Tử Vi
Sao Tướng Quân: Tổng quan, ý nghĩa tại cung Mệnh và 12 cung
Tìm hiểu sao Tướng Quân trong Tử Vi: đặc tính, cách an sao, ý nghĩa tại cung Mệnh, các cung khác và những điểm cần đối chiếu khi luận lá số.
Tổng quan về sao Tướng Quân
Tướng Quân là sao thứ năm của vòng Bác Sĩ, lấy hình vị tướng cầm quân ra trận. Đây là một sao chủ uy võ, quyền uy, sự dũng mãnh và khả năng chỉ huy, mang khí cương cường.
- Ngũ hành: Mộc
- Nhóm: Vòng Bác Sĩ
- Cách an: Theo sao Lộc Tồn
- Cai quản: uy võ, quyền uy, chỉ huy
- Tính chất: Uy võ, quyền uy
Các cách luận dưới đây thuộc hệ thống Tử Vi truyền thống. Cần xét vị trí sao, chính tinh, các sao hội hợp và vận hạn của toàn lá số; một sao riêng lẻ không quyết định cuộc đời, bệnh tật hay kết quả tài chính.
Ý nghĩa tại cung Mệnh
- Khi chính tinh sáng, có Quyền hoặc cát tinh đỡ: Người có khí phách, dáng đi dứt khoát, nói ngắn, quyết nhanh; vào việc khó thì đứng ra nhận, được người tin giao việc lớn.
- Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Không Kiếp, Hỏa Linh: Nóng nảy, thích ăn thua, hay nói trước nghĩ sau; cái uy không có nền nên thành hùng hổ, dễ mất người vì một câu.
Ý nghĩa ở các cung khác
Đối chiếu ý nghĩa của Tướng Quân với chức năng từng cung dưới đây. Cần phân biệt vị trí đồng cung, hội chiếu và những quan hệ gián tiếp được nêu trong từng mục.
Cung Phụ Mẫu
- Khi chính tinh sáng, có Quyền hoặc cát tinh đỡ: Cha hoặc mẹ nghiêm, có uy, dạy con bằng kỷ luật; con nhờ đó nên nếp.
- Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Không Kiếp, Hỏa Linh: Bậc trên áp đặt, khó nói lại; quan hệ hai bên thường kính mà không gần, cần chọn lúc nói chuyện cho khéo.
Cung Phúc Đức
- Khi chính tinh sáng, có Quyền hoặc cát tinh đỡ: Tinh thần vững, ít sợ, ngủ được sau khi đã quyết; sống theo nguyên tắc nên lòng ít giằng co.
- Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Không Kiếp, Hỏa Linh: Trong lòng lúc nào cũng như sắp ra trận, khó buông, khó nghỉ; hay bực vì chuyện không đáng, tự làm mình mệt.
Cung Điền Trạch
- Khi chính tinh sáng, có Quyền hoặc cát tinh đỡ: Nhà cửa chắc chắn, hay sửa sang cho vững, thích không gian gọn và có trật tự; giữ được tài sản gốc.
- Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Không Kiếp, Hỏa Linh: Trong nhà hay có tiếng to, không khí căng; hoặc mua bán nhà đất quyết vội, sau mới thấy chưa xét kỹ.
Cung Quan Lộc
- Khi chính tinh sáng, có Quyền hoặc cát tinh đỡ: Đây là cung Tướng Quân đắc dụng nhất: hợp vị trí chỉ huy, quản đội, việc cần ra quyết định và chịu trách nhiệm; hợp quân đội, công an, thi công, vận hành, thể thao.
- Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Không Kiếp, Hỏa Linh: Có chức mà không có quyền thật, hoặc ôm quyền mà không giao được việc; nghề dễ đổi liên tục vì không chịu được cấp trên.
Cung Nô Bộc
- Khi chính tinh sáng, có Quyền hoặc cát tinh đỡ: Có người dưới đắc lực, bạn bè kiểu chiến hữu, gọi là có mặt; hợp làm người cầm đầu một nhóm nhỏ.
- Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Không Kiếp, Hỏa Linh: Bạn bè mạnh ai nấy làm, khó bảo; hoặc có người dưới lấn quyền, nói không nghe. Cần quy định rõ vai từ đầu.
Cung Thiên Di
- Khi chính tinh sáng, có Quyền hoặc cát tinh đỡ: Ra ngoài có uy, được nể, dễ đứng ra chủ trì việc tập thể; đi xa lập nghiệp thường hơn ở nhà.
- Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Không Kiếp, Hỏa Linh: Ra ngoài hay va chạm, dễ dính cãi vã nơi công cộng hoặc trên đường; cần bớt hơn thua với người lạ.
Cung Tật Ách
- Khi chính tinh sáng, có Quyền hoặc cát tinh đỡ: Sức vóc tốt, hồi phục nhanh, ít ốm vặt; bệnh đến thì chữa dứt khoát nên ít kéo dài.
- Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Không Kiếp, Hỏa Linh: Hay đau do va đập, do vận động quá sức, do làm cố; huyết áp và gan dễ bị vì tính nóng. Nên tập đều thay vì tập dồn.
Cung Tài Bạch
- Khi chính tinh sáng, có Quyền hoặc cát tinh đỡ: Kiếm tiền bằng bản lĩnh và quyết đoán, dám xuống tiền đúng lúc; hợp nghề cứng, nghề thầu, nghề phải chốt nhanh.
- Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Không Kiếp, Hỏa Linh: Quyết tiền theo cảm xúc, thấy cơ hội là lao vào, thắng thua đều đậm; nên đặt hạn mức trước khi vào việc.
Cung Tử Tức
- Khi chính tinh sáng, có Quyền hoặc cát tinh đỡ: Con cái có cá tính, gan dạ, hợp thể thao và việc cần kỷ luật; dạy bằng nguyên tắc rõ ràng thì con nghe.
- Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Không Kiếp, Hỏa Linh: Con bướng, hay chống lại lời cha mẹ; càng ép càng dựng ngược. Nên đổi từ ra lệnh sang giao việc và giao trách nhiệm.
Cung Phu Thê
- Khi chính tinh sáng, có Quyền hoặc cát tinh đỡ: Bạn đời mạnh mẽ, có chủ kiến, dám gánh việc nhà; hai người hợp nhau ở chỗ cùng dứt khoát, ít dây dưa.
- Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Không Kiếp, Hỏa Linh: Hai bên đều cứng, ai cũng muốn nói câu cuối; cãi nhau to nhưng ngắn, làm lành chậm. Nên chia rõ ai quyết việc gì.
Cung Huynh Đệ
- Khi chính tinh sáng, có Quyền hoặc cát tinh đỡ: Trong anh em có người đứng mũi chịu sào, gánh việc chung, nói là làm; bản thân hay được anh em nể.
- Khi chính tinh hãm, gặp Kỵ, Không Kiếp, Hỏa Linh: Anh em ai cũng muốn cầm trịch nên hay va nhau; việc chung dễ thành cuộc tranh phần, cần một người ngoài phân xử.
Cơ Chế An Sao Và Hệ Quả Cấu Trúc
Tướng Quân không có phép an riêng. Nó là mắt thứ năm của một chuỗi mười hai mắt gọi là vòng Bác Sĩ. Phép an gồm ba bước. Bước một, lấy thiên can năm sinh mà định vị Lộc Tồn. Bước hai, đặt Bác Sĩ ngay tại cung Lộc Tồn rồi đếm tiếp Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ. Bước ba, chọn chiều: người dương nam và âm nữ đếm thuận, người âm nam và dương nữ đếm nghịch. Can dương là Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm; can âm là Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý.
Từ đó rút ra điều cốt lõi của bài này: Tướng Quân đứng thứ năm, tức cách Bác Sĩ bốn nhịp, mà Bác Sĩ nằm đúng cung Lộc Tồn, cho nên Tướng Quân luôn cách Lộc Tồn đúng bốn cung. Chạy đủ mười can nhân hai chiều thì khoảng cách ấy chỉ cho hai giá trị là 4 và 8, hai giá trị đối xứng của cùng một quan hệ. Mà bốn cung trên địa bàn chính là tam hợp. Nói gọn một câu: Tướng Quân vĩnh viễn nằm trong tam hợp của Lộc Tồn. Đây là điều hiếm, vì trong mười hai sao của vòng chỉ có hai sao giữ được vị thế ấy, là Tướng Quân và Bệnh Phù.
Bảng dưới đây trải đủ mười tuổi can kèm cả hai chiều đếm, để quý vị đối chiếu thẳng với lá số của mình.
Giáp (can dương)
- Lộc Tồn tại: Dần
- Tướng Quân khi đếm thuận (dương nam, âm nữ): Ngọ
- Tướng Quân khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ): Tuất
Ất (can âm)
- Lộc Tồn tại: Mão
- Tướng Quân khi đếm thuận (dương nam, âm nữ): Mùi
- Tướng Quân khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ): Hợi
Bính (can dương)
- Lộc Tồn tại: Tỵ
- Tướng Quân khi đếm thuận (dương nam, âm nữ): Dậu
- Tướng Quân khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ): Sửu
Đinh (can âm)
- Lộc Tồn tại: Ngọ
- Tướng Quân khi đếm thuận (dương nam, âm nữ): Tuất
- Tướng Quân khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ): Dần
Mậu (can dương)
- Lộc Tồn tại: Tỵ
- Tướng Quân khi đếm thuận (dương nam, âm nữ): Dậu
- Tướng Quân khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ): Sửu
Kỷ (can âm)
- Lộc Tồn tại: Ngọ
- Tướng Quân khi đếm thuận (dương nam, âm nữ): Tuất
- Tướng Quân khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ): Dần
Canh (can dương)
- Lộc Tồn tại: Thân
- Tướng Quân khi đếm thuận (dương nam, âm nữ): Tý
- Tướng Quân khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ): Thìn
Tân (can âm)
- Lộc Tồn tại: Dậu
- Tướng Quân khi đếm thuận (dương nam, âm nữ): Sửu
- Tướng Quân khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ): Tỵ
Nhâm (can dương)
- Lộc Tồn tại: Hợi
- Tướng Quân khi đếm thuận (dương nam, âm nữ): Mão
- Tướng Quân khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ): Mùi
Quý (can âm)
- Lộc Tồn tại: Tý
- Tướng Quân khi đếm thuận (dương nam, âm nữ): Thìn
- Tướng Quân khi đếm nghịch (âm nam, dương nữ): Thân
Đọc bảng sẽ thấy một điểm khác hẳn Tiểu Hao hay Đào Hoa. Lộc Tồn không bao giờ đóng bốn cung mộ khố Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, nhưng Tướng Quân dịch khỏi Lộc Tồn bốn cung, mà bốn nhịp là bước nhảy đổi nhóm: cung tứ sinh nhảy bốn thành tứ mộ, tứ chính nhảy bốn cũng thành tứ mộ hoặc tứ sinh tùy chiều. Gộp cả hai chiều lại thì Tướng Quân tới đủ mười hai cung, không cung nào bị cấm. Kiểm bằng máy: tập cung có thể an gồm cả mười hai địa chi, tập cung không bao giờ an là tập rỗng.
Hệ quả kéo theo: vì Tướng Quân đi khắp mười hai cung, và vì mười bốn chính tinh cũng đi khắp mười hai cung tùy thế Tử Vi, nên không có chính tinh nào và cũng không có phụ tinh nào bị cấm đồng cung với Tướng Quân. Cái ràng buộc của sao này không nằm ở chỗ nó không được gặp ai, mà nằm ở chỗ nó luôn phải gặp ai. Đó là ba cái tên cố định trong cùng vòng, ghi trong hộp dưới đây.
Còn một quan hệ nữa đáng ghi nhớ, vì nó trái với trực giác. Lộc Tồn luôn bị Kình Dương và Đà La kẹp hai bên, ai học Tử Vi cũng thuộc. Vậy Tướng Quân nằm trong tam hợp Lộc Tồn thì có dính Kình Đà không? Kiểm bằng máy, khoảng cách từ Tướng Quân tới Kình Dương chỉ nhận hai giá trị 3 và 7, tới Đà La cũng chỉ hai giá trị 5 và 9. Không giá trị nào là không, bốn, sáu hay tám, tức không đồng cung, không tam hợp, không xung chiếu. Tướng Quân nhìn thấy kho lộc nhưng không chạm vào hai lưỡi dao đứng gác kho. Đây là chỗ Thầy cho là hay nhất trong cấu trúc của sao này.
Những điều bất biến của Tướng Quân
- Tới đủ mười hai cung, không cung nào bị cấm, khác hẳn Tiểu Hao chỉ tới được tám cung.
- Luôn cách Lộc Tồn đúng bốn cung, tức luôn tam hợp Lộc Tồn và Bác Sĩ. Không bao giờ đồng cung với Lộc Tồn, không bao giờ xung Lộc Tồn.
- Luôn xung chiếu Phục Binh, vì Phục Binh đứng thứ mười một, cách Tướng Quân đúng sáu nhịp.
- Luôn tam hợp Bệnh Phù, sao thứ chín của vòng.
- Luôn bị Tiểu Hao và Tấu Thư giáp hai bên, vì hai sao ấy đứng liền trước và liền sau trong vòng.
- Không bao giờ đồng cung, tam hợp hay xung chiếu với Kình Dương và Đà La.
- Mọi chính tinh đều có thể đồng cung với Tướng Quân, không sao nào bị loại.
Vị Trí Trong Lá Số Và Cách An Rút Gọn
Vòng Bác Sĩ gồm mười hai sao an theo sao Lộc Tồn. Bác Sĩ luôn đứng cùng cung với Lộc Tồn, rồi lần lượt Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ được an theo chiều thuận với người dương nam âm nữ và nghịch với người âm nam dương nữ.
Trong vòng mười hai sao, Tướng Quân giữ vị trí cố định theo thứ tự. Biết Bác Sĩ (cùng cung Lộc Tồn) ở đâu và chiều an thuận hay nghịch là suy ra được vị trí Tướng Quân.
Đặc Tính Và Ý Nghĩa Của Tướng Quân
Tướng Quân mang khí của người cầm quân: uy nghi, dũng mãnh, có khả năng lãnh đạo và áp đảo. Ở cung Mệnh hay Quan, nó tăng uy quyền, chí tiến thủ, hợp võ nghiệp và môi trường cần chỉ huy. Người có Tướng Quân thường có khí phách, quyết đoán.
Là sao thiên về võ, Tướng Quân đi cùng chính tinh sáng và sao quyền thì thành uy võ chính đáng; gặp sát tinh thì cái uy dễ thành hung hăng.
Sao Hợp Và Sao Kỵ, Phân Theo Vị Thế
Trước khi đọc hai cột dưới, xin nhớ quy tắc về lực, vì cùng một sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho kết quả khác hẳn. Đồng cung là mạnh nhất, hai sao trộn thành một tính chất mới. Xung chiếu mạnh nhì, sao bên kia bắn thẳng sang, luôn có mặt trong mọi quyết định của cung này. Tam hợp chiếu nhẹ hơn, như người đứng xa góp lời. Giáp hai bên là thế bao vây, mạnh với sát tinh vì bị kẹp thì khó xoay, nhẹ với cát tinh vì được đỡ thì chỉ thêm êm. Với Tướng Quân còn một tầng nữa: cấu trúc vòng Bác Sĩ khóa chặt vài vị thế, nên Lộc Tồn chỉ tới được bằng tam hợp, Phục Binh chỉ tới được bằng xung chiếu, Tiểu Hao và Tấu Thư chỉ tới được bằng thế giáp, còn Kình Dương và Đà La thì không tới được bằng đường nào. Mỗi dòng dưới đây đều ghi rõ vị thế khả dĩ.
Tướng Quân đắc dụng khi gặp
- Lộc Tồn, tam hợp (vị thế cố định, không thể đồng cung): có hậu cần, uy biến thành nghiệp chứ không chỉ thành tiếng.
- Chính tinh hóa Quyền, đồng cung: quyền chồng lên uy, hợp việc cải tổ, dẹp loạn, nói câu cuối.
- Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang miếu vượng, đồng cung: bộ Sát Phá Tham vốn chủ khai phá, gặp Tướng Quân thì thành xông trận có chỉ huy.
- Vũ Khúc, đồng cung: tài tinh mang khí kim, hợp với võ khí của Tướng Quân, thường thấy ở người làm nghề cứng mà có tiền.
- Thiên Hình, đồng cung: hình là kỷ luật và phép tắc, giữ cho cái uy đi trong khuôn, hợp nghề quân pháp, kiểm tra, giám sát.
- Tả Phụ, Hữu Bật, đồng cung hoặc chiếu: có người phụ tá, tướng không phải tự mình làm hết.
- Lực Sĩ, tam hợp hoặc chiếu (cùng vòng, cách hai nhịp nên không cố định): sức vóc đi kèm uy quyền.
Tướng Quân mất thế khi gặp
- Tuần Triệt án ngữ cung có Tướng Quân: tướng bị tước ấn, có chí mà không có lệnh; hay thấy ở người giỏi mà mãi không được giao quyền.
- Hóa Kỵ, đồng cung: quyết rồi mà việc vẫn kẹt, càng ra sức càng rối; dễ thành cố chấp.
- Địa Không, Địa Kiếp, đồng cung: uy thành hư, ra lệnh mà không ai theo, hoặc dựng nghiệp rồi tan.
- Hỏa Tinh, Linh Tinh, đồng cung: nóng gặp nóng, quyết trong cơn giận, hay hỏng việc vì một câu nói.
- Phục Binh, xung chiếu (vị thế duy nhất có thể): luôn có chuyện sau lưng, cần giữ lời và giữ giấy tờ.
- Chính tinh hãm, đồng cung: uy không có nền, thành hùng hổ; càng ra oai càng lộ chỗ yếu.
- Đà La, tam hợp hoặc giáp là bất khả: xin lưu ý cấu trúc không cho Tướng Quân gặp Kình Đà bằng bất cứ đường nào, nên ai luận thấy hai sao ấy đi cùng Tướng Quân là đã an sai lá số.
Tóm lại, cùng một sao mà đứng ở vị thế khác nhau cho kết quả khác nhau, và với Tướng Quân thì cấu trúc vòng Bác Sĩ đã khóa sẵn vài vị thế: Lộc Tồn chỉ tới bằng tam hợp, Phục Binh chỉ tới bằng xung chiếu, Tiểu Hao và Tấu Thư chỉ tới bằng thế giáp, còn Kình Dương và Đà La thì không tới được bằng đường nào. Khi đọc một dòng trong hai cột trên, xin đọc kèm vị thế ghi ngay sau tên sao.
Tướng Quân Trong Đại Vận Và Lưu Niên
Đại vận đi vào cung có Tướng Quân
Mười năm đại vận đóng vào cung có Tướng Quân bản mệnh là mười năm phải cầm trịch. Không nhất thiết là mười năm làm sếp, mà là mười năm mà việc gì cũng dồn về mình quyết: trong nhà thì mình là người chốt, ngoài việc thì mình là người ký. Nếu cung ấy có chính tinh sáng và có Quyền thì đây thường là đại vận lập nghiệp bằng vị trí: được cất nhắc, được giao đội, mở cơ sở riêng, đứng tên một việc lớn. Nếu cung ấy hãm, có Kỵ hoặc Tuần Triệt, thì mười năm ấy dễ thành mười năm gánh trách nhiệm mà không có quyền, làm thay người khác, chịu trách nhiệm thay người khác.
Thầy hay dặn khách đang ở đại vận này ba việc. Một là nhận quyền thì nhận cả phạm vi bằng văn bản, đừng nhận việc bằng lời hứa, vì Phục Binh luôn chiếu vào cung này. Hai là mỗi quyết định lớn để qua một đêm, cái mất của người có Tướng Quân hiếm khi vì quyết sai, phần lớn vì quyết sớm. Ba là chọn một người dám nói ngược và giữ người ấy bên cạnh suốt mười năm; vị tướng nào cũng cần một người can.
Tướng Quân có bản lưu niên, và đây là điểm phân biệt với nhiều phụ tinh khác
Trong bốn vòng phụ tinh, chỉ vòng Thái Tuế và vòng Bác Sĩ có bản lưu niên. Vòng Thái Tuế lưu theo địa chi năm đang xem, vòng Bác Sĩ lưu theo thiên can năm đang xem, vì gốc của nó là Lộc Tồn mà Lộc Tồn an theo can. Ngược lại, vòng Tràng Sinh không có bản lưu vì nó an theo Cục, mà Cục cố định suốt đời; các sao an theo tháng sinh như Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Hình, Thiên Riêu và các sao an theo giờ sinh như Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp cũng không có bản lưu, vì tháng sinh và giờ sinh không đổi theo năm.
Vậy Tướng Quân có hai lớp. Lớp thứ nhất là Tướng Quân bản mệnh, đứng yên suốt đời, an theo can năm sinh. Lớp thứ hai là lưu Tướng Quân, mỗi năm dời một chỗ, an theo can năm đang xem: tìm lưu Lộc Tồn của năm ấy rồi đếm bốn nhịp theo đúng chiều thuận nghịch của người đó. Bảng dưới tính sẵn cho các năm tới.
2026 Bính Ngọ
- Lưu Lộc Tồn: Tỵ
- Lưu Tướng Quân (người đếm thuận): Dậu
- Lưu Tướng Quân (người đếm nghịch): Sửu
2027 Đinh Mùi
- Lưu Lộc Tồn: Ngọ
- Lưu Tướng Quân (người đếm thuận): Tuất
- Lưu Tướng Quân (người đếm nghịch): Dần
2028 Mậu Thân
- Lưu Lộc Tồn: Tỵ
- Lưu Tướng Quân (người đếm thuận): Dậu
- Lưu Tướng Quân (người đếm nghịch): Sửu
2029 Kỷ Dậu
- Lưu Lộc Tồn: Ngọ
- Lưu Tướng Quân (người đếm thuận): Tuất
- Lưu Tướng Quân (người đếm nghịch): Dần
2030 Canh Tuất
- Lưu Lộc Tồn: Thân
- Lưu Tướng Quân (người đếm thuận): Tý
- Lưu Tướng Quân (người đếm nghịch): Thìn
2031 Tân Hợi
- Lưu Lộc Tồn: Dậu
- Lưu Tướng Quân (người đếm thuận): Sửu
- Lưu Tướng Quân (người đếm nghịch): Tỵ
2032 Nhâm Tý
- Lưu Lộc Tồn: Hợi
- Lưu Tướng Quân (người đếm thuận): Mão
- Lưu Tướng Quân (người đếm nghịch): Mùi
2033 Quý Sửu
- Lưu Lộc Tồn: Tý
- Lưu Tướng Quân (người đếm thuận): Thìn
- Lưu Tướng Quân (người đếm nghịch): Thân
2034 Giáp Dần
- Lưu Lộc Tồn: Dần
- Lưu Tướng Quân (người đếm thuận): Ngọ
- Lưu Tướng Quân (người đếm nghịch): Tuất
2035 Ất Mão
- Lưu Lộc Tồn: Mão
- Lưu Tướng Quân (người đếm thuận): Mùi
- Lưu Tướng Quân (người đếm nghịch): Hợi
Cách dùng bảng rất gọn. Trước hết xem lưu Tướng Quân của năm ấy rơi vào cung chức nào trên lá số gốc, đó là lĩnh vực năm ấy đòi người này phải ra mặt và ra quyết định. Sau đó xem nó có trùng cung với Tướng Quân bản mệnh không; năm trùng phùng là năm cái khí thế của người ấy lên cao nhất, hợp để nhận việc lớn, nhưng cũng là năm dễ va chạm nhất, nên nói ít mà làm nhiều. Cuối cùng xem nó có rơi vào cung đang là đại vận không, vì ba lớp chồng lên nhau mới đáng nói.
Các lưu sao chạm vào cung có Tướng Quân
Trong một năm, cung có Tướng Quân bản mệnh còn bị các lưu sao khác đi qua. Lưu Thái Tuế tới thì việc trong năm dồn về cung ấy, đúng lúc phải cầm trịch, thường là năm được giao việc. Lưu Kình Dương tới thì cái quyết đoán thành sắc bén quá tay, dễ va chạm, dễ dính tranh chấp; nên chọn cách nói mềm. Lưu Đà La tới thì việc kéo dài, quyết rồi mà chờ mãi mới chạy, cần kiên nhẫn hơn thường lệ. Lưu Bạch Hổ, lưu Tang Môn tới thì nên tránh đứng ra chủ trì việc có tranh chấp, và giữ gìn khi vận động mạnh. Lưu Hóa Quyền tới thì đây là năm đáng nhận vị trí, cấu trúc và vận cùng chỉ một hướng. Nguyên tắc chung: một lưu sao đơn lẻ chưa đủ kết luận, phải có ít nhất hai lớp cùng chỉ về một cung.
Ranh Giới: Những Gì Hay Bị Gán Nhầm Cho Tướng Quân
Tên sao nghe oai nên đây là một trong những phụ tinh bị nói quá theo chiều tốt, ngược với các sao mang tên đáng sợ. Mục này nói rõ sách nói gì và không nói gì.
Hiểu lầm một: có Tướng Quân là làm chức lớn, là số làm sếp
Sách chép Tướng Quân chủ uy võ, quyền uy, dũng mãnh, khả năng chỉ huy, khí cương cường. Đó là tính chất, không phải một lời hứa về địa vị. Sách không nói ai có Tướng Quân thì làm quan, cũng không định ra cấp bậc hay thời điểm.
Trên thực tế luận số, chức vị được quyết bởi chính tinh cung Quan Lộc, độ sáng tối của nó, Tứ Hóa rơi vào đâu, cách cục của cả lá số và cả đại vận. Tướng Quân chỉ thêm một sắc thái: người này chịu ra tay. Chịu ra tay ở một lá số có nền thì thành người cầm quân; chịu ra tay ở một lá số không có nền thì chỉ thành người hay xông vào việc của thiên hạ. Phụ tinh nhỏ không nâng được cả lá số, cũng không dìm được cả lá số.
Hiểu lầm hai: Tướng Quân là sát tinh, gặp là hung
Có người thấy chữ võ liền xếp Tướng Quân vào nhóm sát tinh cùng Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp. Xếp như vậy là sai loại. Lục sát là sáu sao có sức phá riêng, tự chúng gây hại được. Tướng Quân là phụ tinh thuộc vòng Bác Sĩ, không nằm trong lục sát, và tự nó không gây họa. Nó chỉ làm đậm thêm chất quyết đoán của cung mà nó đóng. Cũng nên nhớ điều đã kiểm ở mục cấu trúc: Tướng Quân không bao giờ đồng cung, tam hợp hay xung chiếu với Kình Dương và Đà La, nên cái ấn tượng nó đi liền với sát tinh là ấn tượng sai ngay từ cấu trúc.
Hiểu lầm ba: Tướng Quân có bảng miếu vượng đắc hãm mười hai cung
Một số trang có dựng bảng sáng tối cho Tướng Quân đủ mười hai cung. Thư tịch mà trang này dẫn không lập bảng miếu vượng đắc hãm cho Tướng Quân. Cái quyết định mạnh yếu của một sao thuộc vòng Bác Sĩ là vị trí của nó trong vòng và bộ sao cùng cung, không phải độ sáng tối của riêng nó. Với Tướng Quân, ba chỗ cần nhìn là chính tinh đồng cung, Lộc Tồn nằm ở cung chức nào trong tam hợp, và Phục Binh ở đối cung có sát tinh hay không.
Hiểu lầm bốn: Tướng Quân có câu phú riêng
Phần lớn phụ tinh nhỏ trong bốn vòng không có phú riêng, và Tướng Quân nằm trong số đó. Những câu phú người ta hay gán cho nó thực ra là phú của Thất Sát, của Vũ Khúc hoặc của Kình Dương. Bài này không trích câu phú nào cho Tướng Quân, vì không có thì thôi, chép thêm chỉ làm người đọc tin nhầm. Chỗ nào bài nói chắc là chỗ đã kiểm bằng thuật toán an sao; chỗ nào là kinh nghiệm hay suy luận thì đã gắn thẻ ngay đầu câu.
Lời Khuyên Và Cách Hóa Giải
Tướng Quân không phải sao cần trấn yểm, cũng không phải sao cần khoe. Nó là một khả năng có sẵn, và mọi lời khuyên dưới đây xoay quanh một chữ: chỗ. Cái uy đặt đúng chỗ thì thành nghiệp, đặt sai chỗ thì thành phiền cho chính mình và cho người quanh mình.
Cho vị tướng một mặt trận
Việc hiệu quả nhất là đưa cái quyết đoán vào nghề nghiệp. Người có Tướng Quân nổi bật ở Mệnh, Quan Lộc hay Thiên Di nên chọn việc có ranh giới rõ và có trách nhiệm rõ: quản đội, vận hành, thi công, hậu cần, huấn luyện, thể thao, hoặc bất cứ nghề nào mà kết quả đo được bằng con số. Ngược lại, việc phải chiều lòng nhiều bên, phải chờ đồng thuận, phải nói vòng, là loại việc bào mòn người này nhanh nhất.
Ba thói quen giữ cái uy khỏi thành cái nóng
Thầy vẫn dặn khách có Tướng Quân đậm ba việc, đều làm được ngay. Một, đặt luật cho chính mình trước khi đặt luật cho người. Người dưới phục cái nhất quán chứ không phục cái to tiếng. Hai, mỗi quyết định lớn để qua một đêm. Cái mất của người có sao này hiếm khi vì quyết sai, phần lớn vì quyết sớm. Ba, nuôi một người dám nói ngược. Cấu trúc đã cho sao này một Phục Binh ở đối cung, nghĩa là luôn có chỗ tối mà mình không thấy; người can chính là cái gương soi chỗ ấy.
Khi Tướng Quân gặp Kỵ, Không Kiếp hoặc Tuần Triệt
Với các tổ hợp nặng, cách xử lý không phải là né mà là đổi vai và hạ nhịp. Gặp Tuần Triệt thì đừng cố tranh cái danh, hãy nhận việc thật và để kết quả nói thay; người bị tước ấn mà làm được việc thì sớm muộn cũng có ấn. Gặp Hóa Kỵ thì mỗi khi thấy mình càng ra sức càng rối, hãy dừng lại hỏi một người ngoài cuộc, vì Kỵ chủ vướng mà vướng thì không gỡ bằng sức. Gặp Không Kiếp thì đừng dựng nghiệp một mình, phải có người giữ sổ sách và người giữ quan hệ.
Phong thủy bổ trợ, ghi rõ là gợi ý chung: những việc như giữ bàn làm việc gọn, tách chỗ làm và chỗ nghỉ, tập thể dục đều để xả cái nóng, ngủ đủ trước ngày phải quyết việc lớn, đều thuộc loại điều chỉnh nếp sống và bài trí. Đây không phải trấn yểm, không thay thế được nỗ lực bản thân và cũng không sửa được lá số. Ai nói chỉ cần treo một vật là có quyền có chức thì quý vị nên dè chừng.
Lời cuối của mục này, cũng là lời Thầy hay nói khi tiễn khách có Tướng Quân thủ Mệnh: quyết được là một cái tài, biết khi nào không cần quyết mới là cái tướng. Sao chỉ cho biết mình có sức ra tay, dùng sức ấy vào đâu là việc của người.
Câu hỏi thường gặp
Tướng Quân là sao thứ năm của vòng Bác Sĩ trong Tử Vi Đẩu Số, lấy hình vị tướng cầm quân. Sao này chủ uy võ, quyền uy, sự dũng mãnh và khả năng chỉ huy, mang khí cương cường.
Tướng Quân đứng thứ năm trong vòng Bác Sĩ, an theo Lộc Tồn và đi theo chiều thuận hoặc nghịch tùy âm dương nam nữ.
Tướng Quân ở Quan Lộc hợp võ nghiệp và vị trí chỉ huy, cho người có quyền uy, khí phách và quyết đoán, nhất là khi đi cùng chính tinh sáng và Hóa Quyền.
Tướng Quân là sao uy võ. Đi cùng chính tinh sáng và sao quyền thì thành uy chính đáng, hợp lãnh đạo; gặp sát tinh thì cái uy dễ thành hung hăng, cần tiết chế.
Đủ cả mười hai cung, không cung nào bị cấm. Đây là điểm khác với Tiểu Hao cùng vòng, sao ấy chỉ tới được tám cung vì luôn cách Lộc Tồn ba nhịp. Tướng Quân cách Lộc Tồn bốn nhịp, mà bốn nhịp là bước nhảy đổi nhóm địa chi, nên gộp cả hai chiều đếm thì phủ kín địa bàn. Kết quả đã chạy đủ mười tuổi can nhân hai chiều.
Vì Bác Sĩ luôn đứng đúng cung Lộc Tồn, mà Tướng Quân đứng thứ năm trong vòng, tức cách Bác Sĩ bốn nhịp. Bốn cung trên địa bàn chính là tam hợp. Chạy máy đủ mười can nhân hai chiều thì khoảng cách giữa Tướng Quân và Lộc Tồn chỉ nhận hai giá trị bốn và tám, hai giá trị đối xứng của cùng một quan hệ tam hợp. Trong mười hai sao của vòng chỉ Tướng Quân và Bệnh Phù giữ được vị thế ấy.
Không, bằng bất cứ đường nào. Kiểm bằng máy thì khoảng cách từ Tướng Quân tới Kình Dương chỉ nhận ba và bảy, tới Đà La chỉ nhận năm và chín; không giá trị nào là không, bốn, sáu hay tám, nên không đồng cung, không tam hợp và không xung chiếu. Ai luận thấy Tướng Quân đi cùng Kình Đà là đã an sai lá số, không phải dị bản.
Có. Vòng Bác Sĩ an theo Lộc Tồn mà Lộc Tồn an theo thiên can, nên mỗi năm có một bản lưu: lấy can của năm đang xem để định lưu Lộc Tồn, rồi đếm bốn nhịp theo đúng chiều thuận nghịch của người đó thì ra lưu Tướng Quân. Vòng Tràng Sinh và các sao an theo tháng sinh, giờ sinh thì không có bản lưu, vì tham số của chúng không đổi theo năm.