Độ số, mốc Bắc và tên vòng là ba thông tin cần đi cùng nhau. Các phép chia góc có thể kiểm tra bằng toán học; nhãn và cách luận trên la kinh thuộc quy ước truyền thống của từng hệ. Bài này giữ hai lớp riêng để người dùng không nhầm độ chi tiết của vòng với độ chính xác của dụng cụ.
Hiểu đúng vấn đề
Vòng 24 sơn chia 360 độ thành 24 khoảng bằng nhau, mỗi sơn rộng 15 độ. Tý có tâm tại 0 độ, Ngọ tại 180 độ trong quy ước chính châm đang dùng. Một hướng Bắc rộng 45 độ gồm Nhâm, Tý và Quý; vì vậy tên phương vị lớn chưa đủ để đọc một sơn cụ thể.
**Bảng 24 sơn chính châm đang dùng trong app**
| Sơn | Tâm | Phạm vi | Hướng lớn |
| --- | --- | --- | --- |
| Tý | 0° | 352.5° – dưới 7.5° | Bắc |
| Quý | 15° | 7.5° – dưới 22.5° | Bắc |
| Sửu | 30° | 22.5° – dưới 37.5° | Đông Bắc |
| Cấn | 45° | 37.5° – dưới 52.5° | Đông Bắc |
| Dần | 60° | 52.5° – dưới 67.5° | Đông Bắc |
| Giáp | 75° | 67.5° – dưới 82.5° | Đông |
| Mão | 90° | 82.5° – dưới 97.5° | Đông |
| Ất | 105° | 97.5° – dưới 112.5° | Đông |
| Thìn | 120° | 112.5° – dưới 127.5° | Đông Nam |
| Tốn | 135° | 127.5° – dưới 142.5° | Đông Nam |
| Tỵ | 150° | 142.5° – dưới 157.5° | Đông Nam |
| Bính | 165° | 157.5° – dưới 172.5° | Nam |
| Ngọ | 180° | 172.5° – dưới 187.5° | Nam |
| Đinh | 195° | 187.5° – dưới 202.5° | Nam |
| Mùi | 210° | 202.5° – dưới 217.5° | Tây Nam |
| Khôn | 225° | 217.5° – dưới 232.5° | Tây Nam |
| Thân | 240° | 232.5° – dưới 247.5° | Tây Nam |
| Canh | 255° | 247.5° – dưới 262.5° | Tây |
| Dậu | 270° | 262.5° – dưới 277.5° | Tây |
| Tân | 285° | 277.5° – dưới 292.5° | Tây |
| Tuất | 300° | 292.5° – dưới 307.5° | Tây Bắc |
| Càn | 315° | 307.5° – dưới 322.5° | Tây Bắc |
| Hợi | 330° | 322.5° – dưới 337.5° | Tây Bắc |
| Nhâm | 345° | 337.5° – dưới 352.5° | Bắc |
Phạm vi của Tý đi qua 0 độ: từ 352,5 đến dưới 360 và từ 0 đến dưới 7,5 độ. Ở đúng ranh, vòng của app gán biên trái cho sơn mới. Đây là quy ước tính nhãn; nếu cảm biến còn dao động thì không nên coi một lần chạm ranh là dữ liệu chắc chắn.
**Ba ví dụ để tự kiểm tra**
- 90 độ ở tâm Mão; 101 độ thuộc Ất, cùng nhóm Đông nhưng khác sơn.
- 172,4 độ thuộc Bính; 172,5 độ được gán Ngọ theo quy ước biên trái. Nếu số đo dao động quanh ranh này, ghi cả Bính và Ngọ là khả năng cần kiểm tra.
- Hướng 186 độ thuộc Ngọ; tia tọa đối lại là 6 độ, thuộc Tý. Hướng và tọa cần được lưu thành hai trường riêng.
**Đọc vòng trên điện thoại theo thứ tự**
Trước hết chọn đúng loại la bàn 24 sơn và kiểm tra trạng thái cảm biến. Tiếp theo xác nhận cạnh máy được dùng làm tia nhìn, giữ máy theo trục cố định rồi đọc độ số. Sau đó mới đọc sơn, hướng lớn và lớp tham khảo tuổi nếu màn hình có. Khi chưa có dữ liệu cảm biến thật, không dùng vị trí GPS hoặc năm sinh để điền một hướng thay thế.
Một phép chia 15 độ có thể kiểm tra bằng bảng trên. Tuy nhiên bảng không tự đưa kết luận cát hung cho từng ngôi nhà: phần đó còn cần đối tượng khảo sát, phương pháp và chất lượng dữ liệu. Khi gửi hồ sơ, hãy kèm độ số gốc, mốc Bắc, trục đo và khoảng dao động thay vì chỉ gửi tên một sơn.
Tình huống minh họa
Người đo được 8 độ rồi gọi là Tý vì vẫn ở phía Bắc. Trong vòng này, ranh Tý–Quý nằm ở 7,5 độ nên 8 độ đã thuộc Quý. Nếu các lần đo dao động từ 6 tới 10 độ, cần ghi khoảng dao động và đo lại thay vì khẳng định một tên sơn.
Cách kiểm tra và áp dụng
**Bước 1. Chọn vòng 24 sơn và xác nhận mốc Bắc.**
Hồ sơ nên ghi nguồn dữ liệu, ngày khảo sát và lý do của quyết định. Giữ riêng hiện trạng với phương án dự kiến để tránh nhầm. Khi chia sẻ, chỉ cung cấp mức thông tin vị trí cần thiết; các chi tiết địa chỉ hoặc tọa độ nhà có thể được giữ trong hồ sơ riêng của gia đình.
**Bước 2. Đọc độ số trước rồi đối chiếu tên sơn.**
Đo ở điều kiện ổn định và lưu số gốc trước khi làm tròn hoặc đổi thành tên phương vị. Nếu các lần đo không lặp được, ghi khoảng dao động cùng điểm đứng. Không loại một phép đo chỉ vì kết quả khác điều mong muốn; hãy loại theo điều kiện nhiễu hoặc trục đo đã xác định. Ở bước này, giữ riêng vị trí GPS, mốc Bắc và dữ liệu hướng cảm biến. Không dùng một lớp có dữ liệu để giả định lớp còn lại cũng đã hoạt động đúng.
**Bước 3. Đo lặp tại nhiều điểm và lưu khoảng dao động.**
Đo ở điều kiện ổn định và lưu số gốc trước khi làm tròn hoặc đổi thành tên phương vị. Nếu các lần đo không lặp được, ghi khoảng dao động cùng điểm đứng. Không loại một phép đo chỉ vì kết quả khác điều mong muốn; hãy loại theo điều kiện nhiễu hoặc trục đo đã xác định.
Sai lầm cần tránh
Số hiển thị nhiều chữ số thập phân không có nghĩa cảm biến chính xác tới mức đó. Không chốt sơn khi kết quả sát ranh và chưa kiểm tra nhiễu từ.
Chọn phương án phù hợp
Khi kết quả sát ranh, hồ sơ nên ghi hai khả năng để người luận tiếp biết mức chắc chắn.
Ở bước này, giữ riêng vị trí GPS, mốc Bắc và dữ liệu hướng cảm biến. Không dùng một lớp có dữ liệu để giả định lớp còn lại cũng đã hoạt động đúng.
Kiểm tra lại trước khi chốt
Đối chiếu ba bước với tình huống đã nêu: chọn vòng 24 sơn và xác nhận mốc bắc; đọc độ số trước rồi đối chiếu tên sơn; đo lặp tại nhiều điểm và lưu khoảng dao động. Nếu chưa có dữ liệu cho một bước, hãy ghi rõ phần chưa chắc thay vì kết luận tuyệt đối. Những ví dụ trong bài là tình huống minh họa do Đạo Quán xây dựng; cần điều chỉnh theo nhà và người sử dụng thực tế.
