La bàn & Bát Trạch
Bát Trạch: bảng tám cung phi và cách tra bốn hướng cát
Hiểu cung phi, Đông tứ mệnh và Tây tứ mệnh; đọc bảng hướng bằng ví dụ, không nhầm với nạp âm năm sinh.

Cung phi và quái trạch có điểm quy chiếu khác
Cung phi tính theo hồ sơ người; quái trạch xác định theo nhà trong hệ đã chọn. Tọa nhà và hướng nhìn đối nhau. Bảng bốn hướng cát trong bài thuộc Bát Trạch phổ biến, không tự áp cho một bảng quái khác.
Ví dụ đối chiếu ở Việt Nam
Cung Khảm dùng nhóm Đông tứ; vẫn cần độ hướng và quy ước trạch. Chọn vị trí phòng khác chọn hướng giường trong phòng; không lấy một tên cát làm phép cho mọi bộ phận.
Tách cung phi của người khỏi quẻ của ngôi nhà
Bát Trạch dùng tám quẻ Càn, Khôn, Cấn, Đoài, Khảm, Ly, Chấn, Tốn để phân nhóm và luận quan hệ phương hướng. Cung phi của người và quẻ trạch của nhà là hai dữ kiện khác nhau. Một bài tra hướng theo cung phi không tự thay thế toàn bộ cách phân vùng của một trạch.
Nạp âm như Hải Trung Kim hoặc Đại Lâm Mộc cũng không phải cung phi. Khi một người nói mình mệnh Mộc, hãy hỏi họ đang nói nạp âm, Nhật Chủ Bát Tự hay hành của cung phi. Ba khái niệm không dùng chung một bảng tra.
Chuẩn bị dữ liệu để không tra nhầm
Công thức cung phi phổ biến xét năm sinh và quy ước nam/nữ; mốc đổi năm và xử lý số trung cung cần được nêu rõ. Có nơi dùng mốc năm âm lịch, có cách luận theo tiết khí. Với người sinh đầu năm, giữ ngày sinh gốc và kiểm tra phương pháp trước khi chấp nhận một kết quả.
- Ghi tên cung phi đầy đủ, không chỉ số 1–9 hoặc tên ngũ hành.
- Ghi năm và mốc lịch được dùng để xác định cung.
- Đo hướng cần tra theo độ số, lưu trục và điểm đứng.
- Nếu đổi phương pháp, lập kết quả riêng thay vì ghép những phần có vẻ thuận.
Hai nhóm cung và ý nghĩa bốn tên cát
Càn, Khôn, Cấn, Đoài thuộc nhóm Tây tứ; Khảm, Ly, Chấn, Tốn thuộc nhóm Đông tứ. Trong bảng tham khảo dưới đây, Sinh Khí, Thiên Y, Diên Niên và Phục Vị là tên các quan hệ cát truyền thống. Chúng là thuật ngữ của hệ luận, không phải mức đo sức khỏe hoặc cam kết tài lộc.
Sinh Khí thường được liên hệ với phát triển; Thiên Y với sự hỗ trợ và chăm sóc; Diên Niên với bền vững, hòa hợp; Phục Vị với ổn định. Không vì tên Thiên Y mà đặt một phương hướng cao hơn việc giải quyết bệnh hoặc điều kiện sống thực tế.
Bảng đối chiếu theo cung phi
Đọc từ hàng tên cung sang cột quan hệ cần tra. Bảng này mô tả đối chiếu tám hướng chính theo cung phi; với số đo sát ranh hoặc khi đọc 24 sơn, cần kiểm tra chi tiết phương pháp thay vì làm tròn tùy ý.
| Cung phi | Sinh Khí | Thiên Y | Diên Niên | Phục Vị |
|---|---|---|---|---|
| Càn | Tây | Đông Bắc | Tây Nam | Tây Bắc |
| Khôn | Đông Bắc | Tây | Tây Bắc | Tây Nam |
| Cấn | Tây Nam | Tây Bắc | Tây | Đông Bắc |
| Đoài | Tây Bắc | Tây Nam | Đông Bắc | Tây |
| Khảm | Đông Nam | Đông | Nam | Bắc |
| Ly | Đông | Đông Nam | Bắc | Nam |
| Chấn | Nam | Bắc | Đông Nam | Đông |
| Tốn | Bắc | Nam | Đông | Đông Nam |
Ví dụ đọc một hướng và giới hạn của phép tra
Một người đã xác nhận cung phi Khảm và cửa có trục gần Bắc. Trong bảng này, Bắc tương ứng Phục Vị của Khảm. Điều đó chưa cho biết nhà có sáng, ồn, thoát nước hoặc bố trí phù hợp hay không, cũng chưa phải bản luận chi tiết theo trạch và vận.
Nếu nhà có cửa Bắc nhưng ban công Nam, ghi hai trục đúng tên. Đừng dùng hướng ban công khi tra cửa rồi gọi đó là kết quả của cùng một phép đo. Với bếp và đầu giường, phải xác định chiều đang xét trước khi tra bảng.
Khi mặt bằng không theo hướng mong muốn
Lập danh sách có thể thử: góc bàn, vùng ngồi, rèm, bố trí nhẹ. Giữ lối đi, ánh sáng và công năng. Việc đổi vị trí chỉ để được một chữ cát nhưng làm người dùng khó chịu không phải ứng dụng cân đối.
- Hỏi lời tư vấn đang dùng cung phi hay quẻ trạch, và có xét yếu tố nào khác.
- Ưu tiên việc thử có thể đổi lại; không chuyển cửa hoặc đường kỹ thuật từ một bảng đơn.
- Ghi kết quả sử dụng sau thử và những điều chưa phù hợp.