THIÊN LA – ĐỊA VÕNG
---
I. KHÁI NIỆM THÔNG THƯỜNG VỀ THIÊN LA – ĐỊA VÕNG
- Trong Tử Vi truyền thống:
- Hai cung **Thìn** và **Tuất** thường được gọi là đất:
- Thiên La.
- Địa Võng.
- Cách gọi thông thường:
- **Thìn** là Thiên La.
- **Tuất** là Địa Võng.
- Hai chữ **La Võng** đều mang nghĩa:
- Lưới.
- Sự bao vây.
- Sự trói buộc.
- Khó thoát khỏi phạm vi đang bị kiềm chế.
- Vì vậy mới có quan niệm:
- Mệnh hoặc Thân đóng tại Thìn – Tuất sẽ bị gò bó.
- Có tài cũng khó phát huy.
- Có sức nhưng khó thi triển.
- Bài dùng hình tượng rất mạnh:
- Mãnh hổ mà bị nhốt trong cũi thì cũng chỉ còn là “cọp giấy”.
- Phượng hoàng dù đẹp đến đâu mà mắc lưới cũng khó tung cánh.
- Ý nghĩa của hình tượng này:
- Năng lực cá nhân có thể rất mạnh.
- Nhưng hoàn cảnh bên ngoài:
- Kìm hãm.
- Hạn chế.
- Không cho phát huy hết khả năng.
---
II. VẤN ĐỀ ĐẶT RA: CỨ MỆNH THÂN Ở THÌN – TUẤT LÀ BỊ LA VÕNG?
- Tác giả đặt nghi vấn đối với quan niệm truyền thống này.
- Nếu:
- Cứ Mệnh hoặc Thân tại Thìn – Tuất là bị Thiên La Địa Võng trói buộc,
- Thì khó giải thích:
- Vì sao trong lịch sử vẫn có nhiều nhân vật nổi tiếng.
- Có người Mệnh hoặc Thân ở chính hai cung này.
- Nhưng vẫn:
- Tung hoành.
- Thành danh.
- Nắm quyền.
- Làm nên sự nghiệp lớn.
- Vì vậy:
- Không thể chỉ nhìn địa chi **Thìn – Tuất** rồi lập tức kết luận:
- Bị trói.
- Bó tay.
- Không thể thành công.
- Phải tìm:
- Nguyên lý thật sự đứng phía sau hai chữ **La Võng**.
---
III. SO SÁNH VỚI THIÊN MÃ TẠI HỢI
- Bài đưa trường hợp Thiên Mã tại Hợi để so sánh.
- Theo cách luận truyền thống:
- Thiên Mã tại Hợi bị xem là:
- Ngựa cùng đường.
- Không còn đường chạy.
- Khó phát huy tính động của Thiên Mã.
- Nhưng:
- Nếu chỉ máy móc áp dụng những câu phú như vậy,
- Rất dễ biến một vị trí thành:
- “Đất chết”.
- Không còn khả năng xoay chuyển.
- Tác giả cho rằng:
- Thiên La – Địa Võng cũng có thể đã bị hiểu quá cứng nhắc theo cách tương tự.
---
IV. QUAN NIỆM “HÌNH – KÌNH CẮT LƯỚI”
- Một số thuyết khác lại cho rằng:
- Nếu Mệnh hoặc Thân ở Thìn – Tuất,
- Muốn thoát Thiên La – Địa Võng thì cần:
- Thiên Hình.
- Kình Dương.
- Hai sao này được hình dung như:
- Dao.
- Kiếm.
- Vật sắc bén.
- Dùng để:
- Cắt lưới.
- Xé lưới.
- Giải thế trói buộc.
- Nhưng tác giả cho rằng:
- Các cách giải thích như vậy quá nhiều.
- Muôn hình vạn trạng.
- Dễ khiến người học Tử Vi:
- Rối.
- Không tìm được nguyên lý nhất quán.
---
V. BỐN CUNG MỘ: THÌN – TUẤT – SỬU – MÙI
- Bốn cung:
- Thìn.
- Tuất.
- Sửu.
- Mùi.
- Được gọi là:
- **Tứ Mộ**.
- Hoặc bốn cung Mộ.
- Theo bài:
- Đây vừa là nơi:
- Phát xuất.
- Tập trung.
của khí Ngũ Hành.
- Trong đó:
- Thìn – Tuất thuộc tính **Dương**.
- Sửu – Mùi thuộc tính **Âm**.
---
VI. VẤN ĐỀ ÂM DƯƠNG CỦA THÌN – TUẤT
- Tác giả đặt vấn đề:
- Nếu cả Thìn và Tuất đều thuộc Dương,
- Tại sao:
- Thìn gọi là **Thiên La**.
- Tuất lại gọi là **Địa Võng**?
- Vì:
- “Thiên” vốn thuộc Dương.
- “Địa” vốn thuộc Âm.
- Nếu chỉ căn cứ vào:
- Thìn.
- Tuất.
- Thì cách gọi:
- Thiên La – Địa Võng
- Có vẻ chưa hoàn toàn hợp lý.
- Điều này khiến tác giả đi sâu vào:
- Thế Lưỡng Nghi.
- Thái Dương.
- Thái Âm.
- Vai trò của Đà La.
---
VII. THẾ LƯỠNG NGHI TRÊN ĐỊA BÀN
- Theo bài:
- Trên địa bàn có thể chia thành hai phạm vi lớn.
- Từ:
- **Dần đến Thân**
thuộc phạm vi của:
- Thái Dương.
- Từ:
- **Thân đến Dần**
thuộc phạm vi của:
- Thái Âm.
- Đây là hình tượng:
- Âm – Dương.
- Lưỡng Nghi.
- Sinh ra từ Thái Cực.
---
VIII. THÌN – TUẤT LÀ NƠI XUẤT PHÁT
- Theo cách giải của tác giả:
- Thìn – Tuất là hai cung mang tính:
- Khởi phát.
- Phát động.
- Trong khi:
- Sửu – Mùi thiên về:
- Thu gom.
- Tập trung.
- Quy tụ.
- Vì vậy:
- Thìn – Tuất có tính phát ra.
- Sửu – Mùi có tính gom vào.
- Điều này trở thành cơ sở để giải thích:
- Vì sao Đà La ở Thìn – Tuất có tính chất đặc biệt mạnh.
---
IX. NGUYÊN LÝ QUAN TRỌNG: LA VÕNG THỰC CHẤT LIÊN QUAN ĐÀ LA
- Đây là trọng tâm quan trọng nhất của toàn bài.
- Theo tác giả:
- Không phải bản thân hai cung Thìn – Tuất tự nhiên đã là Thiên La – Địa Võng.
- Mà phải có:
- **Đà La**.
- Đà La mang hình tượng:
- Quấn.
- Vòng.
- Bao.
- Giăng lưới.
- Kéo dài.
- Trói buộc.
- Vì vậy:
- Đà La mới là yếu tố tạo ra cái “lưới”.
---
X. ĐÀ LA TẠI THÌN LÀ THIÊN LA
- Khi Đà La đóng tại **Thìn**:
- Mới thực sự hình thành tính chất:
- **Thiên La**.
- Đặc tính:
- Gây trói buộc.
- Gây cản trở.
- Làm người ta khó phát huy hết khả năng.
- Vì Thìn:
- Mang tính phát xuất mạnh.
- Nên Đà La tại đây:
- Có khả năng phát ra tính gò bó và cản trở mạnh hơn.
---
XI. ĐÀ LA TẠI TUẤT LÀ ĐỊA VÕNG
- Khi Đà La đóng tại **Tuất**:
- Mới hình thành:
- **Địa Võng**.
- Ý nghĩa:
- Bị bao vây.
- Bị quấn.
- Bị hạn chế.
- Khó tự do hành động.
- Vì vậy:
- Không phải cứ Mệnh tại Tuất là bị Địa Võng.
- Phải xét có Đà La thực sự đóng tại đó hay không.
---
XII. KẾT LUẬN QUAN TRỌNG VỀ THÌN – TUẤT
- Hai cung:
- Thìn.
- Tuất.
- Chỉ thực sự thành:
- La Võng chi địa.
- Khi:
- Có Đà La hoành hành tại đó.
- Nếu:
- Không có Đà La.
- Thì:
- Thìn – Tuất vẫn chỉ là hai vị trí trong lá số.
- Không nhất thiết:
- Bó tay.
- Bất động.
- Không thể thành công.
---
XIII. KHÔNG CÓ ĐÀ LA: THÌN – TUẤT VẪN CÓ THỂ TUNG HOÀNH
- Nếu Mệnh hoặc Thân ở Thìn – Tuất:
- Nhưng không bị Đà La tạo thành La Võng,
- Thì:
- Vẫn có thể phát huy mạnh.
- Tác giả dùng hình ảnh:
- “Tung mây lướt gió”.
- “Phỉ chí tang bồng”.
- Nghĩa là:
- Có thể:
- Làm việc lớn.
- Tung hoành.
- Thỏa chí.
- Vì vậy:
- Không nên vì thấy Mệnh Thìn/Tuất mà bi quan ngay.
---
XIV. NHÓM TỬ – PHỦ – SÁT – PHÁ – THAM VÀ LA VÕNG
- Trong 14 Chính Tinh:
- Tác giả nhắc tới nhóm:
- Tử Vi.
- Thiên Phủ.
- Thất Sát.
- Phá Quân.
- Tham Lang.
- Đây là những sao mang tính:
- Uy nghi.
- Hành động.
- Thực thi.
- Tranh đấu.
- Quyết liệt.
- Vì vậy:
- Khi gặp La Võng thật sự,
- Tính hành động mạnh dễ bị:
- Trói.
- Kìm.
- Cản.
- Do đó:
- Nhóm này đặc biệt không thích gặp thế La Võng.
---
XV. CƠ – NGUYỆT – ĐỒNG – LƯƠNG VÀ LA VÕNG
- Nhóm:
- Thiên Cơ.
- Thái Âm.
- Thiên Đồng.
- Thiên Lương.
- Có đặc tính:
- Mềm.
- Linh hoạt.
- Uyển chuyển.
- Ôn hòa.
- Khi gặp La Võng:
- Không nhất thiết bị ảnh hưởng nặng như nhóm Sát – Phá – Tham.
- Nguyên nhân:
- Có khả năng:
- Thích nghi.
- Đi vòng.
- Chuyển hướng.
- Không nhất thiết phải đối đầu trực tiếp.
---
XVI. VÌ SAO PHẢI AN KÌNH – ĐÀ CHÍNH XÁC?
- Muốn biết có thực sự gặp:
- Thiên La.
- Địa Võng.
- Thì trước hết:
- Phải an Đà La chính xác.
- Muốn an Đà La:
- Phải an đúng Lộc Tồn.
- Quy luật:
- **Tiền Kình – Hậu Đà.**
- Nghĩa là:
- Một phía Lộc Tồn là Kình Dương.
- Phía còn lại là Đà La.
---
XVII. VÍ DỤ TUỔI GIÁP DƯƠNG NAM
- Theo ví dụ trong bài:
- Tuổi Giáp.
- Dương Nam.
- Lộc Tồn tại:
- Dần.
- Kình Dương tại:
- Mão.
- Đà La tại:
- Sửu.
- Vì Đà La ở Sửu:
- Không đóng Thìn.
- Không đóng Tuất.
- Do đó:
- Không thể cứ thấy Mệnh Thìn/Tuất mà gọi là mắc La Võng.
---
XVIII. TRƯỜNG HỢP DƯƠNG NỮ
- Theo hệ thống của tác giả:
- Khi xét nam nữ thuận nghịch,
- Vị trí Kình – Đà phải xác định đúng theo chiều.
- Với trường hợp được nêu:
- Kình chuyển sang Sửu.
- Đà chuyển sang Mão.
- Mục đích của việc xét chính xác:
- Xác định xem Đà La có thật sự:
- Tọa Thìn.
- Hay tọa Tuất.
- Nếu không:
- Không được tùy tiện gọi là Thiên La – Địa Võng.
---
XIX. SAI LẦM KHI CHỈ NHÌN MỆNH THÂN THÌN – TUẤT
- Tác giả phản đối quan điểm:
- “Mệnh hay Thân cứ ở Thìn – Tuất là bó tay bất động”.
- Vì:
- Không xét Đà La.
- Không xét:
- Can tuổi.
- Âm Dương nam nữ.
- Tuần.
- Triệt.
- Như vậy:
- Dễ luận sai toàn bộ cách cục.
---
XX. TRƯỜNG HỢP VƯƠNG MÃNG
- Bài đưa nhân vật:
- **Vương Mãng**
- Là một nhân vật chính trị cuối thời Tiền Hán.
- Có hai lá số được lưu truyền:
- **Lá số 1**
- Giáp Thân.
- Ngày 9 tháng 3.
- Giờ Tý.
- **Lá số 2**
- Giáp Dần.
- Ngày 27 tháng 1.
- Giờ Tuất.
- Điểm chung:
- Mệnh đều tại Thìn.
- Theo quan niệm thông thường:
- Thìn là Thiên La.
- Nhưng:
- Cả hai lá số đều không cho thấy nhân vật bị bó tay bất động.
---
XXI. VÌ SAO VƯƠNG MÃNG KHÔNG BỊ THIÊN LA?
- Vương Mãng tuổi:
- Giáp.
- Theo cách an sao:
- Đà La tuổi Giáp nằm tại:
- Sửu.
- Không nằm ở:
- Thìn.
- Vì vậy:
- Mệnh tại Thìn nhưng không có Đà La.
- Không hình thành Thiên La theo quan điểm của tác giả.
- Đây là ví dụ trọng yếu chứng minh:
- **Thìn tự nó không phải Thiên La tuyệt đối.**
---
XXII. HAI CÁCH CỤC VƯƠNG MÃNG
- Theo hai lá số được nêu:
- Một lá số:
- Tử Vi – Thiên Tướng.
- Tuổi Giáp Thân.
- Một lá số:
- Phá Quân.
- Tuổi Giáp Dần.
- Dù cách cục khác nhau:
- Đều có khả năng:
- Hành động.
- Thành công.
- Thực hiện ý chí.
- Điều này càng nhấn mạnh:
- Không thể dùng riêng hai chữ “Thìn là Thiên La” để phủ định toàn bộ lá số.
---
XXIII. QUAN ĐIỂM CỦA TÁC GIẢ VỀ LÁ SỐ VƯƠNG MÃNG
- Bài còn đưa ra nhận định lịch sử rằng:
- Lá số Giáp Dần có thể là lá số được hậu thế tạo dựng.
- Theo quan điểm trong bài:
- Lá số Giáp Thân được cho là phù hợp hơn với nhân vật Vương Mãng.
- Tác giả mô tả Vương Mãng như:
- Một người quả quyết.
- Muốn thay đổi bộ mặt xã hội.
- Chống lại tình trạng xã hội bị:
- Lũng đoạn.
- Sâu mọt.
- Tha hóa.
- Đây là cách đánh giá lịch sử của nguồn gốc tài liệu, không phải kết luận lịch sử độc lập trong bài viết này.
---
XXIV. VƯƠNG MÃNG THÀNH CÔNG NHƯNG KHÔNG BỀN
- Theo bài:
- Vương Mãng đã có giai đoạn đạt được mục tiêu.
- Nhưng:
- Không duy trì được lâu dài.
- Tác giả giải thích bằng:
- Cung Quan bị Triệt.
- Ý nghĩa:
- Có thể đạt quyền lực.
- Nhưng khó giữ sự nghiệp trường tồn.
---
XXV. KẾT LUẬN TỪ TRƯỜNG HỢP VƯƠNG MÃNG
- Trường hợp này được dùng để khẳng định:
- Thiên La – Địa Võng không mặc nhiên là hai cung:
- Thìn.
- Tuất.
- Phải có:
- Đà La tại chính hai cung đó.
- Đây là luận điểm trung tâm của toàn bài.
---
XXVI. NHỮNG TUỔI CÓ THỂ GẶP THIÊN LA
- Theo bài:
- Thiên La liên quan tới các tuổi có can:
- Ất.
- Bính.
- Mậu.
- Tuy nhiên:
- Mức độ không giống nhau.
- Phải tiếp tục xét:
- Tuần.
- Triệt.
- Âm Dương.
- Nam nữ.
---
XXVII. TUỔI BÍNH VÀ THIÊN LA
- Tuổi Bính:
- Về nguyên tắc có thể tạo thế Thiên La.
- Nhưng theo bài:
- **Triệt** tác động mạnh vào Đà La.
- Tác giả dùng hình ảnh:
- “Triệt phá nát Đà La.”
- Vì vậy:
- Trường hợp tuổi Bính không hình thành Thiên La hoàn chỉnh như dự kiến.
---
XXVIII. TUỔI MẬU VÀ THIÊN LA
- Tuổi Mậu:
- Cũng nằm trong nhóm cần xét Thiên La.
- Nhưng trường hợp:
- Mậu Tuất.
- Có:
- Tuần.
- Tuần làm:
- Giảm sức Đà La.
- Do đó:
- Sức khép chặt của Thiên La giảm.
---
XXIX. TUỔI ẤT VÀ THIÊN LA
- Theo bài:
- Tuổi Ất là nhóm chịu ảnh hưởng Thiên La rõ hơn.
- Đặc biệt:
- **Ất âm nam**.
- Được xem là:
- Phải chịu khá nhiều sự gò bó của Thiên La.
---
XXX. TRƯỜNG HỢP ẤT MÙI
- Tuổi Ất Mùi:
- Có Tuần tác động.
- Nhưng:
- Thìn là Dương cung.
- Theo tác giả:
- Sức Tuần tại đây không đủ mạnh để:
- Ngăn hoàn toàn Đà La.
- Phá hết Thiên La.
- Tuần chỉ có thể:
- Giảm khoảng 30% sức ảnh hưởng.
- Vì vậy:
- Vẫn còn khoảng 70% tính chất La Võng.
- Các tỷ lệ này là cách định lượng theo quan điểm của nguồn.
---
XXXI. NHỮNG TUỔI CÓ THỂ GẶP ĐỊA VÕNG
- Địa Võng đặc biệt liên quan tới hai can:
- **Tân**.
- **Nhâm**.
- Đây là hai nhóm tuổi cần đặc biệt chú ý:
- Đà La tại Tuất.
---
XXXII. TUỔI TÂN VÀ ĐỊA VÕNG
- Theo bài:
- Âm nữ tuổi Tân:
- Dễ chịu sự uy hiếp của Địa Võng.
- Riêng:
- Tân Mùi.
- Có:
- Tuần.
- Tuần giúp:
- Nới lỏng khoảng 30% sức hãm của Đà La.
- Tuy nhiên:
- Phần lớn tác động vẫn còn.
---
XXXIII. TUỔI NHÂM VÀ ĐỊA VÕNG
- Theo bài:
- Các tuổi Nhâm nói chung:
- Dễ bị Địa Võng gói chặt.
- Nhưng:
- Có ngoại lệ.
- Đặc biệt:
- **Nhâm Thân**.
- Được xem là:
- Mở rộng khoảng 70%.
- Nghĩa là:
- Sức gò bó của Địa Võng giảm rất nhiều.
---
XXXIV. NHÂM TUẤT – TRƯỜNG HỢP NẶNG
- Theo bài:
- Một trong những trường hợp nặng nhất là:
- **Nhâm Tuất**.
- Nếu:
- Mệnh – Thân đồng cung.
- Thì:
- Dễ có cảm giác:
- Sinh bất phùng thời.
- Có năng lực nhưng khó gặp thời cơ.
---
XXXV. NHÂM TUẤT NÊN THEO CÁCH “TRƯƠNG LƯƠNG”
- Tác giả cho rằng:
- Người Nhâm Tuất bị La Võng nặng,
- Nếu chọn hình thái sống giống **Trương Lương** thì là thượng cách.
- Có thể hiểu:
- Không nhất thiết trực tiếp tranh quyền.
- Nên phát huy:
- Mưu lược.
- Cố vấn.
- Chiến lược.
- Đứng phía sau điều phối.
- Tức là:
- Dùng trí thay vì cố dùng sức phá lưới.
---
XXXVI. TRƯỜNG HỢP NHÂM TUẤT THÂN CƯ PHÚC
- Nếu Nhâm Tuất:
- Thân cư Phúc Đức.
- Theo bài:
- Lại có khả năng thành công phi thường.
- Đặc biệt:
- Sau khoảng 45 tuổi.
- Vì:
- Triệt bắt đầu phá sức Đà La tại Mệnh.
- Đồng thời tháo bớt ảnh hưởng của Tuần ở Thân.
- Khi đó:
- Thế trói buộc được giải phóng.
---
XXXVII. Ý NGHĨA MỐC 45 TUỔI
- Theo nguồn:
- Khoảng 45 tuổi là giai đoạn:
- Triệt tác động mạnh làm giảm Đà La.
- Do đó:
- Người trước đó bị bó buộc:
- Có thể bắt đầu mở vận.
- Khả năng phát huy tăng.
- Đặc biệt nếu:
- Cung còn được thiên thời.
- Thì:
- Thành tựu sau trung niên có thể vượt xa giai đoạn đầu đời.
---
XXXVIII. ĐẮC THIÊN THỜI – QUAN PHÙ
- Trong trường hợp Nhâm Tuất được nêu:
- Cung còn thuộc thế:
- Đắc thiên thời.
- Có Quan Phù.
- Vì vậy:
- Khi La Võng được tháo bớt,
- Năng lực có thể:
- Phát rất mạnh.
- Thành tựu vượt mức.
---
XXXIX. ĐÀ LA MỚI LÀ TRỌNG TÂM CỦA LA VÕNG
- Kết luận của tác giả:
- **Thiên La – Địa Võng chính là tác động đặc thù của Đà La.**
- Không thể:
- Bỏ Đà La.
- Chỉ nhìn Thìn – Tuất.
- Khi luận phải xét:
- Đà La nằm đâu?
- Có Tuần không?
- Có Triệt không?
- Can tuổi nào?
- Âm Dương nam nữ ra sao?
---
XL. ĐÀ LA Ở TỨ SINH VÀ TỨ MỘ
- Theo bài:
- Đà La:
- Đắc địa ở Tứ Sinh.
- Hãm địa ở Tứ Mộ.
- Tứ Mộ gồm:
- Thìn.
- Tuất.
- Sửu.
- Mùi.
- Khi Đà La ở Tứ Mộ:
- Tính:
- Quấn.
- Gò bó.
- Cản trở
biểu hiện rõ.
---
XLI. VÌ SAO THÌN – TUẤT NẶNG HƠN SỬU – MÙI?
- Dù:
- Thìn.
- Tuất.
- Sửu.
- Mùi.
- Đều thuộc Tứ Mộ.
- Nhưng theo tác giả:
- Thìn – Tuất nguy hiểm hơn.
- Vì:
- Đây là nơi phát xuất.
- Khi Đà La tại đây:
- Tính hung.
- Tính trói.
- Tính cản
có khả năng bung ra mạnh.
---
XLII. SỬU – MÙI KHÁC THÌN – TUẤT
- Sửu – Mùi:
- Là nơi tập trung.
- Đà La tại đây:
- Vẫn mang tính gò bó.
- Nhưng:
- Không có sức phát động dữ dội như ở:
- Thìn.
- Tuất.
- Tác giả dùng hình ảnh:
- Vẫn có thể “múa gậy trong vườn hoang”.
- Nghĩa là:
- Có sự hạn chế.
- Nhưng vẫn còn không gian xoay xở.
---
XLIII. NHỮNG CAN KHÔNG LIÊN LỤY LA VÕNG
- Trong mười Thiên Can:
- Theo bài có năm can không liên hệ đáng kể với La Võng:
- **Giáp.**
- **Đinh.**
- **Kỷ.**
- **Canh.**
- **Quý.**
- Với các tuổi này:
- Không nên thấy Mệnh Thìn/Tuất rồi lập tức kết luận mắc La Võng.
---
XLIV. NHỮNG CAN CẦN XÉT THIÊN LA
- Ba can cần chú ý về:
- **Thiên La**
- Là:
- Ất.
- Bính.
- Mậu.
- Nhưng:
- Không phải trường hợp nào cũng nặng như nhau.
- Phải xét thêm:
- Tuần.
- Triệt.
- Âm Dương.
- Nam nữ.
---
XLV. NHỮNG CAN CẦN XÉT ĐỊA VÕNG
- Hai can cần đặc biệt chú ý:
- **Tân.**
- **Nhâm.**
- Khi điều kiện thích hợp:
- Đà La hình thành Địa Võng tại Tuất.
---
XLVI. VAI TRÒ CỦA TUẦN
- Tuần có tác dụng:
- Làm yếu.
- Nới lỏng.
- Giảm sức của Đà La.
- Tuy nhiên:
- Không phải lúc nào Tuần cũng phá hoàn toàn được La Võng.
- Theo các ví dụ trong bài:
- Có trường hợp chỉ giảm khoảng:
- 30%.
- Vì vậy:
- Có Tuần không đồng nghĩa:
- Hoàn toàn thoát lưới.
---
XLVII. VAI TRÒ CỦA TRIỆT
- Triệt trong bài có tác dụng mạnh hơn.
- Có thể:
- Phá Đà La.
- Làm lưới bị đứt.
- Giảm đáng kể tính gò bó.
- Tác giả nhiều lần dùng hình tượng:
- “Triệt phá nát Đà La.”
- Vì vậy:
- Khi Đà La tạo La Võng nhưng gặp Triệt mạnh:
- Phải xét lại toàn bộ mức độ hung.
---
XLVIII. THIÊN LA – ĐỊA VÕNG KHÔNG ĐỒNG NGHĨA THẤT BẠI
- Đây là điểm rất quan trọng.
- Dù thực sự gặp La Võng:
- Không có nghĩa:
- Cả đời thất bại.
- Không làm nên việc gì.
- Nó thiên về:
- Khó phát huy.
- Chậm.
- Bị cản.
- Bị hoàn cảnh gò bó.
- Nếu về sau:
- Tuần.
- Triệt.
- Vận hạn
tháo được thế này,
- Thì:
- Có thể phát triển rất mạnh.
---
XLIX. LA VÕNG VÀ “SINH BẤT PHÙNG THỜI”
- Một biểu hiện của La Võng:
- Có năng lực.
- Nhưng hoàn cảnh không cho phát huy.
- Dễ có cảm giác:
- Có tài mà khó gặp thời.
- Có chí nhưng thiếu đất dụng võ.
- Có sức nhưng bị giới hạn.
- Đây chính là hình tượng:
- Mãnh hổ trong cũi.
- Phượng hoàng mắc lưới.
---
L. KHI LƯỚI ĐƯỢC THÁO
- Nếu thế La Võng bị:
- Triệt phá.
- Tuần giảm.
- Vận hạn tháo gỡ.
- Thì:
- Năng lực vốn bị nén có thể bung ra mạnh.
- Đôi khi:
- Người bị gò bó lâu năm,
- Khi có cơ hội,
- Có thể tiến rất nhanh.
- Vì vậy:
- La Võng cũng có ý nghĩa:
- Tích tụ năng lượng trước khi phát.
---
LI. KHÔNG NÊN LUẬN LA VÕNG MỘT CÁCH MÁY MÓC
- Sai lầm thường gặp:
- Thấy Thìn:
- Kết luận Thiên La.
- Thấy Tuất:
- Kết luận Địa Võng.
- Theo quan điểm bài này:
- Cách luận đó quá đơn giản.
- Cần kiểm tra ít nhất:
- Can năm sinh.
- Vị trí Lộc Tồn.
- Vị trí Kình Dương.
- Vị trí Đà La.
- Giới tính.
- Âm Dương thuận nghịch.
- Tuần.
- Triệt.
---
LII. THỨ TỰ LUẬN THIÊN LA – ĐỊA VÕNG
- Có thể tóm tắt quy trình của bài như sau:
- **Bước 1:**
- Xem Mệnh hoặc Thân có tại:
- Thìn.
- Tuất.
- Hay không.
- **Bước 2:**
- Xác định can năm sinh.
- **Bước 3:**
- An Lộc Tồn.
- **Bước 4:**
- Từ Lộc Tồn an:
- Kình Dương.
- Đà La.
- **Bước 5:**
- Kiểm tra Đà La có rơi vào:
- Thìn.
- Tuất.
- Hay không.
- **Bước 6:**
- Xem:
- Tuần.
- Triệt.
- **Bước 7:**
- Xem nhóm Chính Tinh tại Mệnh – Thân.
- **Bước 8:**
- Sau đó mới kết luận mức độ La Võng.
---
LIII. TÓM TẮT THEO THIÊN CAN
- Theo bài:
- **Giáp**
- Không đáng kể về La Võng.
- **Ất**
- Cần chú ý Thiên La.
- Đặc biệt một số trường hợp âm nam.
- **Bính**
- Có khả năng Thiên La.
- Nhưng Triệt phá mạnh Đà La.
- **Đinh**
- Không liên lụy đáng kể.
- **Mậu**
- Cần xét Thiên La.
- Một số trường hợp được Tuần giảm lực.
- **Kỷ**
- Không liên lụy đáng kể.
- **Canh**
- Không liên lụy đáng kể.
- **Tân**
- Cần chú ý Địa Võng.
- **Nhâm**
- Cần đặc biệt chú ý Địa Võng.
- Một số trường hợp như Nhâm Thân có khả năng được nới mạnh.
- **Quý**
- Không liên lụy đáng kể.
---
LIV. MẶT BẤT LỢI CỦA THIÊN LA – ĐỊA VÕNG
- Khi thế La Võng thực sự hình thành:
- Dễ cảm thấy bị:
- Gò bó.
- Trói buộc.
- Hạn chế.
- Ngăn cản.
- Công việc:
- Khó triển khai tự do.
- Có ý tưởng nhưng khó thực hiện.
- Sự nghiệp:
- Có tài nhưng chậm thành.
- Dễ gặp hoàn cảnh không thuận.
- Tâm lý:
- Dễ cảm giác:
- Bất lực.
- Bị giữ chân.
- Sinh không gặp thời.
---
LV. MẶT KHÁC CỦA LA VÕNG
- Tuy nhiên:
- La Võng không nhất thiết chỉ có ý nghĩa tiêu cực.
- Sự gò bó lâu ngày có thể khiến:
- Con người:
- Nhẫn hơn.
- Kỹ hơn.
- Biết chờ thời.
- Khi gặp thời:
- Sức bật có thể rất lớn.
- Vì vậy:
- Có người tiền vận khó.
- Nhưng trung hậu vận lại phát rất mạnh.
---
LVI. NHÓM SAO NÀO NGẠI LA VÕNG HƠN?
- Ngại hơn:
- Tử Vi.
- Thiên Phủ.
- Thất Sát.
- Phá Quân.
- Tham Lang.
- Vì:
- Những sao này cần:
- Quyền hành.
- Không gian hành động.
- Khả năng tranh đấu.
- Khi bị “lưới” trói:
- Dễ sinh:
- Bức bối.
- Khó phát huy.
---
LVII. NHÓM SAO NÀO DỄ THÍCH ỨNG HƠN?
- Nhóm:
- Thiên Cơ.
- Thái Âm.
- Thiên Đồng.
- Thiên Lương.
- Có tính:
- Mềm.
- Uyển chuyển.
- Vì vậy:
- Có thể thích nghi với hoàn cảnh bó buộc tốt hơn.
- Không có nghĩa:
- Hoàn toàn không chịu ảnh hưởng.
- Mà là:
- Khả năng xoay sở cao hơn.
---
LVIII. Ý NGHĨA SÂU CỦA HÌNH TƯỢNG “LƯỚI”
- “Lưới” không nhất thiết là:
- Nhà tù.
- Bế tắc tuyệt đối.
- Có thể là:
- Hoàn cảnh.
- Gia đình.
- Xã hội.
- Thời thế.
- Trách nhiệm.
- Những giới hạn khiến cá nhân chưa thể hành động tự do.
- Do đó:
- Một người có La Võng chưa chắc thiếu tài.
- Có khi:
- Tài rất lớn.
- Nhưng thời điểm chưa đến.
---
LIX. ĐIỂM CỐT LÕI CỦA QUAN ĐIỂM THIÊN LƯƠNG
- Quan điểm của tác giả có thể cô đọng như sau:
- **Thìn – Tuất không tự động là La Võng.**
- **Đà La mới là yếu tố quan trọng tạo ra lưới.**
- **Phải xét đúng Kình – Đà theo Lộc Tồn.**
- **Phải xét can tuổi và Âm Dương nam nữ.**
- **Phải xét Tuần – Triệt để biết lưới mạnh hay yếu.**
- **Không thể thấy Mệnh Thìn/Tuất rồi phán người đó bị bó tay cả đời.**
---
LX. KẾT LUẬN CHUNG
- Theo *Tử Vi Nghiệm Lý Toàn Thư*:
- Quan niệm đơn giản rằng:
- Thìn = Thiên La.
- Tuất = Địa Võng.
là chưa đủ.
- Muốn hình thành Thiên La – Địa Võng thực sự:
- Phải xét:
- **Đà La**.
- Trong đó:
- Đà La ở **Thìn**:
- Thành **Thiên La**.
- Đà La ở **Tuất**:
- Thành **Địa Võng**.
- Nếu không có Đà La:
- Mệnh – Thân ở Thìn/Tuất:
- Vẫn có thể tung hoành.
- Vẫn có thể thành công lớn.
- Khi Đà La tạo La Võng:
- Mức độ còn phụ thuộc:
- Tuần.
- Triệt.
- Can tuổi.
- Âm Dương.
- Nam nữ.
- Chính Tinh.
- Những can theo bài cần chú ý:
- **Thiên La:**
- Ất.
- Bính.
- Mậu.
- **Địa Võng:**
- Tân.
- Nhâm.
- **Ít hoặc không liên lụy:**
- Giáp.
- Đinh.
- Kỷ.
- Canh.
- Quý.
- Vì vậy, có thể cô đọng toàn bộ bài bằng các ý:
- **La Võng không nằm ở địa chi đơn thuần.**
- **Đà La mới là chiếc lưới.**
- **Thìn – Tuất là nơi chiếc lưới có thể phát huy sức trói mạnh.**
- **Tuần có thể nới lưới.**
- **Triệt có thể phá lưới.**
- **Có La Võng không đồng nghĩa cả đời thất bại.**
- **Khi lưới được tháo, người có năng lực mạnh vẫn có thể phát rất lớn.**
- **Luận Thiên La – Địa Võng phải xét toàn cục, không được máy móc.**
Nguồn : Đạo Quán - Thầy Nguyễn Đình Trường Biên Soạn