Bát Tự
Dịch Mã trong Tứ Trụ: Cách tra và luận giải
Tìm hiểu Dịch Mã trong Tứ Trụ: đặc tính, cách tra, ý nghĩa tại từng trụ, quan hệ phối hợp và những điểm cần đối chiếu.
Các nội dung dưới đây trình bày cách luận Bát Tự, Tứ Trụ và Can Chi theo quan niệm truyền thống. Cần đối chiếu toàn bộ lá số, tiết khí và hoàn cảnh thực tế khi vận dụng; không dùng một thần sát hay một năm sinh riêng lẻ để kết luận về cuộc đời, sức khỏe hoặc tài chính.
Tên gọi: Dịch Mã , có tài liệu ghi Trạch Mã
Phân loại: Động tinh, lưỡng tính
Mốc tra: Chi năm và chi ngày, theo tam hợp cục
Bản chất: Chi xung vị Trường Sinh của cục
Chủ về: Di chuyển, đổi chỗ, đi xa, thăng chuyển
Chỉ nằm ở: Dần, Thân, Tỵ, Hợi (tứ sinh)
Hợp gặp: Lộc, Tài Quan hỷ dụng, Thiên Ất
Kỵ gặp: Không Vong, bị hợp trói, là kỵ thần mà bị xung
Tổng quan: Dịch Mã (Trạch Mã)
Đừng nhìn một sao. Cách cục mới là gốc. Trong hệ thống thần sát Tử Bình cổ truyền được Tam Mệnh Thông Hội của Vạn Dân Anh và Tử Bình Chân Thuyên của Thẩm Hiếu Chiêm khảo luận nghiêm mật, Dịch Mã (Trạch Mã) tuyệt đối không phải là một nhãn định mệnh cát hung bất biến đứng tách rời khỏi quy luật sinh khắc, mà là một chỉ dấu khí số đặc thù phản ánh trạng thái hội tụ giữa Thiên Can, Địa Chi cùng trường lực Nguyệt Lệnh trên toàn cục bốn trụ Năm, Tháng, Ngày, Giờ. Có Dịch Mã chưa hẳn đã phúc. Vắng Dịch Mã chưa chắc đã họa. Mọi sự ứng nghiệm đều quy về Dụng Thần.
- Danh xưng & Hán tự nguyên bản: Dịch Mã , có tài liệu ghi Trạch Mã, phiên âm Hán Việt chuẩn Yì Mǎ, thuộc nhóm Động tinh, lưỡng tính.
- Khẩu quyết & Pháp khởi sao theo Can/Chi: Tra theo mốc Chi năm và chi ngày, theo tam hợp cục; khẩu quyết cổ truyền ghi nhận: "Thân Tý Thìn mã tại Dần, Dần Ngọ Tuất mã tại Thân, Tỵ Dậu Sửu mã tại Hợi, Hợi Mão Mùi mã tại Tỵ.", phản ánh bản chất Chi xung vị Trường Sinh của cục và chủ quản trực tiếp về Di chuyển, đổi chỗ, đi xa, thăng chuyển.
- Biểu hiện qua 4 Cung Vị (Năm – Tháng – Ngày – Giờ): Tại Niên trụ ứng vào căn cơ tổ phụ (Chỉ có được khi tra theo chi ngày (Mã theo chi năm không rơi vào chính trụ năm)); tại Nguyệt trụ chi phối cương lĩnh sự nghiệp thanh niên (Mạnh nhất vì nằm ở nguyệt lệnh; Mã đắc lệnh động rõ); tại Nhật trụ tác động thẳng vào Phối Ngẫu cung (Chỉ có được khi tra theo chi năm (quy luật 3)); tại Thời trụ kết quả ở con cái và hậu vận (Trụ giờ là "cửa ra" của lá số, Mã ở đây dễ ứng việc định cư về sau).
- Nguyên tắc phối Dụng Thần – Cách Cục (*Tam Mệnh Thông Hội*): Khi chi hoặc can mang Dịch Mã đồng thời là Hỷ Thần, Dụng Thần hoặc hội cùng Lộc, Tài Quan hỷ dụng, Thiên Ất, năng lượng của sao sẽ phát lộ mặt tinh anh, trợ lực đắc cách; ngược lại khi rơi vào Kỵ Thần, Cừu Thần hoặc ngộ Hình, Xung, Phá, Hại, Không Vong và Kỵ Thần vượng tướng, hung tính lập tức bộc phát hoặc cát khí hóa hư không.
Lấy sinh khắc làm thể. Lấy thần sát làm dụng. Đó là kỷ luật sắt của khoa mệnh lý chính tông khi luận đoán Dịch Mã (Trạch Mã) trên mọi lá số thực tế, giúp người xem nhận diện đúng thời điểm kích hoạt cát khí trong Đại Vận – Lưu Niên từ 2026 đến 2037 mà không sa vào lối đoán mò hù dọa.
Từ Ngựa Trạm Đến Sao Trong Lá Số
Đừng nhìn một sao. Cách cục mới là gốc. Chữ (dịch) nghĩa là trạm. Từ thời cổ, triều đình đặt các trạm dịch dọc đường lớn, cứ một chặng lại có ngựa khỏe thay phiên, để công văn và quan lại đi xa không phải dừng. Dịch Mã là con ngựa của trạm: lúc nào cũng sẵn sàng lên đường.
Đó là phép biện chứng. Sinh khắc quyết định tất cả. Khoa Tử Bình mượn hình ảnh này đặt tên cho một thần sát chủ về sự động: dời chỗ ở, đổi việc, đi xa, công tác, thăng chuyển. Một số tài liệu tiếng Việt ghi là "Trạch Mã"; theo chữ Hán gốc thì đọc Dịch Mã mới sát nghĩa.
Xét kỹ Nguyệt Lệnh. Đừng đoán mò cảm tính. Cũng như mọi thần sát, Dịch Mã không phải là một ngôi sao thật trên trời. Nó là một quy tắc địa chi, rút ra từ tam hợp cục và vòng Trường Sinh. Phần 3 sẽ cho thấy quy tắc ấy chặt chẽ đến mức có thể tự suy ra mà không cần học thuộc.
,,,,?
Cách cục bát tự chuyên lấy nguyệt lệnh phối với bốn trụ. Còn tinh thần tốt xấu, đã không thể dùng vào sinh khắc, thì sao nắm được quyền thành bại?
Thẩm Hiếu Chiêm, Tử Bình Chân Thuyên, thiên Luận Tinh Thần Vô Quan Cách Cục
Lời Thẩm Hiếu Chiêm là thước đo cho cả bài. Dịch Mã chỉ cho biết có động. Động ấy là thăng tiến hay bôn ba thì phải xem chi Mã mang Thập Thần gì với Nhật Chủ, là hỷ hay kỵ, có bị xung, hợp, Không Vong hay không. Bài này đi đúng thứ tự đó, thay vì dừng ở câu "có Mã là đi xa".
Đừng đoán mò. Phải xét toàn cục. Cách cục là gốc. Trong thực tiễn giải đoán hàng ngàn lá số Bát Tự cổ kim theo pháp chính tông của Tam Mệnh Thông Hội và Tử Bình Chân Thuyên, một ngôi Dịch Mã (Trạch Mã) chỉ thực sự kết tinh thành phúc lộc bền vững hay biến tướng thành tai ách bất ngờ khi người luận đặt nó vào đúng hệ quy chiếu của Nguyệt Lệnh, xét rõ khí chất Chi xung vị Trường Sinh của cục có thông căn thấu cán trên bốn trụ và hòa nhịp sinh khắc với Dụng Thần điều hầu hay không. Gốc vững thì ngọn bền. Đó là chân truyền.
Khẩu Quyết Và Bảng Tra Mở Rộng
Gốc vững thì cành bền. Nhật Chủ là trung tâm. Cách an Dịch Mã gói trong bốn vế ngắn, được chép lại ở hầu hết sách thần sát đời sau. Người học thường thuộc lòng để tra nhanh.
,,,。
Thân Tý Thìn mã tại Dần, Dần Ngọ Tuất mã tại Thân,Tỵ Dậu Sửu mã tại Hợi, Hợi Mão Mùi mã tại Tỵ.
Chi thuộc nhóm Thân Tý Thìn thì Mã ở Dần; nhóm Dần Ngọ Tuất thì Mã ở Thân; nhóm Tỵ Dậu Sửu thì Mã ở Hợi; nhóm Hợi Mão Mùi thì Mã ở Tỵ.
Khẩu quyết lưu truyền trong các sách thần sát Tử Bình
Thân, Tý, Thìn
- Tam hợp cục: Thủy cục
- Trường Sinh của cục: Thân
- Dịch Mã tại: Dần
- Ngũ hành chi Mã: Mộc
- Phương vị: Đông Bắc
Dần, Ngọ, Tuất
- Tam hợp cục: Hỏa cục
- Trường Sinh của cục: Dần
- Dịch Mã tại: Thân
- Ngũ hành chi Mã: Kim
- Phương vị: Tây Nam
Tỵ, Dậu, Sửu
- Tam hợp cục: Kim cục
- Trường Sinh của cục: Tỵ
- Dịch Mã tại: Hợi
- Ngũ hành chi Mã: Thủy
- Phương vị: Tây Bắc
Hợi, Mão, Mùi
- Tam hợp cục: Mộc cục
- Trường Sinh của cục: Hợi
- Dịch Mã tại: Tỵ
- Ngũ hành chi Mã: Hỏa
- Phương vị: Đông Nam
Thần sát chỉ là ngọn. Ngũ hành mới là rễ. Cách dùng: lấy chi năm, xác định nó thuộc nhóm tam hợp nào, tra ra chi Mã. Trong bốn trụ, trụ nào có địa chi trùng chi Mã thì trụ đó mang Dịch Mã. Làm lại một lần nữa với chi ngày. Dịch Mã là sao của địa chi, không xét ở thiên can.
Cát hung không cố định. Biến thông ở Dụng Thần. Ví dụ: người sinh năm Ngọ thuộc nhóm Dần Ngọ Tuất, Mã ở Thân. Nếu chi ngày là Hợi thì nhóm Hợi Mão Mùi, Mã ở Tỵ. Như vậy lá số này có hai chi cần dò: Thân (theo chi năm) và Tỵ (theo chi ngày).
Chi năm hay chi ngày? Sách cổ phần lớn lấy chi năm làm gốc, vì thần sát tam hợp vốn khởi từ Thái Tuế. Về sau nhiều nhà lấy thêm chi ngày, vì trụ ngày là bản thân. Công cụ lập lá số của trang xét cả hai mốc và ghi rõ sao được tra theo mốc nào. Khi luận, Mã theo chi ngày nói nhiều về chuyện đi lại của chính người đó; Mã theo chi năm nghiêng về hoàn cảnh gia đình, thời thế đẩy mình đi. Nếu chi năm và chi ngày cùng một nhóm tam hợp thì hai mốc cho cùng một chi Mã.
Tra sao phải chuẩn mốc. Sai một chi, lệch cả cục. Sơ đồ vòng mười hai địa chi phía trên cho thấy rõ vì sao cổ nhân trong Tam Mệnh Thông Hội luôn yêu cầu người học Bát Tự phải đối chiếu đồng thời cả trục Niên Chi lẫn trục Nhật Chủ trước khi kết luận một trụ có thực sự đắc Dịch Mã (Trạch Mã) hay chỉ là hư tượng thoáng qua ngoài lề.
Vì Sao An Như Vậy: Dịch Mã Là Chi Xung Vị Trường Sinh
Nhìn cột thứ ba và thứ tư của bảng trên sẽ thấy quy luật: Dịch Mã luôn là chi xung với vị Trường Sinh của tam hợp cục. Thủy cục sinh ở Thân, Mã ở Dần; Hỏa cục sinh ở Dần, Mã ở Thân; Kim cục sinh ở Tỵ, Mã ở Hợi; Mộc cục sinh ở Hợi, Mã ở Tỵ.
Hiểu lý thì không sợ. Biết mệnh để tự chủ. Trường Sinh là nơi khí của cục bắt đầu. Chi đối xung với nơi bắt đầu là chỗ khí ấy bị kéo bật ra ngoài. Người xưa gọi đó là ngựa: đã xung thì phải chạy.
Đặt Dịch Mã vào vòng mười hai cung Trường Sinh của cục, ta thấy nó rơi đúng vào cung Bệnh. Thủy cục: Trường Sinh Thân, Mộc Dục Dậu, Quan Đới Tuất, Lâm Quan Hợi, Đế Vượng Tý, Suy Sửu, Bệnh Dần. Cách nhìn này giải thích vì sao Mã mang tính "không yên": khí đã qua đỉnh vượng, đang suy dần, nên phải đi tìm chỗ khác. Đồng thời chi Mã cũng chính là vị Trường Sinh của cục đối diện (Dần là nơi Hỏa cục khởi sinh), tức là chỗ một chu kỳ mới đang mở ra ở phương xa.
Một vòng, bảy thần sát
Cung vị phân xa gần. Lục thân hiện rõ nét. Dịch Mã không đứng riêng. Cả nhóm thần sát tra theo tam hợp thực chất là các cung trong cùng một vòng Trường Sinh của cục. Lấy nhóm Thân Tý Thìn (Thủy cục) làm ví dụ:
Trường Sinh
- Thân Tý Thìn: Thân
- Dần Ngọ Tuất: Dần
- Tỵ Dậu Sửu: Tỵ
- Hợi Mão Mùi: Hợi
- Thần sát tương ứng: điểm khởi của cục
Mộc Dục
- Thân Tý Thìn: Dậu
- Dần Ngọ Tuất: Mão
- Tỵ Dậu Sửu: Ngọ
- Hợi Mão Mùi: Tý
- Thần sát tương ứng: Đào Hoa
Lâm Quan
- Thân Tý Thìn: Hợi
- Dần Ngọ Tuất: Tỵ
- Tỵ Dậu Sửu: Thân
- Hợi Mão Mùi: Dần
- Thần sát tương ứng: Vong Thần
Đế Vượng
- Thân Tý Thìn: Tý
- Dần Ngọ Tuất: Ngọ
- Tỵ Dậu Sửu: Dậu
- Hợi Mão Mùi: Mão
- Thần sát tương ứng: Tướng Tinh
Bệnh
- Thân Tý Thìn: Dần
- Dần Ngọ Tuất: Thân
- Tỵ Dậu Sửu: Hợi
- Hợi Mão Mùi: Tỵ
- Thần sát tương ứng: Dịch Mã
Mộ
- Thân Tý Thìn: Thìn
- Dần Ngọ Tuất: Tuất
- Tỵ Dậu Sửu: Sửu
- Hợi Mão Mùi: Mùi
- Thần sát tương ứng: Hoa Cái
Tuyệt
- Thân Tý Thìn: Tỵ
- Dần Ngọ Tuất: Hợi
- Tỵ Dậu Sửu: Dần
- Hợi Mão Mùi: Thân
- Thần sát tương ứng: Kiếp Sát
Thai
- Thân Tý Thìn: Ngọ
- Dần Ngọ Tuất: Tý
- Tỵ Dậu Sửu: Mão
- Hợi Mão Mùi: Dậu
- Thần sát tương ứng: Tai Sát
Bảng này khớp hoàn toàn với bảng tra mà công cụ lập lá số của trang đang dùng. Nắm được vòng này thì chỉ cần nhớ bốn vị Trường Sinh (Thân, Dần, Tỵ, Hợi) là suy ra cả bảy sao, không cần thuộc bảy bảng riêng. Nó cũng cho thấy vì sao Dịch Mã luôn đứng sau Tướng Tinh đúng hai cung, sau Đào Hoa năm cung, và luôn xung đúng chi Trường Sinh của nhóm mình.
Cổ nhân rất trọng lý. Không bao giờ nói suông. Thần sát chỉ là ngọn. Nếu một lá số tuy hiện diện Dịch Mã (Trạch Mã) theo đúng mốc khởi Chi năm và chi ngày, theo tam hợp cục nhưng Nhật Chủ lại quá suy nhược không đủ nội lực gánh vác, hoặc địa chi mang sao rơi vào lưới Hình, Xung, Phá, Hại, Không Vong và Kỵ Thần vượng tướng mà thiếu hẳn các cát thần hay tương thần như Lộc, Tài Quan hỷ dụng, Thiên Ất đứng ra thông quan cứu ứng, thì biểu hiện Di chuyển, đổi chỗ, đi xa, thăng chuyển trên thực tế sẽ đảo chiều từ cát sang hung hoặc chỉ còn lại hư danh bề ngoài. Xem mệnh cần tỉnh táo. Phép cân bằng là tối thượng.
Bốn Quy Luật Ẩn Trong Bảng Tra
Hợp chưa chắc đã lành. Xung chưa hẳn đã dữ. Khi đã hiểu Dịch Mã là xung vị Trường Sinh, nhìn lại bảng sẽ thấy bốn quy luật mà ít tài liệu nói ra, nhưng ảnh hưởng trực tiếp đến cách luận.
Quy luật 1: Mã chỉ ở tứ sinh, mười hai năm chỉ có bốn năm Mã
Bốn chi Mã là Dần, Thân, Tỵ, Hợi, thường gọi là tứ sinh hay tứ Mã địa. Tý Ngọ Mão Dậu và Thìn Tuất Sửu Mùi không bao giờ là Dịch Mã. Hệ quả: trong mỗi vòng mười hai năm, chỉ có bốn năm có địa chi là chi Mã, mỗi năm ứng cho đúng một nhóm tam hợp. Bốn chi tứ sinh cũng là bốn vị Lộc của can dương (Giáp Lộc Dần, Bính Mậu Lộc Tỵ, Canh Lộc Thân, Nhâm Lộc Hợi), nên Mã và Lộc có duyên gặp nhau ở cùng một chi, xem quy luật 4.
Quy luật 2: Chi gốc thuộc tứ sinh thì Mã chính là chi xung chính nó
Đây là điểm quan trọng nhất mà hầu như không bài viết nào nhắc. Với người có chi ngày (hoặc chi năm) là Dần, Thân, Tỵ, Hợi, vì chi đó chính là vị Trường Sinh của nhóm mình, nên chi Mã chính là chi xung thẳng vào nó: Dần gặp Mã Thân, Thân gặp Mã Dần, Tỵ gặp Mã Hợi, Hợi gặp Mã Tỵ. Với cặp Dần Thân còn thêm quan hệ hình. Nghĩa là khi lá số của người chi ngày tứ sinh có Dịch Mã (theo chi ngày), thì cung phu thê đồng thời bị xung. Mã của họ động mạnh và thường kéo theo biến động ở chỗ ở, ở hôn nhân, chứ không chỉ là "đi công tác".
Không Vong làm giảm lực. Điền thực lại phát uy. Ngược lại, với chi gốc thuộc tứ chính (Tý, Ngọ, Mão, Dậu) hay tứ khố (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi), chi Mã không có quan hệ xung, hình, hợp, hại nào với chi gốc. Mã của họ động "nhẹ" hơn, thiên về đi lại, công việc.
Quy luật 3: Không ai tự tọa Dịch Mã theo chi ngày
Chi Mã luôn thuộc nhóm tam hợp đối diện, nên không bao giờ trùng với chính chi gốc. Vì vậy không có ngày sinh nào "tự tọa Dịch Mã" nếu tra theo chính chi ngày. Khi nói "Dịch Mã ở trụ ngày", ta luôn đang nói Mã tra theo chi năm. Ví dụ người sinh năm Tý, ngày Dần: Mã theo chi năm Tý là Dần, rơi đúng chi ngày.
Quy luật 4: Lộc và Mã cùng một chi chỉ xảy ra ở sáu ngày
Can âm có Lộc ở tứ chính (Ất Mão, Đinh Kỷ Ngọ, Tân Dậu, Quý Tý), nên Lộc của can âm không bao giờ trùng Mã. Can dương có Lộc ở tứ sinh, nhưng vì can dương chỉ đi với chi dương, tính kỹ chỉ còn sáu ngày mà chi Mã (theo chi ngày) trùng đúng Lộc của can ngày: Giáp Tý, Giáp Thìn, Giáp Thân (Mã và Lộc cùng ở Dần) và Canh Dần, Canh Ngọ, Canh Tuất (Mã và Lộc cùng ở Thân). Người sinh ngày Bính, Mậu, Nhâm không thể có Lộc trùng Mã theo chi ngày, vì nhóm cho Mã ở Tỵ hay Hợi toàn là chi âm.
Vượng suy phân ranh giới. Hỷ kỵ định thành bại. Mẹo nhớ nhanh: chi gốc tứ sinh thì Mã xung chính mình; chi gốc tứ chính, tứ khố thì Mã đi riêng. Muốn Lộc Mã cùng chi theo chi ngày, chỉ có ngày Giáp trên Tý Thìn Thân và ngày Canh trên Dần Ngọ Tuất.
Lý thuyết đi đôi thực chứng. Hãy nhìn kỹ bốn trụ. Cung vị phân xa gần. Khi đối chiếu vị trí của Dịch Mã lần lượt từ Niên trụ, Nguyệt trụ sang Nhật trụ và Thời trụ, người nghiên cứu mệnh lý sâu sắc sẽ nhận ra mỗi cung vị đóng vai trò như một buồng cộng hưởng thời gian khác nhau, có người phát lộ năng lượng sao ngay từ thuở thiếu thời nhờ phúc ấm tổ tiên, nhưng cũng có người phải đợi đến trung niên hoặc hậu vận khi Đại Vận điền thực Không Vong mới thực sự bừng sáng. Thời vận có nhịp riêng. Kiên nhẫn mới thành đại sự.
Bảng 60 Hoa Giáp: Mã Lạc Không Vong Và Lộc Mã Cùng Chi
Cổ thư chép rất nghiêm. Thực chứng càng sáng tỏ. Không Vong được tính theo tuần giáp của trụ ngày. Đối chiếu sáu tuần với chi Mã theo chi ngày của từng ngày trong 60 hoa giáp, kết quả là 12 ngày có Mã rơi đúng vào Không Vong của chính ngày đó, chia đều cho bốn tuần, mỗi tuần ba ngày. Hai tuần còn lại không có ngày nào.
Giáp Tý
- Không Vong: Tuất, Hợi
- Chi Mã bị rỗng: Hợi
- Ngày Mã (theo chi ngày) lạc Không Vong: Ất Sửu, Kỷ Tỵ, Quý Dậu
Giáp Tuất
- Không Vong: Thân, Dậu
- Chi Mã bị rỗng: Thân
- Ngày Mã (theo chi ngày) lạc Không Vong: Giáp Tuất, Mậu Dần, Nhâm Ngọ
Giáp Thân
- Không Vong: Ngọ, Mùi
- Chi Mã bị rỗng: không có
- Ngày Mã (theo chi ngày) lạc Không Vong: Không ngày nào (Ngọ Mùi không phải chi Mã)
Giáp Ngọ
- Không Vong: Thìn, Tỵ
- Chi Mã bị rỗng: Tỵ
- Ngày Mã (theo chi ngày) lạc Không Vong: Ất Mùi, Kỷ Hợi, Quý Mão
Giáp Thìn
- Không Vong: Dần, Mão
- Chi Mã bị rỗng: Dần
- Ngày Mã (theo chi ngày) lạc Không Vong: Giáp Thìn, Mậu Thân, Nhâm Tý
Giáp Dần
- Không Vong: Tý, Sửu
- Chi Mã bị rỗng: không có
- Ngày Mã (theo chi ngày) lạc Không Vong: Không ngày nào (Tý Sửu không phải chi Mã)
Hai điểm đáng chú ý. Thứ nhất, Giáp Thìn nằm trong cả hai danh sách: nó là một trong sáu ngày Lộc Mã cùng chi (Dần), nhưng cũng là ngày Dần lạc Không Vong. Lộc Mã cùng chi mà rỗng thì cái đẹp chỉ còn một nửa, phải đợi tuế vận lấp. Thứ hai, năm ngày còn lại của nhóm Lộc Mã cùng chi (Giáp Tý, Giáp Thân, Canh Dần, Canh Ngọ, Canh Tuất) đều không bị Không Vong, nên khi gặp chi Mã trong trụ là Lộc Mã "thực".
Lộc Mã cùng chi
- Các ngày trong 60 hoa giáp: Giáp Tý, Giáp Thìn, Giáp Thân, Canh Dần, Canh Ngọ, Canh Tuất
- Ý nghĩa khi luận: Có chi Mã trong trụ thì đồng thời có Lộc; đi xa có chỗ dựa, dễ "đi đâu có lộc đó"
Nhật chi xung Mã
- Các ngày trong 60 hoa giáp: Tất cả ngày có chi Dần, Thân, Tỵ, Hợi (20 ngày)
- Ý nghĩa khi luận: Gặp Mã theo chi ngày là cung phu thê bị xung, xem quy luật 2
Mã lạc Không Vong
- Các ngày trong 60 hoa giáp: 12 ngày ở bảng trên
- Ý nghĩa khi luận: Mã có mà rỗng: muốn đi mà lỡ, đi mà chưa tới, cần đợi năm lấp Không
Đừng kết luận vội: sinh vào một trong 12 ngày trên chỉ có nghĩa là nếu lá số có chi Mã (theo chi ngày) thì Mã ấy lạc Không Vong. Nếu bốn trụ không có chi đó thì vấn đề không đặt ra. Mã tra theo chi năm cũng cần đối chiếu riêng với Không Vong của ngày. Ngoài ra Không Vong có thể được lấp khi gặp xung hay khi tuế vận đi tới, xem phần 7.
Tránh lối luận máy móc. Hãy đọc bằng sinh khắc. Thập Thần định chân giả. Mọi sai lầm phổ biến nhất của người mới học khi xem Dịch Mã (Trạch Mã) đều bắt nguồn từ việc tách rời danh xưng thần sát khỏi bản chất Thập Thần, quên mất rằng cùng một địa chi khởi sao nhưng đối với thiên can ngày này là Ấn tinh che chở hay Thực Thần tiết tú, đối với thiên can ngày khác lại là Thất Sát khắc thân hay Kiếp Tài tranh đoạt. Hiểu Thập Thần là hiểu người. Hiểu Dụng Thần là hiểu mệnh.
Luận Dịch Mã Theo Thập Thần Và Vượng Suy
Đọc lá số cần tĩnh. Nhìn toàn cục mới chuẩn. Con ngựa chỉ là phương tiện. Điều quyết định là nó chở gì. Chi Mã mang một ngũ hành, ngũ hành ấy đối với Nhật Chủ là một Thập Thần cụ thể: Tài, Quan, Ấn, Thực Thương hay Tỷ Kiếp.
Đắc thời thì hưng vượng. Thất thế dễ hao tổn. Bảng dưới lấy tàng can chính khí của bốn chi Mã (Dần Giáp, Thân Canh, Tỵ Bính, Hợi Nhâm) đối với từng can ngày.
Giáp
- Mã Dần (Mộc): Tỷ Kiên (Lộc)
- Mã Thân (Kim): Thất Sát
- Mã Tỵ (Hỏa): Thực Thần
- Mã Hợi (Thủy): Thiên Ấn
Ất
- Mã Dần (Mộc): Kiếp Tài
- Mã Thân (Kim): Chính Quan
- Mã Tỵ (Hỏa): Thương Quan
- Mã Hợi (Thủy): Chính Ấn
Bính
- Mã Dần (Mộc): Thiên Ấn
- Mã Thân (Kim): Thiên Tài
- Mã Tỵ (Hỏa): Tỷ Kiên (Lộc)
- Mã Hợi (Thủy): Thất Sát
Đinh
- Mã Dần (Mộc): Chính Ấn
- Mã Thân (Kim): Chính Tài
- Mã Tỵ (Hỏa): Kiếp Tài
- Mã Hợi (Thủy): Chính Quan
Mậu
- Mã Dần (Mộc): Thất Sát
- Mã Thân (Kim): Thực Thần
- Mã Tỵ (Hỏa): Thiên Ấn (Lộc)
- Mã Hợi (Thủy): Thiên Tài
Kỷ
- Mã Dần (Mộc): Chính Quan
- Mã Thân (Kim): Thương Quan
- Mã Tỵ (Hỏa): Chính Ấn
- Mã Hợi (Thủy): Chính Tài
Canh
- Mã Dần (Mộc): Thiên Tài
- Mã Thân (Kim): Tỷ Kiên (Lộc)
- Mã Tỵ (Hỏa): Thất Sát
- Mã Hợi (Thủy): Thực Thần
Tân
- Mã Dần (Mộc): Chính Tài
- Mã Thân (Kim): Kiếp Tài
- Mã Tỵ (Hỏa): Chính Quan
- Mã Hợi (Thủy): Thương Quan
Nhâm
- Mã Dần (Mộc): Thực Thần
- Mã Thân (Kim): Thiên Ấn
- Mã Tỵ (Hỏa): Thiên Tài
- Mã Hợi (Thủy): Tỷ Kiên (Lộc)
Quý
- Mã Dần (Mộc): Thương Quan
- Mã Thân (Kim): Chính Ấn
- Mã Tỵ (Hỏa): Chính Tài
- Mã Hợi (Thủy): Kiếp Tài
Một chi động toàn cục. Tàng can ẩn huyền cơ. Đọc bảng theo hàng can ngày của mình rồi đối chiếu với chi Mã thực có trong lá số. Mậu Lộc tại Tỵ theo lý Hỏa Thổ đồng cung, nhưng tàng can chính khí của Tỵ là Bính, nên đối với Mậu, Tỵ vừa là Lộc vừa mang khí Thiên Ấn.
Tài tinh
- Động vì việc gì: Đi vì tiền, vì việc làm ăn
- Khi là hỷ dụng: Đi xa cầu tài thì được, hợp thương mại, kinh doanh nhiều vùng
- Khi là kỵ thần: Chạy theo tiền mà hao sức, thân nhược càng đi càng mệt
Quan Sát
- Động vì việc gì: Đi vì công vụ, vì tổ chức điều động
- Khi là hỷ dụng: Thăng chuyển, được cử đi nhận chức, công tác có danh
- Khi là kỵ thần: Bị điều động ngoài ý muốn, áp lực, đi vì bị ép
Ấn tinh
- Động vì việc gì: Đi vì học, vì giấy tờ, nhà cửa
- Khi là hỷ dụng: Du học, đi học xa, được che chở nơi xa
- Khi là kỵ thần: Dời đổi chỗ ở nhiều, học hành dang dở vì phải chuyển
Thực Thương
- Động vì việc gì: Đi để biểu diễn, sáng tạo, trình bày
- Khi là hỷ dụng: Lưu diễn, giảng dạy nhiều nơi, sáng tạo nhờ đổi môi trường
- Khi là kỵ thần: Bốc đồng bỏ đi, nói đi là đi, dễ va chạm cấp trên
Tỷ Kiếp
- Động vì việc gì: Đi cùng bạn bè, đồng nghiệp, đối thủ
- Khi là hỷ dụng: Có bạn đồng hành, mở rộng mạng lưới
- Khi là kỵ thần: Đi vì cạnh tranh, hao tài vì người cùng đi
Lớp thứ hai là vượng suy. Thân vượng thì "cưỡi được ngựa": Mã là Tài, Quan hay Thực Thương đều dễ thành việc. Thân nhược thì ngựa khỏe hóa ra kéo người ngã: Mã là Tài hay Sát càng vượng càng khổ, chỉ Mã mang Ấn hoặc Tỷ Kiếp (tức chi Mã là Lộc) mới thật sự đỡ thân. Đây là lý do cùng một Dịch Mã ở trụ tháng, có người thăng chức nhờ được cử đi xa, có người bôn ba cả đời không yên.
Mã không quyết định đi hay ở. Mã quyết định có phải đi. Đi về đâu, được gì, mất gì, là chuyện của Thập Thần và vượng suy.
Dịch Mã (Trạch Mã)
Tu tâm chuyển nghiệp lực. Đức dày thắng sát khí. Thân vượng mới gánh nổi sát. Thân nhược gặp kỵ hóa tai ương. Bốn góc phần tư trên ma trận chính là kim chỉ nam để người học không bao giờ tách rời Dịch Mã (Trạch Mã) khỏi bài toán cân đong vượng suy của Nhật Chủ và lực điều hầu của Nguyệt Lệnh.
Xung, Hình, Hợp, Không Vong: Ngựa Bị Quất, Bị Buộc Hay Chạy Hụt
Đừng tin lời hù dọa. Hãy kiểm chứng bằng lý. Vì Dịch Mã là sao địa chi, mọi quan hệ giữa các chi đều tác động lên nó. Bảng sau tổng hợp đủ cho bốn chi Mã.
Dần
- Của nhóm: Thân Tý Thìn
- Bị xung bởi: Thân
- Hình: Tỵ, Thân (tam hình)
- Lục hợp với: Hợi
- Tam hợp cục: Dần Ngọ Tuất
Thân
- Của nhóm: Dần Ngọ Tuất
- Bị xung bởi: Dần
- Hình: Dần, Tỵ (tam hình)
- Lục hợp với: Tỵ (hợp mà hình)
- Tam hợp cục: Thân Tý Thìn
Hợi
- Của nhóm: Tỵ Dậu Sửu
- Bị xung bởi: Tỵ
- Hình: Hợi tự hình
- Lục hợp với: Dần
- Tam hợp cục: Hợi Mão Mùi
Tỵ
- Của nhóm: Hợi Mão Mùi
- Bị xung bởi: Hợi
- Hình: Dần, Thân (tam hình)
- Lục hợp với: Thân (hợp mà hình)
- Tam hợp cục: Tỵ Dậu Sửu
Xung: ngựa bị quất roi
Mã gặp xung thì động mạnh và nhanh: dời đi đột ngột, đổi việc gấp, đi xa ngoài kế hoạch. Nếu Mã là hỷ dụng, xung là "thúc ngựa", cơ hội đến nhanh. Nếu Mã là kỵ thần, xung là xáo trộn, đi không chủ động. Cần nhớ quy luật 2: với người chi ngày tứ sinh, chính nhật chi đã xung Mã, nên Mã của họ luôn ở trạng thái bị thúc.
Hợp: ngựa bị buộc
Chi Mã gặp lục hợp hoặc bị kéo vào một tam hợp cục khác thì muốn đi mà bị giữ: hồ sơ chậm, kế hoạch đi xa hoãn mãi, hoặc tâm muốn đi nhưng vướng gia đình, hợp đồng. Sách xưa có câu "tham hợp vong xung": khi chi xung Mã lại đang bận hợp với chi khác, lực xung giảm hẳn. Phải xét cả hai quan hệ cùng lúc chứ không đếm riêng.
Hình: đi mà vướng
Ba chi Dần, Tỵ, Thân vừa là chi Mã vừa hợp thành bộ tam hình. Lá số có từ hai chi trong bộ này trở lên thường có Mã đi kèm va chạm: giấy tờ, thủ tục, tranh chấp khi chuyển chỗ. Hợi thì tự hình, nên hai chi Hợi cùng là Mã dễ thành người đi đi về về, tự mình phân vân.
Không Vong và thuyết "xung Không tắc thực"
Mã lạc Không Vong như ngựa chạy hụt: có ý định đi, có kế hoạch, mà đến lúc lại không thành, hoặc đi rồi phải quay về. Tuy nhiên có thuyết cho rằng Không Vong gặp xung hoặc gặp tuế vận đi tới thì được lấp. Khi áp dụng phải hỏi xung đến từ đâu: lực xung là kỵ thần đang vượng thì đó là xung để phá, không phải xung để cứu. Một điểm ngược lại cũng đáng nói: nếu Mã là kỵ thần thì lạc Không Vong lại giảm cái hung, đỡ phải bôn ba.
Mỗi trụ một tầng nghĩa. Thời vận mở cơ duyên. Thứ tự kiểm tra chi Mã: có bị Không Vong không, có bị xung không và xung từ hỷ hay kỵ, có bị hợp trói không, có nằm trong bộ tam hình không. Bốn câu này trả lời xong thì mới nói được ngựa đang chạy, đang bị buộc hay đang hụt.
Phối Hợp Với Các Thần Sát Khác
Khí tụ thì thành hình. Khí tán thì hư ảo. Sau khi xét Thập Thần và xung hợp, mới đến lớp phối hợp thần sát. Tổ hợp được nhắc nhiều nhất là Lộc Mã giao trì: Lộc Thần và Dịch Mã cùng hiện trong lá số, nhất là cùng trụ hoặc ở hai trụ kề nhau.
Lấy trung hòa làm quý. Thái quá ắt sinh biến. Trường hợp đẹp nhất là Lộc và Mã trùng đúng một chi, chỉ có ở sáu ngày nêu tại phần 4.
Cần biết thêm: trong cổ thư, chữ "Lộc" và chữ "Mã" đôi khi được dùng theo nghĩa Thập Thần, Lộc chỉ Quan tinh, Mã chỉ Tài tinh, nên câu "Lộc Mã" trong một số đoạn văn cổ là nói Tài Quan đi cùng nhau chứ không phải hai thần sát. Đọc sách cũ nên xem văn cảnh để khỏi hiểu nhầm.
✓ Dịch Mã mừng khi gặp
- Lộc Thần: Lộc Mã giao trì, đi xa có chỗ dựa, động mà sinh lợi.
- Thiên Ất Quý Nhân: ra ngoài gặp người giúp, nơi xa có quý nhân.
- Văn Xương, Học Đường: học xa, du học, đi giảng dạy, hội thảo.
- Tướng Tinh: được cử đi giữ trọng trách, đi với vai trò dẫn dắt.
- Đào Hoa hỷ dụng: danh tiếng, duyên lành ở nơi xa, hợp nghề biểu diễn, ngoại giao.
✕ Dịch Mã e ngại khi gặp
- Kình Dương ở chi xung hoặc cùng trụ: cẩn trọng an toàn khi đi lại.
- Kiếp Sát, Vong Thần là kỵ thần: đi trong biến động, mất mát dọc đường.
- Cô Thần, Quả Tú: đi một mình, xa gia đình lâu.
- Hoa Cái quá nặng: đi để tìm sự cô tịch, dễ xa lánh người thân.
- Mã lạc Không Vong mà tuế vận chưa lấp.
Một cặp đáng nói riêng là Mã và Đào Hoa. Tra theo cùng một chi gốc, Mã luôn ở tứ sinh, Đào Hoa luôn ở tứ chính, và hai chi này không bao giờ xung, hình hay hợp với nhau. Nghĩa là hai sao vận hành độc lập: có thể đi xa mà không dính chuyện tình cảm, hoặc ngược lại. Khi cả hai cùng hỷ dụng, người ấy thường nổi tiếng ở nơi xa hơn ở quê nhà.
Sát có chế hóa quyền. Quý không gốc hóa hư. Thứ tự luận chuẩn: vượng suy Nhật Chủ, Thập Thần của chi Mã là hỷ hay kỵ, xung hình hợp Không Vong của chi Mã, cuối cùng mới đến các thần sát đi kèm. Làm ngược lại rất dễ khen nhầm một lá số bôn ba thành "Lộc Mã phú quý".
Dịch Mã (Trạch Mã)
Xem mệnh phải xem vận. Tĩnh chờ động mới ứng. Không Vong làm giảm lực. Hình xung gây biến động. Sơ đồ thứ tư chỉ rõ bốn ngả biến hóa của Dịch Mã (Trạch Mã) khi địa chi chứa sao bước vào lưới tương tác Lục Hợp, Lục Xung, Tam Hình hoặc rơi vào Tuần Không, giúp người xem tránh tuyệt đối lối luận thần sát cứng nhắc một chiều.
Tĩnh tại nguyên cục. Động ứng tuế vận. Đừng bỏ qua lưu niên. Bước vào chu kỳ mười hai năm từ Bính Ngọ 2026 đến Đinh Tỵ 2037, mỗi khi địa chi của Lưu Niên hoặc Đại Vận trùng chiếu, tam hợp, lục hợp hay trực xung với cung vị mang Dịch Mã (Trạch Mã) trong tứ trụ, dòng khí lực tiềm ẩn của sao sẽ lập tức được kích hoạt mạnh mẽ, đòi hỏi đương số phải căn cứ vào Hỷ Kỵ của năm đó để quyết định tiến công mở rộng sự nghiệp hay thu mình phòng thủ bảo toàn thành quả. Biết thời thế mới thắng. Tâm tĩnh thì trí sáng.
Dịch Mã Tọa Ở Từng Trụ
Trọng tâm ở Nhật Chi. Nguyệt Lệnh cầm cương lĩnh. Trụ chứa Mã cho biết sự di chuyển ứng vào giai đoạn nào của đời người và liên quan đến ai. Trụ tháng là nguyệt lệnh, có trọng lượng lớn nhất.
Trụ Năm
- Giai đoạn, đối tượng: Tổ tiên, thuở nhỏ
- Ý nghĩa khi có Dịch Mã: Gia đình hay chuyển chỗ, tuổi nhỏ sống nhiều nơi, gốc gác ly hương
- Lưu ý riêng: Chỉ có được khi tra theo chi ngày (Mã theo chi năm không rơi vào chính trụ năm)
Trụ Tháng
- Giai đoạn, đối tượng: Cha mẹ, anh em, thanh niên, sự nghiệp
- Ý nghĩa khi có Dịch Mã: Sự nghiệp gắn với di chuyển, công tác, đổi môi trường làm việc tuổi 18 đến 35
- Lưu ý riêng: Mạnh nhất vì nằm ở nguyệt lệnh; Mã đắc lệnh động rõ
Trụ Ngày
- Giai đoạn, đối tượng: Bản thân, phối ngẫu
- Ý nghĩa khi có Dịch Mã: Bản thân năng động, bạn đời làm việc xa hoặc quen nhau ở nơi xa
- Lưu ý riêng: Chỉ có được khi tra theo chi năm (quy luật 3)
Trụ Giờ
- Giai đoạn, đối tượng: Con cái, hậu vận
- Ý nghĩa khi có Dịch Mã: Hậu vận đi xa, con cái học hành, lập nghiệp ở phương xa
- Lưu ý riêng: Trụ giờ là "cửa ra" của lá số, Mã ở đây dễ ứng việc định cư về sau
Biết tiến thoái đúng lúc. Đó là đạo dùng người. Lưu ý cột cuối: vì Mã không bao giờ trùng chi gốc, nên Mã theo chi năm chỉ có thể ở trụ tháng, ngày, giờ; Mã theo chi ngày chỉ có thể ở trụ năm, tháng, giờ. Công cụ lập lá số của trang cũng không xét một trụ với chính chi của nó, đúng theo nguyên tắc này.
Dịch Mã (Trạch Mã)
Đừng nhìn một sao. Cách cục mới là gốc. Mỗi trụ một cung mệnh. Mỗi cung một vận hạn. Nhìn vào sơ đồ bốn trụ Năm, Tháng, Ngày, Giờ, người luận số có thể định vị ngay lập tức Dịch Mã (Trạch Mã) đang tác động vào thế hệ nào trong gia tộc và sẽ bộc phát mạnh nhất ở độ tuổi nào của cuộc đời đương số.
Tuế Vận: Năm Mã Động Từ 2026 Đến 2037
Xét kỹ Nguyệt Lệnh. Đừng đoán mò cảm tính. Lưu niên hoặc đại vận đi tới đúng chi Mã thì Mã được kích hoạt, kể cả khi lá số gốc không có chi đó. Còn lưu niên xung chi Mã thì chỉ có tác dụng khi lá số gốc đã có Mã: ngựa sẵn có bị thúc chạy.
Gốc vững thì cành bền. Nhật Chủ là trung tâm. Năm Bát Tự tính từ tiết Lập Xuân (khoảng 4 tháng 2 dương lịch), không phải từ Tết âm lịch.
2026
- Can chi: Bính Ngọ
- Mã đến cho chi gốc thuộc nhóm: Không nhóm nào (Ngọ là tứ chính)
- Xung Mã sẵn có của nhóm: Không
2027
- Can chi: Đinh Mùi
- Mã đến cho chi gốc thuộc nhóm: Không nhóm nào (Mùi là tứ khố)
- Xung Mã sẵn có của nhóm: Không
2028
- Can chi: Mậu Thân
- Mã đến cho chi gốc thuộc nhóm: Dần, Ngọ, Tuất
- Xung Mã sẵn có của nhóm: Thân, Tý, Thìn (xung Mã Dần)
2029
- Can chi: Kỷ Dậu
- Mã đến cho chi gốc thuộc nhóm: Không nhóm nào
- Xung Mã sẵn có của nhóm: Không
2030
- Can chi: Canh Tuất
- Mã đến cho chi gốc thuộc nhóm: Không nhóm nào
- Xung Mã sẵn có của nhóm: Không
2031
- Can chi: Tân Hợi
- Mã đến cho chi gốc thuộc nhóm: Tỵ, Dậu, Sửu
- Xung Mã sẵn có của nhóm: Hợi, Mão, Mùi (xung Mã Tỵ)
2032
- Can chi: Nhâm Tý
- Mã đến cho chi gốc thuộc nhóm: Không nhóm nào
- Xung Mã sẵn có của nhóm: Không
2033
- Can chi: Quý Sửu
- Mã đến cho chi gốc thuộc nhóm: Không nhóm nào
- Xung Mã sẵn có của nhóm: Không
2034
- Can chi: Giáp Dần
- Mã đến cho chi gốc thuộc nhóm: Thân, Tý, Thìn
- Xung Mã sẵn có của nhóm: Dần, Ngọ, Tuất (xung Mã Thân)
2035
- Can chi: Ất Mão
- Mã đến cho chi gốc thuộc nhóm: Không nhóm nào
- Xung Mã sẵn có của nhóm: Không
2036
- Can chi: Bính Thìn
- Mã đến cho chi gốc thuộc nhóm: Không nhóm nào
- Xung Mã sẵn có của nhóm: Không
2037
- Can chi: Đinh Tỵ
- Mã đến cho chi gốc thuộc nhóm: Hợi, Mão, Mùi
- Xung Mã sẵn có của nhóm: Tỵ, Dậu, Sửu (xung Mã Hợi)
Đọc bảng thế nào: lấy chi năm sinh và chi ngày sinh, xem thuộc nhóm nào. Ví dụ người chi ngày Ngọ: năm Mậu Thân 2028 là năm Mã đến. Người chi ngày Tý đã có Mã Dần trong lá số: năm 2028 Thân xung Dần là năm Mã bị thúc, còn năm Giáp Dần 2034 là năm Mã đến. Quy luật 1 thể hiện rất rõ: trong 12 năm chỉ có bốn năm Mã (2028, 2031, 2034, 2037), và năm Mã đến của nhóm này luôn là năm xung Mã của nhóm đối diện.
Cũng cần nhớ quy luật 2: với người chi ngày là Dần, Thân, Tỵ hay Hợi, năm Mã đến của họ đồng thời là năm xung nhật chi. Ví dụ người ngày Giáp Dần, năm Mậu Thân 2028 vừa là năm Mã vừa là năm Thân xung Dần ở cung phu thê. Năm ấy dễ có chuyển nhà, chuyển việc, hoặc vợ chồng phải xa nhau một thời gian.
Đại vận và lưu nguyệt
Đại vận mười năm đi qua chi Mã có tác dụng dài và sâu hơn lưu niên, thường ứng với một giai đoạn sống xa quê hay làm việc lưu động. Ở mức chi tiết hơn, mỗi năm có một tháng Mã: tháng Dần bắt đầu từ Lập Xuân (khoảng 4/2), tháng Tỵ từ Lập Hạ (khoảng 5/5), tháng Thân từ Lập Thu (khoảng 7/8), tháng Hợi từ Lập Đông (khoảng 7/11). Bốn tháng này cũng là bốn tháng mở đầu bốn mùa, đúng với tính "khởi động" của Dịch Mã.
Dịch Mã (Trạch Mã)
Thần sát chỉ là ngọn. Ngũ hành mới là rễ. Mệnh tốt không bằng vận tốt. Biết thời thế mới là người tuấn kiệt. Quy trình năm bước trên giúp kết nối toàn bộ lý thuyết Dịch Mã (Trạch Mã) từ nguyên cục bốn trụ sang nhịp đập sống động của từng Đại Vận mười năm và từng Lưu Niên cụ thể trong giai đoạn 2026 đến 2037.
Dịch Mã Bát Tự Và Thiên Mã Tử Vi
Cát hung không cố định. Biến thông ở Dụng Thần. Tử Vi Đẩu Số cũng có một sao ngựa là Thiên Mã, an theo chi năm sinh với cùng công thức tam hợp (Dần Ngọ Tuất Mã tại Thân, Thân Tý Thìn Mã tại Dần...). Vì vậy nhiều người nghĩ hai sao là một.
Hiểu lý thì không sợ. Biết mệnh để tự chủ. Công thức giống nhau, nhưng đơn vị và cách luận khác hẳn, như bảng dưới.
Căn cứ an
- Dịch Mã (Bát Tự): Chi năm và chi ngày
- Thiên Mã (Tử Vi): Chi năm sinh
Đơn vị
- Dịch Mã (Bát Tự): Địa chi của bốn trụ
- Thiên Mã (Tử Vi): Một trong mười hai cung
Cách luận
- Dịch Mã (Bát Tự): Thập Thần của chi Mã, xung hình hợp Không Vong với các trụ
- Thiên Mã (Tử Vi): Theo cung đóng (Mệnh, Di, Quan...), chính tinh đồng cung
Tổ hợp nổi tiếng
- Dịch Mã (Bát Tự): Lộc Mã giao trì với Lộc Thần
- Thiên Mã (Tử Vi): Lộc Mã giao trì với Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc
Khi động
- Dịch Mã (Bát Tự): Lưu niên, đại vận đi tới hoặc xung chi Mã
- Thiên Mã (Tử Vi): Lưu Thiên Mã, đại hạn, tiểu hạn
Ngày nay tượng của Mã rộng hơn nhiều so với ngựa trạm: du học, xuất khẩu lao động, định cư, công tác nước ngoài, kinh doanh nhiều tỉnh, logistics, du lịch, và cả làm việc từ xa, di chuyển liên tục giữa các thành phố. Có hai hệ cùng cho tín hiệu Mã thì độ tin cậy cao hơn, nhưng không được lấy cách luận của hệ này áp sang hệ kia. Xem thêm tại trang Tử Vi.
Sáu Ngộ Nhận Thường Gặp Và Lời Khuyên
1. "Có Dịch Mã là sẽ đi nước ngoài."
Cung vị phân xa gần. Lục thân hiện rõ nét. Chưa chắc. Mã chỉ nói có động. Động có thể là đổi phòng ban, chuyển nhà trong cùng thành phố, hay đi công tác thường xuyên. Đi xa đến đâu phải xem Mã đắc lệnh không, có Tài Quan dẫn không, và tuế vận.
2. "Dịch Mã là sao tốt."
Hợp chưa chắc đã lành. Xung chưa hẳn đã dữ. Mã là động tinh, lưỡng tính. Mã chở dụng thần thì thăng chuyển; Mã chở kỵ thần mà thân nhược thì bôn ba. Xem lại ví dụ 2.
3. "Càng nhiều Mã càng đi nhiều, càng giàu."
Không Vong làm giảm lực. Điền thực lại phát uy. Hai chi Hợi cùng là Mã thì tự hình; Dần Tỵ Thân cùng có thì thành tam hình. Mã trùng điệp hay đi kèm vướng mắc, thủ tục, chứ không cộng dồn may mắn.
4. "Mã gặp xung là xấu."
Vượng suy phân ranh giới. Hỷ kỵ định thành bại. Không hẳn. Mã hỷ dụng gặp xung là được thúc, cơ hội đến nhanh. Chỉ khi Mã là kỵ thần, hoặc xung đến từ kỵ thần đang vượng, thì xung mới là xáo trộn.
5. "Tra theo chi năm là đủ."
Cổ thư chép rất nghiêm. Thực chứng càng sáng tỏ. Chi năm và chi ngày có thể thuộc hai nhóm khác nhau, cho hai chi Mã khác nhau. Bỏ mốc chi ngày là bỏ phần nói về chính bản thân. Công cụ của trang xét cả hai.
6. "Không có Mã thì cả đời ở một chỗ."
Đọc lá số cần tĩnh. Nhìn toàn cục mới chuẩn. Sai. Lưu niên, đại vận đi tới chi Mã vẫn kích hoạt sự di chuyển. Ngoài ra Tài Quan ở xa, Thực Thương vượng cũng đủ đưa người ta đi, không cần thần sát.
Đắc thời thì hưng vượng. Thất thế dễ hao tổn. Dịch Mã không phải thứ cần trấn yểm. Việc cần làm là biết khi nào nên đi và khi nào nên ở, để mỗi lần dời đổi đều có ý nghĩa.
- Mã hỷ dụng thì chủ động đi. Đừng ngại đổi môi trường, nhận việc ở nơi xa; vận của bạn thường mở ra ở phương khác.
- Mã kỵ thần thì xây nền trước. Hạn chế dời đổi theo cảm hứng, củng cố một chỗ cho vững rồi mới mở rộng.
- Canh đúng năm. Dồn kế hoạch đi xa, mở chi nhánh, nộp hồ sơ vào năm hoặc tháng Mã hỷ dụng; năm Mã bị xung từ kỵ thần thì chuẩn bị phương án dự phòng.
- Giữ sự kiên định. Người nhiều Mã dễ cả thèm chóng chán; đặt mục tiêu rõ và theo đến cùng.
- Cẩn trọng an toàn đi lại trong năm Mã động, nhất là khi Mã đi cùng Kình Dương hay bị xung mạnh.
Câu Hỏi Thường Gặp Về Dịch Mã
Dịch Mã trong Tứ Trụ là gì
Tu tâm chuyển nghiệp lực. Đức dày thắng sát khí. Dịch Mã là động tinh chủ về di chuyển, đổi chỗ, đi xa, thăng chuyển. Về bản chất, chi Dịch Mã là chi xung với vị Trường Sinh của tam hợp cục, nơi khí của cục bị kéo ra ngoài. Đây là sao lưỡng tính: Mã chở hỷ dụng thì thăng chuyển, chở kỵ thần thì bôn ba.
Cách an Dịch Mã thế nào
Lấy chi năm và chi ngày theo tam hợp cục: Thân Tý Thìn Mã tại Dần, Dần Ngọ Tuất Mã tại Thân, Tỵ Dậu Sửu Mã tại Hợi, Hợi Mão Mùi Mã tại Tỵ. Trụ nào có địa chi trùng chi Mã thì trụ đó mang Dịch Mã. Công cụ lập lá số của trang xét cả hai mốc chi năm và chi ngày.
Vì sao Dịch Mã an như vậy
Đừng tin lời hù dọa. Hãy kiểm chứng bằng lý. Mỗi tam hợp cục khởi từ một vị Trường Sinh: Thủy cục ở Thân, Hỏa cục ở Dần, Kim cục ở Tỵ, Mộc cục ở Hợi. Dịch Mã là chi xung với vị Trường Sinh ấy, cũng là cung Bệnh trong vòng Trường Sinh của cục. Vì vậy Mã luôn nằm ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi.
Ngày sinh nào có Dịch Mã rơi vào Không Vong
Mỗi trụ một tầng nghĩa. Thời vận mở cơ duyên. Tính theo chi ngày có 12 ngày: Ất Sửu, Kỷ Tỵ, Quý Dậu, Giáp Tuất, Mậu Dần, Nhâm Ngọ, Ất Mùi, Kỷ Hợi, Quý Mão, Giáp Thìn, Mậu Thân, Nhâm Tý. Sinh các ngày này, nếu trong trụ có chi Mã thì Mã ấy lạc Không Vong, cần xét thêm xung và tuế vận để lấp.
Lộc Mã giao trì là gì
Khí tụ thì thành hình. Khí tán thì hư ảo. Là khi Lộc Thần và Dịch Mã cùng hiện trong lá số, nhất là cùng trụ hoặc kề trụ: đi xa có chỗ dựa, động mà sinh lợi. Trường hợp Lộc và Mã trùng đúng một chi theo chi ngày chỉ có sáu ngày: Giáp Tý, Giáp Thìn, Giáp Thân, Canh Dần, Canh Ngọ, Canh Tuất.
Dịch Mã gặp xung, gặp hợp thì sao
Lấy trung hòa làm quý. Thái quá ắt sinh biến. Mã gặp xung như ngựa bị quất roi, động nhanh và mạnh; tốt hay xấu tùy Mã là hỷ hay kỵ. Mã gặp hợp như ngựa bị buộc, muốn đi mà bị giữ. Mã lạc Không Vong như ngựa chạy hụt. Với người chi ngày là Dần, Thân, Tỵ, Hợi, chính nhật chi đã xung chi Mã của mình.
Năm nào là năm Dịch Mã
Sát có chế hóa quyền. Quý không gốc hóa hư. Năm có địa chi trùng chi Mã. Từ 2026 đến 2037 chỉ có bốn năm: Mậu Thân 2028 cho nhóm Dần Ngọ Tuất, Tân Hợi 2031 cho nhóm Tỵ Dậu Sửu, Giáp Dần 2034 cho nhóm Thân Tý Thìn, Đinh Tỵ 2037 cho nhóm Hợi Mão Mùi. Năm Bính Ngọ 2026 không là năm Mã của nhóm nào.
Dịch Mã Bát Tự và Thiên Mã Tử Vi có giống nhau không
Xem mệnh phải xem vận. Tĩnh chờ động mới ứng. Cùng công thức tam hợp nhưng khác hệ. Dịch Mã Bát Tự rơi vào địa chi bốn trụ, tra theo chi năm và chi ngày, luận bằng Thập Thần và xung hình hợp. Thiên Mã Tử Vi an theo chi năm sinh, rơi vào một cung, luận theo cung đóng và chính tinh đồng cung.
Có Dịch Mã có phải sẽ đi nước ngoài không
Trọng tâm ở Nhật Chi. Nguyệt Lệnh cầm cương lĩnh. Chưa chắc. Mã chỉ nói có động: đổi chỗ ở, đổi việc, công tác. Đi xa đến đâu còn tùy Mã có đắc lệnh không, chở Tài Quan hay kỵ thần, có bị Không Vong, hợp trói không, và tuế vận có kích hoạt không.