nghĩa nào của sự nóng nảy. Ai luận Tức Thần thành sao chủ cáu bẳn là luận theo âm tiếng Việt chứ không theo nghĩa chữ; muốn xem tính nóng thì đọc Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Thiên Hình.
Không bao giờ. Trong vòng thần sát, Tức Thần đứng thứ mười một, Phan An thứ chín, Tướng Tinh thứ tám, nên Tức Thần luôn cách Phan An đúng hai cung và cách Tướng Tinh đúng ba cung. Cả hai khoảng cách đều không tạo quan hệ trong Đẩu Số, vì quan hệ chỉ sinh ra ở khoảng cách không cung là đồng cung, bốn và tám cung là tam hợp, sáu cung là xung chiếu. Vì vậy câu Tức Thần gặp Tướng Tinh thì bù được sự thụ động là ghép trên giấy, không có trên lá số. Sao duy nhất luôn kề Tức Thần là Thiên Mã ở cung liền trước và Hoa Cái ở cung liền sau.
Không. Nó là thần sát nhỏ, chủ về nhịp chậm và chỗ dừng, không chủ họa. Đặt lên nền có Hóa Lộc, Hóa Quyền, Lộc Tồn, Thiên Đồng, Thiên Lương thì thành biết đủ và ung dung, rất hợp những nghề cần ngồi lâu làm kỹ. Đặt lên nền có Tuần Triệt, Hóa Kỵ hoặc sát tinh thì mới thành trì trệ và mắc kẹt. Cần phân biệt rõ với Tử, Tuyệt, Bệnh của vòng Tràng Sinh vốn an theo cục, và với Tuần Triệt vốn chặn cả cung: nghỉ là để lại đi được, còn tuyệt là không còn gì để đi.