Bát Tự
Thiên Ất Quý Nhân trong Tứ Trụ: Cách tra và luận giải
Tìm hiểu Thiên Ất Quý Nhân trong Tứ Trụ: đặc tính, cách tra, ý nghĩa tại từng trụ, quan hệ phối hợp và những điểm cần đối chiếu.
Các nội dung dưới đây trình bày cách luận Bát Tự, Tứ Trụ và Can Chi theo quan niệm truyền thống. Cần đối chiếu toàn bộ lá số, tiết khí và hoàn cảnh thực tế khi vận dụng; không dùng một thần sát hay một năm sinh riêng lẻ để kết luận về cuộc đời, sức khỏe hoặc tài chính.
Tên gọi: Thiên Ất Quý Nhân
Phân loại: Cát thần, đứng đầu nhóm quý nhân
Mốc tra: Can ngày là chính, can năm là phụ
Cấu trúc: Mỗi can hai vị, đối xứng qua trục Thìn Tuất
Chủ về: Người nâng đỡ, giải nạn, uy tín
Không bao giờ ở: Thìn, Tuất
Hợp gặp: Là hỷ dụng, Thiên Đức, Nguyệt Đức, Lộc
Kỵ gặp: Xung, hình, hợp trói, Không Vong, là kỵ thần
Tổng quan: Thiên Ất Quý Nhân
Đừng nhìn một sao. Cách cục mới là gốc. Trong hệ thống thần sát Tử Bình cổ truyền được Tam Mệnh Thông Hội của Vạn Dân Anh và Tử Bình Chân Thuyên của Thẩm Hiếu Chiêm khảo luận nghiêm mật, Thiên Ất Quý Nhân tuyệt đối không phải là một nhãn định mệnh cát hung bất biến đứng tách rời khỏi quy luật sinh khắc, mà là một chỉ dấu khí số đặc thù phản ánh trạng thái hội tụ giữa Thiên Can, Địa Chi cùng trường lực Nguyệt Lệnh trên toàn cục bốn trụ Năm, Tháng, Ngày, Giờ. Có Thiên Ất Quý Nhân chưa hẳn đã phúc. Vắng Thiên Ất Quý Nhân chưa chắc đã họa. Mọi sự ứng nghiệm đều quy về Dụng Thần.
- Danh xưng & Hán tự nguyên bản: Thiên Ất Quý Nhân , phiên âm Hán Việt chuẩn Tiān Yǐ Guì Rén, thuộc nhóm Cát thần, đứng đầu nhóm quý nhân.
- Khẩu quyết & Pháp khởi sao theo Can/Chi: Tra theo mốc Can ngày là chính, can năm là phụ; khẩu quyết cổ truyền ghi nhận: "Giáp Mậu Canh ngưu dương, Ất Kỷ thử hầu hương, Bính Đinh trư kê vị, Nhâm Quý thố xà tàng, Lục Tân phùng mã hổ, thử thị quý nhân phương.", phản ánh bản chất Mỗi can hai vị, đối xứng qua trục Thìn Tuất và chủ quản trực tiếp về Người nâng đỡ, giải nạn, uy tín.
- Biểu hiện qua 4 Cung Vị (Năm – Tháng – Ngày – Giờ): Tại Niên trụ ứng vào căn cơ tổ phụ (Ở xa Nhật Chủ, ứng nhiều vào nền tảng hơn là cơ hội trực tiếp); tại Nguyệt trụ chi phối cương lĩnh sự nghiệp thanh niên (Nguyệt lệnh có trọng lượng lớn nhất; nếu chi tháng là quý nhân và hỷ dụng thì rất đáng giá); tại Nhật trụ tác động thẳng vào Phối Ngẫu cung (Chỉ xảy ra với bốn ngày Nhật Quý (phần 5); riêng Quý Mão vị Tỵ rỗng); tại Thời trụ kết quả ở con cái và hậu vận (Trụ giờ là "cửa ra" của lá số; quý nhân ở đây hay ứng vào người mình dìu dắt rồi quay lại giúp).
- Nguyên tắc phối Dụng Thần – Cách Cục (*Tam Mệnh Thông Hội*): Khi chi hoặc can mang Thiên Ất Quý Nhân đồng thời là Hỷ Thần, Dụng Thần hoặc hội cùng Là hỷ dụng, Thiên Đức, Nguyệt Đức, Lộc, năng lượng của sao sẽ phát lộ mặt tinh anh, trợ lực đắc cách; ngược lại khi rơi vào Kỵ Thần, Cừu Thần hoặc ngộ Hình, Xung, Phá, Hại, Không Vong và Kỵ Thần vượng tướng, hung tính lập tức bộc phát hoặc cát khí hóa hư không.
Lấy sinh khắc làm thể. Lấy thần sát làm dụng. Đó là kỷ luật sắt của khoa mệnh lý chính tông khi luận đoán Thiên Ất Quý Nhân trên mọi lá số thực tế, giúp người xem nhận diện đúng thời điểm kích hoạt cát khí trong Đại Vận – Lưu Niên từ 2026 đến 2037 mà không sa vào lối đoán mò hù dọa.
Thiên Ất Từ Bầu Trời Vào Lá Số
Đừng nhìn một sao. Cách cục mới là gốc. Trong cả trăm thần sát của Tứ Trụ, Thiên Ất Quý Nhân là cái tên được nhắc đầu tiên. Gốc của nó là một vị thần trong thiên văn cổ: người xưa hình dung trong Tử Vi viên, vùng trời quanh sao Bắc Cực, có một vị thần tôn quý đứng hầu Thiên Đế, gọi là Thiên Ất.
Đó là phép biện chứng. Sinh khắc quyết định tất cả. Tam Mệnh Thông Hội của Vạn Dân Anh (đời Minh) mở đầu thiên bàn về Thiên Ất bằng chính hình ảnh ấy, rồi rút ra một ý mà về sau sách nào cũng chép lại: nơi vị thần này đến, hung sát đều lánh đi.
,,,,……,,。
Thiên Ất giả, nãi thiên thượng chi thần, tại Tử Vi viên Xương Hạp môn ngoại, dữ Thái Ất tịnh liệt, sự Thiên Hoàng Đại Đế… Kỳ thần tối tôn quý, sở chí chi xứ, nhất thiết hung sát ẩn nhiên nhi tị.
Thiên Ất là vị thần trên trời, ở ngoài cửa Xương Hạp của Tử Vi viên, đứng ngang hàng với Thái Ất, phụng sự Thiên Hoàng Đại Đế… Vị thần ấy tôn quý bậc nhất, đến chỗ nào thì mọi hung sát đều lặng lẽ tránh đi.
Vạn Dân Anh, Tam Mệnh Thông Hội, quyển 2, thiên Luận Thiên Ất Quý Nhân (trích, có lược)
Hai chữ "hung sát lánh đi" là lý do Thiên Ất được gọi là thần giải nạn, và cũng là chỗ dễ bị hiểu quá đà. Khi khoa Tử Bình hình thành, tên vị thần được mượn để đặt cho một quy tắc can chi: lấy thiên can tra ra hai địa chi. Thiên Ất trong Bát Tự không đo vị trí ngôi sao nào trên trời. Nó là một cấu trúc số học trên vòng mười hai chi, và như phần 3 sẽ chỉ ra, cấu trúc ấy đẹp và chặt hơn nhiều người nghĩ.
Nguyên tắc nền vẫn như mọi bài thần sát của trang: Thẩm Hiếu Chiêm trong Tử Bình Chân Thuyên đã nói rõ thần sát không nắm quyền thành bại, cách cục và hỷ kỵ mới là gốc. Thiên Ất quý đến đâu cũng phải đặt sau vượng suy của Nhật Chủ. Nhưng Thiên Ất có một điểm đặc biệt: mỗi chi quý nhân luôn mang một Thập Thần cụ thể đối với Nhật Chủ, nên ta có thể đưa nó về sinh khắc để luận, thay vì chỉ nói "có quý nhân".
Quý nhân không phải tấm bùa treo sẵn trên đầu. Quý nhân là người. Có Thiên Ất nghĩa là đời bạn dễ gặp người chịu chìa tay ra đúng lúc; còn người ấy là ai, giúp bằng gì, và bạn có nắm được bàn tay ấy hay không, lá số còn phải nói tiếp.
Đừng đoán mò. Phải xét toàn cục. Cách cục là gốc. Trong thực tiễn giải đoán hàng ngàn lá số Bát Tự cổ kim theo pháp chính tông của Tam Mệnh Thông Hội và Tử Bình Chân Thuyên, một ngôi Thiên Ất Quý Nhân chỉ thực sự kết tinh thành phúc lộc bền vững hay biến tướng thành tai ách bất ngờ khi người luận đặt nó vào đúng hệ quy chiếu của Nguyệt Lệnh, xét rõ khí chất Mỗi can hai vị, đối xứng qua trục Thìn Tuất có thông căn thấu cán trên bốn trụ và hòa nhịp sinh khắc với Dụng Thần điều hầu hay không. Gốc vững thì ngọn bền. Đó là chân truyền.
Khẩu Quyết Và Bảng Tra Mở Rộng
Xét kỹ Nguyệt Lệnh. Đừng đoán mò cảm tính. Phép an Thiên Ất được gói trong một bài khẩu quyết sáu câu, dùng tên con vật thay cho địa chi. Đây là bản phổ biến nhất, được chép lại trong rất nhiều sách thần sát.
,,,,,。
Giáp Mậu Canh ngưu dương, Ất Kỷ thử hầu hương,Bính Đinh trư kê vị, Nhâm Quý thố xà tàng,Lục Tân phùng mã hổ, thử thị quý nhân phương.
Giáp, Mậu, Canh gặp trâu (Sửu) và dê (Mùi); Ất, Kỷ ở quê chuột (Tý) và khỉ (Thân); Bính, Đinh ở chỗ lợn (Hợi) và gà (Dậu); Nhâm, Quý ẩn nơi thỏ (Mão) và rắn (Tỵ); sáu ngày Tân gặp ngựa (Ngọ) và hổ (Dần). Đó là phương của quý nhân.
Khẩu quyết Thiên Ất lưu truyền trong các sách thần sát Tử Bình (bản phổ biến)
Gốc vững thì cành bền. Nhật Chủ là trung tâm. Bảng dưới không chỉ chép lại khẩu quyết mà thêm hai cột ít tài liệu đưa ra: Thập Thần của bản khí chi quý nhân đối với can ngày (cho biết quý nhân là kiểu người nào), và vị trí trên vòng Trường Sinh của can ngày (để bàn lại câu "Thiên Ất kỵ Tử Mộ Tuyệt" ở phần 7).
Giáp
- Quý nhân tại: Sửu, Mùi
- Thập Thần của chi: Chính Tài, Chính Tài
- Vòng Trường Sinh: Quan Đới, Mộ
Ất
- Quý nhân tại: Tý, Thân
- Thập Thần của chi: Thiên Ấn, Chính Quan
- Vòng Trường Sinh: Bệnh, Thai
Bính
- Quý nhân tại: Hợi, Dậu
- Thập Thần của chi: Thất Sát, Chính Tài
- Vòng Trường Sinh: Tuyệt, Tử
Đinh
- Quý nhân tại: Hợi, Dậu
- Thập Thần của chi: Chính Quan, Thiên Tài
- Vòng Trường Sinh: Thai, Trường Sinh
Mậu
- Quý nhân tại: Sửu, Mùi
- Thập Thần của chi: Kiếp Tài, Kiếp Tài
- Vòng Trường Sinh: Dưỡng, Suy
Kỷ
- Quý nhân tại: Tý, Thân
- Thập Thần của chi: Thiên Tài, Thương Quan
- Vòng Trường Sinh: Tuyệt, Mộc Dục
Canh
- Quý nhân tại: Sửu, Mùi
- Thập Thần của chi: Chính Ấn, Chính Ấn
- Vòng Trường Sinh: Mộ, Quan Đới
Tân
- Quý nhân tại: Dần, Ngọ
- Thập Thần của chi: Chính Tài, Thất Sát
- Vòng Trường Sinh: Thai, Bệnh
Nhâm
- Quý nhân tại: Mão, Tỵ
- Thập Thần của chi: Thương Quan, Thiên Tài
- Vòng Trường Sinh: Tử, Tuyệt
Quý
- Quý nhân tại: Mão, Tỵ
- Thập Thần của chi: Thực Thần, Chính Tài
- Vòng Trường Sinh: Trường Sinh, Thai
Cách dùng: lấy can ngày đối chiếu bảng, được hai địa chi. Trong bốn chi năm, tháng, ngày, giờ, chi nào trùng thì trụ đó mang Thiên Ất. Thiên Ất là sao của địa chi, không xét ở thiên can. Cột Thập Thần tính theo bản khí (ví dụ Sửu và Mùi đều lấy Kỷ Thổ); cột Trường Sinh tính theo lối dương can thuận, âm can nghịch.
Can ngày hay can năm? Can ngày là Nhật Chủ, nên Thiên Ất theo can ngày nói về người giúp của chính mình. Nhiều sách tra thêm theo can năm, coi là lớp phụ, nghiêng về phúc ấm gia đình. Công cụ lập lá số của trang tra theo can ngày cho cả bốn trụ, và tra thêm theo can năm như một lớp phụ, hiển thị riêng là "Thiên Ất QN (Năm)". Khi luận, đặt trọng số cho lớp can ngày.
Tra sao phải chuẩn mốc. Sai một chi, lệch cả cục. Sơ đồ vòng mười hai địa chi phía trên cho thấy rõ vì sao cổ nhân trong Tam Mệnh Thông Hội luôn yêu cầu người học Bát Tự phải đối chiếu đồng thời cả trục Niên Chi lẫn trục Nhật Chủ trước khi kết luận một trụ có thực sự đắc Thiên Ất Quý Nhân hay chỉ là hư tượng thoáng qua ngoài lề.
Vì Sao An Như Vậy: Cặp Gương Qua Trục Thìn Tuất
Thần sát chỉ là ngọn. Ngũ hành mới là rễ. Khác với Văn Xương hay Lộc Thần, Thiên Ất không quy được về một vị Trường Sinh hay một Thập Thần cố định; cột Thập Thần ở bảng trên thay đổi lung tung. Nhưng nếu đặt hai chi của mỗi can lên vòng mười hai chi, sẽ thấy một trật tự rất rõ.
Cát hung không cố định. Biến thông ở Dụng Thần. Đánh số Tý là 0, Sửu 1, Dần 2, cho tới Hợi 11. Cộng số của hai chi quý nhân lại: Sửu cộng Mùi bằng 8, Tý cộng Thân bằng 8, Mão cộng Tỵ bằng 8, Dần cộng Ngọ bằng 8, Hợi cộng Dậu bằng 20, tức cũng là 8 sau khi bỏ một vòng 12.
Quy luật gốc: hai vị quý nhân là ảnh gương của nhau
Tổng luôn bằng 8 nghĩa là hai chi quý nhân của mọi can đối xứng nhau qua trục Thìn Tuất. Gấp vòng mười hai chi theo đường nối Thìn và Tuất thì Sửu trùng Mùi, Tý trùng Thân, Hợi trùng Dậu, Dần trùng Ngọ, Mão trùng Tỵ. Thìn và Tuất nằm ngay trên trục gương, là hai điểm tự soi vào chính mình, nên không thể làm "một cặp" và cũng không bao giờ là quý nhân của can nào.
Lời giải thích truyền thống cho việc Thìn Tuất vắng mặt là: Thìn là Thiên La, Tuất là Địa Võng (xem Thiên La Địa Võng), lại là đất của Khôi Cương, quý nhân không vào lưới trời. Phép đếm ở trên cho thấy điều đó còn là một ràng buộc hình học: muốn mỗi can có một cặp quý nhân cân xứng thì hai điểm trên trục buộc phải bị loại ra.
Hai chuỗi chạy ngược chiều
Đi xa thêm một bước. Nếu tạm để can Mậu sang một bên và xếp chín can còn lại theo thứ tự Giáp, Ất, Bính, Đinh, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, ta chọn được trong mỗi cặp một chi sao cho các chi chạy thuận liên tục từ Mùi: Mùi, Thân, Dậu, (bỏ Tuất), Hợi, Tý, Sửu, Dần, Mão, (bỏ Thìn), Tỵ. Các chi còn lại của mỗi cặp thì chạy nghịch liên tục từ Sửu: Sửu, Tý, Hợi, (bỏ Tuất), Dậu, Thân, Mùi, Ngọ, Tỵ, (bỏ Thìn), Mão. Can Mậu đi cùng cặp Sửu Mùi với Giáp và Canh.
Chuỗi thuận
- Giáp: Mùi
- Ất: Thân
- Bính: Dậu
- Đinh: Hợi
- Kỷ: Tý
- Canh: Sửu
- Tân: Dần
- Nhâm: Mão
- Quý: Tỵ
Chuỗi nghịch
- Giáp: Sửu
- Ất: Tý
- Bính: Hợi
- Đinh: Dậu
- Kỷ: Thân
- Canh: Mùi
- Tân: Ngọ
- Nhâm: Tỵ
- Quý: Mão
Hai chuỗi này chính là cơ sở của phép chia Dương quý và Âm quý (quý nhân ban ngày và ban đêm) mà phần 4 sẽ bàn. Điều đáng chú ý cho người luận số: cấu trúc hai chuỗi liên tục chỉ khớp khi Canh ở Sửu Mùi và Tân ở Dần Ngọ, tức đúng bản khẩu quyết phổ biến. Nếu chuyển Canh sang Dần Ngọ như một dị bản, chuỗi bị gãy: hai can cùng đứng ở Dần, còn Sửu bỏ trống. Đây là một lập luận nội tại ủng hộ bản phổ biến, bên cạnh lý do nó được chép nhiều nhất.
Nói cho đúng mức: phép đối xứng và hai chuỗi trên là quan sát cấu trúc rút ra trực tiếp từ bảng tra, ai cũng kiểm lại được. Còn việc người xưa đã dựng bảng theo đúng con đường này hay không thì các sách giải thích khác nhau (có thuyết dựa vào Tiên Thiên Bát Quái, có thuyết dựa vào can hợp), bài này không khẳng định thuyết nào là nguồn gốc duy nhất.
Cổ nhân rất trọng lý. Không bao giờ nói suông. Thần sát chỉ là ngọn. Nếu một lá số tuy hiện diện Thiên Ất Quý Nhân theo đúng mốc khởi Can ngày là chính, can năm là phụ nhưng Nhật Chủ lại quá suy nhược không đủ nội lực gánh vác, hoặc địa chi mang sao rơi vào lưới Hình, Xung, Phá, Hại, Không Vong và Kỵ Thần vượng tướng mà thiếu hẳn các cát thần hay tương thần như Là hỷ dụng, Thiên Đức, Nguyệt Đức, Lộc đứng ra thông quan cứu ứng, thì biểu hiện Người nâng đỡ, giải nạn, uy tín trên thực tế sẽ đảo chiều từ cát sang hung hoặc chỉ còn lại hư danh bề ngoài. Xem mệnh cần tỉnh táo. Phép cân bằng là tối thượng.
Các Dị Bản: Can Canh, Lục Tân, Dương Quý Và Âm Quý
Hiểu lý thì không sợ. Biết mệnh để tự chủ. Thiên Ất có nhiều dị bản hơn hầu hết các thần sát khác, nhưng chúng thuộc ba tầng rất khác nhau. Gộp chung lại là nguồn gốc của nhiều tranh cãi không cần thiết.
Cung vị phân xa gần. Lục thân hiện rõ nét. Tầng thứ nhất là can Canh được an ở đâu. Tầng thứ hai là vị nào là Dương quý, vị nào là Âm quý. Tầng thứ ba là mốc tra: can ngày hay can năm.
Tầng 1: Canh ở Sửu Mùi hay Dần Ngọ
Hợp chưa chắc đã lành. Xung chưa hẳn đã dữ. Bên cạnh bản "Giáp Mậu Canh ngưu dương, Lục Tân phùng mã hổ" còn lưu truyền một bản đổi hai câu:
……
Giáp Mậu kiêm ngưu dương… Canh Tân phùng mã hổ
Giáp và Mậu cùng gặp trâu dê; Canh và Tân gặp ngựa hổ.
Dị bản khẩu quyết lưu truyền (chỉ trích hai câu khác biệt)
Quý nhân của Canh
- Bản phổ biến (trang dùng): Sửu, Mùi
- Dị bản Canh Tân Dần Ngọ: Dần, Ngọ
Thập Thần với Canh
- Bản phổ biến (trang dùng): Chính Ấn, Chính Ấn
- Dị bản Canh Tân Dần Ngọ: Thiên Tài, Chính Quan
Ngày Canh tự tọa
- Bản phổ biến (trang dùng): Không có
- Dị bản Canh Tân Dần Ngọ: Canh Dần, Canh Ngọ
Ngày Canh lạc Không Vong
- Bản phổ biến (trang dùng): Canh Dần (Mùi rỗng), Canh Thân (Sửu rỗng)
- Dị bản Canh Tân Dần Ngọ: Canh Dần (Ngọ rỗng), Canh Tuất (Dần rỗng)
Năm kích hoạt cho Canh
- Bản phổ biến (trang dùng): Đinh Mùi 2027, Quý Sửu 2033
- Dị bản Canh Tân Dần Ngọ: Bính Ngọ 2026, Giáp Dần 2034
Hai chuỗi thuận nghịch (phần 3)
- Bản phổ biến (trang dùng): Liên tục
- Dị bản Canh Tân Dần Ngọ: Gãy ở Dần và Sửu
Hai bản đều giữ được phép đối xứng qua trục Thìn Tuất, vì Dần cộng Ngọ cũng bằng 8. Khác biệt chỉ nằm ở can Canh, nhưng hệ quả lớn: người sinh ngày Canh có lá số mang Dần hoặc Ngọ sẽ "có quý nhân" theo bản này và "không có" theo bản kia. Chữ Lục Tân trong bản phổ biến chỉ sáu ngày Tân trong lục thập hoa giáp (Tân Mùi, Tân Tỵ, Tân Mão, Tân Sửu, Tân Hợi, Tân Dậu); dùng chữ "lục" là cách nhấn rằng riêng Tân đứng một mình ở câu cuối, không ghép với Canh.
Không Vong làm giảm lực. Điền thực lại phát uy. Một số tài liệu tiếng Việt gán mỗi bản cho một bộ sách cụ thể. Vì chưa đối chiếu được nguyên bản để xác nhận, bài này không quy xuất xứ, chỉ ghi nhận rằng cả hai bản đều có người dùng.
Tầng 2: Dương quý và Âm quý
Nhiều sách chia hai vị quý nhân thành quý ban ngày (Dương quý) và quý ban đêm (Âm quý); người sinh ban ngày lấy Dương quý làm trọng, sinh ban đêm lấy Âm quý làm trọng. Cách gán phổ biến, vốn dùng rất chặt trong Lục Nhâm, trùng với hai chuỗi ở phần 3: chuỗi thuận từ Mùi là Dương quý, chuỗi nghịch từ Sửu là Âm quý, can Mậu theo Canh (Dương quý ở Sửu, Âm quý ở Mùi). Ví dụ với Giáp: sinh ban ngày trọng Mùi, sinh ban đêm trọng Sửu.
Tuy vậy có sách gán ngược lại, và ranh giới ngày đêm cũng không thống nhất: nhiều sách lấy từ giờ Mão đến hết giờ Thân là ban ngày, có sách lấy theo lúc mặt trời mọc lặn thực tế. Vì vậy công cụ của trang không phân Dương quý, Âm quý, coi hai vị ngang nhau. Người luận sâu có thể dùng lớp này để phân chính phụ khi lá số có đủ cả hai vị.
Tầng 3: Mốc tra
Vượng suy phân ranh giới. Hỷ kỵ định thành bại. Đa số sách Tử Bình lấy can ngày làm chính, một số tra cả can năm. Lối tra theo can năm gần với cách Tử Vi an Thiên Khôi, Thiên Việt (phần 13). Trang theo can ngày làm chính, can năm làm phụ như đã nói ở phần 2.
Trang theo bản nào: bài viết và toàn bộ công cụ lập lá số của trang dùng bản phổ biến, Canh ở Sửu Mùi, Tân ở Dần Ngọ, không phân Dương Âm quý, tra theo can ngày (can năm là lớp phụ). Các bảng ở phần 6 và phần 12 có ghi chú riêng cho dị bản Canh để người theo bản kia đối chiếu. Điều quan trọng nhất là chọn một bản và dùng nhất quán cho mọi lá số.
Lý thuyết đi đôi thực chứng. Hãy nhìn kỹ bốn trụ. Cung vị phân xa gần. Khi đối chiếu vị trí của Thiên Ất Quý Nhân lần lượt từ Niên trụ, Nguyệt trụ sang Nhật trụ và Thời trụ, người nghiên cứu mệnh lý sâu sắc sẽ nhận ra mỗi cung vị đóng vai trò như một buồng cộng hưởng thời gian khác nhau, có người phát lộ năng lượng sao ngay từ thuở thiếu thời nhờ phúc ấm tổ tiên, nhưng cũng có người phải đợi đến trung niên hoặc hậu vận khi Đại Vận điền thực Không Vong mới thực sự bừng sáng. Thời vận có nhịp riêng. Kiên nhẫn mới thành đại sự.
Năm Quy Luật Ẩn Trong Bảng Tra
Cổ thư chép rất nghiêm. Thực chứng càng sáng tỏ. Từ phép đối xứng ở phần 3 có thể rút ra năm quy luật mà rất ít tài liệu nhắc tới, nhưng ảnh hưởng trực tiếp đến cách luận.
Quy luật 1: Thìn và Tuất không bao giờ là quý nhân
Đọc lá số cần tĩnh. Nhìn toàn cục mới chuẩn. Hệ quả thực tế: lá số nhiều Thìn Tuất thì khó có Thiên Ất, và các năm Thìn, Tuất không kích hoạt Thiên Ất cho bất kỳ ai qua địa chi lưu niên. Trong giai đoạn 2026 đến 2037 đó là Canh Tuất 2030 và Bính Thìn 2036.
Quy luật 2: Chỉ bốn ngày tự tọa, và đó chính là bốn ngày Nhật Quý
Tự tọa là chi ngày chính là quý nhân của can ngày. Can dương chỉ đi với chi dương, can âm chỉ đi với chi âm. Xét bảng: cả năm can dương đều có quý nhân ở chi âm, nên không thể tự tọa; trong năm can âm, Ất, Kỷ, Tân có quý nhân ở chi dương, cũng không thể. Chỉ còn Đinh (Hợi, Dậu) và Quý (Mão, Tỵ). Vậy chỉ có bốn ngày: Đinh Dậu, Đinh Hợi, Quý Mão, Quý Tỵ. Đây đúng là bốn ngày mà sách xưa gọi là Nhật Quý, tức sao Nhật Quý thực chất là Thiên Ất tọa ngay dưới Nhật Chủ. Theo dị bản Canh Dần Ngọ, có thêm Canh Dần và Canh Ngọ.
Quy luật 3: Với Giáp, Mậu, Canh, hai vị quý nhân xung nhau
Hai chi đối xứng qua trục Thìn Tuất chỉ xung nhau khi chúng là Sửu và Mùi. Vì vậy riêng ba can Giáp, Mậu, Canh có hai vị quý nhân xung nhau, lại cùng nằm trong bộ tam hình Sửu Tuất Mùi. Lá số có đủ cả Sửu và Mùi không phải "quý nhân gấp đôi" mà là hai nguồn giúp đỡ va chạm nhau, hay ứng vào cảnh hai người cùng muốn giúp nhưng không ưa nhau, hoặc được giúp rồi phải trả giá. Các can khác thì khác: Ất Kỷ có Tý Thân bán hợp Thủy, Tân có Dần Ngọ bán hợp Hỏa, hai vị nâng đỡ lẫn nhau; Bính Đinh có Hợi Dậu kẹp Tuất, Nhâm Quý có Mão Tỵ kẹp Thìn, hai vị đứng hai bên trục.
Quy luật 4: Sửu và Mùi là chi quý nhân "đông khách" nhất
Đếm trên mười can: Sửu và Mùi mỗi chi là quý nhân của ba can; Tý, Thân, Hợi, Dậu, Mão, Tỵ mỗi chi của hai can; Dần và Ngọ chỉ của một can là Tân. Nghĩa là năm Sửu, năm Mùi kích hoạt Thiên Ất cho nhiều người nhất (ba trên mười can ngày), còn năm Dần, năm Ngọ chỉ kích hoạt cho người sinh ngày Tân.
Quy luật 5: Gần một nửa vị quý nhân là Tài tinh
Đếm cột Thập Thần ở bảng phần 2: trong 20 vị quý nhân, Tài tinh chiếm 8, Quan Sát 4, Ấn 3, Thực Thương 3, Kiếp Tài 2. Điều này sửa một hình dung phổ biến rằng quý nhân luôn là "quan lớn". Với đa số can, quý nhân thường đến dưới dạng cơ hội tiền bạc, khách hàng, đối tác; với nam mệnh còn có thể là người vợ. Phần 7 sẽ luận kỹ.
Đắc thời thì hưng vượng. Thất thế dễ hao tổn. Mẹo nhớ nhanh: hai vị quý nhân cộng lại luôn bằng 8 (Tý là 0). Biết một vị là suy ra vị kia: Ất có Tý (0) thì vị kia là Thân (8); Nhâm có Mão (3) thì vị kia là Tỵ (5).
Tránh lối luận máy móc. Hãy đọc bằng sinh khắc. Thập Thần định chân giả. Mọi sai lầm phổ biến nhất của người mới học khi xem Thiên Ất Quý Nhân đều bắt nguồn từ việc tách rời danh xưng thần sát khỏi bản chất Thập Thần, quên mất rằng cùng một địa chi khởi sao nhưng đối với thiên can ngày này là Ấn tinh che chở hay Thực Thần tiết tú, đối với thiên can ngày khác lại là Thất Sát khắc thân hay Kiếp Tài tranh đoạt. Hiểu Thập Thần là hiểu người. Hiểu Dụng Thần là hiểu mệnh.
Bảng 10 Can: Ngày Tự Tọa Và Ngày Thiên Ất Lạc Không Vong
Không Vong được tính theo tuần giáp của trụ ngày. Đối chiếu sáu tuần với hai vị quý nhân của từng can cho kết quả rất gọn: mỗi can có đúng hai ngày, mỗi ngày làm rỗng một vị quý nhân, tổng cộng 20 ngày trên 60 hoa giáp. Bảng dưới do tác giả tính bằng chương trình từ quy tắc can chi, có thể tự kiểm lại.
Giáp
- Quý nhân: Sửu, Mùi
- Ngày tự tọa: không có
- Ngày Thiên Ất lạc Không Vong: Giáp Thân · Giáp Dần
- Vị bị rỗng: Mùi · Sửu
Ất
- Quý nhân: Tý, Thân
- Ngày tự tọa: không có
- Ngày Thiên Ất lạc Không Vong: Ất Hợi · Ất Mão
- Vị bị rỗng: Thân · Tý
Bính
- Quý nhân: Hợi, Dậu
- Ngày tự tọa: không có
- Ngày Thiên Ất lạc Không Vong: Bính Dần · Bính Tý
- Vị bị rỗng: Hợi · Dậu
Đinh
- Quý nhân: Hợi, Dậu
- Ngày tự tọa: Đinh Dậu, Đinh Hợi
- Ngày Thiên Ất lạc Không Vong: Đinh Mão · Đinh Sửu
- Vị bị rỗng: Hợi · Dậu
Mậu
- Quý nhân: Sửu, Mùi
- Ngày tự tọa: không có
- Ngày Thiên Ất lạc Không Vong: Mậu Tý · Mậu Ngọ
- Vị bị rỗng: Mùi · Sửu
Kỷ
- Quý nhân: Tý, Thân
- Ngày tự tọa: không có
- Ngày Thiên Ất lạc Không Vong: Kỷ Mão · Kỷ Mùi
- Vị bị rỗng: Thân · Tý
Canh
- Quý nhân: Sửu, Mùi
- Ngày tự tọa: không có
- Ngày Thiên Ất lạc Không Vong: Canh Dần · Canh Thân
- Vị bị rỗng: Mùi · Sửu
Tân
- Quý nhân: Dần, Ngọ
- Ngày tự tọa: không có
- Ngày Thiên Ất lạc Không Vong: Tân Mão · Tân Hợi
- Vị bị rỗng: Ngọ · Dần
Nhâm
- Quý nhân: Mão, Tỵ
- Ngày tự tọa: không có
- Ngày Thiên Ất lạc Không Vong: Nhâm Dần · Nhâm Tý
- Vị bị rỗng: Tỵ · Mão
Quý
- Quý nhân: Mão, Tỵ
- Ngày tự tọa: Quý Mão, Quý Tỵ
- Ngày Thiên Ất lạc Không Vong: Quý Mão · Quý Sửu
- Vị bị rỗng: Tỵ · Mão
Ba điểm đáng chú ý. Thứ nhất, Quý Mão xuất hiện ở cả hai cột: tự tọa quý nhân Mão nhưng vị kia là Tỵ lại rơi Không Vong (ngày Quý Mão thuộc tuần Giáp Ngọ, Không Vong tại Thìn Tỵ). Ba ngày tự tọa còn lại, Đinh Dậu, Đinh Hợi, Quý Tỵ, thì cả hai vị đều "thực". Thứ hai, ba can Giáp, Mậu, Canh dùng chung cặp Sửu Mùi nhưng sáu ngày rỗng của chúng không trùng nhau, nên không thể nói gọn "can này hay bị Không Vong quý nhân hơn can kia". Thứ ba, theo dị bản Canh Dần Ngọ thì hai ngày rỗng của Canh là Canh Dần (Ngọ rỗng) và Canh Tuất (Dần rỗng).
Đừng kết luận vội: sinh vào ngày ở cột đỏ chỉ có nghĩa là nếu lá số có chi quý nhân tương ứng thì vị ấy rỗng. Nếu bốn trụ không có chi đó thì vấn đề không đặt ra. Vị còn lại vẫn dùng được bình thường, và Không Vong còn có thể được lấp khi tuế vận đi tới chi đó (xem phần 8).
Luận Thiên Ất Theo Thập Thần Và Vượng Suy
Cách luận chuẩn gồm ba câu hỏi: chi quý nhân mang Thập Thần gì? Thập Thần ấy là hỷ hay kỵ với Nhật Chủ? Chi ấy có còn nguyên vẹn không? Câu thứ nhất cho biết quý nhân là kiểu người nào; câu thứ hai cho biết người ấy giúp thật hay "giúp mà hại"; câu thứ ba để ở phần 8.
Tài tinh
- Gặp ở can ngày: Giáp (cả hai vị), Bính và Đinh (Dậu), Kỷ (Tý), Tân (Dần), Nhâm và Quý (Tỵ)
- Quý nhân thường là: Người mang đến cơ hội tiền bạc, khách hàng, đối tác; với nam mệnh có thể là vợ
- Khi là kỵ thần: Thân nhược mà Tài nhiều: được mời làm ăn lớn quá sức, giúp thành gánh nặng
Quan Sát
- Gặp ở can ngày: Ất (Thân), Bính và Đinh (Hợi), Tân (Ngọ)
- Quý nhân thường là: Cấp trên, cơ quan, người có quyền; với nữ mệnh có thể là chồng
- Khi là kỵ thần: Thân nhược không có Ấn: được đề bạt mà áp lực đè nặng
Ấn tinh
- Gặp ở can ngày: Ất (Tý), Canh (cả hai vị)
- Quý nhân thường là: Thầy, người bảo trợ, mẹ, giấy tờ pháp lý thuận
- Khi là kỵ thần: Thân vượng Ấn nhiều: được che chở quá mức, thiếu tự lập
Thực Thương
- Gặp ở can ngày: Kỷ (Thân), Nhâm (Mão), Quý (Mão)
- Quý nhân thường là: Học trò, cấp dưới, người hưởng lợi từ tài năng của mình; với nữ mệnh có thể là con
- Khi là kỵ thần: Thân nhược: giúp người khác nhiều hơn được giúp
Kiếp Tài
- Gặp ở can ngày: Mậu (cả hai vị)
- Quý nhân thường là: Bạn bè, đồng môn, đối tác ngang hàng
- Khi là kỵ thần: Thân vượng: bạn giúp nhưng cũng chia phần, dễ hao tài
Bảng này giải thích một quan sát quen thuộc: hai người cùng "có Thiên Ất" mà trải nghiệm rất khác nhau. Người can Canh gặp quý nhân như gặp thầy, gặp người bảo lãnh; người can Mậu gặp quý nhân là bạn bè đồng lứa; người can Giáp thì quý nhân hay đi kèm chuyện tiền bạc. Câu "Thiên Ất phát mạnh nhất khi là hỷ thần hoặc dụng thần" từ đó có nội dung cụ thể: khi Thập Thần ở chi quý nhân đúng là thứ lá số đang cần.
Bàn lại câu "Thiên Ất kỵ Tử, Mộ, Tuyệt"
Nhiều sách, trong đó có Dự Đoán Theo Tứ Trụ của Thiệu Vĩ Hoa, ghi Thiên Ất kỵ ở đất Tử, Mộ, Tuyệt. Nhìn cột Trường Sinh ở bảng phần 2 sẽ thấy vấn đề: nếu hiểu là Tử Mộ Tuyệt theo vòng Trường Sinh của can ngày, thì Bính có cả hai vị ở Tuyệt và Tử, Nhâm có cả hai vị ở Tử và Tuyệt, Giáp và Canh luôn có một vị ở Mộ, Kỷ có một vị ở Tuyệt. Tức là người sinh ngày Bính và Nhâm không bao giờ có một Thiên Ất "đạt chuẩn". Điều này khó chấp nhận, nên cách hiểu hợp lý hơn là: kỵ khi chính chi quý nhân bị suy tuyệt trong lá số, ví dụ chi quý nhân thuộc Kim mà sinh vào mùa hạ Hỏa vượng, lại bị Hỏa vây. Đây là chỗ các sách diễn đạt chưa rõ; bài nêu ra để người đọc không áp máy móc.
Thiên Ất cho biết bạn có người giúp. Thập Thần ở chi quý nhân cho biết người ấy là ai. Hỷ kỵ cho biết người ấy giúp bạn lên hay kéo bạn đi.
Thiên Ất Quý Nhân
Một chi động toàn cục. Tàng can ẩn huyền cơ. Thân vượng mới gánh nổi sát. Thân nhược gặp kỵ hóa tai ương. Bốn góc phần tư trên ma trận chính là kim chỉ nam để người học không bao giờ tách rời Thiên Ất Quý Nhân khỏi bài toán cân đong vượng suy của Nhật Chủ và lực điều hầu của Nguyệt Lệnh.
Xung, Hình, Hợp, Không Vong: Khi Nào Quý Nhân Mất Tác Dụng
Tu tâm chuyển nghiệp lực. Đức dày thắng sát khí. Thiên Ất là sao địa chi nên mọi quan hệ giữa các chi đều tác động lên nó. Bảng dưới liệt kê đủ cho mười chi có thể làm quý nhân.
Sửu
- Của can: Giáp, Mậu, Canh
- Bị xung bởi: Mùi
- Hình: Tuất, Mùi (tam hình)
- Lục hợp với: Tý
- Hại: Ngọ
Mùi
- Của can: Giáp, Mậu, Canh
- Bị xung bởi: Sửu
- Hình: Sửu, Tuất (tam hình)
- Lục hợp với: Ngọ
- Hại: Tý
Tý
- Của can: Ất, Kỷ
- Bị xung bởi: Ngọ
- Hình: Mão (vô lễ hình)
- Lục hợp với: Sửu
- Hại: Mùi
Thân
- Của can: Ất, Kỷ
- Bị xung bởi: Dần
- Hình: Dần, Tỵ (tam hình)
- Lục hợp với: Tỵ (hợp mà hình)
- Hại: Hợi
Hợi
- Của can: Bính, Đinh
- Bị xung bởi: Tỵ
- Hình: Hợi tự hình
- Lục hợp với: Dần
- Hại: Thân
Dậu
- Của can: Bính, Đinh
- Bị xung bởi: Mão
- Hình: Dậu tự hình
- Lục hợp với: Thìn
- Hại: Tuất
Dần
- Của can: Tân
- Bị xung bởi: Thân
- Hình: Tỵ, Thân (tam hình)
- Lục hợp với: Hợi
- Hại: Tỵ
Ngọ
- Của can: Tân
- Bị xung bởi: Tý
- Hình: Ngọ tự hình
- Lục hợp với: Mùi
- Hại: Sửu
Mão
- Của can: Nhâm, Quý
- Bị xung bởi: Dậu
- Hình: Tý (vô lễ hình)
- Lục hợp với: Tuất
- Hại: Thìn
Tỵ
- Của can: Nhâm, Quý
- Bị xung bởi: Hợi
- Hình: Dần, Thân (tam hình)
- Lục hợp với: Thân (hợp mà hình)
- Hại: Dần
Xung: người giúp bị kéo đi
Chi quý nhân bị xung thì người giúp có đấy nhưng hay bị việc khác cuốn đi đúng lúc mình cần: hứa rồi lỡ hẹn, chuyển công tác, mâu thuẫn với người khác vì mình. Xung từ trụ kề bên (tháng với ngày, ngày với giờ) nặng hơn xung cách trụ, xung từ chi đang đương lệnh nặng hơn xung từ chi hưu tù. Riêng ba can Giáp, Mậu, Canh có thể bị chính hai vị quý nhân của mình xung nhau (quy luật 3).
Hình và chuyện "quý nhân trùng điệp"
Với Bính Đinh (Hợi, Dậu) và Tân (Ngọ), cả ba chi quý nhân đều là chi tự hình. Nếu một chi quý nhân xuất hiện hai lần, hai chi ấy tự hình nhau. Quý nhân nhiều mà tự hình dễ thành cảnh nhờ quá nhiều người, ý kiến chồng chéo, hoặc tự mình cầu toàn mà không dám nhận giúp. Điều này cũng đúng khi lá số đã có chi quý nhân và lưu niên lại đi tới đúng chi ấy (xem ví dụ 1).
Hợp: quý nhân bị "trói" hoặc đổi vai
Chi quý nhân gặp lục hợp hay tam hợp thì bị hút sang việc khác, sách xưa gọi là tham hợp. Nếu hợp mà hóa thành ngũ hành khác, quý nhân coi như đổi vai: ví dụ với Bính, Hợi là Thất Sát, nếu Hợi gặp Mão thành bán hợp Mộc thì Hợi bị kéo về phía Ấn. Hóa ra thứ lá số cần thì không sao, hóa ra kỵ thần thì quý nhân "đổi phe". Hai trường hợp Thân Tỵ vừa hợp vừa hình cần xem kỹ: vừa có duyên vừa có va chạm.
Không Vong và thuyết "xung Không tắc thực"
Quý nhân lạc Không Vong như người giúp đang đi vắng: có quen biết nhưng lúc cần thì không liên lạc được, hoặc chỉ giúp được về tinh thần. Có thuyết cho rằng Không Vong gặp xung hoặc gặp hợp thì được lấp. Khi áp dụng phải xem lực xung đến từ đâu: xung đến từ kỵ thần đang vượng là xung để phá. Cách lấp rõ nhất trong thực tế là khi đại vận hoặc lưu niên đi tới đúng chi quý nhân; khi ấy người giúp "trở về" và cơ hội mở ra.
Đừng tin lời hù dọa. Hãy kiểm chứng bằng lý. Thứ tự kiểm tra chuẩn: chi quý nhân mang Thập Thần gì, hỷ hay kỵ; rồi xung, hình, hợp, Không Vong; rồi lớp can năm; cuối cùng mới đến các thần sát đi kèm.
Tĩnh tại nguyên cục. Động ứng tuế vận. Đừng bỏ qua lưu niên. Bước vào chu kỳ mười hai năm từ Bính Ngọ 2026 đến Đinh Tỵ 2037, mỗi khi địa chi của Lưu Niên hoặc Đại Vận trùng chiếu, tam hợp, lục hợp hay trực xung với cung vị mang Thiên Ất Quý Nhân trong tứ trụ, dòng khí lực tiềm ẩn của sao sẽ lập tức được kích hoạt mạnh mẽ, đòi hỏi đương số phải căn cứ vào Hỷ Kỵ của năm đó để quyết định tiến công mở rộng sự nghiệp hay thu mình phòng thủ bảo toàn thành quả. Biết thời thế mới thắng. Tâm tĩnh thì trí sáng.
Phối Hợp Với Các Thần Sát Khác
Mỗi trụ một tầng nghĩa. Thời vận mở cơ duyên. Sau khi xét sinh khắc, mới đến lớp phối hợp thần sát. Đây là các tổ hợp có ý nghĩa rõ nhất trong thực hành.
✓ Thiên Ất mừng khi gặp
- Thiên Đức, Nguyệt Đức: nhiều sách coi Thiên Ất đi cùng nhị Đức là tổ hợp giải nạn mạnh nhất.
- Lộc Thần đắc dụng: có người giúp lại có sức tự lập, quý nhân là bệ phóng chứ không phải chiếc nạng.
- Văn Xương: có thầy giỏi, được nâng đỡ trong thi cử, xét tuyển.
- Dịch Mã: quý nhân ở phương xa, cơ hội đến khi đi lại, đổi chỗ.
- Thái Cực, Thiên Quan, Phúc Tinh: các quý nhân khác cùng hiện thì nguồn giúp đa dạng.
✕ Thiên Ất e ngại khi gặp
- Chi quý nhân là kỵ thần: giúp mà thành hại.
- Xung trực tiếp, nhất là từ trụ kề và từ chi đương lệnh.
- Lạc Không Vong mà tuế vận chưa lấp.
- Ba chi tự hình (Hợi, Dậu, Ngọ) xuất hiện trùng điệp.
- Sửu và Mùi cùng có mặt với can Giáp, Mậu, Canh: hai quý nhân xung nhau.
- Đào Hoa nặng đi cùng mà thân nhược: quý nhân dễ chuyển thành chuyện tình cảm rắc rối.
Tổ hợp đáng giá nhất là Thiên Ất mang đúng Thập Thần hỷ dụng, có Thiên Đức hoặc Nguyệt Đức đi kèm, chi quý nhân không bị xung và không rỗng. Ngược lại, có tới ba bốn vị quý nhân mà Nhật Chủ không có gốc thì dễ thành người quen dựa dẫm; người luận giỏi không đếm số quý nhân mà xem quý nhân kia là bệ phóng hay là chiếc nạng.
Thiên Ất Quý Nhân
Khí tụ thì thành hình. Khí tán thì hư ảo. Không Vong làm giảm lực. Hình xung gây biến động. Sơ đồ thứ tư chỉ rõ bốn ngả biến hóa của Thiên Ất Quý Nhân khi địa chi chứa sao bước vào lưới tương tác Lục Hợp, Lục Xung, Tam Hình hoặc rơi vào Tuần Không, giúp người xem tránh tuyệt đối lối luận thần sát cứng nhắc một chiều.
Thiên Ất Tọa Ở Từng Trụ
Lấy trung hòa làm quý. Thái quá ắt sinh biến. Trụ chứa Thiên Ất cho biết quý nhân thường đến từ đâu và vào giai đoạn nào. Kết hợp với Thập Thần ở phần 7 sẽ ra chân dung khá cụ thể.
Trụ Năm
- Giai đoạn, đối tượng: Tổ tiên, thuở nhỏ
- Ý nghĩa khi có Thiên Ất: Được phúc ấm gia đình, quý nhân là bề trên, người lớn tuổi
- Lưu ý riêng: Ở xa Nhật Chủ, ứng nhiều vào nền tảng hơn là cơ hội trực tiếp
Trụ Tháng
- Giai đoạn, đối tượng: Cha mẹ, anh em, thanh niên, sự nghiệp
- Ý nghĩa khi có Thiên Ất: Quý nhân trong những năm lập thân: thầy, cấp trên đầu đời
- Lưu ý riêng: Nguyệt lệnh có trọng lượng lớn nhất; nếu chi tháng là quý nhân và hỷ dụng thì rất đáng giá
Trụ Ngày
- Giai đoạn, đối tượng: Bản thân, phối ngẫu
- Ý nghĩa khi có Thiên Ất: Tự thân có quý khí, bạn đời là quý nhân lớn
- Lưu ý riêng: Chỉ xảy ra với bốn ngày Nhật Quý (phần 5); riêng Quý Mão vị Tỵ rỗng
Trụ Giờ
- Giai đoạn, đối tượng: Con cái, hậu vận, cấp dưới
- Ý nghĩa khi có Thiên Ất: Về già có chỗ nương tựa, được người dưới giúp sức
- Lưu ý riêng: Trụ giờ là "cửa ra" của lá số; quý nhân ở đây hay ứng vào người mình dìu dắt rồi quay lại giúp mình
Thiên Ất Quý Nhân
Sát có chế hóa quyền. Quý không gốc hóa hư. Mỗi trụ một cung mệnh. Mỗi cung một vận hạn. Nhìn vào sơ đồ bốn trụ Năm, Tháng, Ngày, Giờ, người luận số có thể định vị ngay lập tức Thiên Ất Quý Nhân đang tác động vào thế hệ nào trong gia tộc và sẽ bộc phát mạnh nhất ở độ tuổi nào của cuộc đời đương số.
Tuế Vận: Năm Kích Hoạt Thiên Ất Từ 2026 Đến 2037
Trọng tâm ở Nhật Chi. Nguyệt Lệnh cầm cương lĩnh. Lưu niên hoặc đại vận đi tới đúng chi quý nhân của can ngày thì Thiên Ất được kích hoạt, kể cả khi lá số gốc không có chi đó. Nếu lá số gốc đã có và vị ấy đang rỗng, năm ấy còn lấp Không Vong.
Biết tiến thoái đúng lúc. Đó là đạo dùng người. Năm Bát Tự tính từ tiết Lập Xuân (khoảng 4 tháng 2 dương lịch), không phải từ Tết âm lịch.
2026
- Can chi: Bính Ngọ
- Kích hoạt Thiên Ất cho can ngày: Tân
- Theo dị bản Canh Dần Ngọ: Canh, Tân
2027
- Can chi: Đinh Mùi
- Kích hoạt Thiên Ất cho can ngày: Giáp, Mậu, Canh
- Theo dị bản Canh Dần Ngọ: Giáp, Mậu
2028
- Can chi: Mậu Thân
- Kích hoạt Thiên Ất cho can ngày: Ất, Kỷ
- Theo dị bản Canh Dần Ngọ: như cột trái
2029
- Can chi: Kỷ Dậu
- Kích hoạt Thiên Ất cho can ngày: Bính, Đinh
- Theo dị bản Canh Dần Ngọ: như cột trái
2030
- Can chi: Canh Tuất
- Kích hoạt Thiên Ất cho can ngày: Không can nào (Tuất nằm trên trục)
- Theo dị bản Canh Dần Ngọ: Không can nào
2031
- Can chi: Tân Hợi
- Kích hoạt Thiên Ất cho can ngày: Bính, Đinh
- Theo dị bản Canh Dần Ngọ: như cột trái
2032
- Can chi: Nhâm Tý
- Kích hoạt Thiên Ất cho can ngày: Ất, Kỷ
- Theo dị bản Canh Dần Ngọ: như cột trái
2033
- Can chi: Quý Sửu
- Kích hoạt Thiên Ất cho can ngày: Giáp, Mậu, Canh
- Theo dị bản Canh Dần Ngọ: Giáp, Mậu
2034
- Can chi: Giáp Dần
- Kích hoạt Thiên Ất cho can ngày: Tân
- Theo dị bản Canh Dần Ngọ: Canh, Tân
2035
- Can chi: Ất Mão
- Kích hoạt Thiên Ất cho can ngày: Nhâm, Quý
- Theo dị bản Canh Dần Ngọ: như cột trái
2036
- Can chi: Bính Thìn
- Kích hoạt Thiên Ất cho can ngày: Không can nào (Thìn nằm trên trục)
- Theo dị bản Canh Dần Ngọ: Không can nào
2037
- Can chi: Đinh Tỵ
- Kích hoạt Thiên Ất cho can ngày: Nhâm, Quý
- Theo dị bản Canh Dần Ngọ: như cột trái
Đọc bảng thế nào: năm kích hoạt chỉ là "cửa mở". Với Giáp, Mậu, Canh cần nhớ quy luật 3: năm Đinh Mùi 2027 kích hoạt vị Mùi nhưng đồng thời xung vị Sửu nếu lá số gốc có Sửu; năm Quý Sửu 2033 thì ngược lại. Với Bính, Đinh, Tân, nếu lá số gốc đã có đúng chi ấy thì năm kích hoạt cũng là năm tự hình, như ví dụ 1.
Đại vận và lưu nguyệt
Đại vận mười năm đi qua chi quý nhân có tác dụng sâu và dài hơn lưu niên, thường ứng vào một người thầy, một cấp trên hay một đối tác gắn bó nhiều năm. Ở mức chi tiết hơn, mỗi năm đều có hai tháng quý nhân: ví dụ người can Đinh có tháng Hợi (từ tiết Lập Đông, khoảng đầu tháng 11 dương lịch) và tháng Dậu (từ tiết Bạch Lộ, khoảng đầu tháng 9). Việc cần nhờ người, cần ký kết, nên ưu tiên các tháng này nếu không có xung phá khác.
Thiên Ất Quý Nhân
Đừng nhìn một sao. Cách cục mới là gốc. Mệnh tốt không bằng vận tốt. Biết thời thế mới là người tuấn kiệt. Quy trình năm bước trên giúp kết nối toàn bộ lý thuyết Thiên Ất Quý Nhân từ nguyên cục bốn trụ sang nhịp đập sống động của từng Đại Vận mười năm và từng Lưu Niên cụ thể trong giai đoạn 2026 đến 2037.
Quý Nhân Ở Các Hệ Khác: Lục Nhâm Và Tử Vi
Đó là phép biện chứng. Sinh khắc quyết định tất cả. Bảng quý nhân theo thiên can không chỉ có trong Bát Tự. Biết nó xuất hiện ở đâu giúp tránh lẫn lộn khi đọc sách.
Tên gọi
- Bát Tự (thần sát): Thiên Ất Quý Nhân
- Đại Lục Nhâm: Quý Nhân, đứng đầu mười hai thiên tướng
- Tử Vi Đẩu Số: Thiên Khôi, Thiên Việt
Căn cứ
- Bát Tự (thần sát): Can ngày (can năm phụ)
- Đại Lục Nhâm: Can ngày của quẻ, phân ngày đêm
- Tử Vi Đẩu Số: Can năm sinh
Dùng hai vị thế nào
- Bát Tự (thần sát): Cả hai vị đều là quý nhân
- Đại Lục Nhâm: Chọn một vị theo giờ ngày hay đêm
- Tử Vi Đẩu Số: Mỗi vị thành một sao riêng, an vào cung
Đơn vị
- Bát Tự (thần sát): Địa chi của bốn trụ
- Đại Lục Nhâm: Vị trí khởi vòng thiên tướng
- Tử Vi Đẩu Số: Một trong mười hai cung
Trong Lục Nhâm, việc chọn quý nhân ban ngày hay ban đêm quyết định cả vòng thiên tướng, nên phép phân Dương quý, Âm quý được dùng rất nghiêm; đó là lý do tranh luận về hai chuỗi ở phần 3 và phần 4 sôi nổi ở giới Lục Nhâm hơn là giới Tử Bình. Trong Tử Vi, cặp Khôi Việt được gọi là sao quý nhân, an theo can năm; xem thêm tại trang Tử Vi. Ba hệ dùng chung gốc bảng can chi nhưng cách đọc khác nhau, không lấy cách luận của hệ này áp nguyên sang hệ kia.
Sáu Ngộ Nhận Thường Gặp Và Lời Khuyên
1. "Có Thiên Ất là cả đời được che chở."
Xét kỹ Nguyệt Lệnh. Đừng đoán mò cảm tính. Chưa chắc. Quý nhân là kỵ thần, bị xung hay lạc Không Vong thì có cũng như không, thậm chí giúp mà hại. Xem lại ví dụ 2.
2. "Quý nhân nghĩa là gặp quan lớn."
Gốc vững thì cành bền. Nhật Chủ là trung tâm. Chỉ 4 trên 20 vị quý nhân là Quan Sát. Phần đông là Tài tinh, tức người mang đến cơ hội tiền bạc, khách hàng, đối tác.
3. "Càng nhiều Thiên Ất càng tốt."
Thần sát chỉ là ngọn. Ngũ hành mới là rễ. Không hẳn. Với Giáp, Mậu, Canh, có đủ Sửu và Mùi là hai quý nhân xung nhau; với Hợi, Dậu, Ngọ, trùng điệp là tự hình.
4. "Thiên Ất kỵ Tử Mộ Tuyệt theo vòng Trường Sinh."
Cát hung không cố định. Biến thông ở Dụng Thần. Hiểu máy móc thì người sinh ngày Bính và Nhâm không bao giờ có quý nhân dùng được. Nên hiểu là kỵ khi chính chi quý nhân bị suy tuyệt trong lá số.
5. "Can Canh an theo bản nào cũng như nhau."
Hiểu lý thì không sợ. Biết mệnh để tự chủ. Khác hẳn: đổi bản là đổi ngày tự tọa, ngày Không Vong và năm kích hoạt. Chọn một bản và dùng nhất quán.
6. "Không có Thiên Ất là không ai giúp."
Cung vị phân xa gần. Lục thân hiện rõ nét. Sai. Người giúp còn đến từ Ấn tinh hỷ dụng, từ Thiên Đức, Nguyệt Đức, từ tuế vận đi tới chi quý nhân. Thiên Ất chỉ là một trong nhiều chỉ dấu.
Hợp chưa chắc đã lành. Xung chưa hẳn đã dữ. Thiên Ất là sao tốt, nên việc cần làm không phải trấn yểm mà là biết mình nên tìm quý nhân ở đâu. Thập Thần ở chi quý nhân chính là tấm bản đồ: Tài thì tìm ở thị trường, đối tác; Quan thì tìm trong tổ chức; Ấn thì tìm thầy, tìm người bảo trợ.
- Đọc đúng kiểu quý nhân của mình. Đừng chờ "quan lớn" nếu quý nhân của bạn là Tài tinh; hãy mở rộng quan hệ làm ăn.
- Canh thời điểm. Việc cần nhờ người, cần ký kết, nên dồn vào năm và tháng quý nhân hỷ dụng; năm chi quý nhân bị xung thì chuẩn bị phương án dự phòng.
- Giữ nội lực. Quý nhân là bệ phóng; nếu Nhật Chủ yếu mà quý nhân nhiều, càng cần học cách tự đứng.
- Trân trọng và biết ơn. Một lời cảm ơn đúng lúc, một mối quan hệ được giữ tử tế là cách nuôi dưỡng phúc quý nhân.
- Tự mình làm quý nhân cho người khác. Cho đi sự giúp đỡ thường mở ra những mối duyên lành quay trở lại.
Câu Hỏi Thường Gặp Về Thiên Ất Quý Nhân
Thiên Ất Quý Nhân là gì
Thiên Ất Quý Nhân là cát thần đứng đầu nhóm quý nhân trong Tứ Trụ, chủ về người nâng đỡ, khả năng giải nạn và uy tín. Mỗi thiên can có hai chi quý nhân; chi nào trong bốn trụ trùng hai chi này thì trụ đó mang Thiên Ất. Kiểu người giúp cụ thể tùy vào Thập Thần nằm ở chi quý nhân.
Cách an Thiên Ất Quý Nhân thế nào
Vượng suy phân ranh giới. Hỷ kỵ định thành bại. Lấy can ngày làm chính, can năm làm phụ: Giáp, Mậu, Canh thấy Sửu Mùi; Ất, Kỷ thấy Tý Thân; Bính, Đinh thấy Hợi Dậu; Nhâm, Quý thấy Mão Tỵ; Tân thấy Dần Ngọ. Đây là bản khẩu quyết phổ biến mà trang sử dụng.
Vì sao can Canh có hai cách an Thiên Ất khác nhau
Bên cạnh bản phổ biến Canh thấy Sửu Mùi còn có dị bản ghép Canh với Tân, cùng thấy Dần Ngọ. Hai bản cho ngày tự tọa, ngày Không Vong và năm kích hoạt khác nhau với người can Canh. Trang theo bản Sửu Mùi, vì đây là bản được chép nhiều nhất và là bản duy nhất giữ được hai chuỗi Dương quý, Âm quý liên tục.
Vì sao Thiên Ất không bao giờ ở Thìn và Tuất
Cổ thư chép rất nghiêm. Thực chứng càng sáng tỏ. Hai chi quý nhân của mọi can luôn đối xứng nhau qua trục Thìn Tuất: đánh số Tý là 0 thì tổng hai chi luôn bằng 8 theo vòng 12. Thìn và Tuất nằm ngay trên trục gương nên không thể làm một cặp. Lời giải thích truyền thống là quý nhân không vào Thiên La Địa Võng.
Ngày sinh nào tự tọa Thiên Ất
Đọc lá số cần tĩnh. Nhìn toàn cục mới chuẩn. Chỉ có bốn ngày: Đinh Dậu, Đinh Hợi, Quý Mão, Quý Tỵ, cũng chính là bốn ngày Nhật Quý. Các can khác có quý nhân khác âm dương với can ngày nên không thể tự tọa. Theo dị bản Canh Dần Ngọ thì có thêm Canh Dần và Canh Ngọ.
Ngày sinh nào có Thiên Ất rơi vào Không Vong
Mỗi can có đúng hai ngày, tổng cộng 20 ngày: Giáp Thân, Giáp Dần, Ất Hợi, Ất Mão, Bính Dần, Bính Tý, Đinh Mão, Đinh Sửu, Mậu Tý, Mậu Ngọ, Kỷ Mão, Kỷ Mùi, Canh Dần, Canh Thân, Tân Mão, Tân Hợi, Nhâm Dần, Nhâm Tý, Quý Mão, Quý Sửu. Mỗi ngày làm rỗng một trong hai vị quý nhân, vị kia vẫn dùng được.
Quý nhân của tôi là kiểu người nào
Xem Thập Thần của chi quý nhân đối với can ngày. Tài tinh là người mang cơ hội tiền bạc, khách hàng, đối tác; Quan Sát là cấp trên, cơ quan; Ấn là thầy, người bảo trợ; Thực Thương là học trò, cấp dưới; Kiếp Tài là bạn bè ngang hàng. Trong 20 vị quý nhân, Tài tinh chiếm 8 vị, nhiều nhất.
Năm nào được Thiên Ất kích hoạt
Đắc thời thì hưng vượng. Thất thế dễ hao tổn. Năm có địa chi trùng chi quý nhân của can ngày. Ví dụ năm Đinh Mùi 2027 và Quý Sửu 2033 kích hoạt cho Giáp, Mậu, Canh; năm Kỷ Dậu 2029 và Tân Hợi 2031 cho Bính, Đinh. Năm Canh Tuất 2030 và Bính Thìn 2036 không kích hoạt cho can nào.
Có Thiên Ất là cả đời được giúp phải không
Không hẳn. Quý nhân chỉ phát khi Thập Thần ở chi quý nhân là hỷ dụng và chi ấy không bị xung, hình, hợp trói hay lạc Không Vong. Quý nhân là kỵ thần có thể giúp mà thành hại; ngược lại không có Thiên Ất vẫn có thể được giúp nhờ Ấn tinh, Thiên Đức, Nguyệt Đức hay tuế vận.